1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa Đổi mới tư duy với Đổi mới kinh tế Ở nước ta

15 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Liên Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn Và Vận Dụng Phân Tích Mối Liên Hệ Giữa Đổi Mới Tư Duy Với Đổi Mới Kinh Tế Ở Nước Ta
Người hướng dẫn Đào Thị Trang
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Khoa Học Chính Trị Và Nhân Văn
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầuTrong xã hội hiện nay, sự phát triển của kinh tế chi phối toàn bộ hệ thống nhân loại và sự đổi mới về tư duy, đổi mới kinh tế đã trở thành yếu tố cốt lõi để nâng cao vị thế của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN

oOo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI TƯ DUY VỚI ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA

Sinh viên thực hiện : Phạm Hải Yến

Giáo viên hướng dẫn : Đào Thị Trang

Hà Nội, tháng 11 năm 2024

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu 3

Nội dung 4

I Lý luận và thực tiễn 4

1 Khái niệm 4

1.1 Lý luận 4

1.2 Thực tiễn 4

2 Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn 5

II Đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta 6

1 Khái niệm 6

1.1 Đổi mới tư duy 6

1.2 Đổi mới kinh tế 7

2 Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế 9

III Vận dụng mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn vào phân tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước 10

Lời kết 14

Trang 3

Lời mở đầu

Trong xã hội hiện nay, sự phát triển của kinh tế chi phối toàn bộ hệ thống nhân loại và sự đổi mới về tư duy, đổi mới kinh tế đã trở thành yếu tố cốt lõi để nâng cao vị thế của một quốc gia Khi đất nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội, lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội - Đảng cộng sản Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới, hướng tới sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế Quá trình đổi mới vẫn tiếp tục đến ngày nay, Đảng xác định mục tiêu rõ ràng, trước hết là đổi mới về tư duy, sau đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm

“Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ thực tiễn là lý luận suông” (Hồ Chí Minh) Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của triết học Mác – Lênin Hiểu được lý luận và thực tiễn luôn vận động và biển đổi, cũng chính là hiểu được sự vận hành của thế giới khách quan hay đời sống kinh tế xã hội hiện nay Quá trình đổi mới kinh tế vốn là đề tài thu hút, có nhiểu công trình nghiên cứu về tuy nhiên lại chưa có nhiều công trình lý giải cặn kẽ về mối liên hệ giữa đổi mới tư duy đến đổi mới kinh tế ở Việt Nam Do đó, áp dụng kiến thức nguyên tác lý luận Mác – Lênin vào thực tế là nền kinh tế Việt Nam, tôi quyết định chọn đề tài: “Vận dụng mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn vào phân tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta” để nghiên cứu Trên cơ sở triết học Mác – Lênin và thực trạng công cuộc đổi mới của nước ta, tôi xin phân tích chủ đề theo bản chất của các khái niệm và cách áp dụng nó vào nền kinh tế

Trang 4

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Khái niệm

1.1 Lý luận

Theo Karl Marx và Friedrich Engels, lý luận được hiểu là hệ thống tri thức phản ánh các mối quan hệ bản chất, quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội, và tư duy

Lý luận được hiểu là sự tổng hợp và khái quát hóa tri thức từ thực tiễn, phản ánh các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy Hiểu đơn giản, lý luận được hình thành từ những kinh nghiệm sau khi được tổng kết Đó có thể là bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới quan hoặc thể hiện một chân lý sâu sắc, chính xác hơn

Lý luận có vai trò quan trọng trong việc định hướng hành động thực tiễn, giúp con người đưa ra các quyết định và giải pháp phù hợp với điều kiện khách quan Tuy nhiên, lý luận không phải là bất biến mà luôn cần được kiểm chứng, bổ sung và hoàn thiện thông qua thực tiễn, bởi thực tiễn chính là tiêu chuẩn cuối cùng để kiểm tra tính đúng đắn và hiệu quả của lý luận Trong đời sống hằng ngày, sự vật, hiện tượng liên tục vận động và phát triển, những tri thức – kinh nghiệm được sinh ra và dần dần tích lại thành lý luận Lý luận sau đó lại tiếp tục tác động mỗi cá nhân, để cá nhân có cơ sở để vận động và phát triển

