1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Skkn biện pháp nâng cao hiệu quả phần viết bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 Ôn thi tốt nghiệp thpt theo chương trình gdpt 2018 (bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống)

53 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp nâng cao hiệu quả phần viết bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp thpt theo chương trình gdpt 2018 (bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống)
Trường học Trường THPT Nghi Lộc 3
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị luận văn học: là bài văn nghị luận bàn về các vấn đề văn học nhằm thể hiện suy nghĩ, thái độ, tiếng nói chủ quan của người viết về vấn đề đặt ra trong tác phẩm, đoạn trích, tình hu

Trang 1

đã chú trọng phát triển bốn kĩ năng đọc, viết, nói và nghe cho HS Trong đó, viết là năng lực đứng thứ 2, chiếm khoảng 22 - 25% thời lượng dạy học Điều này cho thấy các nhà biên soạn Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 rất coi trọng năng lực viết

Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT 2025 theo hương trình GDPT 2018 của môn Ngữ văn gồm 2 phần Đọc hiểu và viết với thời gian 120 phút Phần viết gồm có viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) và viết bài văn (khoảng 600 chữ) Viết đoạn văn có thể nghị luận văn học (ngữ liệu đọc hiểu hiểu là văn bản văn học), có thể nghị luận xã hội (ngữ liệu đọc hiểu là văn bản xã hội hoặc văn bản thông tin) Viết bài văn nghị luận có thể bài văn nghị xã hội (phần viết đoạn văn là nghị luận văn học), viết bài văn nghị luận văn học (phần viết đoạn văn là nghị luận xã hội) Có thể nói, viết bài văn Nghị luận văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phần viết nói chung trong bài thi môn Ngữ văn Kiểu bài này đòi hỏi học sinh có năng lực phân tích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể, phải có hiểu biết về văn học, về xã hội, về lịch sử, kiến thức về lí luận và đặc biệt là kĩ năng trình bày Hơn nữa ngữ liệu trong đề thi môn Ngữ văn năm 2025 là nằm ngoài chương trình của 3 bộ sách giáo khoa hiện hành nên khi làm phần viết nghị luận văn học đặc biệt là viết bài văn học sinh thường ngại làm, làm cho có, thậm chí không làm

Trong quá trình dạy học môn Ngữ văn phần viết và qua các lần học sinh làm bài kiểm tra, bài thi thử, chúng tôi nhận thấy kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học của học sinh chưa thành thạo, còn lúng túng, không viết theo tiến trình và tuân thủ theo quy trình các bước tạo lập văn bản, dẫn đến viết chung chung không đúng với từng kiểu bài, diễn xuôi văn bản, bàn luận lan man, hành văn chưa mạch lạc, bố cục chưa

rõ ràng, viết văn thiếu luận điểm, nhất là với đối tượng học sinh trung bình trở xuống

Có những học sinh làm bài theo kiểu nghĩ gì thì viết cái đó mà không biết đề yêu cầu vấn đề gì dẫn đến bài viết lạc đề, xa đề, không đúng trọng tâm, không làm bật được vấn đề đề yêu cầu , dẫn đến điểm của toàn bài kiểm tra, bài thi thử chưa cao, ảnh hưởng đến kết quả chung Vì vậy, trong quá trình dạy học, đặc biệt chúng tôi đang trực tiếp dạy học sinh lớp 12, chúng tôi luôn trăn trở làm sao giúp HS viết bài văn nghị luận văn học được tốt, viết văn theo quy trình, viết đúng từng kiểu bài, viết có luận điểm, viết hay,

Trang 2

2

Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: Biện pháp nâng cao hiệu quả phần viết bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp THPT theo chương trình GDPT 2018 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

a Mục đích: Đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh nâng cao hiệu quả làm phần viết bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp THPT theo chương trình GDPT 2018

b Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu ở bộ môn Ngữ văn theo chương trình GDPT 2018,

bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống và thực nghiệm tại trường THPT Nghi Lộc Vinh-Nghệ An

3-3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về một số biện pháp nâng cao hiệu quả phần viết bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp THPT theo chương trình GDPT 2018, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống

- Nghiên cứu thực trạng từ bài làm của học sinh qua các lần kiểm tra đánh giá, thi thử

để từ đó lựa chọn những biện pháp phù hợp giúp học sinh làm bài đạt hiệu quả

- Đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm giúp học sinh nâng cao hiệu quả phần viết bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp THPT theo chương trình GDPT

2018

- Xây dựng các dạng đề bài minh họa

4 Phương pháp nghiên cứu

Sáng kiến sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Đọc tài liệu, điều tra, thống kê, so sánh, khảo sát, phân tích, tổng hợp, thực nghiệm,

5 Đóng góp của đề tài

- Sáng kiến có tính mới khi đề cập đến việc đưa ra một số biện pháp nhắm giúp học sinh không ngại và cảm thấy quá khó khi làm phần viết bài nghị luận văn học từ đó sẽ nâng cao hiệu quả làm bài thi môn Ngữ văn, đem đến cho các em niềm yêu thích học văn và viết văn

- Với đề tài này tôi xin khẳng định lần đầu tiên được áp dụng tại trường THPT Nghi Lộc 3 Tạo ra một hướng đi mới trong đổi mới phương pháp dạy học kĩ năng viết nói chung và viết văn nghị luận văn học nói riêng ở nhà trường

6 Cấu trúc đề tài

Kết cấu đề tài gồm 3 phần: Đặt vấn đề; nội dung nghiên cứu và kết luận

Trang 3

3

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lí luận

Nghị luận: Nghị (xem xét, trao đổi; luận: bàn bạc, đánh giá), dùng lí lẽ, dẫn

chứng và cách thức lập luận để phân tích, bàn luận, đánh giá về một (các) vấn đề nào

đó

Văn học: là môn nghệ thuật, khác với các môn nghệ thuật khác nhờ chất liệu ngôn

từ văn học là loại hình sáng tác, phản ánh các vấn đề đời sống xã hội và lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm, tái hienj vấn đề đời sống xã hội và con người (Tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, kí, thơ ca

Nghị luận văn học: là bài văn nghị luận bàn về các vấn đề văn học nhằm thể hiện

suy nghĩ, thái độ, tiếng nói chủ quan của người viết về vấn đề đặt ra trong tác phẩm, đoạn trích, tình huống, nhân vật, góp phần tạo những tác động tích cực tới con người, bồi đắp những giá trị nhân văn và thúc đẩy sự tiến bộ chung của con người và xã hội Văn học có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người Là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tính thiết yếu trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Mỗi văn bản văn học là sự kết tinh của tâm hồn người sáng tác, là tiếng nói của tác giả trong cuộc đời Trong chương trình giáo dục giáo dục phổ thông 2018, các văn bản được sắp xếp theo tiêu chí cùng thể loại Bởi vậy khi dạy từng văn bản cụ thể giáo viên cần lưu ý phải gắn liền nó với đặc điểm, đặc trưng thi pháp của từng thể loại Dạy xong một văn bản Ngữ văn ở chương trình 2018 không chỉ giúp học sinh biết cách đọc hiểu thể loại đó mà còn biết cách tạo lập văn bản văn học theo quy trình từng kiểu bài của thể loại, từ đó giúp các em tự tin, tự học, hiểu thêm về bản thân và cách thức học tập

