1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài tìm hiểu về các loại hình nghệ thuật thanh sắc và tìm hiểu về các loại hình nghệ thuật hình khối Ở việt nam

20 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về các loại hình nghệ thuật thanh sắc và tìm hiểu về các loại hình nghệ thuật hình khối ở Việt Nam
Tác giả Dương Thị Khánh Linh, Nguyễn Hoài Phương Uyên, Nguyễn Lan Anh, Vũ Trúc My, Nguyễn Bảo Ngọc, Vũ Thị Mỹ Duyên, Trương Thị Hoài
Người hướng dẫn Trần Huyền Trang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Khởi nghiệp và phát triển kinh doanh
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 128,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình phát triển lâu dài, nghệ thuật Việt Nam không chỉ thể hiện những giá trị tinh thần, cảm xúc, mà còn là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa các yếu tố văn hóa Đông –

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ

BÀI TẬP LỚN

MÔN: CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM

ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT THANH SẮC VÀ TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ

THUẬT HÌNH KHỐI Ở VIỆT NAM

Hà Nội, tháng 11, 2024

Trang 2

Hà Nội, tháng 11, 2024

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ

BÀI TẬP LỚN

MÔN: CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM

ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT THANH SẮC VÀ TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ

THUẬT HÌNH KHỐI Ở VIỆT NAM

NHÓM 2:

1 Dương Thị Khánh Linh

2 Nguyễn Hoài Phương Uyên

3 Nguyễn Lan Anh

4 Vũ Trúc My

5 Nguyễn Bảo Ngọc

6 Vũ Thị Mỹ Duyên

7 Trương Thị Hoài

Trang 3

T Họ và tên Nội dung công việc Đánh giá kết quả công việc Điểm

Khánh Linh

- Thuyết trình về “Định nghĩa và đặc trưng của Nghệ thuật Thanh sắc”

- Làm bản báo cáo

- Làm slide

2 Nguyễn Hoài

Phương Uyên - Thuyết trình về “Ý nghĩa và một số Nghệ thuật Thanh

sắc ở Việt Nam”

3 Nguyễn Lan Anh - Thuyết trình về “Định

nghĩa và đặc trưng của Nghệ thuật Hình khối”

- Nội dung Nghệ thuật Hình khối

4 Vũ Trúc My - Thuyết trình về “Ý nghĩa

và một số Nghệ thuật Hình khối ở Việt Nam”

- Nội dung Nghệ thuật Hình khối

5 Nguyễn Bảo

Ngọc

- Nội dung Nghệ thuật Thanh sắc

- Trả lời câu hỏi

- Check nội dung

Duyên - Tìm hình ảnh - Làm slide

- Trả lời câu hỏi

7 Trương Thị Hoài - Nội dung Nghệ thuật

Thanh sắc

- Làm slide

- Trả lời câu hỏi

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU 3

PHẦN 1: NGHỆ THUẬT THANH SẮC 4

1.1 Định nghĩa 4

1.2 Đặc trưng của Nghệ thuật Thanh sắc 4

1.2.1 Tính biểu trưng 4

1.2.2 Tính biểu cảm 5

1.2.3 Tính tổng hợp 5

1.2.4 Tính linh hoạt 6

1.3 Ý nghĩa của nghệ thuật Thanh sắc 7

1.4 Một số nghệ thuật Thanh sắc ở Việt Nam 7

1.4.1 Chèo 7

1.4.2 Tuồng 9

1.4.3 Cải lương 10

PHẦN 2: NGHỆ THUẬT HÌNH KHỐI. 11

2.1 Định nghĩa 11

2.2 Đặc trưng của Nghệ thuật Hình khối 11

2.2.1 Tính biểu trưng 11

2.2.2 Tính biểu cảm 12

2.2.3 Tính tổng hợp 13

2.2.4 Tính linh hoạt 14

2.3 Ý nghĩa của nghệ thuật Thanh sắc 14

2.4 Một số nghệ thuật Thanh sắc ở Việt Nam 14

2.4.1 Chạm khắc đá 14

2.4.2 Sơn mài 14

2.4.3 Giấy 14

2.4.4 Tranh sơn dầu 15

LỜI KẾT 16

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Nghệ thuật là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của mỗi dân tộc, và nghệ thuật Việt Nam là một tấm gương phản chiếu rõ nét sự đa dạng và sâu sắc của lịch sử, truyền thống, cũng như bản sắc dân tộc Trong quá trình phát triển lâu dài, nghệ thuật Việt Nam không chỉ thể hiện những giá trị tinh thần, cảm xúc, mà còn là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa các yếu tố văn hóa Đông – Tây Một trong những yếu tố quan trọng làm nên sức sống của nghệ thuật Việt chính là cách các nghệ sĩ khai thác, sử dụng

