1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội

19 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả Doãn Thị Hải Châu
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 805,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội

Trang 2

MỤC LỤC

1 Đặt vấn đề 3

2 Tổng quan nghiên cứu 4

3 Cơ sở lý thuyết 5

3.1 Lý thuyết về căng thẳng tài chính 5

3.2 Lý thuyết về sự hài lòng trong công việc làm thêm 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

4.1 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 6

4.2 Mẫu nghiên cứu 7

4.3 Công cụ đo lường 8

5 Kết quả nghiên cứu 9

5.1 Mô tả kết quả 9

5.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 12

6 Kết luận và bàn luận 14

Tài liệu tham khảo 15

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA CĂNG THẲNG TÀI CHÍNH ĐẾN SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Doãn Thị Hải Châu

Khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn,

Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam

Tóm tắt

Trước tình trạng học phí và chi phí sinh hoạt có xu hướng tăng cao, nhiều sinh viên đã lựa chọn các công việc bán thời gian để giảm bớt áp lực tài chính Tuy nhiên, do còn thiếu các bằng chứng khoa học, mối liên hệ giữa căng thẳng tài chính và sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích phân tích những ảnh hưởng của căng thẳng tài chính đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội Các phương pháp thu thập thông tin chủ yếu được sử dụng là nghiên cứu tài liệu và điều tra bằng bảng hỏi Tổng cộng có 162 sinh viên tự nguyện tham gia nghiên cứu bằng cách thực hiện các thang đo về căng thẳng tài chính và sự hài lòng trong công việc làm thêm Kết quả nghiên cứu cho thấy căng thẳng tài chính là yếu tố gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự hài lòng trong công việc bán thời gian của sinh viên tại Hà Nội Những phát hiện từ nghiên cứu dự kiến sẽ cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách, giảng viên và chính sinh viên, từ đó đề xuất các biện pháp hỗ trợ phù hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực của căng thẳng tài chính đối với sinh viên đại học

Từ khóa: Căng thẳng tài chính; Sự hài lòng trong công việc làm thêm; Sinh viên

đại học; Thành phố Hà Nội

1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển không ngừng của văn hóa, xã hội, giáo dục đại học đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng Trước xu hướng tiếp tục tăng cao của các chi phí cho học phí, chỗ ở và sinh hoạt hằng ngày, sinh viên ngày càng có xu hướng dựa vào các công việc bán thời gian để giảm bớt gánh nặng tài chính cho bản thân và gia đình Đối tượng sinh viên đại học sở hữu công việc làm thêm hoặc có dự định, mong muốn đi làm thêm trên địa bàn thành phố Hà Nội thường rơi vào độ tuổi từ 18 đến 22 Theo học thuyết về 8 giai đoạn phát triển của Erik Erikson (1950), đây là lứa tuổi chuyển giao từ giai đoạn vị thành niên đến

Trang 4

giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành Ở khoảng thời gian này, người trẻ thường mang các đặc điểm tâm lý đặc trưng như sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm, đặt trong hoàn cảnh phải trải qua liên tục nhiều sự thay đổi trong điều kiện sống, học tập, môi trường giao tiếp xã hội và trải nghiệm công việc làm thêm thì nguy cơ phải đối mặt với căng thẳng

ở nhóm đối tượng này lại càng cao hơn (Hội tâm lý học xã hội Việt Nam, 2014) Một trong những yếu tố hàng đầu gây nên căng thẳng ở nhóm đối tượng này chính là vấn đề tài chính (Moore và cộng sự, 2021)

