Vai trò của tài nguyên văn hóa Đối với phát triển du lịch, phân tích các Điều kiện phát triển du lịch văn hóa tại bảo tàng mỹ thuật việt nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-KHOA DU LỊCH HỌC BÁO CÁO CÁ NHÂN HỌC PHẦN : VĂN HÓA DU LỊCH
Giảng viên: Ths.Nguyễn Hoàng Phương
Họ tên sinh viên: Hoàng Long Vũ
Mã sinh viên: 22030914
Học phần: Văn hóa du lịch
Mã lớp: TOU1150 1
Trang 2Chương I: Vai trò của tài nguyên văn hóa đối với phát triển du lịch 3
1.5 Vai trò của tài nguyên văn hóa đối với phát triển du lịch 6
Chương II: Phân tích các điều kiện phát triển du lịch văn hóa tại bảo tàng mỹ thuật
2.2 Lịch sử hình thành và thông tin khái quát về bảo tàng mỹ thuật Việt Nam 8 2.3 Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa tại bảo tàng mỹ thuật Việt Nam 11
2.3.5 Điều kiện về cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật 15 2.3.6 Chính sách đầu tư, xúc tiến, quảng bá và phát triển du lịch 16 Chương III: Tổng kết
Trang 33.1 Anh/Chị tham gia vào công việc nào và đã làm gì để giải quyết các vấnđề
3.2 Anh/Chị nhận thức thế nào về kết quả nghiên cứu của nhóm và lớp? Từ đó hãy đánh giá khả năng vận dụng những kiến thức tích lũy từ môn học này cho định
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chương I: Vai trò của tài nguyên văn hóa đối với phát triển du lịch
1.1 Tài nguyên là gì ?
Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người”
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người Xã hội loài người càng phát triển,
số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác ngày càng tăng
Người ta phân loại tài nguyên như sau:
Theo quan hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội.
Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo
Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài
nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin
Tài nguyên thiên nhiên được chia thành hai loại: tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo
Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v…) là tài nguyên có thể tự duy trì
hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v…
Trang 4Tài nguyên không tái tạo: là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến
đổi sau quá trình sử dụng Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt sau khi khai thác Tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với sự tiêu diệt của các loài sinh vật quý hiếm
Tài nguyên con người (tài nguyên xã hội) là một dạng tài nguyên tái tạo đặc biệt,
thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị của nhiều loại tài nguyên Nhiều tài nguyên cạn kiệt trở nên quý hiếm; nhiều loại tài nguyên giá trị cao trước đây nay trở thành phổ biến, giá rẻ do tìm được phương pháp chế biến hiệu quả hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác Vai trò và giá trị của tài nguyên thông tin, văn hoá lịch sử đang tăng lên
1.2 Văn hóa là gì ?
Từ những cơ sở khách quan, khoa học, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm đưa ra khái niệm văn hóa, quan điểm xây dựng nền văn hóa dân tộc Người đúc kết nội hàm khái niệm văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Khái niệm văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra đã khái quát nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa, bao hàm các hoạt động vật chất và tinh thần của con người cùng với các giá trị mà con người sáng tạo ra; đồng thời, khái niệm văn hóa của Người cũng chỉ ra nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách chủ thể hoạt động của đời sống xã hội chính là nguồn gốc, động lực sâu xa của văn hóa
