Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công ngh
NỘI DUNG
Nghiên cứu về giáo dục định hướng nghề nghiệp tập trung vào việc cung cấp thông tin về nhận thức nghề nghiệp và lập kế hoạch cho tương lai nghề nghiệp của cá nhân Điều này không chỉ giúp hướng dẫn và tư vấn lựa chọn nghề nghiệp mà còn hỗ trợ tài chính và các quyết định sau trung học (Carl D Perkins, 2008; Kell & Brow, 1998).
Một nghiên cứu của Leann Morgan (2008) cho rằng ĐHNN là khả năng hiểu biết sự khác biệt giữa công việc, ngành nghề và nghề nghiệp, đồng thời nhận thức về cơ hội nghề nghiệp tại địa phương, trong nước và toàn cầu, dựa trên các yếu tố kinh tế, văn hóa và ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp.
Tác giả Phạm Minh Hạc (2001) đã chỉ ra rằng cần thiết phải đổi mới giáo dục - đào tạo tại Việt Nam, tập trung vào việc xây dựng nền giáo dục kỹ thuật phục vụ phát triển công nghệ và ưu tiên giáo dục nghề nghiệp Đồng thời, tác giả Phạm Tất Dong đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động hướng nghiệp, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hình thành năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ, giúp họ tự tìm kiếm việc làm phù hợp với năng lực và sở thích cá nhân.
Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) đã nghiên cứu công trình “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT”, trong đó phân tích cơ sở lý luận của giáo dục hướng nghiệp Họ cũng đã tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật tại trường THPT, đồng thời xây dựng hệ thống nguyên tắc, phương pháp và hình thức giáo dục kĩ thuật phù hợp.
Chương trình GDPT 2018 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018) cấp THPT giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực cần thiết, đồng thời lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích và hoàn cảnh cá nhân Giáo dục định hướng nghề nghiệp (ĐHNN) ra đời nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho học sinh tham gia lao động trong các ngành nghề xã hội dựa trên năng lực và hứng thú của từng cá nhân.
Vào đầu thế kỷ XX, dựa trên các học thuyết tâm lý giáo dục của J Piaget và L Vygotsky, các nhà sư phạm Mỹ như Woodward, Richard, J Dewey và W Kilpatrick đã phát triển lý luận cho mô hình dạy học dự án Mô hình dạy học dự án (DHDA) đã được áp dụng cho học sinh ở mọi lứa tuổi, trong hầu hết các môn học và trong nhiều môi trường học tập khác nhau.
Năm 1918, nhà tâm lý học William H Kilpatric và các nhà nghiên cứu
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về giáo dục định hướng nghề nghiệp Định hướng nghề nghiệp được hiểu là sự cung cấp thông tin về nhận thức nghề nghiệp và lập kế hoạch liên quan đến tương lai nghề nghiệp và học tập của một cá nhân, góp phần hướng dẫn và tư vấn lựa chọn nghề nghiệp, hỗ trợ tài chính và lựa chọn sau trung học (Carl D Perkins, 2008, Kell & Brow, 1998)
ĐHNN được định nghĩa là sự hiểu biết về sự khác biệt giữa công việc, ngành nghề và nghề nghiệp, cũng như nhận thức về cơ hội nghề nghiệp tại địa phương, trong nước và toàn cầu Điều này phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, tác động văn hóa và ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp (Leann Morgan, 2008).
Tác giả Phạm Minh Hạc (2001) đã chỉ ra rằng cần thiết phải đổi mới giáo dục - đào tạo tại Việt Nam, tập trung vào việc xây dựng nền giáo dục kỹ thuật phục vụ phát triển công nghệ và ưu tiên giáo dục nghề nghiệp Đồng thời, tác giả Phạm Tất Dong đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động hướng nghiệp, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hình thành năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ, giúp họ tự tìm kiếm việc làm phù hợp với năng lực và sở thích cá nhân.
Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) đã nghiên cứu về "Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT" Nghiên cứu này phân tích cơ sở lý luận của giáo dục hướng nghiệp, tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật tại trường THPT, đồng thời xây dựng hệ thống nguyên tắc, phương pháp và hình thức giáo dục kỹ thuật phù hợp.
Chương trình GDPT 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực cần thiết để lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích và hoàn cảnh cá nhân Giáo dục định hướng nghề nghiệp (ĐHNN) ra đời nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho học sinh tham gia lao động trong các ngành nghề xã hội, dựa trên năng lực và hứng thú của từng cá nhân.
1.1.2 Các nghiên cứu về mô hình dạy học dự án Đầu thế kỷ XX, trên cơ sở các học thuyết tâm lý giáo dục của J Piagie, L Vugotxki, các nhà sư phạm Mỹ (Woodward; Richard; J.Deway; W.Kilpatrich) đã xây dựng lý luận cho dạy học dự án DHDA đã được áp dụng cho HS ở mọi lứa tuổi với hầu hết các môn học và trong những môi trường học tập đa dạng
Năm 1918, nhà tâm lý học William H Kilpatric và các nhà nghiên cứu
-6- của trường đại học ở Columbia đã có những đóng góp lớn để truyền bá DHDA qua các giờ học, hội nghị và các tác phẩm
Từ đầu thế kỷ XX, DHDA đã khởi xướng một phong trào xã hội-giáo dục mạnh mẽ ở Bắc Mỹ và Châu Âu, nhằm cải cách phương pháp dạy học trong trường học Phong trào này tập trung vào việc tạo ra sự hào hứng cho học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức, đồng thời khuyến khích sự tham gia tích cực và có ý thức của học sinh trong quá trình học tập.
Trong lịch sử phát triển Giáo dục ở Việt Nam thì các vấn đề: phát triển NL người học, phương pháp DHDA đã được chú ý từ lâu
Từ năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai dự án “Bàn tay nặn bột” tại nhiều trường phổ thông trên toàn quốc Phương pháp dạy học này tập trung vào việc thực hiện thí nghiệm và nghiên cứu, giúp học sinh tự khám phá kiến thức qua các hoạt động thực tiễn “Bàn tay nặn bột” khuyến khích học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề trong cuộc sống thông qua thí nghiệm, quan sát và nghiên cứu tài liệu Đây là một phương pháp học tập định hướng phát triển mà Bộ Giáo dục đang áp dụng.