Đối với các sinh viên làm việc bán thời gian, sự hài lòng trong công việc cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực Xem xét dưới góc độ quản lý, sự hài lòng trong công việc mang một cấu trúc phức tạp và đa chiều, đóng vai trò quan trọng với sức khỏe tinh thần và năng suất tổng thể của nhân viên trong một tổ chức (Choi & Ha, 2018) Sự hài lòng trong công việc cũng có thể bị ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tùy thuộc vào các yếu tố tâm lý tác động đến nhân viên, đặc biệt là trạng thái căng thẳng do tài chính (Pandey & Asthana, 2017) Trên cơ sở đó, các tổ chức tuyển dụng đối tượng sinh viên thành phố Hà Nội cho công việc làm thêm cần nắm bắt những đặc điểm của căng thẳng tài chính để đưa ra những chính sách công việc phù hợp

Tại Việt Nam, tính đến năm 2024, các tài liệu liên quan đến ảnh hưởng của căng thẳng tài chính đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội ở trong tình trạng vô cùng khan hiếm Trước thực trạng căng thẳng tài chính

và xu hướng tìm việc làm bán thời gian ngày càng trở thành một vấn đề phổ biến đối với sinh viên đại học, việc tiến hành một nghiên cứu để đóng góp thêm vào những khoảng trống trong lý luận và nâng cao nhận thức của người trẻ về vấn đề này là một điều cấp thiết Đồng thời, nghiên cứu cũng hướng tới mục tiêu mở rộng cơ sở lý thuyết

về các tác động giữa các biến nghiên cứu và cung cấp cơ sở để đề xuất những biện pháp giảm thiểu mức căng thẳng tài chính và gia tăng mức độ hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên thủ đô Giả thuyết nghiên cứu được đề xuất là căng thẳng tài chính gây ra những tác động tiêu cực đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội

2 Tổng quan nghiên cứu

Từ tiếp cận tâm lý học lâm sàng, căng thẳng tài chính được nhìn nhận như một vấn đề ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khỏe tinh thần của con người, đặc biệt là người trong độ tuổi thanh niên, từ đó gây ra các tác động đến nhiều khía cạnh của đời sống Một giả thuyết được chứng minh bởi nhiều nhà nghiên cứu là phản ứng trước một tình huống căng thẳng về tài chính có thể được thể hiện theo nhiều hình thức như: cảm xúc, quan hệ, sinh lý hoặc kết hợp những hình thức này (Everly & Sobelman, 1987; Sapolsky, 1994) Từ những tiền đề trên, nhiều học giả đã tìm ra các mối quan hệ tiêu cực giữa căng thẳng tài chính với các vấn đề như: (1) Công việc: sự vắng mặt tại nơi làm việc (Kim,

Trang 5

Sorhaindo & Garman, 2006); năng suất lao động (Sabri & Aw, 2020); sự hài lòng trong mức lương (Kim & Garman, 2004); (2) Sức khỏe tinh thần: đau khổ tâm lý (Cadaret

& Bennett, 2019); trầm cảm (Guan và cộng sự, 2022);

Sự hài lòng trong công việc là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu của tâm lý học quản lý, đặc biệt là đối với công việc làm thêm Đặt trong môi trường học thuật, các học giả đã đề xuất nhiều mô hình để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề này Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự hài lòng trong công việc là kết quả của

cả sự mong đợi và nguyện vọng của nhân viên, cũng như địa vị hiện tại của họ (Hamermesh, 2001); Tiếp cận tâm lý học quản lý cho thấy nhiều yếu tố tâm lý có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hài lòng trong công việc Các yếu tố tâm lý có thể tác động ngược chiều hoặc thuận chiều đến vấn đề này (Thekedam, 2010) Một số yếu tố tác động thuận chiều có thể kể đến như: sự tin vào năng lực bản thân và trao quyền tâm lý (Bandura, 1977; Spreitzer, 1995); sự gắn kết trong công việc và động lực nội tại (Deci