và kết hợp giữa thanh sắc và hình khối trong các tác phẩm của mình

Nghệ thuật thanh sắc, bao gồm sự phối hợp giữa màu sắc và ánh sáng, đã từ lâu là một công cụ mạnh mẽ để diễn tả cảm xúc, tạo dựng không gian, và truyền tải thông điệp trong các tác phẩm nghệ thuật Trong khi đó, hình khối, với tính chất gắn liền với kết cấu, thể tích và cấu trúc của vật thể, mang đến sự vững chãi, sự hài hòa và những yếu tố biểu cảm đặc sắc trong nghệ thuật tạo hình Sự kết hợp giữa thanh sắc và hình khối không chỉ là một yếu tố kỹ thuật mà còn là một phương tiện để các nghệ sĩ thể hiện quan điểm thẩm

mỹ và phản ánh những chuyển biến trong xã hội

Ở Việt Nam, những yếu tố này đã được khai thác rất tinh tế và phong phú trong nhiều loại hình nghệ thuật, từ hội họa, điêu khắc, cho đến kiến trúc, thủ công mỹ nghệ và trang trí Các họa sĩ và nhà điêu khắc Việt Nam đã biết cách phát huy sự đa dạng của màu sắc trong các tác phẩm hội họa dân gian như tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, hay những tác phẩm nghệ thuật hiện đại, đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn hình khối trong các tác phẩm điêu khắc, tạo hình tượng mạnh mẽ và đầy ấn tượng

Bài báo cáo này sẽ tìm hiểu và phân tích những đặc điểm nổi bật của nghệ thuật thanh sắc

và hình khối trong nghệ thuật Việt Nam, từ những truyền thống xưa đến những xu hướng nghệ thuật đương đại Đặc biệt, chúng ta sẽ khám phá cách thức các nghệ sĩ Việt Nam vận dụng những yếu tố này để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật không chỉ đẹp mắt mà còn chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, phản ánh phong cách sống, thế giới quan và những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Bằng cách này, nghệ thuật thanh sắc và hình khối không chỉ là những phương tiện biểu đạt kỹ thuật mà còn là những công cụ để gắn kết các thế hệ, duy trì và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh giao thoa văn hóa toàn cầu hiện nay

PHẦN 1: NGHỆ THUẬT THANH SẮC

Trang 6

1.1 Định Nghĩa

Nghệ thuật thanh sắc là thuật ngữ dùng để chỉ một lĩnh vực bao gồm những loại hình nghệ thuật có liên quan mật thiết với nhau mà phương Tây gọi là ca, múa, nhạc kịch - nét chung giữa chúng là sự coi trọng thanh và sắc

1.2 Đặc trưng của nghệ thuật thanh sắc

1.2.1 Tính Biểu Trưng

- Nguyên lý đối xứng hài hòa

Giống như trong ngôn từ, tính biểu trưng trong nghệ thuật thanh sắc Việt Nam thể hiện trước hết ở nguyên lí đối xứng, hài hòa, âm nhạc cổ truyền Việt Nam không có loại nhịp

lẻ mà chỉ có nhịp chẵn (2; 4 phách); từng câu nhạc cũng chia thành các ô chẵn một cách cân đối (2; 4; 8;16; 32; 64; )

Nghệ thuật múa Việt Nam tuân thủ chặt chẽ luật âm dương với các đội hình phổ biến hình tròn và vuông; với các nguyên lý xây dựng trên cơ sở những tương quan cặp đôi giữa các bộ phận của có thế, các phần của động tác

Có 4 nguyên tắc chính:

+ Thượng hạ tương phù Động tác phải có trên dưới, gốc ngọn, đầu đuôi, tiến lùi phù hợp với nhau tạo nên một chỉnh thể

+ Tả hữu tương ứng: Động tác phải có phải trái, trước sau, ứng với nhau tạo nên một sự hài hòa

+ Phì sấu tương chế: Sự hài hòa còn được tạo nên bởi sự tương phản giữa động tác rộng và hẹp, dày và mỏng