Hai tác giả Nguyễn Vãn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo có bài viết:
Phương pháp dạy học dự án (DHDA) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên Trong bài viết của Đỗ Hương Trà trên tạp chí Giáo dục số 157, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và tiến trình thực hiện DHDA một cách chi tiết Tài liệu Dự án Việt Bỉ cũng cung cấp thông tin sâu sắc về các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực, góp phần làm rõ hơn về ứng dụng của DHDA trong giáo dục.
DHDA, bao gồm các bước thực hiện, tiêu chí đánh giá,
DHDA không phải là một khái niệm mới trong ngành Giáo dục cả trong nước và quốc tế Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào cơ sở lý thuyết và các biện pháp phát triển năng lực dạy học ngoại ngữ cho học sinh thông qua phương pháp DHDA Vì vậy, việc tìm hiểu cơ sở lý luận về tổ chức DHDA để phát triển một số năng lực cho học sinh là rất cần thiết.
Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1 Năng lực định hướng nghề nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm Định hướng nghề nghiệp là một quá trình tìm hiểu, đối chiếu, so sánh những yêu cầu về đặc điểm tư chất và yêu cầu của hoạt động lao động xã hội với những điều kiện cụ thể của bản thân trên cơ sở hình dung ra trước hoạt động lao động của cá nhân trong hiện tại và tương lai
Năng lực định hướng nghề nghiệp là khả năng tự nhận thức về sở thích và thế mạnh của bản thân, cũng như khả năng nhận thức về các cơ hội nghề nghiệp Điều này bao gồm việc lập kế hoạch để đạt được các mục tiêu hướng nghiệp cá nhân.
Chương trình GDPT (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2018) xác định năng lực định hướng nghề nghiệp (ĐHNN) là một phần của năng lực tự chủ và tự học Ở cấp THPT, học sinh cần nhận thức rõ giá trị sống cá nhân, hiểu biết về thị trường lao động, cũng như yêu cầu và triển vọng của các ngành nghề Điều này giúp các em xác định hướng phát triển phù hợp sau THPT, lập kế hoạch và lựa chọn môn học tương ứng với năng lực định hướng nghề nghiệp của bản thân.
1.2.1.2 Cấu trúc của năng lực định hướng nghề nghiệp
1 Kĩ năng nhận thức về sở thích, hứng thú của bản thân
- Xác định được sở thích, khả năng của bản thân
- Thể hiện sự hiểu biết về các đặc điểm cá nhân liên quan đến việc đạt được mục tiêu nghề nghiệp cá nhân
- Xác định được mong muốn, ước mơ, mục tiêu cho mình và dùng cho việc hướng nghiệp suốt đời
2 Kĩ năng nhận thức về ứng dụng kiến thức môn học và nghề nghiệp liên quan
- Xác định được kiến thức cốt lõi của môn học
- Xác định và giải thích được mối liên quan giữa nội dung học tập và ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực ngành nghề
Phân tích thông tin về nghề nghiệp và các cơ quan, doanh nghiệp sẽ giúp bạn đưa ra quyết định chính xác trong việc chọn lựa nghề nghiệp và nơi làm việc trong tương lai.
3 Kĩ năng lập kế hoạch hướng nghiệp
- Xác định được mục tiêu học tập liên quan đến lựa chọn ngành nghề cho bản thân
- Xác định được ưu tiên nghề nghiệp dự kiến
Để phát triển các kỹ năng nghề nghiệp, cần xác định các biện pháp như tham gia tình nguyện, hoạt động ngoại khóa, làm bán thời gian và các chương trình chuyển tiếp từ trường học đến nơi làm việc.
- Xây dựng được kế hoạch hướng nghiệp cá nhân
1.2.2.1 Khái niệm dạy học theo dự án
Dạy học dự án (DHDA) được hiểu theo nhiều cách khác nhau, với một số tác giả xem đây là một tư tưởng hoặc quan điểm dạy học Một số người khác lại coi DHDA là một hình thức dạy học, vì trong quá trình thực hiện dự án, nhiều phương pháp dạy học cụ thể được áp dụng Ngoài ra, DHDA cũng có thể được xem như một phương pháp dạy học phức hợp, trong đó người học được hướng dẫn để phát triển kỹ năng và kiến thức thông qua các dự án thực tiễn.
GV giúp người học tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng thông qua việc giải quyết các bài tập dự án thực tế, kết hợp lý thuyết với thực hành, và tạo ra sản phẩm cụ thể phù hợp với chương trình học.
1.2.2.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án
Định hướng thực tiễn của dự án xuất phát từ các tình huống trong xã hội, nghề nghiệp và đời sống Nhiệm vụ của dự án cần phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học, nhằm tạo ra các vấn đề có ý nghĩa thực tiễn xã hội Các dự án học tập không chỉ gắn kết việc học trong nhà trường với thực tiễn đời sống mà còn có thể mang lại những tác động xã hội tích cực trong những trường hợp lý tưởng.
Hướng tới việc khơi dậy hứng thú của học sinh, việc cho phép các em tham gia chọn đề tài và nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích cá nhân là rất quan trọng Hơn nữa, hứng thú của người học cần được duy trì và phát triển liên tục trong suốt quá trình thực hiện dự án.
Dự án mang tính phức hợp và liên môn, kết hợp tri thức từ nhiều lĩnh vực và môn học khác nhau để giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề phức tạp.
Trong quá trình thực hiện dự án, cần kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và áp dụng lý thuyết vào thực tiễn Điều này giúp kiểm tra, củng cố và mở rộng hiểu biết lý thuyết, đồng thời rèn luyện kỹ năng hành động và kinh nghiệm thực tiễn cho người học.
Trong dạy học dựa trên hoạt động (DHDA), người học cần có tính tự lực cao, tham gia tích cực vào các giai đoạn của quá trình học tập Điều này không chỉ khuyến khích sự sáng tạo và trách nhiệm của người học mà còn yêu cầu giáo viên đóng vai trò tư vấn và hướng dẫn Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phải phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sinh và độ khó của nhiệm vụ.
