Trong cuốn "Những vấn đề cơ bản trong khoa học hình sự" của GS.TS Lê Cảm định nghĩa về người thực hành như sau: "Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hay trực tiếp tham
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 1
MSSV: 452853- NGUYỄN THÙY DƯƠNG
Đề bài 2: Phân tích, cho ví dụ minh họa để làm rõ người thực hành trong đồng phạm.
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I Các khái niệm chung về người thực hành trong đồng phạm 2
1 Đồng phạm 2
2 Người thực hành trong đồng phạm 2
II Các dấu hiệu pháp lý của người thực hành trong đồng phạm và phân loại người thực hành trong đồng phạm 2
1 Dấu hiệu chủ thể của người thực hành trong đồng phạm 3
2 Dấu hiệu hành vi khách quan của người thực hành trong vụ án đồng phạm 4
3 Vai trò của người thực hành trong đồng phạm 5
4 Phân loại người thực hành trong đồng phạm 6
III Phân biệt người thực hành với những người đồng phạm khác 8
1 Về sự giống nhau: 8
2 Về sự khác nhau: 8
2.1 Phân biệt người thực hành với người tổ chức trong đồng phạm 8
2.2 Phân biệt người thực hành với người xúi giục trong đồng phạm 8
2.3 Phân biệt người thực hành và người giúp sức trong đồng phạm 9
KẾT LUẬN 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3MỞ ĐẦU
Tội phạm được quy định trong Bô luật hình sự (BLHS) là do có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội Tội phạm có thể do một người thực hiện, cũng có thể do nhiều người thực hiện Khi tội phạm được thực hiện bởi nhiều người và trong hành đồng của họ có sự liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau thì học được gọi là đồng phạm Đồng phạm là hình thức phạm tội "đặc biệt", đòi hỏi những điều kiện riêng, khác với những trường hợp phạm tội riêng lẻ về số lượng người tham gia phạm tội, mối liên hệ giữa các đối tượng trong cùng vụ
án cũng như tội phạm mà cả nhóm hướng tới thực hiện Sau đây để tìm hiểu
kĩ hơn về tội phạm, em xin chọn đề 2: "Phân tích, cho ví dụ minh họa để làm
rõ người thực hành trong đồng phạm" để làm rõ các vấn đề liên quan đến đồng phạm
NỘI DUNG
1 Đồng phạm
Theo Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 điều 17 quy định: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."
2 Người thực hành trong đồng phạm
Khoản 2 điều 17 BLHS 2015 quy định: "Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm"
Trong cuốn "Những vấn đề cơ bản trong khoa học hình sự" của GS.TS
Lê Cảm định nghĩa về người thực hành như sau: "Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hay trực tiếp tham gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với những người khác hoặc thực hiện tội phạm bằng thủ đoạn sử dụng những người mà theo các quy định của luật không phải chịu trách nhiệm hình sự"
Từ đó, ta có thể rút ra khái niệm chung về người thực hành: Người thực hành là người trực tiếp thực hiện, tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc thực hiện tội phạm bằng thủ đoạn sử dụng những người mà theo quy định của BLHS không phải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 4II Các dấu hiệu pháp lý của người thực hành trong đồng phạm và phân loại người thực hành trong đồng phạm
1 Dấu hiệu chủ thể của người thực hành trong đồng phạm Người thực hành trực tiếp thực hiện tội phạm có nghĩa là trực tiếp có hành vi thuộc mặt khách quan gây bất lợi đến người khác như: trực tiếp cầm dao đâm nạn nhân, trực tiếp trộm cắp chiếm đoạt tài sản, trực tiếp nhận hối lộ,
… Có thể nói người thực hành là người quan trọng nhất trong các vụ án đồng phạm Nói cách khác, trong vụ án đồng phạm có thể thiếu người đồng phạm khác nhưng bắt buộc phải có người thực hành
Người thực hành được chia ra làm hai loại: người thực hành trực tiếp
và người thực hành gián tiếp Cụ thể:
- Người thực hành trực tiếp: là người tự mình thực hiện hành vi được
mô tả trong cấu thành tội phạm và không thông qua người trung gian Ở trường hợp này người phạm tội có thể sử dụng hoặc không
sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội, thậm chí có thể sử dụng cơ thể người khác hoặc cơ thể động vật như một công cụ gây án Trong đồng phạm, có thể có nhiều người thực hành Những người này được gọi là những người đồng thực hành Đối với trường hợp này, không đòi hỏi mỗi người đều phải thực hiện toàn bộ hoạt động tạo nên hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm Mỗi người thực hành có thể chỉ thực hiện một hoạt động, một phần thuộc hành vi khách quan của tội phạm Tổng hợp các hoạt động của những người đó tạo nên hành vi khách quan của tội phạm
VD: Trực tiếp thực hiện tội "Giết người" là trưc tiếp giết người (trực tiếp bắn, chém, bỏ thuốc độc vào thức ăn…)
Hành vi khách quan của tội "Hiếp dâm" là “dùng vũ lực … Giao cấu trái ý muốn người khác” Những người giữ chân, giữ tay…
