1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hàng hóa sức lao Động và vấn Đề tiền lương, cải cách tiền lương ở việt nam hiện nay c

15 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hàng Hóa Sức Lao Động Và Vấn Đề Tiền Lương, Cải Cách Tiền Lương Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Mai Khánh Linh
Người hướng dẫn Ths. Đinh Thị Quỳnh Hà
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện sức lao động trở thành hàng hóa Theo C.Mác định nghĩa: “Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Họ và Tên sinh viên : Mai Khánh Linh

Mã số sinh viên : 2314610044

Lớp hành chính : Anh 03 – LTMQT Lớp tín chỉ : TRI115.He2024.4

Giáo viên hướng dẫn : Ths Đinh Thị Quỳnh Hà

Hà Nội, năm 2024

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

I LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG 2

1 Khái niệm hàng hóa sức lao động 2

2 Điều kiện sức lao động trở thành hàng hóa 2

3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 4

3.1 Giá trị của hàng hóa sức lao động 4

3.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động 5

II VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

1 Vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay 6

2 Những thành tựu đạt được từ quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam 8

3 Những hạn chế trong cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam gần đây 9

III MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG, KIẾN NGHỊ CƠ BẢN GIÚP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY MỘT CÁCH HIỆU QUẢ 10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Dù ở bất kỳ thời kỳ nào, con người luôn đóng vai trò then chốt và có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình phát triển của xã hội Nguồn lực con người được xem là yếu tố hàng đầu, là động lực chính tạo nên lực lượng sản xuất – yếu tố quyết định tốc độ và tính bền vững của mọi phương thức sản xuất

Lý luận về hàng hóa sức lao động, Chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa ra những luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó tạo nền tảng vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội, đưa ra những giải pháp nhằm cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay Thực tiễn vấn đề tiền lương và các chính sách cải cách tiền lương ở Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành quả

Tuy nhiên ngoài những kết quả tích cực, chính sách về tiền lương ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế và bất cập Từ đây, đặt ra vấn đề cần có một cuộc cải cách về chính sách tiền lương một cách toàn diện, dựa trên nhu cầu thực tiễn của người lao động, doanh nghiệp và nền kinh tế để tạo động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững và đi lên của kinh tế Việt Nam Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu không thể tránh khỏi việc có sai sót, em mong nhận được những góp ý của cô để em có thể hoàn thiện bài tiểu luận của mình Em xin chân thành cảm ơn cô Đinh Thị Quỳnh Hà

đã giảng dạy và định hướng trong quá trình học và nghiên cứu đề tài này

Trang 4

I LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG

1 Khái niệm hàng hóa sức lao động

Hàng hóa là sản phâm của lao động, thỏa mãn một nhu cầu nào đó thông qua trao đôi và mua bán

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đối các vật chất của tự nhiên thành những vật phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn của còn người

Sức lao động là năng lực lao động của con người bao gồm toàn bộ những năm lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể con người đang sống và được người này đem ra vận dụng mỗi khi tạo ra một giá trị sử dụng nhất định nào đó

Hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó có khả năng tạo

ra giá trị thặng dự, hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị

2 Điều kiện sức lao động trở thành hàng hóa

Theo C.Mác định nghĩa: “Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó.”

Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng

là hàng hóa Thực tiễn lịch sử cho thấy, sức lao động của người nô lệ không phải là hàng hóa vì bản thân người nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô nên anh

ta không có quyền bán sức lao động của mình Người thợ thủ công tự do tuy được tuỳ ý sử dụng sức lao động của mình, nhưng sức lao động của anh

ta cũng không phải là hàng hóa, vì anh ta có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình, chứ chưa buộc phải bán sức lao động để sống Sức lao động để trở thành hàng hoá cần phải thỏa mãn hai điều kiện sau:

Trang 5

Đầu tiên, điều kiện cần là “Người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và họ có quyền chi phối sức lao động của mình như là bán sức lao động của mình như một hàng hóa.” Thứ hai, điều kiện quyết định “Người lao động không còn có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực hiện lao động và cũng không có của cải

gì khác, bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất, chỉ trong điều kiện ấy để tồn tại và sinh sống thì họ buộc phải bán sức lao động của mình để sống.”