Cộng tác làm việc là yếu tố quan trọng trong các dự án học tập nhóm, nơi các thành viên phải phối hợp và phân công công việc hiệu quả DHDA không chỉ yêu cầu mà còn rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm giữa học sinh, giáo viên và các lực lượng xã hội khác tham gia dự án Điều này thể hiện rõ nét đặc điểm của học tập mang tính xã hội.
Trong quá trình thực hiện dự án, sản phẩm không chỉ dừng lại ở những thu hoạch lý thuyết, mà thường tạo ra những sản phẩm vật chất từ hoạt động thực tiễn.
-9- tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
1.2.2.3 Các hình thức dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án có thể phân loại theo nhiều cơ sở khác nhau
Dự án có thể được phân loại theo lĩnh vực hoạt động, bao gồm các loại như dự án về giáo dục, dự án về môi trường, dự án về văn hóa và dự án về kinh tế.
- Phân loại theo chuyên môn:
+ Dự án trong một môn học: Trọng tâm nằm ở một môn học
+ Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau
+ Dự án ngoài chương trình: Là dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học
- Phân loại theo quy mô: Người ta phân các dự án nhỏ, vừa, lớn dựa vào: Thời gian, chi phí, số người tham gia, phạm vi tác động
+ Dự án nhỏ: Thực hiện trong 1 số giờ học, có thể 2 - 6 giờ học
+ Dự án trung bình: Dự án trong 1 số ngày, thường giới hạn 1 tuần hoặc 40 giờ học
+ Dự án lớn: Thực hiện với thời gian lớn, trên 1 tuần và có thể kéo dài nhiều tháng
- Phân loại dựa vào tính chất của công việc:
+ Dự án “tham quan và tìm hiểu”
Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1 Phương pháp điều tra, nghiên cứu để xác định cơ sở thực tiễn của đề tài Để xác định cơ sở thực tiễn của đề tài về việc rèn luyện và phát triển NL cho HS THPT cũng như thực trạng xây dựng và sử dụng hình thức tổ chức DHDA trong dạy học bộ môn Sinh học nói chung và trong dạy học chủ đề
Trong năm học 2023 – 2024, tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của 32 giáo viên giảng dạy môn Sinh học và 241 học sinh tại các trường THPT huyện Diễn Châu về nội dung "Sinh học Vi sinh vật" trong chương trình Sinh học 10.
- Tìm hiểu về mức độ sử dụng các PPDH trong quá trình dạy học môn Sinh học
Nghiên cứu hứng thú và mức độ áp dụng DHDA của giáo viên trong giảng dạy bộ môn sinh học, đặc biệt là chủ đề “Sinh học Vi sinh vật”, là rất quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục Việc tìm hiểu này giúp xác định các phương pháp giảng dạy hiệu quả và khuyến khích sự tham gia của học sinh.
- Tìm hiểu hứng thú của HS với bộ môn sinh học và phương pháp DHDA
- Tìm hiểu thực trạng học bộ môn Sinh học nói chung và cảm nhận, suy nghĩ của HS khi học chủ đề “Sinh học Vi sinh vật” nói riêng
2 Vấn đáp- tái hiện, thông báo
3 Dạy học giải quyết vấn đề
5 DH có sử dụng thí nghiệm
6 DH sử dụng BT tình huống
10 DH bằng sơ đồ hóa
12 DH bằng tổ chức HĐTN
Thường xuyên Không thường xuyên Không sử dụng
1.3.2 Kết quả điều tra, khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.2.1 Thực trạng sử dụng PPDH của GV trong dạy học môn Sinh học Để tìm hiểu việc sử dụng các PPDH trong dạy học bộ môn sinh học ở trường THPT, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến khảo sát bằng cách phát phiếu hỏi (Phụ lục 1), kết quả thống kê thể hiện trong bảng 1.a (Phụ lục 1) và biểu đồ 1.1
Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ % về mức độ sử dụng PPDH của GV trong dạy học môn Sinh học
Theo bảng 1.a và biểu đồ 1.1, phương pháp giảng dạy phổ biến nhất được giáo viên sử dụng là vấn đáp, thuyết trình, trực quan, và nêu giải quyết vấn đề Tuy nhiên, các phương pháp khuyến khích tính tích cực của học sinh vẫn còn hạn chế Đặc biệt, đối với dạy học nhóm hoạt động (DHGA), chỉ có 3,1% giáo viên thường xuyên áp dụng, trong khi 68,8% giáo viên không sử dụng phương pháp này.
1.3.2.2 Kết quả khảo sát về thực trạng sử dụng các phương pháp DHDA phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp trong dạy học môn Sinh học 10 THPT
Tiến hành điều tra giáo viên về sự hiểu biết phương pháp dạy học dựa trên hoạt động nhằm phát triển năng lực dạy học ngoại ngữ trong môn sinh học lớp 10, với kết quả được trình bày trong bảng 1.1 và biểu đồ 1.2.
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về mức độ hiểu biết về phương pháp DHDA trong giảng dạy sinh học của GV Chưa biết Nghe qua Biết Hiểu
Biểu đồ 1.2 Thực trạng tổ chức dạy học ĐHNN qua môn Sinh học
Biểu đồ cho thấy rằng các hoạt động dạy học mang tính ứng dụng cho học sinh đã được giáo viên tổ chức trong giờ học môn Sinh học, nhưng chỉ diễn ra trong một số tiết học Cụ thể, có 62,7% học sinh tham gia thảo luận về các vấn đề xã hội, 61,3% tìm hiểu về các nghề nghiệp liên quan đến môn học, và 62% tìm hiểu công việc thực tế Hoạt động thường xuyên hơn là thảo luận các câu hỏi liên quan đến thực tế, với tỷ lệ 65,5% Tuy nhiên, việc giáo viên tổ chức các hoạt động giúp học sinh ứng dụng kiến thức vào các ngành nghề và thông tin về nghề nghiệp vẫn còn hạn chế, và một số giáo viên chưa bao giờ thực hiện các hoạt động này trong giờ học.
1.3.2.3 Sự hứng thú của HS khi học môn Sinh học thông qua DHDA
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát mức độ hứng thú của học sinh (HS) đối với môn Sinh học và phương pháp dạy học (PPDH) dự án thông qua phiếu thăm dò từ 241 HS ở các lớp thực nghiệm và đối chứng tại các trường THPT ở Diễn Châu Kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 1.2.