để người khác giao cấu trái ý muốn nạn nhân đều được coi là người thực hành vì hành vi của họ kết hợp với hành vi giao cấu của người khác tạo nên hành vi khách quan của tội "Hiếp dâm"
- Người thực hành gián tiếp: khi người thực hành có thể không phải
là người tự mình thỏa mãn các dấu hiệu hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm mà chỉ có hành động cố ý tác động đến người khác để người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan Bản thân những người bị tác động để thực hiện hành vi phạm tội không phải
Trang 5chịu bất cứ trách nhiệm hình sự nào (người chưa đạt độ tuổi luật định, người không có năng lực trách nhiệm hình sự, người không nhận thức được hành vi gây nguy hiểm cho xã hội hoặc có lỗi vô ý
do nhận thức sai lầm hành vi của mình,…)
VD: A xúi C là em bé 12 tuổi đốt nhà hàng xóm Trong trường hợp này A là người thực hành
Tuy nhiên, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì người thực hành đều phải thỏa mãn dấu hiệu chung của tội phạm Cụ thể:
- Một, người thực hành hay bất cứ loại đồng phạm nào khác đều phải
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Điều này được thể hiện rõ trong
Bộ luật hình sự về tội phạm Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Độ tuổi theo quy định của BLHS là tuổi tròn tính từ ngày tháng năm sinh đến ngày tháng năm sinh
- Hai, người thực hành phải có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thể hiện ở chỗ hiểu rõ hành vi của mình đúng hay sai và điều khiển được, tự chủ được hành vi của mình Người đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh tật làm mất khả năng nhận thức hoặc tự chủ hành vi
Ngoài những dấu hiệu nêu trên, đối với một số tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt thì người thực hành cần có các đặc điểm của chủ thể đặc biệt nhưng không yêu cầu người đồng phạm khác phải thỏa mãn điều kiện này VD: nếu
A là người tổ chức cho B (người thực hành, nam giới) hiếp dâm C thì A có thể không phải là nam giới vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm Nếu không có đặc điểm này, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể trở thành chủ thể của tội phạm đó được VD: trong vụ án tham ô tài sản, người thực hành là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến tài sản, còn những người đồng phạm khác (tổ chức, xúi giục, giúp sức) có thể là bất
cứ người nào
2 Dấu hiệu hành vi khách quan của người thực hành trong vụ
án đồng phạm
Trong mặt khách quan của tội phạm nói chung và người thực hành trong đồng phạm nói riêng, hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản Những
Trang 6biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan Chính vì vậy, hành vi khách quan của người thực hành cũng phải thỏa mãn các dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm theo luật được quy định trong BLHS Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi khách quan của tội phạm
có đặc điểm: tính gây nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự
3 Vai trò của người thực hành trong đồng phạm
Người thực hành là người giữ vai trò là trung tâm vụ đồng phạm và hành vi của người thực hành trực tiếp tác động đến đối tượng, gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể trực tiếp của tội phạm Vì thế, việc xác định đúng vai trò của người thực hành trong đồng phạm là cơ sở quan trọng
để định tội, quyết định hình phạt, giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm và vụ án đồng phạm Đồng
hành trong đồng phạm; tự ý nửa chừng chấm dứt hay hành vi vượt quá phạm tội của người thực hành trong đồng phạm; các hình thức đồng phạm và trách
không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích phạm tội không được thực hiện; hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xét theo quy định tại Điều 14 BLHS (chỉ chuẩn bị phạm tội một trong những tội mà BLHS quy định mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự) Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác rõ ràng phụ thuộc vào hành vi của người thực hành."1
- Về giai đoạn thực hiện tội phạm của người thực hành: Nếu những người đồng phạm không thực hiện tội phạm được đến cùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hành thực hiện tội phạm đến giai đoạn nào thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn đó
VD: A và B có thù oán với C từ trước nên lập kế hoạch cùng đốt cửa hàng của C A và B đã đem can xăng đến cửa hàng quần áo của anh
C, A tưới xăng châm lửa đốt cửa hàng nhưng đúng lúc trời mưa rào rất to nên lửa mới bùng lên đã bị dập tắt ngay, cửa hàng quần áo không bị cháy, không bị hư hại gì Cửa hàng quần áo của C không bị huỷ hoại do trời mưa to là nguyên nhân xảy ra ngoài ý chí chủ quan
1 "Người thực hành trong đồng phạm theo Luật Hình sự Viê Y t Nam" - Nguyễn Thị Thu Hòa, Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật hình sự.