+ Nội ngoại tương quan: Phải có sự tương quan giữa nội tâm và ngoại hình của nhân vật Giữa con người với thiên nhiên xung quanh

Ví dụ: Biểu tượng âm dương vẽ thay các xoáy lông trên lưng lợn hoặc trên mặt trống những thứ có liên quan đến mùa màng và tiếng sấm như bông lúa, con cóc, cái trồng cũng là một dấu hiệu điển hình không kém Chính với ý nghĩa đó mới có tranh em bé bế cóc, chứ trên thực tế làm gì có ai bế một con vật xấu xí như vậy

-Thủ pháp ước lệ

Tính biểu trưng trong nghệ thuật thanh sắc còn được thực hiện bằng thủ pháp ước lệ Tính biểu trưng trong nghệ thuật thanh sắc

Thủ pháp ước lệ: Chỉ dùng một bộ phận, chi tiết để gợi cho người xem hình dung ra sự thực ngoài đời

Ví dụ: + Dùng roi để ám chỉ cảnh cưỡi ngựa; dùng mái chèo chỉ cảnh đi thuyền

+ Hiện tượng này giống việc người Nam Bộ bày mâm ngũ quả với 5 thứ trái cây: mãng cầu (na), sung, dừa, đu đủ, để đọc chệch thành: Cầu sung (túc) vừa đủ xài Cái được quan tâm ở đây là ý nghĩa, còn bản thân vật thờ đẹp hay xấu, sang hay hèn cũng không quan trọng

+ Khá phổ biến là mô hình Ý NGHĨA PHỒN THỰC ( Dấu hiệu điển hình nhất của nó là số nhiều: Tranh gà đàn, lợn đàn, cá đàn, trẻ con chơi hàng đàn lũ dưới giàn bầu

bí hoặc dưới tán cây sai quả

Trang 7

+ Cảnh đôi phượng (một đực một cái) chầu mặt trời: (phượng: âm; mặt trời: dương) trang trí trên bia đá mà trong đó; dưới bông lúa trĩu hạt là đôi chuột đang đánh trống đồng (lúa và chuột: biểu tượng mùa màng; trống đồng: biểu tượng phồn thực; Tất

cả đều thể hiện một ước vọng thiêng liêng - ước vọng phồn thực: con cháu đông đúc, mùa màng tốt tươi

-Thủ pháp mô hình hóa

Việt Nam còn được thực hiện một cách xuất sắc bằng thủ pháp mô hình hóa Trong tuồng (hát bội) Các nhân vật được phân thành các loại gọi là đào, kép, lão, mụ, vua, quan, tướng, soái

Thủ pháp mô hình hóa: Chỉ dùng một nét, đế nói lên tính cách

Ví dụ: Dùng nét vẽ mặt, để phân biệt Kép Dùng lông mày, bộ râu, để nói lên tính hiền,

dữ Bộ Tứ Linh với long (rồng) biểu trưng cho uy là nam tính; li (= long mã) hoặc lân (kỳ lân) biểu trưng cho ước vọng thái bình; quy (rùa) biểu tượng cho sự sống lâu và phượng (phụng) biểu tượng cho nữ tính Rồng - Phượng biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi (ở Trung Hoa hiện tượng này là "loan-phượng": loan là con đực; phượng là con cái) Đồ án trang trí RỒNG phổ biến đến mức phản ánh những đặc trưng cửa từng thời đại Rồng thời Hùng vương, thời Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Nguyễn - mỗi thời có những nét đặc thù riêng tương ứng với thời đại của mình

1.2.2 Tính biểu cảm

- Âm nhạc

Âm nhạc và các làn điệu dân ca Việt Nam (như quan họ Bắc Ninh, hát dạm Nghệ Tinh, lý Nam Bộ ) đều thiên về diễn tả tình cảm nội tâm mang đậm chất trũ tình với tốc độ chậm,

âm săc trâm và rất chú trọng luyên láy, gợi nên những tình cảm quê hương, những nỗi buồn man mác (âm tính) Dàn nhạc cổ truyền Việt Nam ưa gọn nhẹ với vài ba nhạc công (trống, nhị, sáo, đàn ) dễ đi vào lòng người

- Múa

Không chỉ âm nhạc và dân ca, mà cả múa của người Việt cũng không ầm ĩ, ồn ào phổ biến là những đường nét tròn trĩnh, uốn lượn mềm mại, không gãy góc, đôi chân khép kín

