TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN Hàng hóa sức lao động và vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay Sinh viên thực hiện : Ngô Ngọc Hà Giáo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
Hàng hóa sức lao động và vấn đề tiền lương, cải
cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay
Sinh viên thực hiện : Ngô Ngọc Hà Giáo viên hướng dẫn : ThS Đặng Hương Giang
Hà Nội, 2023
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn lực con người luôn là vấn đề quan trọng quyết định sức mạnh của đất nước đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay Nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt đất nước muốn giàu mạnh thì phải dựa vào bản thân, sức lao động sáng tạo của con người
Lý luận về hàng hóa sức lao động, Chủ nghĩa Mác Lênin đã có những luận -điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó, tạo tiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội những giải pháp nhằm cải các chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, thực tiễn cải cách chính sách tiền lương, nhất là từ giai đoạn từ
1992 đến nay cho thấy những nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, cải cách chính sách tiền lương của nước đã đạt được nhiều ta kết quả tích cực Tuy nhiên, chính sách tiền lương của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập so với nhu cầu của thực tiễn phát triển đất nước Điều này ra yêu đặt cần một cuộc cải cách chính sách tiền lương toàn diện, đồng bộ; dựa trên nhu cầu của thực tiễn, bằng chứng khoa học thuyết phục, tạo ra động lực thực sự để người lao động trong khu vực nhà nước và doanh nghiệp cống hiến, sáng tạo và phát triển đất nước bền vững
Vì vậy, em đãchọnđề tài “Hàng hóa sức lao động và vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay” làm để sáng tỏ hơn vấn đề này
Những tài liệu, bài giảng của cô cung cấp trong quá trình giảng dạy đã giúp
em có thể hoàn thành bài tiểu luận này Tuy vẫn còn nhiều thiếu sót và bất cập, em mong có thể nhận được những lời nhận xét và góp ý từ cô để có thể cải thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG 3
1 Hàng hóa sức lao động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 3
2 Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt 4
2.1 Giá trị hàng hóa sức lao động 4
2.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động 6
II CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN CÔNG (TIỀN LƯƠNG) Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1 Thực trang và những kết quả đạt được từ quá trình cách chính sách cải tiền công ở Việt Nam hiện nay 7
2 Thực trạng và hững hạn chế trong cải cách chính sách tiền công (tiền n lương) ở nước ta những năm gần đây – Nguyên nhân 9
3 Một số phương hướng, kiến nghị cơ bản để Nhà nước thực hiện có hiệu
quả chính sách cải cách tiền công ở Việt Nam hiện nay 12
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4I LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1 Hàng hóa s lao ức động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Theo C Mác, “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng
lực thế chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống,
và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào
đó ”.
Trong bất kỳ xã nào, hội sức lao động cũng đều yếu tố là hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:
là,
Một người lao động phải được tự do thân về thể, do có đó khả năng chi phối sức lao động của mình Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó do bản con người có sức lao động đưa ra bán Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền sở hữu năng lực của mình Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế
độ phong kiến
Hai là, người động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất thể tự tiến hành lao động sản xuất Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trở thành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản Tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa
và lưu thông tiền tệ phải phát triển đến một mức độ nhất định
Vậy hàng hóa sức lao động là gì?
Trang 5Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó Một mặt, cách mạng tư sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân vào thể chủ
nô và chúa phong kiến Mặt khác, do tác động của quy luật giá và các trị biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ thành vô trở sản và trung tư tập liệu sản xuất vào trong tay một số ít người
Việc mua bán sức lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn Quan
hệ làm thuê đã tồn tại khá lâu trước chủ nghĩa tư bản, nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc phục vụ nhà nước và quốc phòng Chỉ đến chủ nghĩa tư bản nó mới trở nên phổ biến, thành hệ thống tổ chức cơ bản của toàn
bộ nền sản xuất xã hội
Sự cưỡng bức phi kinh tế được thay thế bằng hợp đồng của những người chủ
sở hữu hàng hoá, bình đẳng với nhau trên cơ sở “thuận mua, vừa bán” Điều đó
đã tạo ra khả năng khách quan cho sự phát triển tự do cá nhân của các công dân
và đánh dấu một trình độ mới trong phát sự triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong phát sự triển của văn minh nhân loại Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản
2 Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động có 2 thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng
2.1 Giá trị hàng hóa sức lao động
Giá hàng hoá trị sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác được quy định bởi số lượng thời gian lao động xã cần hội thiết để sản xuất và tái sản xuất
ra sức lao động Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con
Trang 6người Để sản xuất và tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định
Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất những tư liệu ra sinh hoạ ấy,t hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá những tư trị liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường Khác hàng hoá thông với thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử
Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,…) Nhu cầu
đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau
Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt
Nó tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào tập quán, vào điều kiện địa lý và khí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp công nhân
Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy
mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định Do có xác đó, thể định do những bộ phận sau đây hợp thành: một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của bản thân người công nhân; hai là, phí tổn học việc của công nhân; ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người công nhân Như vậy, giá trị sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động cho người công nhân và nuôi sống gia đình của anh ta
Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định, cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối lập nhau Một
Trang 7mặt là sự tăng nhu cầu trung bình xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về học tập và trình độ lành nghề, do đó làm tăng giá trị sức lao động Mặt khác là sự tăng năng suất lao động xã hội, do đó làm giảm giá trị sức lao động Trong điều kiện tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và những điều kiện khác , sự khác biệt của công nhân về trình độ lành nghề, về sự phức tạp của lao động và mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên Tất cả những điều kiện đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao động Không không thể dẫn đến sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động
2.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị, mà còn có giá trị sử dụng như bất kỳ hàng hóa thông thường nào Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân
Tuy nhiên, quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụn thì cảg giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình sáng tạo
ra giá trị mới Mục đích của nhà tư bản là muốn giá trị mới được sáng tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động và thực tế việc nhà tue bản tiêu dùng sức lao động (thông qua hoạt động lao động của người công nhân) đã hàm chứa khả năng này Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Nhu vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt,
nó là nguồn gốc sinh ra giá trị tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đó là chìa khóa để giải thích mâu thuẫn của công thức chung
Trang 8của tư bản (T – H – T’) Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản
II CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN CÔNG (TIỀN LƯƠNG) Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong các thời kỳ phát triển đất nước, Việt Nam đã nhiều lần cải cách chính sách tiền lương để phù hợp với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Dù đạt được những thành công nhất định, song vẫn còn r t nhi u h n ch , nh t l ấ ề ạ ế ấ à cơ chế tạo nguồn chưa được th o g dá ỡ ẫn đến vi c ệ cải c ch tiá ền lương bị rơi vào vòng lun qu n
1 Thực trạng và những kết quả đạt được từ quá trình cải cách chính
sách tiền công ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng từ năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch
và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Đặc biệt, Luật Cán bộ, Công chức đã quy định công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị cho thôi việc Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc làm sẽ là
cơ sở và căn cứ để tính toán được biên chế công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng quản lý trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Người nào không đáp ứng được các yêu cầu của vị trí việc làm sẽ bị đưa ra khỏi công vụ Chính phủ đã xác định lộ trình thực hiện việc xây dựng hệ thống vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, phấn đấu đến năm 2015, 50% cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm
Trang 9Thứ hai, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành
chính nhà nước (HCNN) và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp x hã ội Đó là bước ngoặt rất quan trọng cả ách tiền lương trong điều i c kiện mới theo định hướng th ị trường
Thứ ba, chú ý gắn c i c ch tiả á ền lương cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) v i c i c ch h nh ch nh v xây d ng n n công v , tinh gi m biên ớ ả á à í à ự ề ụ ả chế khu v c HCNN, ph t tri n khu v c s nghi p cung c p d ch v công theo ự á ể ự ự ệ ấ ị ụ nhu c u ph t tri n c a x h i Tuy ph i ti n h nh d n tầ á ể ủ ã ộ ả ế à ầ ừng bước nhưng là hướng đi đúng đắn Một số ý kiến cho rằng cần tiếp tục cắt giảm 40% cán bộ công chức hiện nay để có nguồn bổ sung cho cải cách tiền lương, nếu không cải cách tiền lương khó thành công
Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế tiền lương, mở rộng và làm rõ trách nhiệm, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập trong việc xếp lương, trả lương gắn với chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công theo tinh thần xã hội hóa Đây cũng là định hướng r t quan tr ng trong c i ấ ọ ả cách và trong cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương CBCCVC
Thứ năm, tiền lương danh nghĩa c a CBCCVC có xu ủ hướng tăng do nhiều lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt gi vá à tăng trưởng kinh t , m r ng quan h tiế ở ộ ệ ền lương tối thi u - trung b nh - tể ì ối đa, từng bước ti n tề ệ hóa c c kho n ngoá ả ài lương nhằm khắc phục b nh quân, bao c p ì ấ
và ổn định đời sống của CBCCVC Theo Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp đã điều chỉnh 7 lần từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, với mức tăng gần 4 lần Từ ngày 1/5/2012, mức lương tối thiểu đã được quyết định tăng lên mức 1.050.000 nghìn đồng/tháng Việc điều chỉnh này được
Trang 10thực hiện trên cơ sở các mức đã dự kiến trong Đề án tiền lương giai đoạn
2003 - 2007 và 2008 - 2012, có điều chỉnh linh hoạt theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của NSNN
Theo Vụ Tiền lương (Bộ Nội vụ), sẽ cố gắng đến năm 2018 điều chỉnh lương tối thiểu của công chức đảm bảo nhu cầu tối thiểu khoảng 3 triệu - đồng/tháng và phụ cấp công vụ khoảng 30% Tuy nhiên, theo PGS., TS.Trần Văn Thiện, Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực – Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, mặc dù đã qua 7 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu nhưng nếu tính tới chỉ số lạm phát và giá cả tiêu dùng thì lương tối thiểu thực tế chỉ tăng hơn 0,05 lần Tính ra, trung bình mỗi năm lương tối thiểu thực tế chỉ tăng 0,64%
2 Thực trạng và những hạn chế trong cải cách chính sách tiền công
(tiền lương) ở nước ta những năm gần đây – Nguyên nhân
Thứ nhất, duy tr qu lâu m t ch nh s ch tiì á ộ í á ền lương thấp đối v i ớ CBCCVC C c l n c i c ch v a qua luôn b chi ph i tuyá ầ ả á ừ ị ố ệt đố ởi b i khả năng của NSNN, nên đã thực hiện một chính sách tiền lương quá thấp đối với CBCCVC v g n ch t v i tià ắ ặ ớ ền lương tối thi u chung v n r t th p (chể ố ấ ấ ỉ đáp
ứng 65% - 70% nhu cầu m c s ng t i thiểu cứ ố ố ủa người lao động) Hơn nữa, chính sách tiền lương thấp này đã lại ngày càng thấp xa so với khu vực sản xuất kinh doanh, chưa bảo đảm cho CBCCVC sống chủ yếu bằng tiền lương
Đó là một bất cập, nghịch lý và mâu thuẫn lớn Theo kết quả điều tra của Công đoàn Viên chức Việt Nam, tiền lương cứng của CBCCVC khá thấp, phần lớn là hưởng lương ở mức cán sự và chuyên viên, chiếm khoảng 73% (cán sự chiếm 32% và chuyên viên 41%), còn ở mức chuyên viên chính là 24% và chuyên viên cao cấp là 3%