Trang 7của A và B, tuy nhiên A và B đã thực hiện đầy đủ hành vi cấu thành tội phạm nên vẫn đủ điều kiện bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ở tội Huỷ hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều
143 Bộ luật hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt
- Về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: Nếu người thực hành tự
ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì các điều kiện đặt ra như trường hợp phạm tội riêng lẻ Những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự về tội người thực hành đã thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt, tuỳ thuộc vào thời điểm người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội VD: B và C lên kế hoạch thủ tiêu ông A C đã chuẩn bị dao găm, bao tải để giết người và cướp của còn B chỉ cần giết ông A B đến nhà ông A nhưng B nghĩ lại và thấy rằng ông A đã là người tốt đối với mình nên B quay về, không giết người, cướp của ở nhà ông A nữa Như vậy, vì chưa có hậu quả cuối cùng là ông A bị giết và tài sản bị trộm nên B và C được miễn TNHS về 2 tội danh giết người
và cướp của
- Về hành vi vượt quá của người thực hành: không phải bao giờ người thực hành cũng thực hiện đúng những hành vi do các đồng phạm khác đặt ra, thực tế có không ít trường hợp người thực hành tự ý thực hiện những hành vi vượt quá yêu cầu Ở Việt Nam, chế định
"vượt quá" của người thực hành trước đây chưa được ghi trong BLHS, nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đều được thừa nhận, hành vi vượt quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm và hậu quả do hành vi thái quá đó gây ra chỉ người thực hành phải chịu trách nhiệm hình sự, còn những người đồng phạm khác không phải chịu về việc “vượt quá” đó
VD: A và B bàn bạc với nhau sẽ trộm cắp tài sản nhà ông C Trong khi A đứng gác, B lẻn vào nhà ông C, sau đó, B đã bị ông C phát hiện, bắt giữ Sau đó, B đánh ông C bị thương để tẩu thoát Việc B đánh ông C là nằm ngoài kế hoạch ban đầu Hành vi gây thương tích của B có thể cấu thành tội độc lập là tội cố ý gây thương tích hoặc thỏa mãn dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của tội trộm cắp nhưng A không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá này của B
Trang 84 Phân loại người thực hành trong đồng phạm.
Về phương thức thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm,
có thể phân biệt thành 2 dạng người thực hiện như đã nêu ở trên: người tự thực hiện tội phạm (người thực hành trực tiếp) và người không tự mình thực hiện tội phạm (người thực hành gián tiếp)
Người thực hành có thể đồng thời thực hiện hành vi thỏa mãn dấu hiệu của nhiều loại người đồng phạm khác (người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) VD: A lên kế hoạch tổ chức cướp ngân hàng cùng B và C, ở đây A vừa
là người tổ chức vừa là người thực hành Trên thực tế, còn có một số trường hợp người thực hành có nhiều hành vi thực hiện thỏa mãn cấu thành tội phạm của nhiều tội khác nhau Một hành vi của họ có thể vừa thể hiện một cấu thành tội phạm này và vừa thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm của một tội phạm khác VD: người có quyền nhận hối lộ để cho người khác vận chuyển hàng trái phép Trong trường hợp này, hành vi của người đó vừa thỏa mãn cấu thành tội phạm tội "nhận hối lộ" vừa có dấu hiệu đồng phạm tội "buôn lậu" Một hành vi cũng có thể thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm của 2 tội khác nhau VD: A cho B mượn dao để tước đoạt mạng C rồi sau đó chiếm đoạt xe máy Như vây, hành vi cho mượn dao của A đồng thời thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm của tội "giết người" và "cướp tài sản"
Ngoài người trực tiếp thực hiện tội phạm, khoa học luật hình sự còn thừa nhận một loại người thực hành khác đó là người thực hiện hành vi phạm tội thông qua hành vi của người khác thuộc trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự Trên thực tế, có thể nhận thấy có 4 trường hợp thực hiện hành