2 Cơ sở thực tiễn

Viết là một trong bốn kĩ năng mà người học cần phải rèn luyện trong quá trình học tập môn Ngữ văn Đây cũng là một kĩ năng khó nhất, đặc biệt với phần viết nghị luận văn học Viết phần nghị luận văn học là một trong hai phần viết có trong đề thi tốt nghiệp THPT năm 2025 Nếu đề câu 2 phần viết là bài văn nghị luận văn học thì câu này sẽ có vị trí quan trọng bởi nó quyết định điểm thi cao hay thấp trong một bài thi Nếu đề thi câu 2 ở phần viết là nghị luận văn học mà học sinh làm bài sai câu này thì chắc chắn điểm toàn bài thi còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ đạt 5.0-6.0 điểm Ngược lại nếu học sinh làm tốt, các em có nhiều cơ hội đạt điểm cao Như vậy, kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc ôn luyện của các thầy cô giáo cũng như quyết định đến chất lượng bài thi của học sinh Ôn tập và làm

Trang 4

1 Năng lực viết văn nghị luận văn

2 Theo bản thân em phần viết bài

văn nghị luận văn học:

- Dễ

- Khó

0 90/90

0

100 Kết quả khảo sát cho thấy không học sinh nào tự tin để tự nhận năng lực viết văn của mình là giỏi, 100% học sinh thấy khó khi làm phần viết bài văn nghị luận văn học

Để khảo sát thực trạng viết bài văn nghị luận của học sinh, tôi đã tiến hành ra đề, kết quả thu được:

Trang 5

5

Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, theo chúng tôi trước hết là do học sinh thực hiện không tốt trong quá trình học kĩ năng đọc văn bản, không nắm được kiến thức cơ bản ở phần tri thức ngữ văn có ở sách giáo khoa, không nắm được đặc điểm thể loại của từng văn bản thơ, truyện, học bài về phần viết sơ sài, không nắm được yêu cầu của từng kiểu bài, tình tự cần có bước 2 là lập ý và lập dàn ý; Thứ hai, khóa học 2022 -

2025 là khóa đầu tiên học sinh học theo chương trình 2018 bậc THPT, các em vẫn chưa quen với việc dạy học kĩ năng, phát triển năng lực người học của giáo viên Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài bài học, mà còn lười suy nghĩ Học sinh chưa có hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của mình cho nên khi phải viết học sinh cảm thấy khó khăn; Thứ ba, một số học sinh hiện nay xem việc đề thi không ra trong chương trình nên không cần học các văn bản trong sách giáo khoa nên văn bản không đọc, bài không soạn trước khi đến lớp Khi hỏi có em thản nhiên trả lời “văn bản này có thi đâu mà học cô” Có em soạn bài với tinh thần đối phó nên khi hỏi thì không hiểu gì Mặc dù giáo viên đã truyền đạt rất nhiều lần về việc học các văn bản ở sách giáo khoa hay ngoài sách giáo khoa khi giáo viên hướng dẫn các em học, các em cần hợp tác, làm theo hướng dẫn của giáo viên, xem các văn bản cô hướng dẫn là phương tiện để các em tự học các văn bản khác cùng thể loại Đó cũng là cơ sở để các em học phần viết, biết tạo lập văn bản theo thể loại

đề yêu cầu nhưng rồi đâu cũng vào đấy

Từ thực trạng, nguyên nhân trên, chúng tôi thấy việc tìm các biện pháp dạy học

để nâng cao hiệu quả phần viết bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 ôn thi tốt nghiệp THPT là rất cần thiết, giúp các em có hứng thú, không ngại, không thấy quá khó khi làm phần viết bài văn nghị luận văn học, để các em sẽ có cơ hội đạt điểm cao cho toàn bài thi

CHƯƠNG II: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHẦN VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018

1 Quy trình chung của bài văn nghị luận văn học

Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống môn Ngữ văn xây dựng quy trình viết bài nghị luận văn học gồm 4 bước:

Bước 1: Chuẩn bị viết

Bước 2: Lập ý, lập dàn ý

Bước 3: Viết

Bước 4: Chỉnh sửa, hoàn thiện

Viết văn theo quy trình đây là điểm mới so chương trình 2006, viết theo quy trình

là phương pháp dạy kĩ năng viết mà ở đó, người học tập trung vào quy trình tạo lập văn bản hơn là sản phẩm và thông qua quy trình tạo lập văn bản hiểu thêm về bản thân, cách thức học tập, làm việc Như vậy, đối với chương trình Ngữ văn 2018, việc dạy

Trang 6

Từ hai dạng (kiểu bài) viết về truyện như trên giáo viên có thể ra các đề như:

++ Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống truyện trong tác phẩm/ đoạn trích truyện ++ Phân tích nhân vật trong tác phẩm truyện/ đoạn trích

++ Phân tich đặc điểm, vai trò và chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm/ đoạn trích

++ Phân tích hiệu quả của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm/ đoạn trích truyện ++ Phân tích vai trò của ngôi kể, điểm nhìn và lời trần thuật trong tác phẩm/ đoạn trích truyện

++ Phân tích cách xây dựng truyện kể của một tác phẩm truyện ( cách tổ chức hệ thống

sự kiện, điểm nhìn, lời văn, )

+ Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện

Từ hai dạng (kiểu bài) viết về thơ như trên giáo viên có thể ra các đề như:

++ Phân tích/cảm nhận văn bản/đoạn trích thơ

++ Cảm nhận cảm xúc trong văn bản/đoạn trích thơ

+ Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ

Biện pháp này giúp học sinh nhận diện các kiểu đề văn qua hệ thống đề mà giáo viên đưa ra trong quá trình ôn luyện, để học sinh tự hiểu và tập phân tích, cảm nhận bởi nhận diện đề của học sinh đúng hay sai sẽ giúp giáo viên phân hóa trình độ học sinh để có hướng bổ sung kiến thức, kĩ năng cho từng đối tượng

2.2 Biện pháp 2: Cách làm cụ thể đối với từng dạng (kiểu) bài nghị luận văn học

2.2.1 Thể loại truyện

Trang 7

7

*Dạng 1: Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện (Chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật)

Để hướng dẫn học sinh viết dạng bài này, điều đầu tiên học sinh cần nắm được

yêu cầu của bài Sau đó tiến hành làm theo quy trình 4 bước Ở bước chuẩn bị viết giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thức nền cơ bản như khái niệm phân tích đánh giá một tác phẩm truyện là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể Từ đó giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thức về chủ đề, ý nghĩa của chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong truyện ngắn, tiểu thuyết,… là gì, ý nghĩa, tác dụng, vai trò của những nét đặc sắc

về hình thức nghệ thuật trong truyện, những nhận định, ý kiến hay về chủ đề, ….Việc cung cấp những đơn vị kiến thức nền đó có tác dụng giúp học sinh hình dung bước tiếp theo của bài viết sẽ có ý nào

Bước lập ý và lập dàn ý là rất quan trọng, vô cùng cần thiết Dàn ý giúp chúng ta tìm và lựa chọn các ý chính tốt nhất phục vụ cho bài văn Từ sự chắt lọc các ý tưởng thiết lập một hệ thống logich giúp bài viết trở nên chặt chẽ tránh hiện tượng viết lan man, xa đề, nghĩ gì viết nấy, dẫn đến trùng lặp ý Bước lập ý, lập dàn ý giúp học sinh

dễ dàng triển khai thành một bài văn hoàn chỉnh đúng trọng tâm vấn đề nêu ra Cụ thể với dạng đề bài này, giáo viên hướng dẫn học sinh mô hình làm bài như sau:

Lập ý: Chủ đề của truyện là gì? Chủ đề đó có điểm đặc biệt nào không?