1.3 Tài nguyên văn hóa là gì ?
Mỗi khi nhắc đến khái niệm Tài nguyên, chúng ta thường nghĩ ngay đến Tài nguyên thiên nhiên, tuy nhiên khái niệm tài nguyên hiện nay được hiểu theo nghĩa rộng, như tài nguyên con người, tài nguyên giáo dục, tài nguyên du lịch và Nói cách khác, mọi thứ đều có thể thành tài nguyên cho mục đích nào đó trong những
Trang 5điều kiện nhất định Hiện nay người ta sử dụng khái niệm Tài nguyên hay Nguồn lực Văn hoá thay cho các thuật ngữ Di sản hay Tài sản Văn hoá và những cách thức/phương pháp mới khai thác sử dụng nguồn tài nguyên này
Theo Hiệp hội Nghiên cứu Tài nguyên Văn hoá Nhật Bản “Tài nguyên văn hoá là
dữ liệu quan trọng giúp chúng ta hiểu xã hội và văn hoá của xã hội đó ở một thời điểm nào đó, tài nguyên văn hoá bao gồm cả vật thể và phi vật thể không chỉ lưu giữ trong các bảo tàng, như công trình lịch sử, phong cảnh đô thị, trình diễn nghệ thuật cổ truyền, lễ hội và Đáng tiếc, nhiều những tài nguyên này đã không được khai thác đúng và chúng ta có thể tạo sự khai thác tốt nhất những tài nguyên này cho hiện tại và cho thế hệ tương lai Nghiên cứu tài nguyên mở ra một lĩnh vực mới
sử dụng tài nguyên văn hoá trong phát triển văn hoá con người và nghiên cứu khoa học”
Nghiên cứu Tài nguyên Văn hoá là một lĩnh vực học thuật mới nhằm thoát khỏi thuật ngữ (“di sản văn hoá”, “tài sản văn hoá”) được sử dụng từ lâu để xác định văn hoá dân tộc, văn hoá bản địa trên thế giới, cũng như những giá trị và định kiến
mà thuật ngữ này thường được dùng, được hiểu Thay vào đó, lĩnh vực học thuật mới này tìm kiếm cách thức tái hướng văn hoá thông qua việc đưa ra một thuật ngữ khai tạo giá trị, “tài nguyên văn hoá”, chuyên ngành có mục đich tiến hành những nghiên cứu toàn diện và đa diện văn hoá nhân loại và phát triển những phương pháp mới để bảo tồn và phát huy những tài nguyên văn hoá chung
1.4 Du lịch là gì ?
Có nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động động du lịch Trên phương diện pháp luật,theo Luật Du lịch, 2017 của Việt Nam: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyếnđi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.Trên phương diện chính sách, theo Tổ chức Du lịch Thế giới: Du lịch là tổng hợp các hiện tượng, mối quan hệ và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc lưu hành
và lưutrú của các tập thể, cá nhân ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ở ngoài nước họvới mục đích hòa bình, nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.Trên phương diện khái quát, theo PTS Trần Nhạn: du lịch là quá trình hoạt động củacon người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền.Trên phương
Trang 6diện tổng hợp, theo Hunziker và Kraff: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ
Tựu chung lại, du lịch có thể được hiểu là:
- Hoạt động di chuyển ra khỏi nơi lưu trú thường xuyên của một người để đến với một nơi khác và thẩm nhận trực tiếp những giá trị tài nguyên vật chất và
tinh thần tại điểm đến, sử dụng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
cũng như dịch vụ ở đó để thỏa mãn nhu cầu đi du lịch của họ
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ cũng như đóng vai trò trung gian để
nhằm đáp ứng các nhu cầu phát sinh trước và trong chuyến du lịch của du
khách
1.5 Vai trò của tài nguyên văn hóa đối với phát triển du lịch
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch liên quan đến việc tìm hiểu, trải nghiệm các sản phẩm văn hóa đặc trưng Nhiều quốc gia đầu tư, khai thác các giá trị văn hóa kết nối với du lịch để phát huy sức mạnh mềm, đồng thời tài nguyên văn hóa cũng chính là nguồn lực để phát triển du lịch
Loại hình du lịch được ưa chuộng
Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), trước dịch Covid-19, du lịch văn hóa đóng góp 37% doanh thu du lịch toàn cầu và dự báo có thể tăng 15%/năm Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), hơn 60% du khách xem việc có ít nhất một điểm du lịch văn hóa trong chương trình tour là quan trọng, 10% du khách xem việc đến các điểm văn hóa là mục tiêu chính của chuyến đi, số khách du lịch văn hóa tham quan các bảo tàng chiếm khoảng 59%, thăm các di tích lịch sử, di sản văn hóa khoảng 56%
Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã có loại hình du lịch văn hóa qua các hình thức như tham quan di sản, di tích, nghiên cứu văn hóa, lịch sử thông qua hệ thống di sản, di tích, bảo tàng, tìm hiểu và trải nghiệm văn hóa truyền thống, đời sống văn hóa cộng đồng, lễ hội, văn hóa ẩm thực, tâm linh Theo đó, nhiều sản phẩm du lịch đặc sắc đã được kết hợp, như tour hành trình di sản miền Trung, quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên - Huế), khu di tích