Sự tồn tại song song đồng thời của cặp điều kiện trên làm cho sức lao động trở thành hàng hóa

Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện quyết định để tiển biến thành tư bản Tuy nhiên, để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ phải phát triển tới một mức độ nhất định

Không giống ới những loại hàng hoá thông thường, hàng hoá ѕức lao độngᴠ

là loại hàng hoá đặc biệt Vì nó được hình thành bởi con người ới nhữngᴠ nhu cầu phức tạp à đa dạng, ề cả ật chất lẫn tinh thần theo quá trìnhᴠ ᴠ ᴠ phát triển của хã hội Cũng chính ì con người là chủ thể của ѕức lao động,ᴠ nên iệc cung cấp hàng hoá đặc biệt nàу ѕẽ phụ thuộc ào nhu cầu thực tếᴠ ᴠ của cá nhân ới những đặc điểm riêng biệt ề: tâm lý, nhận thức, ăn hoá,ᴠ ᴠ ᴠ khu ực địa lý, môi trường ѕinh hoạt,… Bên cạnh đó, hàng hoá ѕức laoᴠ động là một loại hàng hoá tạo ra giá trị thặng dư cho хã hội Điều nàу thể hiện ở chỗ người lao động luôn tạo ra những hàng hoá khác có giá trị lớn hơn giá trị của ѕức lao động để đáp ứng nhu cầu à mục tiêu của người ѕửᴠ dụng lao động

Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó các hình thái sản xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện

để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sự xuất hiện của hàng hóa

Trang 6

sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trở nên có tính chất phổ biến và

đã báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội - thời đại của chủ nghĩa tư bản

3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

3.1 Giá trị của hàng hóa sức lao động

Cũng giống như các loại hàng hóa thông thường khác, hàng hóa sức lao động được quyết định bởi một lượng thời gian lao động xã hội cần thiết

để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Sức lao động chỉ tồn tại như là khả năng, năng lực gắn liền với cơ thể sống của con người Vì vậy để duy trì sự hoạt động bình thường của con người và tái sản xuất năng lực đó phải cần

có, tiêu dùng những tư liệu sản xuất nhất định để ăn, uống, mặc, ở, đi lại, học nghề, đào tạo nghề… Ngoài ra, người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái họ Chỉ có như vậy thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất một cách liên tục Giá trị hàng hóa sức lao động gồm có: giá trị những tư liệu sản xuất về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì hoạt động sống của bản thân mỗi người công nhân; phí tổn đào tạo người công nhân để có trình độ tay nghề thích hợp; giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cho gia định người lao động Hay nói cách khác, giá trị của hàng hóa sức lao động

có đặc điểm là được quyết định một cách gián tiếp thông qua các giá trị tư liệu sản xuất ra sức lao động

Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Về yếu tố tinh thần: ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hoá ; về yếu tố lịch sử: nhu cầu của con người phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc cả vào điểu kiện địa lý, khí hậu của nước đó Mặc dù bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử nhưng đối với mỗi một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô những tư

Trang 7

liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do

đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:

Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết

để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân;

Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân;

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết

cho con cái và gia đình người công nhân

3.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là công cụ của nó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng sức lao động của người sử dụng sức lao động Khác với hàng hóa thông thường (sau một thời gian tiêu dùng sẽ mất đi giá trị và giá trị sử dụng theo thời gian) thì hàng hóa sức lao động, khi được tiêu dùng, ngoài việc sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó thì đồng thời nó cũng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Phần giá trị lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư Đây là điểm cơ bản nhất của hàng hóa sức lao động Đối với hàng hoá sức lao động, quá trình tiêu dùng chính là quá trình sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá của bản thân hàng hoá sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có chất đặc biệt,

nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đây chính là chìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản (T – H – T’) Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản

Trang 8

II VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay

Vấn đề tiền lương và cải cách tiền lương ở Việt Nam là một chủ đề quan trọng và đang thu hút nhiều sự quan tâm Tiền lương là điều kiện vật chất để người lao động sống và hành động Điều kiện vật chất ngày càng đầy đủ, dư dả sẽ càng giải phóng con người khỏi những lo toan thường nhật Thị trường lao động ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng phụ thuộc vào tiền lương nhiều hơn, và do đó, người ta càng chăm chú tìm những cơ sở sản xuất kinh doanh có thể lo được các mức lương khả

dĩ hơn Tuy nhiên hiện nay, tiền lương ở Việt Nam có một vài bất cập như:

Chênh lệch Lương Cao - Thấp: Khoảng cách giữa lương cao và thấp

vẫn còn lớn, đặc biệt là giữa khu vực công và khu vực tư nhân, cũng như giữa các vùng miền Các ngành nghề kỹ thuật cao, quản lý và chuyên môn thường có mức lương cao hơn so với các công việc lao động phổ thông

Lương Tối Thiểu: Mức lương tối thiểu đã được điều chỉnh nhiều lần

để phù hợp với tình hình kinh tế, nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu sống của nhiều người lao động, đặc biệt là ở các thành phố lớn Điều này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và khả năng tiết kiệm của người lao động

Tăng Trưởng Lương: Mức tăng lương hàng năm thường không cao

và không theo kịp với tốc độ lạm phát Nhiều công nhân và nhân viên gặp khó khăn trong việc duy trì mức sống ổn định do lương không đủ bù đắp cho chi phí sinh hoạt ngày càng tăng