+ Bài viết cần khái quát được chủ đề của truyện Có thể nêu chủ đề trước hoặc sau khi phân tích nhân vật

- Các nhân vật trong truyện có đặc điểm gì nổi bật? Ngoại hình, lời nói, hành động , nội tâm của nhân vật hướng tới việc thể hiện chủ đề như thế nào?

+ Bài viết cần tập trung phân tích nét độc đáo của các nhân vật trong truyện cũng như mối quan hệ giữa các nhân vật, qua đó làm nổi bật chủ đề

Trang 8

8

+ Tóm tắt nội dung chính của truyện

+ Phân tích, đánh giá về chủ đề của truyện dựa trên cứ liệu dẫn ra từ tác phẩm

- Nêu khái niệm chủ đề

- Nêu chủ đề của văn bản

- Về vai trò, chức năng của người kể chuyện

Kết bài: Tóm lược các nhận định trong phần thân bài, khẳng định giá trị của tác phẩm,

Để hướng dẫn học sinh viết dạng bài này, ở bước chuẩn bị viết ngoài yêu cầu như

ở SGK, chúng tôi cung cấp cho học sinh kiến thức nền cơ bản về điểm nhìn trong truyện kể, lời kể chuyện và lời nhân vật, một số nhận định, ý kiến hay về truyện,… Sang bước 2, với dạng đề bài này, giáo viên hướng dẫn HS học sinh mô hình làm bài như sau:

Mở bài:

Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm nghệ thuật bạn sẽ phân tích

Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt bằng một nhận định, danh ngôn, bằng thơ, lời bài hát liên quan đến vấn đề nghị luận

Thân bài: Căn cứ vào việc xác định các yếu tố làm nên tính nghệ thuật của tác phẩm

truyện theo yêu cầu của đề bài để triển khai viết các luận điểm tương ứng như:

- Người kể chuyện ở ngôi thứ mấy

- Trần thuật theo điểm nhìn nào

- Chỉ ra chức năng vai trò

- Thái độ của người kể chuyện với nhân vật có điều gì đáng chú ý

- Đánh giá hiệu quả: qua người kể chuyện, thể hiện cái nhìn sâu sắc như thế nào về đời sống, về con người

Kết bài: Khẳng định giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Với mô hình như thế này giúp học sinh biết cách viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện (Những đặc điểm trong cách kể của tác giả), đạt cả hai yêu cầu của học phần viết của chương trình Ngữ văn 2018

Trang 9

Tiếp theo chúng tôi hướng dẫn học sinh làm bước 2 lập ý, lập dàn ý theo mô hình:

Mở bài:

Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận

Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt bằng một nhận định, danh ngôn, bằng thơ, lời bài hát liên quan đến vấn đề nghị luận

Thân bài:

- Giới thiệu chung: có thể hoàn cảnh sáng tác, tác giả (nếu mở bài gián tiếp)

- Nêu khái niệm tình huống truyện là gì?

- Nêu nội dung tình huống truyện trong tác phẩm/ đoạn trích của đề bài

- Phân tích diễn biến của tình huống trong truyện: tại tình huống đó cảm xúc và hành động của các nhân vật biểu lộ như thế nào?

- Nêu ý nghĩa, hiệu quả của tình huống truyện:

+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản;

+ Góp phần khắc họa tính cách của các nhân vật;

+ Tăng kịch tính và sức hấp dẫn của tác phẩm/ đoạn trích

- Đánh giá chung:

Kết bài:

- Những nhận xét, cảm nhận, đánh giá chung về vấn đề

- Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân

**Phân tích đặc điểm nhân vật trong tác phẩm truyện/ đoạn trích

Khi hướng dẫn học sinh phân tích/cảm nhận nhân vật trong tác phẩm truyện,

bước chuẩn bị, chúng tôi cung cấp cho học sinh một số kiến thức như khái niệm về nhân vật, vai trò của nhân vật trong văn bản, các ý kiến hay về nhân vật

Nhân vật trong văn học là những cá nhân hoặc thực thể xuất hiện trong tác phẩm văn học Họ có thể là con người, loài vật, hoặc thậm chí là những nhân vật tưởng tượng mang tính biểu tượng Nhân vật được xây dựng qua các đặc điểm như tính cách, hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ và quan hệ với các nhân vật khác trong câu chuyện Mỗi nhân vật đều có những mục tiêu, động lực riêng, qua đó thể hiện những thông điệp hoặc khám phá các chủ đề của tác phẩm

Trang 10

10

Nhân vật có vai trò quan trọng trong việc phát triển cốt truyện và truyền tải thông điệp của tác phẩm Cụ thể, vai trò của nhân vật trong văn bản có thể được chia thành các điểm chính sau:

Thúc đẩy cốt truyện: Nhân vật là người trực tiếp tham gia vào các sự kiện, từ đó

tạo ra các xung đột và sự phát triển của câu chuyện

Phản ánh chủ đề: Các nhân vật giúp phản ánh các chủ đề mà tác giả muốn khám

phá, chẳng hạn như tình yêu, sự hy sinh, công lý, hoặc những vấn đề xã hội

Thể hiện tính cách và tư tưởng: Nhân vật thể hiện qua hành động và suy nghĩ

những đặc điểm cá nhân, góp phần làm rõ các tư tưởng, giá trị mà tác giả muốn truyền tải

Kết nối người đọc với tác phẩm: Các nhân vật có thể gây cảm xúc, gợi mở suy

nghĩ, hoặc thậm chí là khơi dậy sự đồng cảm từ phía người đọc

Các ý kiến hay về nhân vật:

"Nhân vật là chiếc cầu nối giữa tác phẩm và người đọc."

"Nhân vật là biểu tượng của các tư tưởng."

"Nhân vật có thể thay đổi, và sự thay đổi đó thể hiện sự phát triển của con người."

"Nhân vật trong văn học là sự phản chiếu của xã hội."