vi thông qua người khác
- Thứ nhất, sử dụng người không có năng lực nhận thức hoặc điều khiển hành vi hay người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự VD: do thù ghét A nên B đã nhờ C - một người bị bệnh tâm thần đi đốt nhà A
- Thứ hai, sử dụng người khác để gây thiệt hại băng việc cưỡng bức,
uy hiếp … Người bị cưỡng bức đã hành động trong trạng thái không
có sự tham gia của ý chí nên họ không phải chịu TNHS
VD: A cầm dao kề vào cổ B và uy hiếp B đẩy C từ tầng thượng xuống
Trang 9- Thứ ba, sử dụng người dưới quyền để thực hiện mệnh lệnh không hợp pháp của mình mà người thi hành mệnh lệnh không được biết tính chất không hợp pháp đó và cũng không có nghĩa vụ phải biết tính chất đó nên cũng không phải chịu TNHS
VD: A là cấp trên yêu cầu B là nhân viên chuyển hàng cho C mà không biết gói hàng là ma túy tổng hợp
- Thứ tư, lợi dụng sai lầm của người khác về những tình tiết khách quan của tội phạm hoặc người đó không có lỗi để gây ra hậu quả của tội phạm
VD: nhân viên A của một công ty đến ngân hàng rút 100 triệu đồng nhưng do nhầm lẫn nhân viên ngân hàng đã giao cho A 150 triệu đồng, lợi dụng việc này A đã chiếm giữ 50 triệu đồng
Trường hợp không tự mình thực hiện tội phạm rất ít xảy ra trên thực tế nhưng việc xác định rất phức tạp, cần phân biệt rõ giữa hành vi của người thực hành trong trường hợp này với hành vi của người xúi giục
1 Về sự giống nhau:
- Người thực hành và những người đồng phạm khác đều phải chịu trách nhiệm về hậu quả mà tội phạm của họ gây ra
- Người thực hành và mỗi người đồng phạm đều có chung ý chí thưc hiện tội phạm đồng thời đều có những hành động cụ thể riêng biệt
2 Về sự khác nhau:
Vì tính chất và mức độ tham gia của mỗi loại người đồng phạm khác nhau nên để xác định chính xác nhất hình phạt của từng người cần phân định rõ vai trò khác nhau giữa những người đồng phạm
phạm
phạm có nhiều người thực hành thì tất cả những người thực hành đó cũng
Trang 10khác như người tổ chức thì không nhất thiết phải có dấu hiê pu này Điều này cũng đúng với người giúp sức và người xúi giục
phạm
So sánh hành vi của người xúi giục với người thực hành, chúng ta có thể thấy, với người thực hành ở cả hai dạng, nếu người thực hành tự mình thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP thì người xúi giục không tjw mình thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP Đối với dạng người thực hành thực hiện tội phạm bằng cách sử dụng người khác, người xúi gicuj khác ở chỗ người bị xúi giục có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm và phải chịu TNHS xét về mặt lý thuyết
phạm
Người giúp sức khác người thực hành ở chỗ người giúp sức cũng giống như người xúi giục, đều không thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP Nhưng người giúp sức và người xúi giục có vai trò khác nhau trong việc hình thành thái độ quyết tâm thực hiện tội phạm của người thực hành Ví
dụ nếu như người xúi giục làm xuất hiện thái độ quyết tâm thực hiện tội phạm, thì người giúp sức (về mặt tinh thần) có vai trò củng cố thái độ quyết tâm thực hiện tội phạm đã được hình thành trong ý chí của người thực hành
KẾT LUẬN
Ở nước ta, hiện nay xuất hiện nhiều bằng nhóm tội phạm có tổ chức và hoạt động công khai, có hành vi hết sức nguy hiểm Chính vì vậy, việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm dưới hình thức đồng phạm nói riêng là việc làm thường xuyên, cấp bách luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng Do đó, việc nghiên cứu về những loại người đồng phạm trong khoa học và việc áp dụng nó trong thực tiễn đề trên cơ sở đó đưa ra những kiến giải lập pháp hoàn thiện để phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và ngăn chặn, hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả của tội phạm gây ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng