Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin về hàng hóa sức lao động thì việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội, đưa ra những giải pháp nhằm cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN
-***** -TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Sinh viên: Nguyễn Thị Thanh Tú
Lớp: Anh 06 - K62 - CLC KTQT
Lớp tín chỉ: TRI115(2324-2)2.5
MSV: 2312450118
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đặng Hương Giang
Hà Nội, ngày 14 tháng 06 năm 2024
Trang 2
-***** -MỤC LỤC
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong bất kỳ thời đại nào, nguồn lao động luôn được coi là “một loại tài nguyên đặc biệt”, là tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia bởi nó tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch sử xã hội Quan tâm đến nguồnlao động tức là quan tâm đến mọi mặt vấn đề liên quan đến người lao động, từ
đó bộc lộ bản chất, tính ưu việt của chế độ Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin về hàng hóa sức lao động thì việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội, đưa ra những giải pháp nhằm cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần thiết Thực tiễn vấn đề tiền lương và các chính sách về cải cách tiền lương ở Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu, cho thấy được sự quan tâm của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội để phù hợp với nền kinh tế
Thực tiễn cải cách tiền lương ở Việt Nam trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều biến đổi quan trọng nhằm cải thiện đời sống của người lao động và tăng cường hiệu quả kinh tế Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách nhằm điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng, giúp người lao động có thu nhập phù hợp hơn với mức sống và chi phí sinh hoạt ngày càng tăng Bên cạnh đó, việc cải thiện chế độ lương thưởng và phúc lợi cũng được quan tâm, đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong cả khu vực công và tư Một trong những điểm nổi bật của cải cách tiền lương là nỗ lực giảm bớt khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các ngành nghề và khu vực khác nhau, hướng tới một môi trường lao động công bằng và bình đẳng hơn Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều thách thức khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn lương mới, đòi hỏi có những biện pháp hỗ trợ kịp thời
từ phía nhà nước Những cải cách này không chỉ hướng đến nâng cao đời sống
Trang 4người lao động mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh
tế quốc gia
Để làm rõ những nội dung đã nêu ở trên, em xin chọn đề tài “Hàng hóa sức
lao động và vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay”
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và tài liệu tham khảo thì tiểu luận có kết cấu 02 phần Phần một là “Lý luận của C.Mác về hàng hóa sức lao động” Phần hai là “Vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay”
Trang 5NỘI DUNG
1 LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm hàng hóa sức lao động
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thảo mãn một như cầu nào đó
thông qua trao đổi và mua bán
- Sức lao động theo C.Mác là năng lực lao động của con người gồm toàn
bộ thể lực và trí lực trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người và được người này đem ra vận dụng mỗi khi tạo ra một giá trị sử dụng nhất định nào đó
- Hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó có khả năng
tạo ra giá trị thặng dư, hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính lànguồn gốc sinh ra giá trị
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Theo C.Mác “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể,trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất
ra một giá trị sử dụng nào đó”
Trong bất kì xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất, nhưng không phải trong bất kì điều kiện nào sức lao động cũng là hàng hóa Sức lao động chỉ biến thành hàng hóa khi nó thỏa mãn hai điều kiện sau:
Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, phải có
khả năng chi phối, làm chủ sức lao động của mình Trên thị trường, sức lao động chỉ xuất hiện với tư cách là hàng hóa khi và chỉ khi nó do người có sức lao động đưa ra bán Muốn bán thì người sỡ hữu sức lao động ấy phải có quyền sở hữu năng lực của mình Do đó, trong thời kì
Trang 6chế độ chiếm hữu nô lệ, sức lao độngcủa người nô lệ không được xem
là hàng hóa do bản thân nô lệ thuộc quyền sở hữu của chủ nô Nô lệ không được phép và không có quyền bán sức lao động của mình Để sức lao động trở thành hàng hóa thì việc thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô
lệ và chế độ phong kiến là tất yếu
, người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất cần thiết
Thứ hai
để tự mình thực hiện lao động và cũng không có của cải vật chất gì khác Khi đó, người lao động buộc phải bán sức lao động cho người khác để có thể tồn tại.Trong trường hợp người thợ thủ công tự do, tuy
có thể tùy ý sử dụng sức lao động song người đó có tư liệu sản xuất để làm ra những sản phẩm để nuôi sống bản thân, chưa buộc phải bán sức lao động để sống nên sức lao động củangười này chưa thể xem là hàng hóa
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao độngthành hàng hóa
1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng
có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị hàng hóa sức lao động
Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng như các hàng hóa khác do
số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định
Tuy nhiên sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, ở , mặc,
Do vậy, có thể thấy thời gian lao động xã hội cần theiets để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần
Trang 7thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy Cũng có thể hiểu, giá trị của hàng hóa sức lao dộng được đo lường gián tiếp thông qua lượng giátrị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động
Là một hàng hóa đặc biệt, giá trị của hàng hóa sực lao động bao gồm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Ngoài những nhu cầu về vật chất (tiền công), người công nhân còn có nhu cầu cả về tinh thần và văn hóa Nhu cầu này phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước ở từng thời kỳ, điều kiện đại lý, khí hậu và điều kiện hình thành giai cấp công nhân
Giá trị của hàng hóa sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:
Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để
tái sản xuất ra sức lao động;
Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh
thần) để nuôi con của người lao động
Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả của hàng hóa sức lao động phải phản ánh lượng giá trị nêu trên
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao dộng
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng giống như các hàng hóa khác là giá trị sử dụng cho người mua nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu người mua Công dụng của nó biểu hiện qua tiêu dùng hàng hóa sức lao động, chính là tiến hành quá trình lao động của người công nhân Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động được thể hiện đó là:
Trang 8Thứ nhất, giá trị sử dụng được thể hiện qua quá trình lao động của
người công nhân Đối với hàng hóa thông thường, sau khi sử dụng thì
cả giá trị và giá trị sử dụng đều biến mất theo thời gian Còn đối với hàng hóa sức lao động qua quá trình tiêu dùng (sử dụng) thì nó tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động Phần lớnhơn này được gọi là giá tị thặng dư mà người lao động bị nhà tư bản chiếm không, Có thể thấy, hàng hóa sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Đó là chìa khóa để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản (T – H – T’) Như vậy, tiền chỉ trở thành tưbản khi sức lao động trở thành hàng hóa
Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hóa sức lao động, vì vậy,
việc cung ứng sức lao động ohuj thuộc về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường laođộng thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung
2 VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay
Theo quan điểm của C.Mác tiền lương (tiền công) là giá cả của hànghóa sức lao động Đó là bộ phận của giá trị mới do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra, nhưng nó lại thường đượchiểu là do người mua sức lao động trả cho người lao động làm thuê Cũng theo C.Mác thì chính sách tiền công (tiền lương) còn phản ánh một mối quan hệ kinh tế sâu xa hơn giữa lao động và tư bản, liên quan trực tiếp đến các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đờisống của người lao động
Trang 9Tính đến thời điểm hiện nay, nước ta đã và đang trải qua 5 lần cải cách tiền lương và các năm 1960, 1985, 1993, 2003 và 2024
Cải cách tiền lương giai đoạn 1960-1984
Giai đoạn 1960-1084 ở Việt Nam, cải cách tiền lương đã trải qua nhiều biến đổi đáng chú ý nhằm thích ứng với bối cảnh lịch sử và kinh
tế đặc thù của đất nước trong thời kỳ chiến tranh và thời kỳ hậu chiến Sau hòa bình lập lại, năm 1957 những yêu cầu đặt ra trong việc sửa đổi chế độ tiền lương đối với người lao động tại miền Bắc Việt Nam lần đầu tiên được đưa ra và chính thức triển khai vào năm 1960, sau khi hoàn thành cải tạo kinh tế xã hội chủ nghĩa
Trong đợt cải cách này, mức tiền lương cụ thể cho từng loại công việc, thời gian trả, hình thức trả lương, nâng bậc luơng và các vấn đề khác liên quan đều do Nhà nước định sẵn thông qua hệ thống các bậc lương và phụ thuộc và ngân sách Nhà nước Vấn đề tiền lương tối thiểuđược Chính phủ giới hạn trực tiếp bằng việc quy định cụ thể các mức lương trong các ngành Trong mỗi ngành đều có mức lương thấp nhất (bậc một – khởi điểm) được trả cho người lao động ứng với công việc đòi hỏi tình độ và cường độ lao động thấp nhất
Một trong những điểm nhấn của chính sách cải cách tiền lương ở Việt Nam trong giai đoạn 1960-1984 là hướng tới mục tiêu chiếu cố toàn diện, cân nhắc kỹ lưỡng giữa yêu cầu và khả năng, kết hợp nguyêntắc với thực tế để vận dụng đúng đắn nguyên tắc phân phối theo lao động vào tình hính thực tế đất nước, chống chủ nghĩa bình quân, phải chống xu hướng đòi công bằng hợp lý một cách tuyệt đối, không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước
Trang 10Cải cách tiền lương giai đoạn 1985-1992
Giai đoạn này mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước Cải cách tiền lương giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6-1985) và Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/09/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độtiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang đã dẫn đến một cuộc cải cách lớn về giá – lương – tiền
Nguyên tắc hưởng lương ở Việt Nam giai đoạn này là làm công việc gì, chức vụ gì thì hưởng lương theo công việc, chức vụ đó Mức lương tối thiểu là 220 đồng một tháng và được dùng làm cơ sở để định các mức lương cấp bậc hoặc chức vụ Bảng lương chức vụ được thiết
kế theo hệ số tương ứng: tối thiểu - trung bình - tối đa là 1 - 1,32 - 3,5 Đến tháng 9/1985, tiền lương tăng khoảng 60%, nhưng do nền kinh tế gặp nhiều khó khăn và lạm phát cao, giá trị đồng lương sụt giảm nhanh chóng và không phản ánh đúng giá trị thực tế sức lao động Trước nhu cầu thay đổi tiền lương tối thiểu, ngày 28/12/1988, tiền lương tối thiểu được nâng lên 22.500 đồng/tháng
Năm 1987, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, từ đây xuất hiện thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, yêu cầu có mức lương tối thiểu của người lao động trong thành phần kinh tế này Theo đó, mức lương tối thiểu áp dụng trong khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài là 50 USD/tháng
Mặc dù còn nhiều hạn chế, tuy nhiên có thể khẳng định chính sách cải cách tiền lương của Việt Nam trong giai đoạn 1985-1992 đã có tiến
bộ đáng kể trong việc quy định về tiền lương tối thiểu; đã có sự phân định về tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp trong nước và các
Trang 11xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự công bằng trong việc
trả công cho người lao động
Cải cách tiền lương giai đoạn 1993-2002
Sau biến cố ở Đông Âu và Liên Xô, nền kinh tế nước ta hết sức khó khăn, tỷ lệ lạm phát tăng cao (năm 1990 là 70%, năm 1991 là 67,5% và năm 1992 là 16,7%) Do vậy, chính sách tiền lương cũ mất dần ý nghĩa trong sản xuất và đời sống xã hội Tiền lương không đảm bảo đời sống của người lao động và được tiền tệ hóa ở mức thấp Cải cách tiền lương giai đoạn này được đánh dấu bằng hàng loạt các Luật,
và văn bản dưới luật
Một trong những đặc điểm của chính sách tiền lương ở Việt Nam trong giai đoạn này là mức lương tối thiểu liên tục được điều chỉnh tăng theo sự mất giá của đồng tiền Các năm 1993, 1997, 1999,
2000 mức lương tối thiểu lần lượt là: 120.000, 144.000, 180.000 và 210.000 đồng/tháng Đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài quy định mức lương tối thiểu cho lao động trong khu vực này là 417.000 đồng - 626.000 đồng/tháng tùy thuộc vào địa phương và đặc trưng của từng ngành nghề
Cải cách chính sách tiền lương của Việt Nam trong giai đoạn 1993-2002 đã từng bước làm cho tiền lương trở thành thước đo giá trị sức lao động, áp dụng ở mọi thành phần kinh tế có quan hệ lao động theo thị trường Đáp ứng yêu cầu tiền tệ hóa tiền lương, dần thay thế vàtiến tới xóa bỏ chế độ phân phối hiện vật có tính chất tiền lương
Cải cách tiền lương giai đoạn 2003-2020
Giai đoạn này kinh tế nước dần ổn định, tốc độ tăng trưởng các năm tương đối cao tạo nền tảng tài chính cho hoàn thiện chế độ tiền lương trên cơ sở mở rộng quan hệ tiền lương, thu gọn một bước hệ
Trang 12thống thang, bảng, ngạch, bậc lương, đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo đó, tiền lương phải được thay đổi một cách toàn diện với tất
cả các đối tượng lao động Ngoài các lần tăng mức lương tối thiểu, điểm nhấn của cải cách chính sách tiền lương giai đoạn này là năm
2009, thực hiện nguyên tắc chỉ điều chỉnh mức lương cơ sở và ban hành chính sách, chế độ mới đối với khu vực công khi đã bố trí đủ nguồn lực; không ban hành mới các chế độ phụ cấp theo nghề, triển khai xây dựng danh mục vị trí việc làm tạo cơ sở cho việc trả lương Đồng thời từ năm 2013, tiền lương tối thiểu để tính lương cho người lao động ở khu vực công được đổi thành mức lương cơ sở Đối với khu vực doanh nghiệp, mức lương tối thiểu qui định theo vùng: I, II, III, IV.Đây là một trong những nội dung nổi bật của chính sách cải cách tiền lương giai đoạn 2003-2020
Có thể khẳng định từ năm 2004 trở lại đấy, Việt Nam đã liên tục hoàn thiện chế độ tiền lương trên cơ sở mở rộng quan hệ tiền lương, thu gọn một bước hệ thống thang, bảng, ngạch, bậc lương, đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Với quy trình thực hiện cải cách theo nhiều bước, các quy định về tiền lương của giai đoạn 2003-2020 có xu hướng đảm bảo cuộc sống của người lao động và gia đình, vừa không tạo ra gánh nặng cho quỹ lương Nhà nước và người sử dụng lao động, đảm báo tính hợp lý và hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia quan hệ lao động Tuy nhiên, thực chất của cải cách chính sách tiền lương trong giai đoạn này vẫn dựa trên cách tính lương năm 1993, chỉ điều chỉnh tăng mức lương cơ sở, mở rộng quan hệ tiền lương, tách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực chi từ ngân sách Nhà nước… Vì vậy, chính sách tiền