Sau đó chúng tôi hướng dẫn HS học sinh làm bước 2 theo mô hình như sau:

Tìm ý

- Cần tìm hiểu và lựa chọn các chi tiết liên quan đến nhân vật và đưa ra những suy luận

về đặc điểm nhân vật đó

- Khi tìm hiểu và lựa chọn các chi tiết liên quan đến nhân vật, cần chú ý:

+ Lời người kể chuyện nhận xét trực tiếp về nhân vật

+ Đặc điểm nhân vật được nhà văn thể hiện gián tiếp qua:

++ Các chi tiết miêu tả ngoại hình nhân vật (thân hình, gương mặt, ánh mắt, làn da, mái tóc, trang phục,…) Các chi tiết này cũng có thể hé lộ tính cách của nhân vật ++ Các chi tiết miêu tả hành động: những cử chỉ, việc làm thể hiện cách ứng xử của nhân vật với bản thân và thế giới xung quanh

++ Ngôn ngữ của nhân vật: lời nói của nhân vật (đối thoại, độc thoại)

++ Thế giới nội tâm: Là thế giới bên trong của nhân vật gồm: cảm xúc tình cảm, tâm

lí, suy nghĩ của nhân vật Nội tâm nhân vật có thể được miêu tả trực tiếp hoặc gián tiếp ++ Mối quan hệ với các nhân vật khác: thái độ, lời nói, hành động của nhân vật với các nhân vật khác trong tác phẩm

Lập dàn ý

Mở bài:

Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngắn gọn, tác giả, tác phẩm; nêu vấn đề nghị luận

Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt bằng một nhận định, danh ngôn, bằng thơ, lời bài hát liên quan đến vấn đề nghị luận

Trang 11

11

Thân bài:

a.Giới thiệu khái quát: xuất xứ, nội dung

(Giới thiệu: Tác giả, vị trí, hoàn cảnh ra đời nếu mở bài viết gián tiếp)

b Phân tích/ cảm nhận đặc điểm nhân vật

- Phân tích/cảm nhận đặc điểm của nhân vật (chỉ ra đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm) theo gợi ý ở phần lập ý:

+ Về lại lịch

+ Về ngoại hình

+ Về cử chỉ, hành động

+ Về Ngôn ngữ nhân vật

+Về nội tâm của nhân vật

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn: Gv hướng dẫn đánh giá trên các phương diện như:

+ Đặt nhân vật vào tình huống truyện tự nhiên, đặc sắc, độc đáo, hấp dẫn/ gây cấn + Xây dựng mô tả chân dung, tâm lí nhân vật tinh tế, độc đáo, hấp dẫn

+ Ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên/ gẫn gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày/ giản dị + Lựa chọn ngôi kể tác dụng

+ Một số biện pháp tu từ,

- Đánh giá chung về vai trò của của nhân vật:

+ Thúc đẩy cốt truyện

+ Phản ánh chủ đề

+ Thể hiện tính cách và tư tưởng

+ Kết nối người đọc với tác phẩm

Kết bài: Nêu ấn tượng và đánh giá về nhân vật

**Phân tich đặc điểm, vai trò và chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm/ đoạn trích

Mở bài:

Mở bài trực tiếp: giới thiệu ngắn gọn, tác giả, tác phẩm; nêu vấn đề nghị luận

Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt bằng một nhận định, danh ngôn, bằng thơ, lời bài hát liên quan đến vấn đề nghị luận

Thân bài:

a Giới thiệu khái quát: xuất xứ, nội dung

(Giới thiệu: Tác giả, vị trí, hoàn cảnh ra đời nếu mở bài viết gián tiếp)

b Phân tich đặc điểm, vai trò và chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm/ đoạn trích

- Đặc điểm của người kể chuyện

+ Người kể chuyện là một nhân vật vô danh, không tiết lộ tên tuổi hay thông tin cá nhân chi tiết

Trang 12

- Vai trò của người kể chuyện

+ Tạo sự gắn kết giữa tác giả và người tiếp nhận tác phẩm

+ Giữ vai trò hướng dẫn đưa người đọc hoặc người nghe đi qua các sự kiện, tình huống trong câu chuyện một cách logich, mạch lạc

+ Xây dựng và phát triển các nhân vật trong câu chuyện, giúp người đọc hoặc người nghe hiểu rõ hơn về tính cách, hành động và suy nghĩ của nhân vật

- Chức năng của người kể chuyện

+ Tạo ra được sự thu hút và gợi cảm xúc cho người đọc hoặc người nghe thông qua cách diễn đạt và lối kể chuyện riêng biệt

+ Truyền dạt ý nghĩa, thông điệp của tác phẩm một cách rõ ràng và sâu sắc hơn + Người kể chuyện có thể sử dụng các kĩ thuật nghệ thuật như mô tả, miêu tả, đối thoại

để làm tăng tính thú vị và hấp dẫn của câu chuyện

Kết bài: Nêu ấn tượng về gười kể chuyện

** Phân tích hiệu quả/ vai trò của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm/ đoạn trích truyện

Khi hướng dẫn học sinh phân tích hiệu quả của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm/ đoạn trích truyện Chúng tôi cung cấp cho học sinh một số kiến thức như khái niệm về điểm nhìn trần thuật, cách nhận biết các điểm nhìn trần thuật, vai trò của điểm nhìn trần thuật, các ý kiến hay về điểm nhìn trần thuật

Điểm nhìn trần thuật là một yếu tố quan trọng trong nghệ thuật tự sự, thể hiện vị trí để quan sát, trần thuật, đánh giá; góc nhìn và tầm nhận thức của người kể chuyện

để khám phá sự kiện, sự việc và con người Đây là cách mà người kể chuyện nhìn nhận

và truyền tải câu chuyện đến người đọc, bao gồm cả quan điểm và tâm lý của họ Các loại điểm nhìn trần thuật:

- Điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật được kể

- Điểm nhìn bên ngoài (miêu tả sự vật con người, con người, ở những bình diện ngoại hiện, kể về những điều mà nhan vật không biết)

- Điểm nhìn bên trong (kể và tả xuyên qua cảm nhận, ý thức của nhân vật)

- Điểm nhìn không gian (nhìn xa-nhìn gần)

- Điểm nhìn thời gian (nhìn từ thời điểm hiện tại, miêu tả sự việc như nó đang diễn ra hay nhìn ại quá khứ , kể lại qua lăng kính, hồi ức, )

- Điểm nhìn luân phiên: Người kể chuyện thay đổi góc nhìn giữa các nhân vật khác nhau, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về câu chuyện

Trang 13

- Khắc họa nhân vật và mối quan hệ: Điểm nhìn trần thuật giúp người đọc hiểu rõ hơn

về suy nghĩ, cảm xúc và mối quan hệ giữa các nhân vật trong câu chuyện

- Tạo sự liên kết và mạch lạc cho câu chuyện: Điểm nhìn trần thuật giúp kết nối các sự kiện và nhân vật trong câu chuyện một cách mạch lạc và logic

- Điểm nhìn thể hiện phong cách nhà văn: việc phân tích điểm nhìn nghệ thuật của tác phẩm, người đọc còn có thể tìm ra được nét riêng độc đáo trong phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn

Những tác dụng này giúp điểm nhìn trần thuật trở thành một yếu tố quan trọng trong nghệ thuật tự sự, góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm

Sau đó chúng tôi hướng dẫn HS học sinh làm bước 2 theo mô hình làm bài như sau:

Mở bài:

Mở bài trực tiếp: Nêu ngắn gọn về tác giả: (Có ở đề bài )

- Tác phẩm: Vị trí, hoàn cảnh sáng tác (Có ở đề)

- Nêu vấn đề nghị luận

Trích lại bài thơ/ đoạn thơ (nếu ngắn)

Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt bằng một nhận định, danh ngôn, bằng thơ, lời bài hát liên

quan đến vấn đề nghị luận

Thân bài

a Giới thiệu khái quát: xuất xứ, nội dung

(Giới thiệu: Tác giả, vị trí, hoàn cảnh ra đời nếu mở bài viết gián tiếp)

b Làm rõ vấn đề nghị luận: Phân tích hiệu quả/ vai trò của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm/ đoạn trích truyện