Bảng 1.2 Mức độ hứng thú của HS với môn học
Nhân tố/item Không đồng ý Đồng ý Rất đồng ý
Em thường cảm thấy vui khi học các chủ đề về
Em thích đọc về các chủ đề khoa học Sinh học 25,3 47,7 27,0
Em cảm thấy vui khi thực hiện các chủ đề Sinh học 21,6 44,8 33,6
Em thích có được những hiểu biết mới về Sinh học 20,3 33,6 46,1
Em thích học về Sinh học 24,5 51,0 24,5 Thích học môn sinh theo tổ chức DHDA 13,3 49,4 37,3
Theo bảng 1.2, 79,7% học sinh thể hiện sự hứng thú với những hiểu biết mới về Sinh học, trong khi 74,7% thích đọc về các chủ đề Sinh học Điều này tạo nền tảng thuận lợi và nuôi dưỡng thái độ học tập tích cực cho việc học ngoại ngữ của học sinh Hơn nữa, 78,4% học sinh cảm thấy vui khi học các chủ đề Sinh học, cho thấy rằng môn học này có sức thu hút và tạo hứng thú cho các em trong quá trình học tập.
1.3.2.4 Thực trạng nhận thức và tiếp cận thông tin nghề nghiệp của học sinh
Kết quả khảo sát thực trạng tiếp cận thông tin nghề nghiệp qua dạy học
Bảng 1.3 Mức độ tiếp cận thông tin nghề nghiệp của HS
Nhân tố Rất đầy đủ
Các nghề nghiệp liên quan Sinh học hiện có trên thị trường việc làm
Nơi tìm kiếm thông tin về nghề nghiệp liên quan đến Sinh học
Các bước mà HS cần thực hiện nếu muốn có nghề nghiệp liên quan đến Sinh học
Nhà tuyển dụng hoặc công ty tuyển người làm việc trong các nghề nghiệp liên quan đến Sinh học
Kết quả khảo sát cho thấy rằng học sinh chưa được cung cấp đầy đủ thông tin về các nghề nghiệp liên quan đến môn học Cụ thể, 50,8% học sinh không được giới thiệu hoặc chỉ được giới thiệu không tốt về các ngành nghề liên quan đến Sinh học trên thị trường việc làm Hơn nữa, 64,4% học sinh không rõ nơi tìm kiếm thông tin nghề nghiệp.
70% học sinh chưa được hướng dẫn đầy đủ về các bước cần thực hiện khi lựa chọn nghề nghiệp Nhận thức về nghề nghiệp là một biểu hiện quan trọng của năng lực định hướng nghề nghiệp Tuy nhiên, mức độ tiếp cận thông tin nghề nghiệp của học sinh vẫn còn thấp Do đó, trong quá trình dạy học, cần có các biện pháp nhằm tạo điều kiện cho học sinh có được nhận thức đầy đủ và thuận lợi hơn về thông tin nghề nghiệp.
Từ những nghiên cứu trên đây, tôi nhận thấy:
Phương pháp DHDA tại ĐHNN mang lại nhiều lợi ích, giúp giáo viên tập trung vào người học và phát triển toàn diện Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này trong thực tế còn hạn chế, do phần lớn giáo viên chưa hiểu rõ hiệu quả của nó Một số ít giáo viên đã sử dụng nhưng chưa triệt để, trong khi nhiều học sinh cảm thấy chán nản và sợ học môn sinh do thiếu kiến thức, dẫn đến việc học không còn ý nghĩa với bản thân và cuộc sống.
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi đã phát triển các giải pháp hiệu quả cho việc giảng dạy chủ đề "Sinh học Vi sinh vật" trong chương trình Sinh học lớp.
Mục tiêu của 10 giải pháp là khắc phục những bất cập trong việc giảng dạy môn Sinh học tại các trường THPT, đồng thời góp phần đổi mới phương pháp dạy học Sinh học để phù hợp với yêu cầu và xu thế giáo dục hiện đại.
Dựa trên những vấn đề đã nêu, chúng tôi đã xây dựng một quy trình DHDA nhằm nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh trong việc giảng dạy chủ đề "Sinh học vi sinh vật" trong chương trình Sinh học lớp 10.
Quy trình dạy học theo mô hình dạy dự án nhằm phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế nội dung dạy học theo mô hình dạy học dự án Để thiết kế nội dung dạy học theo mô hình DHDA một cách hiệu quả, cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Quán triệt mục tiêu dạy học dự án
Dạy học dự án hướng đến mục tiêu:
Phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề: Học sinh được đặt vào tình huống thực tế, phải tìm hiểu, phân tích và đưa ra giải pháp
Tăng cường khả năng làm việc nhóm: Các dự án thường yêu cầu hợp tác, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp và làm việc chung
Nâng cao tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc khám phá và đề xuất ý tưởng mới Học dự án giúp học sinh ứng dụng kiến thức vào thực tế, từ đó nhận thức rõ hơn về ý nghĩa thực tiễn của kiến thức và nâng cao hiệu quả học tập.
Tự chủ và trách nhiệm: Học sinh phải tự tìm kiếm thông tin, lập kế hoạch và quản lý tiến độ công việc
Hứng thú học tập: Học tập thông qua dự án giúp HS cảm thấy thú vị, chủ động và yêu thích việc học hơn
Thông qua các tình huống thực tế trong quá trình thực hiện dự án, học sinh sẽ tự tìm ra câu trả lời cho những vấn đề trong cuộc sống Các hoạt động trong dự án học tập không chỉ giúp hình thành kiến thức và kỹ năng mà còn phát triển tư duy và định hướng nghề nghiệp cho các em.
Nguyên tắc 2 trong dạy học dự án nhấn mạnh các đặc điểm quan trọng như định hướng học sinh, thực tiễn, sản phẩm, hoạt động, tính phức hợp và sự cộng tác Dạy học dự án (DHGA) cần dựa trên những đặc điểm này để đạt hiệu quả cao trong quá trình giáo dục.