1.2 Thực tiễn

Lenin khái quát thực tiễn là "toàn bộ hoạt động sản xuất, cách mạng, xã hội và khoa học" của con người Còn Karl Marx định nghĩa thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất, cảm tính, có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và con người Trong triết học Mác - Lê nin, thực tiễn được hiểu là toàn bộ hoạt động vật chất có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo thế giới khách quan và phục vụ nhu cầu của con người Thực tiễn không chỉ bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất mà còn bao hàm các hoạt động chính trị - xã hội, khoa học, văn hóa, và các lĩnh vực khác của đời sống Đơn giản hơn, thực tiễn là tất cả những hoạt động đã xảy ra trong quá khứ, có tác động đến hiện tại

và tương lại

Thực tiễn có ba dạng cơ bản, phản ánh các lĩnh vực hoạt động quan trọng của con người trong việc cải tạo và phát triển thế giới Trước hết, hoạt động sản xuất vật chất là dạng thực tiễn cơ bản và quan trọng nhất, bởi nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đây là quá trình con người sử dụng công cụ lao động để tác động vào tự nhiên, tạo ra của cải vật chất phục vụ cho đời sống Tiếp theo, hoạt động chính trị – xã hội

Trang 5

tập trung vào việc cải tạo và biến đổi xã hội, hướng đến sự phát triển các quan hệ xã hội, xây dựng và hoàn thiện chế độ xã hội Hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, lãnh đạo và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Cuối cùng, hoạt động thực nghiệm khoa học

là hoạt động nhằm rút ngắn quá trình nhận thức của con người, giúp con người khám phá

và áp dụng các quy luật tự nhiên để phục vụ việc cải tạo thế giới Ba dạng thực tiễn này gắn bó chặt chẽ và bổ trợ lẫn nhau, tạo thành nền tảng cho sự phát triển toàn diện của nhân loại

Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và tiêu chuẩn kiểm nghiệm của nhận thức Theo quan điểm của Mác - Lê nin, thực tiễn đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ giữa con người với thế giới Nó không chỉ là nguồn gốc sinh ra tri thức mà còn là môi trường để tri thức được kiểm chứng và hoàn thiện Qua đó, có thể thấy rằng mọi lý luận, tư tưởng hay tri thức chỉ có giá trị khi được thực tiễn kiểm nghiệm Thực tiễn là nơi sự việc xảy ra, là yếu tố trực diện tác động giúp con người nhận thức và thay đổi thế giới

2 Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn

Thực tiễn và lý luận là một vòng tròn, ràng buộc lẫn nhau, có lý luận mới có thực tiễn và ngược lại Ta hình thành lý luận trong quá trình tích lũy và tổng hợp kinh nghiệm,

để lý luận đó trở thành quan điểm sống, trở thành kim chỉ nam Nhưng chỉ khi thực tiễn diễn ra, kinh nghiệm mới có, lý luận mới được hình thành Vì vậy mà chỉ khi thực tiễn xảy

ra, lý luận mới có cơ hội để phát huy và tồn tại Bên cạnh đó, khi một lý luận được hình thành, nó thúc đẩy mỗi cá nhân hành động trong thực tiễn

Thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá tính đúng đắn của lý luận Lý luận nếu chỉ dừng lại trong tiềm thực sẽ không còn gọi là lý luận, nó luôn được vận hành trong thực tiễn và dùng thực tiễn để đánh giá tính đúng đắn