- Nêu khái niệm điểm nhìn

- Nêu điểm nhìn

- Hiệu quả/ vai trò của điểm nhìn

+ Tạo sự hấp dẫn và phong phú cho câu chuyện:

+ Thể hiện tư tưởng và quan điểm của tác giả

+ Tác động đến cảm xúc người đọc

+ Khắc họa nhân vật và mối quan hệ

+ Tạo sự liên kết và mạch lạc cho câu chuyện

Trang 14

14

+ Điểm nhìn thể hiện phong cách nhà văn

Kết bài: Khẳng định vai trò của điểm nhìn trần thuật

Dạng 3: Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện

Đây là dạng bài khó nhất trong các dạng bài viết của nghị luận văn học Khi

dạy dạng bài này, ở bước chuẩn bị chúng tôi cung cấp cho học sinh 1 số đề tài có thể

so sánh như: so sánh về nội tư tưởng của tác phẩm/đoạn trích; so sánh các vến đề

về hình thức nghệ thuật, so sánh về các hình tượng văn học, so sánh các chi tiết trong tác phẩm

Mở bài: Giới thiệu hai tác giả, hai tác phẩm truyện được xác định là đối tượng của

sự so sánh, đánh giá; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá này

Thân bài: Chúng tôi hướng dẫn học sinh triển khai các nội dung so sánh, đánh giá theo triển khai theo hai cách sau, học sinh tùy vào năng lực của mình để lựa chọn cách phù hợp

Luận điểm 2: Phân tích làm rõ tác phẩm A

- Nội dung: cốt truyện, nhân vật, chi tiết tiêu biểu,

- Nghệ thuật: nghệ thuật xây dựng nhân vật, xây dựng tình huống truyện, ngôn ngữ, Luận điểm 3: Phân tích làm rõ tác phẩm B

- Nội dung: cốt truyện, đề tài, chủ đề, nhân vật, chi tiết tiêu biểu,

- Nghệ thuật: nghệ thuật xây dựng nhân vật, xây dựng tình huống truyện, ngôn ngữ, Luận điểm 4: Chỉ ra sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện

Trang 15

15

- Cơ sở lí luận văn học: Mỗi tác phẩm là một số phận của cá nhân cụ thể, tác phẩm muốn tồn tại phải có cái khác người, độc đáo, snags tạo

- Do hoàn cảnh lịch sử

- Do hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân

- Do sự chi phối của ý thức hệ và thi pháp hệ thống quan điểm thẩm mĩ

- Do cá tính của tác giả

Luận điểm 6: Đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi tác phẩm truyện

Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng

của bản thân về các bài thơ

Luận điểm 2: Chỉ ra sự tương đồng giữa hai tác phẩm truyện

- Gọi tên được những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm truyện về nội dung và nghệ thuật, lấy dẫn chứng chứng minh, bình luận trong mỗi tác phẩm

- Lí giải nguyên nhân tương đồng: nguyên nhân có thể xuất phát từ các yếu tố như: hai tác phẩm cùng đề cập một loại hiện tượng đời sống hay một loại hình nhân vật; hai tác giả có cùng quan điểm thẩm mĩ và cách tiếp cận hiện thực; có hiện tượng tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia về đề tài, cảm hứng, bút pháp, phong cách sáng tác,

Luận điểm 3: Chỉ ra sự khác biệt giữa hai tác phẩm truyện

- Gọi tên được những điểm khác biệt về nội dung, nghệ thuật giữa hai tác phẩm

truyện, lấy dẫn chứng chứng minh, bình luận trong mỗi tác phẩm

- Lí giải nguyên nhân khác biệt: nguyên nhân có thể xuất phát từ các yếu tố như: mỗi nhà văn có quan điểm thẩm mĩ, cách tiếp cận hiện thực và cá tính sáng tạo riêng, mỗi nhà văn chịu ảnh hưởng của một truyền thống văn hóa, văn học khác nhau; đối tượng được miêu tả, câu chuyện

Luận điểm 4: Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt và khẳng định về giá trị đọc đáo của mỗi tác phẩm truyện

Kết bài: Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong

tương quan so sánh

2.2.2 Thể loại thơ

Trang 16

ý tưởng thiết lập một hệ thống logich giúp bài viết trở nên chặt chẽ tránh hiện tượng viết lan man, xa đề, nghĩ gì viết nấy, dẫn đến trùng lặp ý Bước lập ý, lập dàn ý giúp học sinh dễ dàng triển khai thành một bài văn hoàn chỉnh đúng trọng tâm vấn đề nêu

ra Cụ thể với dạng đề bài này, giáo viên hướng dẫn học sinh mô hình làm bài như sau:

Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ (tác giả, thời điểm ra đời, nơi xuất bản, đánh

giá chung của dư luận, ) và nêu vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết

Thân bài:

- Phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình (nhân vật trữ tình muốn biểu đạt điều gì, thông qua hình tượng nào, với cái nhìn và thái độ ra sao, )

- Phân tích, đánh giá sự phát triển của hình tượng chính (qua các khổ, đoạn trong bài)

và tính độc đáo của những phương tiện ngôn từ đã được sử dụng (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ, )

- Phân tích, đánh giá nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề tài, chủ đề, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả khác)

Kết bài: Khẳng định giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ, ý nghĩa của bài thơ

đối với người viết bài nghị luận

Dạng 2: Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ (Tìm hiểu cấu tứ và

hình ảnh của tác phẩm)

Để làm dạng đề bài này, chúng tôi cung cấp cho học sinh về khái niệm cấu tứ, hình

ảnh, cách xác định cấu tứ, hình ảnh, vai trò của cấu tứ, hình ảnh trong thơ Sau đó xây dựng mô hình làm bài cụ thể như sau:

Tìm ý

Có thể tự đặt ra các câu hỏi xếp theo nhóm như sau để tìm ý:

Yêu cầu chung đối với việc bàn luận về tác phẩm thơ

Trang 17

- Bài thơ đã tác động đến bạn như thế nào? Qua khám phá tác phẩm cụ thể này, bạn tích lũy được kinh nghiệm gì về việc đọc một văn bản thơ nói chung?

Tìm hiểu, đánh giá cấu tứ của bài thơ

- Bài thơ đã hình thành và hoàn thiện dựa trên ý tưởng cơ bản nào? Điều gì đã làm cho

ý tưởng ấy được thể hiện một cách sinh động?

- Có thể nêu nhận định khái quát gì về cấu tứ của bài thơ? Nhận định này có gì khác biệt so với những nhận định từng có và đã bao quát hết mọi yếu tố cấu thành của bài thơ chưa?

- Với cách cấu tứ đã nêu, bài thơ thể hiện được phát hiện riêng gì của nhà thơ về thế giới và con người?

Tìm hiểu, phân tích hệ thống hình ảnh trong bài thơ

- Bài thơ có những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó có thể gợi cho người đọc ấn tượng, liên tưởng gì?

- Có thể nhìn nhận như thế nào về logic kết nối các hình ảnh trong bài thơ với nhau? Cái tứ của bài thơ đã chi phối điều này ra sao?

- Theo mạch triển khai của bài thơ, giữa các hình ảnh có sự vận động phát triển nào đáng chú ý?