- Nội dung dạy học phải gắn liền với thực tế, giúp HS giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống
- Cần lựa chọn những chủ đề dự án mà HS có thể dễ dàng tiếp cận và thu thập thông tin
- HS cần được khuyến khích tư duy sáng tạo, tìm ra những giải pháp mới mẻ cho dự án
- Cần tạo môi trường học tập cởi mở, khuyến khích HS đưa ra những ý tưởng táo bạo, độc đáo
- Nội dung dạy học cần tích hợp kiến thức từ nhiều môn học khác nhau, giúp học sinh hình thành tư duy liên môn
- Cần khuyến khích HS sử dụng kiến thức từ các môn học khác nhau để giải quyết vấn đề trong dự án
Nguyên tắc 3: Sử dụng nội dung bài học để giải quyết dự án
Dự án thiết kế cần liên kết chặt chẽ với các chuẩn kiến thức, sử dụng kiến thức từ bài học để giải quyết các vấn đề trong dự án Phạm vi của dự án phải nằm trong giới hạn mục tiêu kiến thức mà học sinh cần đạt được theo chương trình học.
Nguyên tắc 4: Phát huy tối đa tính chủ động nghiên cứu của người học
Học sinh (HS) cần chủ động tham gia vào quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án Việc HS tự lập kế hoạch, thực hiện dự án và báo cáo sản phẩm đánh giá lẫn nhau không chỉ tăng cường hứng thú mà còn phát triển các kỹ năng học tập cần thiết.
- GV đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện cho HS học tập một cách chủ động
Nguyên tắc 5: Sản phẩm học theo dự án được mở rộng và cụ thế hóa nội dung trong bài học
Sản phẩm dự án có thể là tranh ảnh, bài trình chiếu powpoint, tờ rơi, sản
-18- phẩm thật thể hiện được nội dung của dự án
Nguyên tắc 6: Thời gian thực hiện dự án không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp
Dự án có thể kéo dài từ 1 giờ đến nhiều tháng, tùy thuộc vào phạm vi của nó Thời gian thực hiện dự án có thể diễn ra ngoài giờ học chính thức hoặc trong các hoạt động ngoại khóa Mặc dù không bắt buộc phải tuân theo phân phối chương trình, nhưng các dự án vẫn cần đảm bảo đầy đủ nội dung và mục tiêu của chương trình học.
Nguyên tắc 7: Khả năng đánh giá
- Quá trình học tập cần được ĐG một cách đa dạng và toàn diện, dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau
- Cần đánh giá NL của HS trong việc giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, tư duy sáng tạo,
2.2.2 Quy trình thiết kế và tổ chức mô hình dạy học dự án
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất quy trình thiết kế mô hình DHDA với ba giai đoạn chính, phù hợp với từng dự án và hoàn cảnh cụ thể Các giai đoạn này có thể được tổ chức và thực hiện theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào không gian và thời gian của từng dự án.
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị
Giai đoạn 2: Giai đoạn thực hiện dự án
Giai đoạn 3: Báo cáo, đánh giá dự án a Giai đoạn chuẩn bị
Bước 1: Xem xét các yếu tố cần thiết để dạy học dự án hiệu quả
- Lựa chọn nội dung học tập: Phạm vi một bài hay một chương, một chủ đề; Phạm vi một môn hay liên môn
- Phân tích mục tiêu của bài học
Chọn những nội dung thực tế, thời sự và gần gũi với học sinh để thu hút sự chú ý của người học.
- Từ các nội dung đã chọn, xác định dự án lớn phù hợp với các nội dung
- Tài liệu: Có sẵn hay GV cung cấp, thư viện, mạng internet, bạn bè
- Các công cụ hỗ trợ: máy tính, máy ảnh, máy quay phim, ghi âm
- Xác định các chủ đề của dự án lớn, chuyên thành dự án nhỏ
Trong mỗi dự án lớn, giáo viên thường đặt ra những câu hỏi quan trọng liên quan đến chủ đề của dự án, bao gồm: cái gì? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? và Như thế nào?
Trong các câu hỏi này thì câu hỏi tại sao và như thế nào là quan trọng nhất
Giáo viên tạo sơ đồ tư duy cho từng câu hỏi, từ đó hình thành các tiểu chủ đề nhỏ Những tiểu chủ đề này chính là các dự án nhỏ mà mỗi nhóm cần thực hiện, với số lượng dự án nhỏ phù hợp với yêu cầu.
-19- sự phân chia nhóm trong một lớp (thường là 3- 5 dự án nhỏ) Phần này HS sẽ được
GV hướng dẫn thảo luận trong giai đoạn đầu tiên của dự án
Bước 2: Thiết kế bài học theo dự án
* Thiết kế tình huống dự án:
- Tình huống dự án là một bài tập tình huống mà người học phải giải quyết bằng kiến thức theo nội dung bài học
- Khi thiết kế ý tưởng dự án, nên chú ý đến các vấn đề thực tế và các vấn đề mà HS muốn tìm hiểu
* Thiết kế mục tiêu: Theo phẩm chất, năng lực
Xây dựng các mục tiêu cần đạt của dự án (thế hiện dưới dạng các câu hởi định hướng cho HS trong quá trình thực hiện dự án)
* Xây dựng nội dung kịch bản và hình thức sản phẩm của dự án
* Thiết kế bộ khung câu hỏi: 3 dạng
+ Câu hỏi khái quát: Câu hỏi có tính mở rộng, có tính liên môn, đề cập đến ý tưởng lớn, khái niệm
Câu hỏi bài học cần thể hiện mức độ hiểu biết và các khái niệm cốt lõi của dự án, đồng thời phải có đáp án mở để thu hút học sinh khám phá những ý tưởng cụ thể liên quan đến từng chủ đề, môn học và bài học.
Câu hỏi nội dung mang tính thực tiễn cao, bám sát chuẩn và mục tiêu, giúp học sinh xác định rõ “ai”, “cái gì”, “ở đâu” Điều này hỗ trợ học sinh tập trung vào những thông tin liên quan đến chủ đề và mục tiêu bài học.
Khi xây dựng câu hỏi phải :
+ Căn cứ vào mục tiêu đề ra
+ Thiết kế những câu hỏi, vấn đề thực tiễn định hướng người học tiếp cận, tư duy về những khái niệm chính
+ Câu hỏi được xây dựng nhằm giải quyết từng vấn đề mà kế hoạch học tập đã nêu ra
+ Câu hỏi nên định hướng sản phẩm cụ thể của dự án
* Thiết kế các công cụ đánh giá:
Việc xây dựng công cụ đánh giá (ĐG) giúp đánh giá học sinh (HS) vào các thời điểm khác nhau trong suốt dự án, đảm bảo mọi đối tượng HS đều tham gia Công cụ này không chỉ đáp ứng yêu cầu đánh giá quá trình mà còn đánh giá kết quả ĐG học sinh trong quá trình thực hiện dự án bao gồm tự đánh giá của HS, đánh giá từ các thành viên trong nhóm, đánh giá từ nhóm khác và đánh giá của giáo viên (GV).