Lý luận luôn phục tùng thực tiễn, phục vụ thực tiễn và phát triển trên cơ sở cải tạo thực tiễn xã hội Chỉ khi được đưa vào thực tiễn, ý niệm, tư tưởng, lý luận mới có thể "cải tạo" thế giới Nếu dừng lại trong lĩnh vực ý thức, chúng không có khả năng cải biến một cái gì ngoài khả năng ý thức Các tư tưởng, tự chúng, không phải là thực tiễn, mô hình lý tưởng về xã hội tương lai thiếu sự cải tạo vật chất chỉ là mô hình lý luận Lý luận hoàn thành một chức năng nào đó trong xã hội không phải là ở ngoài khuôn khổ của thực tiễn,

mà là ở bên trong bản thân thực tiễn xã hội

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau

Trang 6

Lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn Không có lý luận thì trong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn

Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất và cũng không thể vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực tiễn

Tuy nhiên, Lý luận phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều.Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông Mối liên hệ của thực tiễn với lý luận còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn chân

lý, lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn

đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý Nhận thức khoa học còn có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn logic Nhưng tiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng, nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội cụ thể Quan hệ giữa chúng là quan hệ biện chứng Nắm bắt được tính chất biện chứng của quá trình đó, là tiền đề quan trọng giúp chúng ta có được lập trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng thiển cận, cũng như chủ nghĩa giáo điều máy móc và bệnh lý luận suông

II ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA

1 Khái niệm

1.1 Đổi mới tư duy

Mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội: Mỗi quốc gia, dân tộc đều phải suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện, đặc điểm của nước mình Hiện nay, nước ta còn đang ở thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,

có rất nhiều vấn đề cần được nhận thức, vận dụng đúng đắn, phù hợp với thực tế và quy luật khách quan; không thể nôn nóng, giáo điều, máy móc

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, giải phóng và phát triển sức sản xuất, bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững phải là nhiệm vụ chính trị trọng đại số một, nhiệm vụ trọng tâm

Trang 7

Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội: Tại Đại hội VI lần đầu tiên trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã đặt đúng tầm vấn đề xã hội trong mối quan hệ với kinh tế Và càng về sau Đảng ta càng khẳng định phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội: Phát triển văn hóa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, tiến bộ chính trị, là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thể hiện sự nhận thức mới, sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta

Giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị vì sự phát triển của đất nước: Chúng ta đã đổi mới nhận thức về tình hình thế giới và khu vực; chuyển từ cách nhìn thế giới chỉ dưới góc độ một vũ đài đấu tranh sang cách nhìn toàn diện hơn; coi thế giới như môi trường tồn tại và phát triển của Việt Nam; đổi mới tư duy đối ngoại theo tinh thần "thêm bạn bớt thù"…

Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: Chúng ta từng bước nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa kinh tế và quốc phòng - an ninh - đối ngoại; nhận thức toàn diện hơn về khái niệm "an ninh quốc gia" và "bảo vệ Tổ quốc"

Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ chính trị ở nước ta Báo cáo Chính trị tại Đại hội VII của Đảng cũng chỉ rõ: Thực chất của công cuộc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới

Nâng cao vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng

là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới cũng như toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Để có đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo đúng đắn và có hiệu quả, Đảng càng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, coi đây là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng

2 Đổi mới kinh tế

Đổi Mới về kinh tế được định nghĩa là: Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể: Một là, từ quan niệm về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần xã hội chủ nghĩa đã đi đến quan niệm về một nền

Trang 8

kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế này, ngoài hai thành phần nói trên, còn có: kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế ấy đều là bộ phận của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại và phát triển lâu dài, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh

Hai là, từ quan niệm cho rằng, để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phải nhanh chóng hoàn thành cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể, tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đi đến quan niệm cho rằng việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất

Ba là, từ quan niệm chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất đã đi đến quan niệm về một nền kinh tế nhiều sở hữu Trong đó, không chỉ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được thừa nhận, mà ngay chế độ công hữu cũng được hiểu không phải về tất cả các tư liệu sản xuất mà chỉ là về các tư liệu sản xuất chủ yếu để làm chỗ dựa cho nền kinh tế quốc dân

Bốn là, từ quan niệm kinh tế quốc doanh là chủ đạo đã đi đến quan niệm kinh tế nhà nước (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và những bộ phận khác như dự trữ quốc gia, ngân sách nhà nước) là chủ đạo