- Có thể nói gì về những hàm nghĩa của các hình ảnh trong bài thơ? Sự chuyển hóa về

ý nghĩa của các hình ảnh đã được thể hiện ra sao?

Lập dàn ý

Mở bài:

Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ (tác giả, thời điểm ra đời, nơi xuất bản, đánh giá chung của dư luận, ) và nêu vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết

Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt bằng một nhận định, danh ngôn, bằng thơ, lời bài hát liên quan đến vấn đề nghị luận

Thân bài: Cần triển khai các ý:

- Khái niệm: cấu tứ, hình ảnh

- Cảm giác chung mà cấu tứ cùng những hình ảnh và cách diễn tả khác lạ trong bài thơ đã gợi cho người đọc

Trang 18

18

- Sự khác biệt của bài thơ này so với các bài thơ khác trên phương diện xây dựng hệ thống hình ảnh và tạo sự kết nối giữa các bộ phận cấu tạo trong bài thơ (thực hiện những so sánh cần thiết để chỉ ra được sự khác biệt)

- Những khả năng hiểu (cắt nghĩa) khác nhau đối với một số yếu tố, hình ảnh trong bài thơ (cần nêu cụ thể)

- Điều được làm sáng tỏ qua việc đọc thăm dò và thử nghiệm các cách đọc khác nhau đối với bài thơ

- Sự gợi mở về cách nhìn mới đối với thế giới và con người được đề xuất từ mạch ngầm văn bản bài thơ

Kết bài: Khẳng định lại sự độc đáo của bài thơ và ý nghĩa của nó đối với việc đem lại cách nhìn, cách đọc mới cho đọc giả

Từ hai dạng (kiểu bài) viết về thơ như trên giáo viên có thể ra các đề như:

**Phân tích/ cảm nhận một bài thơ/đoạn trích:

Với dạng đề bài này, ở bức chuẩn bị viết chúng tôi cung cấp cho học sinh một

số kiến thức nền, sau đó chúng tôi hướng dẫn học sinh mô hình làm bài như sau:

Mở bài:

Mở bài trực tiếp: Nêu sơ lược về tác giả: Vị trí trong nền văn học, phong cách sáng tác, những đóng góp của tác giả đối với phong trào văn học, giai đoạn văn học và nền văn học dân tộc (Có ở đề bài )

- Tác phẩm: Vị trí, hoàn cảnh sáng tác (Có ở đề)

- Nêu vấn đề nghị luận

Trích lại bài thơ/ đoạn thơ (nếu ngắn)

Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt bằng một nhận định về vai trò của thơ ca trong đời sống tinh thần, danh ngôn, bằng thơ, lời bài hát liên quan đến vấn đề nghị luận

Thân bài

a Giới thiệu khái quát: xuất xứ, nội dung

(Giới thiệu: Tác giả, vị trí, hoàn cảnh ra đời nếu mở bài viết gián tiếp)

b Làm rõ vấn đề nghị luận

- Đề đã cho vấn đề nghị luận, dùng vấn đề đó để dẫn lời cho luận điểm

- Trích thơ rồi lần lượt phân tích những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,…trong câu thơ, giải mã đúng từ ngữ, hình ảnh đó để giúp người đọc cảm thấy được những cái hay, cái đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ/đoạn thơ

Lưu ý: nên phân tích từ nghệ thuật đến nội dung, khi phân tích phải dựa vào từ ngữ có trong bài thơ/ đoạn thơ, hoàn canh ra đời, phong cách sáng tác của tác giả để tránh suy diễn lan man, không chính xác, cụ thể

- Liên hệ với các tác phẩm thơ cùng đề tài – phong cách (nếu có)

- Đánh giá:

+ Đánh giá về nội dung, tư tưởng thái độ tình cảm của tác giả

Trang 19

19

+ Đánh giá về nghệ thuật:

++ Thể thơ…

++ Hình ảnh thơ có gì độc đáo? (biểu tượng, ẩn dụ, gợi cảm…)

++ Thủ pháp nghệ thuật nổi bật: điệp ngữ, đối lập, nhân hóa, hoán dụ…

++ Ngôn ngữ: mộc mạc, hàm súc, tinh luyện, biểu cảm, đa nghĩa?

++Nhịp điệu, âm hưởng thơ: nhẹ nhàng, dồn dập, tha thiết hay thiết tha sâu lắng? ++ Giọng điệu: trữ tình, cảm xúc, châm biếm, bi hùng, trang trọng, suy tư…?

+ Đánh giá về phong cách tác giả

+ Thông điệp cuộc sống - nhân văn được gửi gắm

Kết bài: Khẳng định lại toàn bộ giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ/ đoạn thơ;

Liên hệ bản thân và cuộc sống

Dạng 3: Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ

Ở bước 1 chuẩn bị viết, đọc xong đề bài cần xác định được các phương diện cần

so sánh như nội dung, nghệ thuật, cảm hứng, hình tượng nhân vật, bút pháp

Dạng bài này có thể triển khai nhiều cách khác nhau, để phù hợp với năng lực học sinh của nhà trường, chúng tôi mô hình các cách sau:

Tìm ý:

- Cơ sở so sánh đánh giá

- Điểm tương đồng giưa hai tác phẩm thơ

- Điểm khác biệt

- Yếu tố tạo nên những tương đồng khác biệt

- Đánh giá thế nào về gí trị của mỗi bài thơ?

Trang 20

20

Luận điểm 2: Lần lượt phân tích từng bài thơ

- Nội dung: Mạch cảm xúc, tâm trạng, tình cảm nhân vật trữ tình,…

- Nghệ thuật: vần, nhịp, biện pháp tu từ, ngôn ngữ,

Luận điểm 3: Chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ về nội dung và nghệ thuật

Luận điểm 4: Chỉ ra điểm khác biệt về nội dung và nghệ thuật

Luận điểm 5: Lí giải nguyên nhân của sự tương đồng, khác biệt

- Lí giải nguyên nhân tương đồng: nguyên nhân có thể xuất phát từ các yếu tố như: hai tác phẩm cùng đề cập một loại hiện tượng đời sống; hai tác giả có cùng quan điểm thẩm mĩ và cách tiếp cận hiện thực; có hiện tượng tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia về đề tài, cảm hứng, bút pháp, phong cách sáng tác,

- Lí giải nguyên nhân khác biệt: nguyên nhân có thể xuất phát từ các yếu tố như: mỗi nhà văn có quan điểm thẩm mĩ, cách tiếp cận hiện thực và cá tính sáng tạo riêng, mỗi nhà văn chịu ảnh hưởng của một truyền thống văn hóa, văn học khác nhau; đối tượng được miêu tả, cảm xúc được thể hiện ở mỗi tác phẩm có điểm đặc thù,

Luận điểm 6: Đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ

Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng

của bản thân về các bài thơ

- Chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ về nội dung và nghệ thuật

- Chỉ ra điểm khác biệt về nội dung và nghệ thuật

Luận điểm 3: Lí giải nguyên nhân của sự tương đồng, khác biệt

- Lí giải nguyên nhân tương đồng: nguyên nhân có thể xuất phát từ các yếu tố như: hai tác phẩm cùng đề cập một loại hiện tượng đời sống; hai tác giả có cùng quan điểm thẩm mĩ và cách tiếp cận hiện thực; có hiện tượng tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia về đề tài, cảm hứng, bút pháp, phong cách sáng tác,

- Lí giải nguyên nhân khác biệt: nguyên nhân có thể xuất phát từ các yếu tố như: mỗi nhà văn có quan điểm thẩm mĩ, cách tiếp cận hiện thực và cá tính sáng tạo riêng, mỗi nhà văn chịu ảnh hưởng của một truyền thống văn hóa, văn học khác nhau; đối tượng được miêu tả, cảm xúc được thể hiện ở mỗi tác phẩm có điểm đặc thù,

Luận điểm 4: Đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ từ nội dung so sánh

Trang 21

21

Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng

của bản thân về các bài thơ

Với biện pháp cách làm cụ thể đối với từng dạng (kiểu) bài nghị luận văn học chúng tôi giúp học sinh sẽ không bỏ qua phần viết bài văn nghị luận văn học nếu có trong đề thi Các em sẽ biết viết bắt đầu từ đâu, viết cái gì ở từng kiểu bài cụ thể từ

mở bài, thân bài đến kết bài

2.3 Biện pháp 3: Sử dụng kĩ thuật “giàn giáo” (scaffolding)

Theo Pauline Gibbons (2015), Scaffolding là sự hỗ trợ tạm thời từ giáo viên đến học sinh để học sinh có thể hoàn thành bài tập mà chúng không thể tự mình hoàn thành

Sự hỗ trợ này bao gồm các hình thức như tài nguyên/tài liệu lớp học được cung cấp cho học sinh, mục tiêu của chúng tôi khi dùng phương pháp Scaffolding cho người học

là để cuối cùng họ có thể tự mình hoàn thành bài tập mà không cần sự hỗ trợ tạm thời của giáo viên nữa Phương pháp Scaffolding không chỉ nên giới hạn trong giảng dạy

mà nên áp dụng trong việc đánh giá người học, để những đánh giá đó trở nên có giá trị hơn

Chúng tôi vận dụng biện pháp này ở bước 3 trong quy trình viết bài văn nghị luận

đó là viết, bước này học sinh dựa vào mô hình của từng kiểu bài chúng tôi cung cấp để viết thành văn bản hoàn chỉnh, nhưng nhiều học sinh vẫn gặp khó khăn, nên chúng tôi viết để các em tham khảo:

Ví dụ 1: Viết một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của một tác phẩm thơ

Với đề bài, phần mở bài chúng tôi hướng dẫn học sinh viết như sau:

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tâm sự: “Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt” Có lẽ chính vì thế tác phẩm ra đời với tất cả những thương quý của nhà thơ và cả những ánh ngời trên trang sách

Ví dụ 2: Phân tích/ cảm nhận bài thơ/đoạn thơ

Mở bài gián tiếp:

Cách 1: “Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm” (Voltaire) Thơ ca chỉ bật ra khi trong tim người nghệ sĩ đang rung lên những nhịp đập thổn thức, đang ngân lên những điệu ngân của tâm hồn Chính bởi vậy, mỗi vần thơ

dù ngắn gọn nhưng lại có sức truyền tải lớn tới người đọc Và có những bài thơ đã ra đời cách chúng ta hàng chục năm nhưng tới nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị “ …” của

…… là một tác phẩm như vậy Trong bài thơ có những vần thơ ngân lên khiến người đọc không khỏi

Trang 22

22

Cách 2: Thơ là tiếng lòng tinh khôi và mãnh liệt nhất của con người trước cuộc sống

Từ những rung động dịu dàng đến nỗi đau quặn thắt, thơ luôn biết cách lưu giữ cảm xúc bằng những dòng ngôn từ chắt lọc Trong mạch cảm xúc ấy, [Tên tác phẩm] của [Tên tác giả] hiện lên như một bản hòa ca lắng đọng, gợi mở những chiêm nghiệm sâu

xa về [vấn đề nghị luận]

Cách 3: Nếu văn xuôi là dòng sông kể chuyện thì thơ ca là ngọn lửa thắp lên từ những rung động chân thành Những vần thơ hay không chỉ truyền tải thông điệp, mà còn lan tỏa cảm xúc [Tên tác phẩm] của [Tên tác giả] là minh chứng sống động cho điều đó – một bài thơ mang vẻ đẹp của nghệ thuật và chiều sâu tư tưởng về [vấn đề nghị luận] Cách 4: Trong hành trình đi tìm cái đẹp và sự thật của cuộc sống, con người không chỉ sống bằng lí trí mà còn cần được dẫn lối bằng cảm xúc Thơ ca bằng sự thăng hoa của ngôn từ và hình ảnh đã thực hiện sứ mệnh đó một cách trọn vẹn Tác phẩm…của tác giả…chính là một đóa hoa như thế- đằm thắm, sâu lắng và đầy ám ảnh về (Vấn đề nghị luận)

Ví dụ 3: Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ

- Mở bài 1: Văn chương bắt nguồn từ đời sống và phản ánh cuộc sống con người Mỗi

tác phẩm văn học đều viết lên nỗi niềm trăn trở, suy tư, tình yêu, khát vọng của người nghệ sĩ dành cho cuộc đời Tác phẩm A của tác giả A và tác phẩm B của tác giả B đã thể hiện xuất sắc vấn đề nghị luận theo cách riêng

- Mở bài 2: Nghĩ về thơ, Soren Kierkegaard - một triết gia người Đan Mạch từng băn khoăn: “Thi sĩ là gì? Một con người bất hạnh giấu nỗi đau khổ sâu sắc trong tim, nhưng đôi môi đẹp tới mức khi tiếng thở dài và tiếng khóc đi qua, chúng nghe như âm nhạc

du dương… Và người ta xúm lại quanh thi sĩ và bảo: 'Hãy hát tiếp đi' - hay nói theo

Trang 23

23

cách khác, 'Mong những nỗi đau khổ mới hành hạ tâm hồn anh nhưng đôi môi anh vẫn đẹp đẽ như trước, bởi tiếng khóc sẽ chỉ làm chúng tôi hoảng sợ, nhưng âm nhạc thì lại rất hay.” Người ta ví thơ là một thứ thanh âm đẹp đẽ và thật hay, dẫu rằng ấy chính là tiếng vang của một tâm hồn đang ứ đầy cảm xúc Không nói ra, không chịu được, anh chọn cách gửi vào thơ Đến với tác phẩm A (tác giả) và tác phẩm B (tác giả), ta như được thả hồn mình vào dòng cảm xúc đã căng, đã đầy ấy mà hiểu, mà ngấm, mà đồng điệu với thi nhân Ở đó, ta bắt gặp sự tương đồng trong [điểm chung], song vẫn có những nét riêng về [điểm riêng]

Kết bài:

- Kết bài 1: Cùng viết về + điểm chung + nhưng + tác phẩm A + đã + điểm khác biệt

+ còn + tác phẩm B + điểm khác biệt Những trang thơ ấy không chỉ là tiếng lòng thiết tha, sự giãi bày và gửi gắm tâm tư của tác giả A và tác giả B mà còn là sợi dây kết nối những tâm hồn đồng điệu, là khúc ca sẽ mãi ngân lên Đúng như quy luật tồn tại và giá trị bất hủ của thơ ca bao đời nay: “Từ bao giờ cho đến bây giờ, [ ] thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và

nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế” (Hoài Thanh)