* Lập kế hoạch thời gian thực hiện dự án:
Thời gian thực hiện dự án phụ thuộc vào quy mô và nội dung của nó, bao gồm chương trình chính khóa, ngoại khóa hoặc ngoài giờ lên lớp Đối với các bài học thuộc chương trình chính khóa, thời gian cho mỗi dự án thường là 2-3 tuần, đặc biệt khi được dạy trong 1 đến 2 tiết.
Thiết kế tiêu chí và bộ công cụ đánh giá năng lực định hướng nghề
Bảng 2.4 Bảng công cụ ĐG năng lực ĐHNN
1 Xác định sở thích, thế mạnh của bản thân về nghề nghiệp liên quan
Xác định và phát huy sở thích, khả năng và kĩ năng của bản thân để hiện nhiệm vụ học tập
Xác định được sở thích, khả năng của bản thân
Chưa xác định được sở thích, khả năng của bản thân
2 Kĩ năng nhận thức về ứng dụng kiến thức môn học và nghề nghiệp liên quan
2.1 Xác định được mối liên hệ giữa nội dung môn học và ngành nghề liên quan
Xác định được mối liên hệ giữa nội dung cơ bản của môn học và nghành học liên quan và ĐG xu thế ngành học trong tương lai
Xác định được mối liên hệ giữa nội dung cơ bản của môn học và ngành học liên quan
Chưa xác định được ngành học nào có liên quan đến môn học
2.2 Xác định mối liên hệ giữa chủ đề học tập và ứng dụng trong cuộc sống
Xác định được mối liên quan giữa chủ đề học tập và ứng dụng cuộc sống và ĐG triển vọng nghề nghiệp trong tương lai
Xác định được mối liên quan giữa chủ đề học tập và ứng dụng cuộc sống
Chưa xác định được mối liên quan giữa chủ đề học tập và ứng dụng cuộc sống
2.3 Xác định được thông tin một số ngành nghề và các cơ quan sử dụng lao động
Chủ động tìm kiếm thông tin và vận dụng được kiến thức một số ngành nghề, các cơ quan doanh nghiệp sử dụng lao động
HS xác định được thông tin cơ bản về một số ngành nghề, các cơ quan doanh nghiệp sử dụng lao động
Có hiểu biết nhưng chưa đầy đủ về một số ngành nghề, các cơ quan, doanh nghiệp sử dụng lao động
3 Lập kế hoạch hướng nghiệp
3.1 Xác định mục tiêu học tập và nghề nghiệp
Có hứng thú học tập và xác định được mục tiêu học tập môn học và hướng nghiệp phù hợp
Xác định được mục tiêu học tập và nghề nghiệp nhưng chưa phù hợp
Chưa xác định rõ rành mục tiêu học tập và hướng nghiệp
3.2 Xác định được ưu tiên nghề nghiệp cho bản thân
Xác định được ưu tiên nghề nghiệp và xây dựng được kế hoạch hướng nghiệp bản thân
Xác định được ưu tiên nghề nghiệp dự kiến của bản thân
Chưa xác định được ưu tiên nghề nghiệp cho bản thân
3.3 Xác đinh cách thức phát triển KN liên quan đến nghề nghiệp
Xác định cụ thể và tham gia thực hiên một số biện pháp phát triển KN nghề nghiệp
Xác định được các biện pháp phát triển KN nghề nghiệp nhưng chưa tham gia thực hiện
Chưa biết cách phát triển KN nghề nghiệp
Bảng 2.5 Bảng hỏi về phát triển NL ĐHNN thông qua DHDA
Nội dung Hành vi mà HS thể hiện Có Thỉnh thoảng
Kĩ năng nhận thức sở thích, khả năng của bản thân
Tham gia tích cực và sáng tạo trong các hoạt động nghiên cứu là rất quan trọng Hãy chủ động đề xuất những hoạt động phù hợp với sở thích và thế mạnh của bản thân để phát huy tối đa khả năng.
Kĩ năng khám phá nghề nghiệp
Tìm được mối liên hệ giữa chủ đề học tập và ứng dụng thực tế trong các ngành nghề Thực hiện được kĩ năng trong ngành nghề
Chủ động tìm hiểu thông tin liên quan đến nghề nghiệp
Kĩ năng lập kế hoạch hướng nghiệp
Xác định được mục tiêu học tập môn học và nghề nghiệp của bản thân
Xây dựng được kế hoạch hướng nghiệp cho bản thân
Thực hiện được một số biện pháp phát triển các kĩ năng nghề nghiệp
Bảng 2.6 Bảng kiểm quan sát đánh giá NLĐHNN trong DHDA
Tiêu chí thể hiện năng lực ĐHNN của HS ĐG mức độ phát triển NL ĐHNN
Phân tích, xác định được mục tiêu, tình huống, nhiệm vụ học tập của dự án Đề xuất câu hỏi định hướng nghiên cứu cho dự
Xác định và tìm kiếm nguồn thông tin phù hợp với đề tài dự án Đề xuất phương án thực hiện dự án
Lập kế hoạch thực hiện dự án
Thực hiện kế hoạch đề ra một cách hiệu quả
Xây dựng sản phẩm nghiên cứu dự án
Trình bày sản phẩm khoa học, rõ ràng, lôi cuốn
Tự ĐG qua thực hiện dự án và sản phẩm dự án
Tự điều chỉnh và vận dụng trong tình huống học tập khác
Khảo sát về dự án thiết kế trong đề tài với sự phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Để kiểm tra độ tin cậy và sự phù hợp của các tiêu chí đánh giá năng lực học sinh thông qua dạy học dựa trên hoạt động, chúng tôi đã khảo sát 25 giáo viên giảng dạy sinh học tại các trường THPT tỉnh Nghệ An trong năm học 2023-2024 Kết quả khảo sát cho thấy các mức độ đánh giá và tiêu chí được áp dụng có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn giảng dạy.