& Ryan, 2000; Bakker và Demerouti, 2017) hay sự hỗ trợ tâm lý trong môi trường công

sở (Eisenberger & Stinglhamber, 2011) Sự hài lòng trong công việc có thể bị ảnh hưởng tiêu cực từ những tác nhân như: trạng thái thiếu cảm giác an toàn trong công việc (Reisel

và cộng sự, 2014); căng thẳng và đối phó với căng thẳng (Decker & Borgen, 1993),

Từ những lập luận này, tôi có thể rút ra kết luận rằng mức độ hài lòng trong công việc làm thêm có thể thay đổi dựa trên các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến bản thân nhân viên, trong trường hợp này, vấn đề căng thẳng tài chính tác động ngược chiều lên sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên

Các cách tiếp cận tâm lý học trên đã cho thấy căng thẳng tài chính có thể mang lại tác động tiêu cực đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội Chính vì vậy, bài viết này sử dụng cách tiếp cận tâm lý học với mục đích giải thích mối quan hệ giữa hai yếu tố này Đây là các yếu tố có thể đo lường được bằng cách xây dựng các thang đo dựa trên các yếu tố nội hàm nhỏ hơn, từ đó áp dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng để phân tích và chứng minh mối liên hệ

3 Cơ sở lý thuyết

3.1 Lý thuyết về căng thẳng tài chính

Kim và cộng sự (2011) cho rằng, căng thẳng tài chính là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà tâm lý học nghiên cứu về lĩnh vực liệu pháp tài chính (financial therapy) Dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu, vấn đề tài chính được nhìn nhận như như một yếu tố mang tính kinh tế dẫn đến căng thẳng, thậm chí là các vấn đề

về sức khỏe tâm thần nghiêm trọng hơn như trầm cảm (Guan và cộng sự, 2022) Theo

“APA dictionary of psychology”, căng thẳng được định nghĩa là phản ứng tâm lý hoặc sinh lý đối với các yếu tố gây căng thẳng từ bên trong hay bên ngoài, có liên quan đến

Trang 6

những thay đổi ảnh hưởng đến hầu hết mọi cơ quan trong cơ thể và tác động tới cách con người cảm nhận và ứng xử (VandenBos, 2015) Căng thẳng tài chính được định nghĩa là điều kiện kết quả của các sự kiện tài chính và/hoặc kinh tế tạo ra sự lo lắng, sợ hãi hoặc cảm giác lo lắng và đi kèm với phản ứng căng thẳng sinh lý (Martin, 2020) Theo số liệu thu thập được từ cơ sở dữ liệu Statista, vào năm 2022, trên toàn thế giới có khoảng 66% người trong độ tuổi từ 18 đến 24 phải thường xuyên đối mặt với trạng thái căng thẳng, mà trong đó, yếu tố tài chính là một trong những tác nhân gây căng thẳng hàng đầu

3.2 Lý thuyết về sự hài lòng trong công việc làm thêm

Trong môi trường nghiên cứu học thuật, nhiều định nghĩa đã được đưa ra để giải thích khái niệm “sự hài lòng trong công việc” và có thể áp dụng đối với các công việc làm thêm Locke (1976) khẳng định, sự hài lòng trong công việc là một loại cảm xúc dễ chịu hoặc trạng thái tình cảm tích cực, phát triển trong quá trình đánh giá kinh nghiệm làm việc của một cá nhân Sự hài lòng trong công việc cũng có thể được định nghĩa dưới góc độ tình cảm hoặc nhận thức (Organ & Near, 1985) Để thuận tiện cho định hướng nghiên cứu, thuật ngữ “sự hài lòng trong công việc” được định nghĩa là thái độ của người lao động đối với công việc của họ, thường được thể hiện dưới dạng phản ứng về việc thích hoặc không thích công việc, phần thưởng (lương, thăng chức, sự công nhận) hoặc môi trường (điều kiện làm việc, đồng nghiệp) (VandenBos, 2015)

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

Trang 7

Các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H1: Căng thẳng tài chính tác động ngược chiều đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên

H1.1: Căng thẳng tài chính trong phương diện gia đình tác động ngược chiều đến

sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên

H1.2: Căng thẳng tài chính trong phương diện sức khỏe tinh thần tác động ngược chiều đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên

H1.3: Căng thẳng tài chính trong phương diện các mối quan hệ tác động ngược chiều đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên

H1.4: Căng thẳng tài chính trong phương diện sức khỏe thể chất tác động ngược chiều đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên

4.2 Mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát vào tháng 4 năm 2024 Tổng cộng có 162 sinh viên đang theo học tại các trường đại học tại Hà Nội với độ tuổi trung bình là 19,29 đã tự nguyện tham gia vào nghiên cứu Đặc điểm giới tính sinh học trong mẫu khảo sát có 72,2% là nữ và 27,8% là nam Đa số người tham gia nghiên cứu là sinh viên năm nhất, chiếm tỉ lệ 66,7%

Bàng 1: Tổng hợp đặc điểm mẫu khảo sát

Đặc điểm của mẫu

(cỡ mẫu n = 162)

Số lượng (người)

Tỉ lệ (%)

Giới tính

Độ tuổi

Trang 8

Năm học

Tình trạng công

việc làm thêm

(Nguồn: Kết quả khảo sát trong nghiên cứu)

4.3 Công cụ đo lường

Kế thừa kết quả của thang đo APR (Heo và cộng sự, 2020), thang đo căng thẳng tài chính sinh viên Hà Nội (FSCH scale) đã được xây dựng và hoàn thiện Thang đo bao gồm 10 biến quan sát nhằm đo lường mức độ căng thẳng tài chính trên 04 phương diện: gia đình, sức khỏe tinh thần, các mối quan hệ xã hội và sức khỏe thể chất Thang đo FSCH sử dụng thang Likert 5 mức độ: 1 - Rất không đồng ý; 2 - Không đồng ý; 3 - Bình thường; 4 - Đồng ý; 5 - Rất đồng ý Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo cho thấy giá trị Cronbach's Alpha của thang đo đạt mức 0,883, lớn hơn so với mức chuẩn 0,6 Do đó, thang đo đạt yêu cầu

Bảng 2: Thống kê độ tin cậy của thang đo FSCH

Giá trị Cronbach's Alpha Số lượng biến quan sát

(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS)

Thang đo sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên Hà Nội (PJCH scale) ra đời dựa trên cơ sở kế thừa thành tựu từ các nghiên cứu nước ngoài về sự hài lòng trong công việc Đây là thang đo bao gồm 12 mục, Thể hiện 5 yếu tố của sự hài lòng: mức lương và đãi ngộ; mối quan hệ trong công việc, kỹ năng và kiến thức; sức khỏe tinh thần và cam kết gắn bó Thang đo yêu cầu người tham gia khảo sát đánh giá các phương diện liên quan đến sự hài lòng trong công việc làm thêm dựa trên thang

Trang 9

Likert 5 mức độ: 1 - Rất không đồng ý; 2 - Không đồng ý; 3 - Bình thường; 4 - Đồng ý;

5 - Rất đồng ý Thông qua kiểm định giá trị Cronbach’s Alpha, thang đo đạt yêu cầu

Bảng 3: Thống kê độ tin cậy của thang đo PJCH Giá trị Cronbach's Alpha Số lượng biến quan sát

(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS)

Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ gồm:

(i) Bảng hỏi nhân khẩu học

(ii) Bảng hỏi về thông tin công việc

(iii) Thang đo FSCH

(iv) Thang đo PJCH

5 Kết quả nghiên cứu

5.1 Mô tả kết quả

Phân tích số liệu thu thập được từ mẫu nghiên cứu, 162 mẫu nghiên cứu thu được chia làm các nhóm theo mô hình sau: hai nhóm chủ yếu là sinh viên đã có công việc làm thêm và sinh viên chưa có công việc làm thêm Nhóm sinh viên chưa có công việc làm thêm được phân bổ thành hai nhóm dựa trên cơ sở có hay không dự định đi làm thêm

Bảng 4: Mô hình mô tả kết quả

Đối tượng khảo sát (n = 162)

Nhóm 1: Sinh viên đã có công việc làm

thêm (n = 79, 48,8%)

Nhóm 2: Sinh viên chưa có công việc làm

thêm (n = 83; 51,2%)

Nhóm 2.1: Sinh

viên có dự định đi làm thêm (n = 65; 78,3%)

Nhóm 2.2: Sinh

viên không có dự định đi làm thêm (n = 18; 21,7%)

Trang 10

(Nguồn: Mô hình của nghiên cứu)

Bảng 5: Xử lý số liệu mô tả theo các biến trong thang đo FSCH

Mục đích

Nhóm

1

Nhóm 2.1

Nhóm 2.2 Căng

thẳng tài

chính

trong

phương

diện gia

đình

GD1 Tôi sợ rằng gia đình không thể

chu cấp cho tôi về mặt tài chính

4,28 4,17 2,05

GD2 Tôi cảm thấy mình là gánh nặng

tài chính của gia đình

3,89 3,83 1,23

GD3 Tôi cảm thấy thất vọng nếu bản

thân không thể hỗ trợ tài chính cho gia đình

3,93 4,14 1,25

Căng

thẳng tài

chính

trong

phương

diện gia

đình

TT1 Tôi cảm thấy không hài lòng về

tình hình tài chính của bản thân

4,33 4,23 2,45

TT2 Tôi cảm thấy do dự khi chi tiêu

cho những sản phẩm/dịch vụ mà tôi muốn nhưng không phải là nhu cầu thiết yếu

3,94 3,92 2,13

TT3 Tôi sợ rằng tình hình tài chính của

mình sẽ cản trở các cơ hội phát triển của bản thân

4,12 3,67 1,25

Căng

thẳng tài

chính

trong

phương

diện gia

đình

QH1 Tôi cảm thấy khó khăn khi chia sẻ

về tình hình tài chính của mình với người khác

3,67 3,67 1,35

QH2 Tôi sợ rằng mình sẽ mất đi các

mối quan hệ vì tình hình tài chính của bản thân

3,56 3,08 1,25

QH3 Tôi cảm thấy tự ti khi tiếp xúc với

những người có khả năng tài chính vững vàng hơn tôi

3,76 3,68 1,23

Căng

thẳng tài

chính

trong

phương

diện gia

đình

SK1 Tôi gặp các triệu chứng ảnh

hưởng đến sức khỏe (đau đầu, mất ngủ, ) khi nghĩ về tình hình tài chính của mình

3,12 2,49 1,35

Ngày đăng: 22/06/2025, 07:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình nghiên cứu - Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội
Hình 1 Mô hình nghiên cứu (Trang 6)
Bảng 2: Thống kê độ tin cậy của thang đo FSCH - Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội
Bảng 2 Thống kê độ tin cậy của thang đo FSCH (Trang 8)
Bảng 3: Thống kê độ tin cậy của thang đo PJCH - Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3 Thống kê độ tin cậy của thang đo PJCH (Trang 9)
Bảng 5: Xử lý số liệu mô tả theo các biến trong thang đo FSCH - Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội
Bảng 5 Xử lý số liệu mô tả theo các biến trong thang đo FSCH (Trang 10)
Bảng 6: Xử lý số liệu mô tả theo thang đo PJCH - Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội
Bảng 6 Xử lý số liệu mô tả theo thang đo PJCH (Trang 11)
Bảng 7: Phân tích tương quan Pearson  Danh sách biến  Sự hài lòng trong công việc làm thêm - Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội
Bảng 7 Phân tích tương quan Pearson Danh sách biến Sự hài lòng trong công việc làm thêm (Trang 12)
Bảng 8: Mức ý nghĩa của hệ số - Ảnh hưởng của căng thẳng tài chính Đến sự hài lòng trong công việc làm thêm của sinh viên trên Địa bàn thành phố hà nội
Bảng 8 Mức ý nghĩa của hệ số (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w