Nét phổ biến trong múa nữ còn là sự kín đáo, tế nhị trọng cách ăn mặc, trong động tác (động tác che nửa mặt bằng chiếc quạt, bằng chiếc nón quai thao ) người Việt nông nghiệp mua tay là chính, mô phỏng những động tác nhố mạ, cấy lúa, hái dâu

- Chèo

+ Sân khấu Chèo gần gũi với làng quê

+ Tính biểu cảm của nó thể hiện ở chỗ vai trò của người phụ nữ luôn được nhấn mạnh

và tô đậm; từ bi như Thị Kính;, lắng tính như thị Mầu (chèo Quan âm thị kính Kính); hiếu thảo như Thị Phương (chèo Trương Viên); tiết hạnh như Châu Long (chèo Lưu Bình

- Dương Lễ); si tình và phụ bạc như Xúy Vân (chéo Kim Nhôm)

1.2.3 Tính tổng hợp

-Không có sự phân biệt các loại hình:

Trang 8

Trong sân khấu truyền thống Việt Nam không có sự phân biệt các loại hình ca, múa nhạc tất cả đều đồng thời có mặt trong một vở diễn Không phải ngẫu nhiên mà người

Việt Nam có cách nói tưởng chừng phi lý: xem hát chèo, xem hát tuồng (hát bội) Chỉ có

nó mới diễn đạt được khái niệm về một nền nghệ thuật tổng hợp có cả xem (diễn) và nghe (hát)

-Không phân biệt các thể loại:

Sân khấu truyền thống Việt Nam là sự tổng hợp của mọi thể thơ, mọi loại văn, điệu hát, mọi phong cách ngôn ngữ Tất cả luôn đan xen vào nhau như trong thực tế ngoài đời Sân khấu truyền thống Việt Nam còn không phân biệt các thể loại

Trong một vở diễn Việt Nam đồng thời có cả hai thứ: Yếu tố hài thường trực với các vai

hề mồi, hề gậy có những nhân vật không phải hệ nhưng cũng thường xuyên gây cười như thầy bói, thầy cúng

Trong vở chèo Quan âm Thị Kính không có gì bi hơn là cuộc đời của Thị Kính nhưng cũng không có gì hài hơn những cảnh Thị Mầu lên chùa, xã trưởng Người xem khóc đấy rồi lại cười ngay đấy Tất cả luôn đan xen vào nhau như trong thực tế ngoài đời

-Nhạc cụ

Việt Nam còn có những nhạc cụ như ĐÀN BẦU một mình mang đủ cả ba đặc trưng -tổng hợp, linh hoạt và biểu cảm: Tổng hợp bởi chỉ có một dây mà cho ra đủ mọi âm thanh, cung bậc, linh hoạt bởi chơi đàn bầu phải phối hợp hai tay một cách linh hoạt (tay phải gảy dây, tay trái rung, ghìm cần đàn) tay dương, tay âm tạo nên những âm thanh rung/phẳng, những cung bậc ngắn/dài hài hòa tuyệt vời theo ý muốn, biếu cảm bởi vì đàn bầu rất thích hợp đế thế hiện những cảm xúc âm tính, phù hợp với tâm hồn Việt Nam

1.2.4 Tính linh hoạt

Nghệ thuật thanh sắc Việt Nam còn cho thấy rõ TINH LINH HOẠT của văn hoá nông nghiệp

Âm nhạc truyền thống không đòi hỏi mọi nhạc công chơi giống hệt nhau Chỉ cần bắt đầu

và kết thúc giống nhau và chơi đúng theo hai quy định (ví dụ hắt đầu bằng chữ "xang" kết thúc bằng chữ "xê" theo hơi Nam hay hơi Xuân) còn ở các phách giữa thì mỗi nghệ nhân

có thể bộc lộ hết tài năng của mình

Sân khấu truyền thống không đòi hỏi diễn viên tuân thủ một cách chặt chẽ bài bản của tích diễn Mang trong dạ cái thần, cái ý chính của vở, người nghệ nhân tùy trường hơp có thể biến báo là diên cho thích hơp Tới nơi thích nghe hát thì nghệ nhân cho thêm làn điệu này, câu hát nọ tới nơi thích hài thì vai hề cài thêm những câu ngoài tích phù hợp với tình hình địa phương, nơi thiên về khoa cử thì diễn viên đưa thêm vào những câu lắm chữ nghĩa Chính sự linh hoạt này là lý do cắt nghĩa tai sao một bản nhạc một tích tuồng chèo của ta thường có nhiều dị bản