Mức độ phù hợp của các tiêu chí và mức độ đánh giá NL ĐHNN của HS THPT thông qua DHDA
Để đánh giá dự án thiết kế tác động đến sự phát triển năng lực ĐHNN của học sinh, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi để thu thập ý kiến từ các giáo viên Câu hỏi được đặt ra là: Theo Thầy cô, dự án đã thiết kế đạt được các yêu cầu ở mức độ nào? Kết quả thu được được trình bày trong bảng 2.7, với các mức độ đánh giá là Rất phù hợp, Phù hợp và Không phù hợp, tương ứng với 10, 15 và 0 ý kiến.
Bảng 2.7 Kết quả đánh giá dự án đã thiết kế của GV
Các yêu cầu Mức độ
Rất tốt Khá tốt Tạm được Chưa đạt
Phù hợp với mục tiêu phát triển
Kích thích được HS chủ động thực hiện dự án 50% 43% 7% 0%
Nội dung gắn liền với thực tiễn cuộc sống 36% 50% 14% 0%
Dự án thiết kế tạo động lực để
HS định hướng việc làm HS 57% 29% 7% 7%
Khảo sát tính cấp thiết của các giải pháp kết hợp các KTDH tích cực đã được xây dựng và áp dụng trong đề tài
2.5.1 Mục đích khảo sát ĐG mức độ cần thiết của các giải pháp trong bối cảnh thực tiễn giảng dạy
Xác định mức độ phù hợp của các KTDH tích cực được đề xuất với mục tiêu dạy học và đặc điểm HS
2.5.2 Nội dung, đối tượng và phương pháp khảo sát
Khảo sát này tập trung vào tính cấp thiết của các giải pháp được đề xuất trong đề tài, được phân loại thành bốn mức độ: Không cấp thiết, Ít cấp thiết, Cấp thiết và Rất cấp thiết Đối tượng khảo sát là 27 giáo viên dạy khối 10 tại các trường THPT tỉnh Nghệ An.
HS khối 10 trên địa bàn huyện Diễn Châu, Nghệ An: 87 em
Phương pháp: Chúng tôi thiết kế hệ thống bảng hỏi điều tra trên phần mềm
Google Form đã được sử dụng để gửi đường link mời giáo viên và học sinh tham gia trả lời phiếu khảo sát Tuy nhiên, kết quả thu thập thống kê từ Google Form không thể truy cập được do lỗi 404.
Sau khi nhận được kết quả đánh giá, chúng tôi đã sử dụng phương pháp thống kê toán học thông qua phần mềm Excel để xử lý dữ liệu và kiểm định các kết quả thu được.
Tính điểm x̅ được tính và thống kê mô tả theo phần mềm Excel
2.5.3 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết của các giải pháp đề xuất
Sau khi gửi liên kết cho học sinh và giáo viên tham gia, chúng tôi đã thu thập được kết quả thể hiện trong bảng 2.8 và biểu đồ 2.1 Các mức độ cấp thiết được đánh giá như sau: M1: Không cấp thiết (1 điểm); M2: Ít cấp thiết (2 điểm); M3: Cấp thiết (3 điểm); M4: Rất cấp thiết (4 điểm).
Bảng 2.8 Tính cấp thiết của các giải pháp đề xuất
Thang đánh giá các giải pháp Các thông số
1 Tổ chức dạy học chủ đề sinh học vi sinh vật thông qua các dự án
2 Tăng cường áp dụng các kiến thức bài học vào thực tiễn
3 Kết hợp các KTDH để tổ chức các hoạt động nhằm phát triển năng lực ĐHNN cho HS
Giải pháp 1 Giải pháp 2 Giải pháp 3
Không cấp thiết Ít cấp thiết Cấp thiết Rất cấp thiết Đồ thị 2.4 Tính cấp thiết của giải pháp
Từ số bảng 2.8 và đồ thị 2.4 có thể rút ra những nhận xét: Đa số các GV và
Các giải pháp trong đề tài được khảo sát đều được đánh giá là cấp thiết và rất cấp thiết, với phần lớn giáo viên (GV) và học sinh (HS) nhận định rằng nội dung các giải pháp có tính cấp thiết cao Giá trị trung bình của các giải pháp đều vượt quá 3.5, trong khi giá trị trung bình chung đạt 3.69, cho thấy đề tài này có tính cấp thiết rất cao.
Trong chương 2, chúng tôi đã phân tích cấu trúc và nội dung của chủ đề Sinh học Vi sinh vật để xác định mục tiêu về năng lực chung và năng lực sinh học cho học sinh Chúng tôi cũng đã đề xuất quy trình thiết kế và tổ chức mô hình dạy học dựa trên hoạt động Bên cạnh đó, kế hoạch bài học được thiết kế nhằm phát triển năng lực dạy học ngoại ngữ cho học sinh Dựa vào nội dung Sinh học Vi sinh vật, đặc điểm học sinh và thực tế địa phương, chúng tôi đã lựa chọn và thiết kế dự án học tập với nội dung “Tìm hiểu quá trình phân giải các chất ở Vi sinh vật và ứng dụng” Cuối cùng, chúng tôi đã đề xuất bộ tiêu chí và công cụ đánh giá năng lực dạy học ngoại ngữ cho học sinh.
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phương pháp DHDA để phát triển năng lực ĐHNN cho HS trong dạy học chủ đề “ Sinh học Vi sinh vật”, Sinh học 10
Chúng tôi tiến hành giảng dạy các lớp TN theo giáo án đã được soạn sẵn, áp dụng phương pháp dạy học dựa trên hoạt động (DHDA) nhằm phát triển năng lực ĐHNN cho học sinh Nội dung giảng dạy tập trung vào một số chủ đề trong môn Sinh học Vi sinh vật, thuộc chương trình Sinh học lớp 10.
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm Đối tượng TN sư phạm là HS lớp 10 của trường 2 trường THPT ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Các trường TN có điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, trình độ HS tương đương dựa trên việc phân tích kết quả điểm
Trường THPT Diễn Châu 2: 10A9 sĩ số 44
Trường THPT Diễn Châu 4: 10A2 sĩ số 46
3.3.2 Bố trí thực nghiệm và thời gian thực nghiệm
Tại mỗi trường, giáo viên giảng dạy được bố trí theo kế hoạch dạy học đã được xây dựng Việc đánh giá học sinh được thực hiện thông qua một đề kiểm tra chung, diễn ra cùng thời điểm và áp dụng cùng tiêu chí đánh giá.