- Kết bài 2: Thơ ca tạo nên những thanh âm thật đẹp trong cuộc sống Thanh âm về

điểm gặp gỡ cùng với điểm khác biệt của tác phẩm A (tác giả A) và tác phẩm B (tác giả B) đã khiến cho người đọc như được ru dưỡng tâm hồn thêm, như hiểu và yêu cuộc sống, yêu con người hơn Thơ ca ôm con người vào lòng, con người lại gửi gắm xúc cảm vào thơ ca Có lẽ chính vì vậy mà dù thời gian có trôi hoài, trôi mãi thì cũng không bao giờ làm phai tàn đi vẻ đẹp của những vần thơ…

Ví dụ 4: Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện

Mở bài 1: Văn chương bắt nguồn từ đời sống và phản ánh cuộc sống con người Mỗi tác phẩm văn học đều viết lên nỗi niềm trăn trở, suy tư, tình yêu khát vọng của người nghệ sĩ dành cho cuộc đời Tác phẩm A + của + tác giả A + và + tác phẩm B + của + tác giả B + đã thể hiện xuất sắc + vấn đề nghị luận + theo cách riêng

Mở bài 2: Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Văn nghệ năm 1986, Nguyễn Minh Châu đã bày tỏ quan điểm của mình về trách nhiệm của người nghệ sĩ: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình” Có lẽ không chỉ riêng Nguyễn Minh Châu, mọi nghệ sĩ chân chính tất thảy đều cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình mà trăn trở, mà sáng tạo Đến với + hai tác phẩm A và B, tài năng

và tấm lòng đi cùng với nhau trên từng trang viết tạo nên những áng văn vượt thời

Trang 24

24

gian Ở đó, ta bắt gặp sự đồng điệu trong + điểm chung + được thể hiện qua những + phong cách khác nhau, + thể hiện rõ dấu ấn, phong cách riêng của mỗi nhà văn Kết bài 1: Khép lại trang văn nhưng sức sống của nó sẽ còn mãi theo thời gian Cùng tái hiện lại + điểm chung + nhưng ss+ tác phẩm A + đã + điểm khác biệt + còn + tác phẩm B + điểm khác biệt Cả hai sáng tác đã đến với người đọc bằng con đường của trái tim và sự nhân văn cao cả, từ đó tạo nên những xung động thẩm mĩ trong tâm hồn con người

Kết bài 2: Văn chương không phải liều thuốc an thần ru con người vào giấc ngủ

uể oải, mộng mị Và tất yếu, mọi tác phẩm chân chính đều không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện ngay cả khi câu chuyện về các nhân vật

đã kết thúc Ở hai + tác phẩm A và B +, người nghệ sĩ đã gửi hồn vào từng con chữ, thức tỉnh nơi bạn đọc những rung động, tình cảm sâu xa tưởng như đã chìm vào quên lãng bởi lớp bụi của thời gian Sự đồng điệu về + điểm chung + trong hai sáng tác cùng với + điểm khác biệt + của + tác phẩm A + và + điểm khác biệt + của + tác phẩm B +

đã để lại dư vị khó phai trong lòng bạn đọc

Trong quá trình dạy, chúng tôi nhận ra phần đa học sinh gặp khó khăn trong dẫn luận điểm, chuyển đoạn, chuyển ý ở phần thân bài và chúng tôi cũng sử dụng kĩ thuật

“giàn giáo” (scaffolding)

Ví dụ khi làm đề so sánh hai tác phẩm/ đoạn trích thơ hặc truyện theo cách 2, sau

luận điểm 1 giới thiệu thông tin về hai tác phẩm Viết luận điểm thứ 2 là về điểm giông nhau và khác nhau, chúng tôi hướng dẫn như sau:

Với học sinh trung bình yếu thì viết: Điểm giống nhau của hai đoạn trích/ tác phẩm trước hết ở:… tiếp theo là,…đặc biệt …

Cùng với điểm giống về nội dung, hai đoạn trích/ tác phẩm còn có điểm giống

về nghệ thuật, đó là…

Với học sinh khá, giỏi, có hứng thú với học văn, viết văn, chúng tôi hướng dẫn các em dẫn luận điểm bằng ý kiến, nhận định như: Giá trị của tác phẩm trước hết ở nội dung tư tưởng,…

Luận điểm lí giải điểm khác nhau, chúng tôi hướng dẫn viết như sau:

“Nghê thuật là lĩnh vực của sự độc đáo Vì vậy đòi hỏi người sáng tạo phải có phong cách nổi bật, tức có cái gì rất riêng mới lạ trong phong cách của mình” (Sách văn học 12)

“Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật” (V.Huygoo),

“Văn chương khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao) Trong tác phẩm….tác giả…

Khi phân tích từ ngữ đắt, hay, học sinh có thể viết: “Ở đâu có lao động thì ở

đó có sáng tạo ra ngôn ngữ Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo, không nên ăn bám vào người khác

Trang 25

25

Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay…Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy nhưng sử dụng có sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước Có vốn mà không biết sử dụng chỉ như nhà giàu giữ của Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó Văn phải linh hoạt Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp…” (Nguyễn Tuân) Tác giả…đã rất

Áp dụng biện pháp này, học sinh tự tin, mạnh dạn làm đề bài cùng kiểu dạng tương tự khi giáo viên ra Giúp các em diễn đạt uyển chuyển, biết viết, diễn đạt hay hơn…

2.4 Biện pháp 4: Tổ chức học sinh học bằng sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy thường được dùng để tóm lược, hệ thống hóa các nội dung bài học hoặc các vấn đề, các ý tưởng

Tổ chức cho học sinh học bằng sơ đồ tư duy giúp các em rèn luyện tư duy logich,

hệ thống Nội dung học tập được trình bày một cách trực quan, mang tính khái quát, tổng thể, dễ hiểu, dễ nhớ Tổ chức học sinh học bằng sơ đồ tư duy còn giúp các em phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não với kiến thức, cách làm các kiểu bài và trở nên tự tin, sáng tạo Huy động tính tích cực của tất cả học sinh trong lớp, em nào cũng phải động não hoạt động kể cả học sinh yếu

Cách thực hiện: Theo cá nhân hoặc nhóm, nhằm phát huy khả năng sáng tạo của các cá nhân và nhóm chúng tôi sẽ giành một giải thưởng riêng cho những sơ đồ tư duy

có phần trang trí bắt mắt nhất

Trang 26

26

Sản phẩm học sinh học bằng sơ đồ tư duy

Ngày đăng: 28/06/2025, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bùi Mạnh Hùng (tổng chủ biên), Phan Huy Dũng (chủ biên), nhóm tác giả (2023), Ngữ văn 10, 11,12, tập 1, tập 2 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10, 11
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng (tổng chủ biên), Phan Huy Dũng (chủ biên), nhóm tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2023
1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2018), CTGDPT môn Ngữ văn, ban hành theo thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018 Khác
4. Công văn số 3175/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông Khác
5. Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2014), Lý luận dạy học hiện đại - Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, NXB Đại học Sư phạm Khác
7. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy lớp 10 môn Ngữ văn (Lưu hành nội bộ), Nghệ An -2023 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w