Năm là, từ quan niệm hợp tác xã thuần túy là kinh tế tập thể, cho rằng tập thể hóa tư liệu sản xuất càng mạnh, tỷ trọng sở hữu tập thể càng cao thì hợp tác xã càng gần chủ nghĩa xã hội, do đó mà gò ép những người lao động cá thể vào hợp tác xã, đã đi đến quan niệm hợp tác xã là một tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở người lao động tự nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ, với quy mô và mức độ tập thể hóa tư liệu sản xuất khác nhau

Sáu là, từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa bỏ nhanh các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu, đã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế nhà nước

và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, thì phải trải qua một quá trình xây dựng, củng cố và phát triển hai thành phần đó với những bước đi thích hợp

Bảy là, từ quan niệm Nhà nước phải chỉ huy nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung với những chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến quan niệm phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc Nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp

Trang 9

Tám là, từ quan niệm chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân phối theo lao động, đã đi đến quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội

Chín là, từ quan niệm thị trường xã hội chủ nghĩa đối lập với thị trường tư bản chủ nghĩa, hạn chế quan hệ kinh tế quốc tế, đã đi đến quan niệm về một nền kinh tế mở, thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu; kết hợp nội lực với ngoại lực, lấy phát huy nội lực là chính, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực để tạo nên sức mạnh tổng hợp; thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế nhưng vẫn giữ được tính độc lập tự chủ, giữ được độc lập, chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc Mười là, từ chỗ quan niệm đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế tư bản chủ nghĩa

đã đi đến quan niệm coi sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là thành quả phát triển qua nhiều phương thức sản xuất mặc

dù đến chủ nghĩa tư bản thì kinh tế thị trường phát triển đến mức điển hình

2 Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế nước ta

Tại sao Đảng ta lại đặt ra yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy? Bởi vì không có bước đổi mới tư duy đi trước thì không có bất cứ một sự đổi mới nào cả Đổi mới tư duy để tìm ra những vấn đề lý luận và thực tiễn nước ta, làm căn

cứ phương pháp luận cho việc xác định con đường và bước đi sắp tới Đổi mới tư duy thực chất là một cuộc giải phóng triệt để mang ý nghĩa lịch sử Tư tưởng giải phóng là một quá trình rời bỏ khỏi bản thân mình và toàn xã hội những gì đang kìm hãm và cản trở sự phát triển, là quá trình tổ chức lại xã hội và đưa vào cơ chế vận hành của xã hội một hệ thống đồng bộ các yếu tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực đẩy cho sự phát triển nhanh và bền vững

Ngày nay cách mạng đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới khác về chất: Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa - Một phương thức chưa từng có trong tiền lệ Con đường mới lại diễn ra trong xu thế toàn cầu hoá và sự cạnh tranh rất quyết liệt trước sức ép của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, trước sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ Trong hoàn cảnh ấy, đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng trở thành nhu cầu không thể thiếu

Thực tiễn cho thấy, sức sống của một Đảng chính trị tập trung trước hết là ở đường lối của chính Đảng ấy Là một Đảng cầm quyền, Đảng ta lãnh đạo cách mạng cũng chính bằng đường lối chính trị của mình Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa rõ ràng

là những vấn đề hoàn toàn mới cả về lý luận và thực tiễn Mác, Ăng ghen, Lênin và kể cả

Trang 10

các lãnh tụ tiền bối của Đảng ta cũng chưa từng đề cập đến vấn đề này Con đường phía trước đòi hỏi chúng ta phải hoàn toàn sáng tạo mới