Thời gian thực nghiệm: Được tiến hành từ tháng 12/2023 đến tháng 3/2025
3.3.3 Phương án thực nghiệm Đánh giá về mặt định lượng
Trước khi thực hiện đánh giá, cần sử dụng phiếu hỏi để khảo sát mức độ nhận thức bản thân của học sinh, nhận thức về nghề nghiệp, sự ứng dụng thực tiễn của môn học, cũng như các hoạt động học tập mà học sinh đã thực hiện.
Trong chương trình TN, giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học trải nghiệm và theo kế hoạch bài dạy đã được cung cấp Sau mỗi chủ đề, giáo viên thực hiện ba bài kiểm tra để đánh giá mức độ đạt được của học sinh Đồng thời, giáo viên sử dụng các công cụ đánh giá như rubric đánh giá kỹ năng, phiếu quan sát, câu hỏi và bài tập để đánh giá năng lực ĐHNN của học sinh.
Sử dụng phiếu hỏi đã được áp dụng để đánh giá trước thực nghiệm nhằm thống kê mối liên quan giữa các biến, từ đó kiểm định giả thuyết khoa học đã được đề xuất.
So sánh kết quả từng tiêu chí của NLĐHNN ở các thời điểm trước, giữa và cuối TN cho thấy sự thay đổi rõ rệt Bên cạnh đó, việc so sánh kết quả các bài kiểm tra thường xuyên ở đầu, giữa và cuối TN cũng cho thấy những tiến bộ đáng kể Đánh giá về mặt định tính được thực hiện thông qua phân tích quan sát, giúp làm rõ những cải thiện trong quá trình học tập.
Thái độ học tập của học sinh và chất lượng các bài kiểm tra là yếu tố quan trọng để đánh giá sự tích cực và chủ động của học sinh trong các hoạt động học tập Việc áp dụng phương pháp dạy học dựa trên nghiên cứu sẽ giúp rút ra những kết luận giá trị về hiệu quả của quá trình học tập.
3.4.1 Kết quả phân tích định lượng
3.4.1.1 Về hiệu quả lĩnh hội tri thức của HS Để ĐG khả năng lĩnh hội tri thức của HS, chúng tôi sử dụng kết quả của 3 bài kiểm tra được thực hiện vào giai đoạn đầu, giữa và cuối của quá trình TN Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để thống kê tần số các HS đạt điểm Xi và các tham số thống kê như điểm trung bình, phương sai và độ lệch chuẩn của các bài kiểm tra Kết quả thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả điểm số của HS qua 3 lần kiểm tra Điểm xi Kiểm tra Lần 1 Kiểm tra Lần 2 Kiểm tra Lần 3
SL TL% SL TL SL TL
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả các bài kiểm tra
Bảng 3.2 Tổng hợp các tham số thống kê đặc trưng bằng phần mềm SPSS
TT Mức độ đạt được Trước TN Giữa TN Sau TN
4 Độ lệch chuẩn: Std.Deviation 1,289 1,290 1,270
5 Hệ số biến thiên Coeficient of variation 22.26% 18.93% 17.17%
6 Độ tin cậy Cronbach's Alpha 0,972 (Confidence Interval95%)
7 Kiểm định độ tin cậy Corrected
Kết quả từ bảng 3.2 và biểu đồ 3.1 cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong các bài kiểm tra cuối kỳ, với tỉ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi (trên 8 điểm) tăng lên 37,78% so với 20% ở đầu kỳ Điều này một lần nữa khẳng định tác động tích cực của việc áp dụng phương pháp dạy học đổi mới (PPDHDA) trong giảng dạy chủ đề.
“Sinh học Vi sinh vật” nhằm phát triển năng lực ĐHNN cho HS đã đem lại hiệu quả và có tính khả thi
Khi phân tích bài kiểm tra của học sinh, chúng tôi nhận thấy rằng các em đã có khả năng xác định và tìm hiểu các ứng dụng của vi sinh vật trong nhiều lĩnh vực khác nhau Cụ thể, học sinh đã nêu rõ ứng dụng trong công nghệ thực phẩm như lên men sữa chua và rượu, trong nông nghiệp với việc cải tạo đất, cũng như trong nghiên cứu khoa học vi sinh vật và y tế, bao gồm sản xuất vitamin, hormone và cải tạo môi trường nước bằng vi sinh vật.
3.4.1.2 Đánh giá sự phát triển các kĩ năng thành phần của năng lực ĐHNN Để ĐG sự phát triển các KN thành phần của năng lực ĐHNN chúng tôi sử dụng bảng hỏi 2.5 qua 3 lần TN Kết quả thu được ở bảng 3.3 và biểu đồ 3.2; 3.3; 3.4
100 Đầu TN Giữa TN Cuối TN
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3
Biểu đồ 3.1 Mức độ phát triển nhóm kĩ năng xác định sở thích, hứng thú của bản thân
100 Đầu TN Giữa TN Cuối TN
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3
Biểu đồ 3.2 Mức độ phát triển nhóm kĩ năng nhận thức ứng dụng kiến thức môn học và nghề nghiệp liên quan
90 Đầu TN Giữa TN Cuối TN
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3
Biểu đồ 3.3 Mức độ phát triển nhóm kĩ năng lập kế hoạch hướng nghiệp
Theo bảng 3.3 và biểu đồ 3.1, 3.2, 3.3, mức độ đạt được về kỹ năng của học sinh (HS) đã tăng dần qua các lần kiểm tra Ở giai đoạn đầu, phần lớn HS chỉ đạt mức 1 (mức thấp) về các kỹ năng của năng lực ĐHNN, với 85,6% HS nằm trong mức này.
Khoảng 46% học sinh có khả năng xác định sở thích và hứng thú của bản thân Đáng chú ý, 90% học sinh đạt mức 1 trong kỹ năng nhận thức ứng dụng kiến thức môn học và nghề nghiệp liên quan, trong khi 84,5% học sinh cũng đạt mức 1 về kỹ năng lập kế hoạch hướng nghiệp.