Tính linh hoạt còn thể hiện ở chỗ sân khấu truyền thống có sự giao lưu rất mật thiêt với người xem Sàn diên thường là sân đình, bốn manh chiếu trải ngay trước cửa chính Người xem có thê tham gia bình phẩm khen chê và chen vào những câu ngẫu hứng Chẳng hạn như trong chèo Quan âm Thị Kính, ở cảnh Thị Mầu lên chùa, khi Mầu đang lượn những vòng tròn mỗi lúc một hẹp hơn quanh Kính Tâm buông những lời tỏ tình mỗi lúc một công khai và nồng cháy hơn thì ở ngoài, trong số khán giả có người tinh nghịch

Trang 9

gây ra ý "phá đám" - họ nói chen vào Mầu ơi, ở nhà mày người ta bắt hết bò rồi! Nếu lúc

đó diễn viên tỏ ra bối rối là coi như hỏng, diễn viên đóng vai Thị Mầu đã nhanh trí chống tay hai bên hông, cong cớn mà rằng: Nhà tao còn ối trâu! Để rồi lại quay vào tiếp tục tấn công tiểu Kính

Chính đó là con đường hình thành một loại lời thoại đặc biệt trong sân khấu cố truyền -tiếng đế: Lời của người xem đế vào ngẫu hứng như vậy đúng chỗ quá, hay quá, lần sau diễn lại có những người xem khác bắt chước nói lại, lâu dần thành thói quen cứ đến đoạn

đó lại có câu đó từ bên ngoài sân khấu (có thể là của bạn diễn từ buồng trò) nói vọng vào

"Tiếng đế" trở nên mang tính nước đôi: nó vừa là tiêng nói cúa người xem ớ ngoài vớ diên lại vừa là một bộ phận của vở diễn

Sự giao lưu của sân khấu với người xem cũng thể hiện rất đậm nét trong múa rối nước Ở đây có những con rối chuyên lo việc giao lưu với khán giả (điển hình là nhân vật chú Tiểu): đi mời khán giả ăn trầu, dẹp trật tự, giáo trò, khép trò Lại cũng do kĩ thuật trên nước phức tạp, dễ xảy ra tình huống bất ngờ nên diễn viên rối nước thường có khả năng rất cao trong việc ứng diễn, ứng tác một cách linh hoạt

1.3 Ý nghĩa của nghệ thuật thanh sắc

Nghệ thuật thanh sắc Việt Nam, với sự kết hợp tinh tế giữa âm thanh và màu sắc, mang trong mình những ý nghĩa sâu xa, phản ánh tâm hồn, tư tưởng và bản sắc văn hóa dân tộc Đầu tiên, nó đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa.  Âm nhạc truyền thống với những làn điệu dân ca, nhã nhạc cung đình, tranh dân gian Đông

Hồ, Hàng Trống với những gam màu tươi sáng, hình ảnh gần gũi, hay nghệ thuật sân khấu chèo, tuồng, cải lương với những tích trò đậm đà bản sắc dân tộc tất cả đều góp phần lưu giữ và truyền bá những giá trị truyền thống quý báu Thứ hai, nghệ thuật thanh sắc còn mang ý nghĩa giáo dục và thẩm mỹ sâu sắc Thông qua âm thanh, màu sắc, những thông điệp về đạo đức, lối sống và cái đẹp được truyền tải đến người xem, người nghe một cách tự nhiên và hiệu quả Những bài hát ru con êm dịu, những bức tranh phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, hay những vở kịch về các nhân vật lịch sử đều góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và giáo dục thế hệ trẻ.  Không chỉ vậy, nghệ thuật thanh sắc còn mang đến những giây phút thư giãn, giải trí, làm phong phú đời sống tinh thần của con người Thưởng thức một bản nhạc du dương, chiêm ngưỡng một bức tranh đẹp mắt, hay hòa mình vào một vở kịch hấp dẫn đều là những cách để con người tìm thấy niềm vui, sự thư thái và cảm hứng trong cuộc sống Cuối cùng, nghệ thuật thanh sắc còn là phương tiện giao tiếp, kết nối con người, khơi gợi sự sáng tạo và thể hiện cá tính. Thông qua việc cùng nhau thưởng thức, trao đổi,  và sáng tạo nghệ thuật,  con người xích lại gần nhau hơn,  đồng thời khám phá và phát triển những khả năng tiềm ẩn của bản thân Tóm lại, nghệ thuật thanh sắc có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt,  góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa,  giáo dục thẩm mỹ,  giải trí,  kết nối con người và thúc đẩy sự sáng tạo