Con đường ấy vừa thể hiện sự trung thành với quá khứ, nhưng không lệ thuộc vào quá khứ Trong kinh tế, chúng ta một mặt rất muốn phát triển, nhưng mặt khác lại rất sợ phát triển vượt khỏi khuôn khổ chuẩn mực của chủ nghĩa xã hội theo những tiêu chí truyền thống Vì vậy, đường lối kinh tế vẫn mang nặng hơi thở của lối tư duy cũ, tư duy thời kế hoạch hoá-tư duy bao cấp, đối lập với kinh tế thị trường Kết quả là đường lối đổi mới trong kinh tế chưa thực sự khơi dậy mọi nguồn lực hiện có Nguy cơ tụt hậu về kinh tế ngày càng xa hơn là có thật Do đó, Đảng đã chỉ đạo chuyển sang kinh tế thị trường, thiết

kế một hệ thống chính sách nhằm tạo điều kiện để tất cả mọi công dân ở trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài, có khả năng làm kinh tế đều hoàn toàn có thể tham gia làm kinh tế, theo những định hướng vĩ mô của nhà nước,trong khuôn khổ của luật pháp

Khẳng định đổi mới tư duy là trước tiên, là cơ sở cho việc đổi mới ở các lĩnh vực khác, Đảng ta cũng khẳng định đổi mới kinh tế giữ vai trò trọng tâm Điều đó không chỉ có

ý nghĩa là kinh tế có vị trí hàng đầu, có tác dụng quyết định mà còn là vì phát triển kinh tế trong điều kiện bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội như nước ta, có tầm quan trọng đặc biệt, nếu không muốn nói là quan trọng bậc nhất

Nó còn có ý nghĩa là vai trò kinh tế tuy chiếm vị trí hàng đầu nhưng tư duy kinh tế của chúng ta trong nhiều năm qua còn quá lạc hậu so với cuộc sống, cản trở không ít đến

sự phát triển kinh tế Tư duy kinh tế lỗi thời bắt nguồn từ căn bệnh giáo điều, bảo thủ, trì trệ, luôn bám lấy cái cũ, không chịu đổi mới, chính vì vậy mà nền kinh tế - xã hội nước ta

đã lâm vào một cuộc khủng hoảng kéo dài và đang trở thành vấn đề nóng bỏng, nổi lên hàng đầu Đổi mới tư duy kinh tế, vì vậy, là điểm xuất phát trong đổi mới lý luận của Đảng, là điều hợp với thực tế, với logic cuộc sống.Trong quá trình đổi mới, từ thực tế nền kinh tế nước ta ở điểm xuất phát thấp kém, lạc hậu, lại lâm vào khủng hoảng từ cuối thập niên bảy mươi, Đảng ta chủ trương lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, tạo ra bước phát triển có tính bứt phá để sớm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân

III VẬN DỤNG MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ ÁP DỤNG VÀO PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ ĐỔI MỚI KINH

TẾ Ở NƯỚC TA

Bối cảnh quốc tế mới và những đòi hỏi nội tại của đất nước đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và hoàn thiện tư duy phát triển kinh tế - xã hội trên một số nội dung quan trọng dưới đây:

Ngày đăng: 28/06/2025, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Văn Cấp, Đổi mới tư duy nhằm mở đường cho sự phát triển KT-XH tính đột phá ở nước ta, tạp chí Tài chính, số đăng ngày 14/8/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy nhằm mở đường cho sự phát triển KT-XH tính đột phá ở nước ta
Tác giả: Chu Văn Cấp
Nhà XB: tạp chí Tài chính
Năm: 2018
2. Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X về “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X về “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
3. Phan Đình Diệu, Tiếp tục đổi mới tư duy về kinh tế xã hội, tạp chí Tia sáng, số đăng ngày 28/9/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới tư duy về kinh tế xã hội
Tác giả: Phan Đình Diệu
Nhà XB: tạp chí Tia sáng
Năm: 2006
4. Trần Nhâm, Tư duy đổi mới của đồng chí Trường Chinh, Việt báo, số đăng ngày 8/2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy đổi mới của đồng chí Trường Chinh
Tác giả: Trần Nhâm
Nhà XB: Việt báo
Năm: 2007
5. Vi Thái Lang, Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, tạp chí Triết học, số đăng ngày 11/5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Tác giả: Vi Thái Lang
Nhà XB: tạp chí Triết học
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w