Tình Trạng Việc Làm Bán Thời Gian và Lao Động Tự Do: Nhiều

người lao động làm việc bán thời gian hoặc làm việc tự do không có sự bảo

vệ về mặt lương và quyền lợi lao động, dẫn đến sự bất ổn định về thu nhập

và thiếu an sinh xã hội

Vấn Đề Đánh Giá và Thưởng: Trong nhiều doanh nghiệp, hệ thống

đánh giá hiệu suất và khen thưởng chưa được áp dụng công bằng và minh bạch, dẫn đến sự không hài lòng và động lực làm việc giảm sút

Trang 9

Quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam đã diễn ra qua nhiều giai đoạn, phản ánh sự thay đổi trong chính sách kinh tế và xã hội của đất nước:

Cải cách năm 1986: Đánh dấu sự khởi đầu của chính sách Đổi Mới,

với việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Các cải cách đầu tiên liên quan đến tiền lương bao gồm việc điều chỉnh mức lương cơ bản và bắt đầu sử dụng hệ thống lương theo thang

bảng lương, kết hợp với các yếu tố thị trường Chính phủ bắt đầu cải cách tiền lương với mức lương cơ bản khoảng 100 đồng/tháng.

Năm 1993: Chính phủ ban hành Nghị định 26/CP về tiền lương,

bước đầu thực hiện hệ thống thang bảng lương với nhiều bậc và mức lương khác nhau tùy thuộc vào vị trí và chức vụ Tuy nhiên, lương vẫn chủ yếu được điều chỉnh theo ngân sách nhà nước và không phản ánh đúng năng suất lao động:

Mức lương cơ bản: 200 đồng/tháng.

Bậc 1: 220 đồng/tháng.

Bậc 2: 240 đồng/tháng.

Năm 2002: Chính phủ ban hành Nghị định 205/2002/NĐ-CP, điều

chỉnh mức lương cơ bản và cấu trúc lương Đồng thời, bắt đầu cải cách hệ

thống lương công chức và viên chức Nghị định 205/2002/NĐ-CP điều chỉnh mức lương cơ bản lên khoảng 290.000 đồng/tháng.

Năm 2006: Quy định về việc cải cách tiền lương trong khu vực công

được mở rộng, với việc triển khai mức lương mới dựa trên năng lực và hiệu quả công việc Các mức lương theo khu vực:

Lương tối thiểu khu vực 1: 450.000 đồng/tháng.

Lương tối thiểu khu vực 2: 400.000 đồng/tháng.

Lương tối thiểu khu vực 3: 350.000 đồng/tháng.

Lương tối thiểu khu vực 4: 300.000 đồng/tháng.

Năm 2012: Chính phủ áp dụng Nghị định 66/2013/NĐ-CP về cải

cách tiền lương, quy định việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng và các chính sách liên quan đến tiền lương của lao động khu vực tư nhân:

Trang 10

Khu vực 1: 1.150.000 đồng/tháng.

Khu vực 2: 1.050.000 đồng/tháng.

Khu vực 3: 950.000 đồng/tháng.

Khu vực 4: 830.000 đồng/tháng.

Năm 2016: Chính phủ tiếp tục cải cách hệ thống tiền lương trong

khu vực công theo Nghị quyết 27-NQ/TW, đặt mục tiêu nâng cao mức sống

của cán bộ công chức và viên chức (Lương cơ bản: Đạt khoảng 1.300.000 đồng/tháng vào năm 2020)

Năm 2020: Thực hiện các cải cách theo Nghị quyết 02/NQ-CP, nhằm

điều chỉnh mức lương tối thiểu và cấu trúc lương để phù hợp hơn với điều

kiện kinh tế xã hội hiện tại (Lương tối thiểu: Được điều chỉnh lên khoảng 4.420.000 đồng/tháng cho khu vực 1)

Năm 2021: Chính phủ tiếp tục triển khai chính sách điều chỉnh tiền

lương mới với mục tiêu cải cách toàn diện Dự kiến, các cải cách sẽ tập trung vào việc điều chỉnh lương cơ bản và hệ thống thang bảng lương, đồng thời cân nhắc tăng cường tính minh bạch và công bằng trong phân phối tiền lương Chính phủ điều chỉnh lương tối thiểu vùng:

Khu vực 1: 4.420.000 đồng/tháng.

Khu vực 2: 3.920.000 đồng/tháng.

Khu vực 3: 3.430.000 đồng/tháng.

Khu vực 4: 3.070.000 đồng/tháng.

Năm 2024: theo các chính sách mới và kế hoạch cải cách, lương cơ

bản có thể tiếp tục được điều chỉnh với mức dự kiến khoảng 5.000.000 đồng/tháng trong các khu vực chính yếu

2 Những thành tựu đạt được từ quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam

Quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, phản ánh sự nỗ lực trong việc nâng cao đời sống của người lao động và thúc đẩy sự phát triển kinh tế Mức lương cơ bản đã

Ngày đăng: 29/06/2025, 20:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w