1.4 Một số nghệ thuật thanh sắc ở Việt Nam

1.4.1 Chèo

Trang 10

Chèo là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của Việt Nam, và yếu tố thanh sắc là nền tảng để tạo nên sự hấp dẫn và đặc trưng của chèo Thanh và sắc không chỉ là phần thể hiện cơ bản mà còn là cách thức để truyền tải nội dung và cảm xúc của câu chuyện một cách sống động

- Yếu tố Thanh

Yếu tố thanh trong chèo bao gồm giọng hát, âm nhạc, lối luyến láy, nhịp phách và cách thức sử dụng ngôn từ Người diễn viên chèo phải luyện tập rất kỹ lưỡng để có một giọng hát đạt tiêu chuẩn, vừa có sức biểu cảm mạnh mẽ vừa truyền tải được cái “chất” của chèo

+ Giọng hát: Giọng hát trong chèo thường có âm sắc đặc trưng, khác biệt so với các loại hình nghệ thuật sân khấu khác Giọng phải có độ vang, có sự mượt mà, mềm mại

để thể hiện cái hồn của chèo Giọng hát cần đủ lực để truyền tải cảm xúc của nhân vật, từ vui buồn, yêu thương đến giận dữ, căm phẫn

+ Luyến láy và nhấn nhá: Điểm đặc trưng của thanh trong chèo chính là cách luyến láy đặc biệt, uốn lượn theo từng lời ca Mỗi câu hát đều được nhấn nhá theo một cách riêng, phù hợp với cảm xúc và ngữ cảnh Sự nhấn nhá này không chỉ tạo nên nét duyên dáng mà còn thể hiện cái hồn cốt của nhân vật

+ Nhịp phách: Trong chèo, nhịp phách đóng vai trò như một “xương sống” để diễn viên bám vào, đồng thời cũng là điểm tựa cho cảm xúc Nhịp phách đều đặn tạo nền cho các động tác diễn xuất, nhưng khi cần kịch tính, người diễn viên sẽ phá vỡ nhịp để tạo bất ngờ và gây cảm xúc mạnh cho người xem

+ Âm nhạc: Âm nhạc trong chèo thường sử dụng các nhạc cụ truyền thống như đàn nguyệt, đàn bầu, đàn nhị, sáo trúc và trống Âm nhạc vừa là nhịp nền cho các câu hát vừa là công cụ biểu cảm, tạo bầu không khí phù hợp với từng tình huống trong câu chuyện

- Yếu tố Sắc

Yếu tố sắc trong chèo không chỉ đơn giản là hình ảnh, mà còn là toàn bộ phần thể hiện bên ngoài của nhân vật, giúp khán giả dễ dàng nhận diện và hiểu được tính cách, cảm xúc của họ

+ Trang phục: Trong chèo, trang phục đóng vai trò quan trọng để xác định tầng lớp, vai trò và tính cách của nhân vật Nhân vật có thể là tầng lớp nông dân, quân vương hay đào (cô gái xinh đẹp), lão (người lớn tuổi), hề (nhân vật hài hước)… Mỗi tầng lớp có trang phục khác nhau, từ màu sắc đến kiểu dáng, giúp phân biệt rõ ràng từng vai diễn và tăng thêm phần trực quan cho vở diễn

+ Trang điểm và biểu cảm khuôn mặt: Trang điểm cũng là yếu tố không thể thiếu trong chèo Các nét vẽ trên mặt nhân vật thường phóng đại, giúp biểu cảm của diễn viên thêm phần rõ ràng Ví dụ, những nét vẽ sắc sảo, gân guốc có thể được dùng cho các nhân vật phản diện hoặc nhân vật có tính cách mạnh mẽ Trong khi đó, gương mặt được vẽ mỏng manh, mềm mại thường dành cho những vai diễn trẻ trung, nữ tính

+ Ngôn ngữ cơ thể: Mỗi động tác tay, ánh mắt, cử chỉ trong chèo đều mang ý nghĩa và giúp khán giả hiểu được diễn biến cảm xúc của nhân vật Người diễn viên phải

Ngày đăng: 25/06/2025, 07:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w