Trang 7Mỹ Sơn, phố cổ Hội An (Quảng Nam); Lễ hội Festival nghệ thuật Huế, Festival cồng chiêng Tây Nguyên, Festival hoa Đà Lạt, Lễ hội Ẩm thực đất phương Nam,
Lễ hội Áo dài TP.HCM; chương trình thực cảnh ký ức Hội An, Tinh hoa Bắc bộ, Múa rối nước, À Ố Show; làng nghề tơ lụa Vạn Phúc, gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), làng chài Mũi Né, Bảo tàng Nước mắm (Bình Thuận), Bảo tàng Áo dài (TP.HCM), chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ)
Những năm gần đây, Việt Nam nhận được các danh hiệu “Điểm đến di sản hàng đầu châu Á”, “Điểm đến văn hóa hàng đầu châu Á”, “Điểm đến di sản hàng đầu thế giới” Việc phát triển sản phẩm du lịch văn hóa đã mang lại thu nhập, việc làm
và phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương nói riêng và kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung
Ngành công nghiệp văn hóa đầy tiềm năng
“Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” đã nêu rõ, du lịch văn hóa là một trong 13 ngành công nghiệp văn hóa cần được tập trung phát triển Cuối năm 2020, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định 3767/QĐ-BVHTTDL phê duyệt “Đề án xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch văn hóa” Theo đó, thương hiệu du lịch văn hóa Việt Nam được định vị dựa trên giá trị văn hóa đặc sắc, tập trung vào giá trị di sản và giá trị văn hóa ẩm thực, qua đó hình thành hệ thống điểm đến, sản phẩm du lịch đặc trưng, có chất lượng, giá trị cao và được thị trường đón nhận tích cực Phấn đấu đến năm 2030, du lịch văn hóa chiếm 20-25% trong khoảng 130 tỷ USD tổng thu
từ khách du lịch
Để thực hiện mục tiêu này, ngành du lịch xây dựng bộ nhận diện thương hiệu du lịch văn hóa, quảng bá du lịch văn hóa trên kênh truyền hình trong nước, quốc tế
và tại các hội chợ du lịch, tổ chức Tuần văn hóa Việt Nam, Năm Du lịch quốc gia; các địa phương khuyến khích khởi nghiệp gắn kết du lịch với văn hóa, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển du lịch văn hóa
Theo số liệu của Cục Di sản văn hóa, Việt Nam hiện có 29 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, có 7.966 lễ hội, trong đó một số lễ hội văn hóa có quy mô lớn tổ chức định kỳ, hơn 4.000 di tích quốc gia, trên 400 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và hơn 9.000 di tích cấp tỉnh
Tại Diễn đàn Du lịch toàn quốc năm 2023 chủ đề “Phát triển du lịch văn hóa Việt Nam”, do Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, nhiều nhà chuyên môn đồng tình rằng, Việt Nam còn thiếu sản phẩm trình diễn văn hóa, thiếu các công trình văn hóa nghệ thuật, các trung tâm văn hóa đặc sắc, sản phẩm du lịch văn hóa vẫn còn ít sáng tạo, chủ yếu khai thác di sản, di tích Trong khi đó Hàn Quốc,
Trang 8Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia rất thành công trong việc phát triển
du lịch văn hóa, xây dựng các show diễn thực cảnh về văn hóa - lịch sử được đầu
tư về tài chính và công nghệ hiện đại, tạo sức hút lớn với du khách
Việt Nam đang bước đầu khai thác văn hóa để phát triển du lịch nên rất cần những giải pháp mang tính bền vững, chẳng hạn như xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa dựa trên hình thức du lịch văn hóa và tài nguyên văn hóa của các địa phương, doanh nghiệp liên kết tài nguyên văn hóa của mỗi địa phương với dịch vụ du lịch
để xây dựng sản phẩm mang bản sắc vùng miền, đẩy mạnh truyền thông và xúc tiến du lịch văn hóa qua việc ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số để giới thiệu tài nguyên văn hóa, sản phẩm du lịch độc đáo đến du khách trong và ngoài nước, đặc biệt là xây dựng những chương trình nghệ thuật khai thác được giá trị cốt lõi, tốt đẹp của văn hóa, lịch sử, truyền thống và bản sắc dân tộc tại các điểm du lịch
Chương II : Phân tích các điều kiện phát triển du lịch văn hóa tại bảo tàng mỹ thuật Việt Nam.
2.1 Lý do chọn địa điểm
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong những điểm tham quan du lịch giữa trung tâm thủ đô Hà Nội Tòa nhà trưng bày có kiến trúc độc đáo, kết hợp giữa phong cách Tây Âu và kiến trúc đình làng Việt Nam Là một tác phẩm tổng hòa của kiến trúc, điêu khắc mỹ thuật phong cách Việt, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam còn là địa điểm phù hợp để tổ chức các sự kiện về văn hóa, nghệ thuật trong nước
và quốc tế Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và thúc đẩy nghệ thuật và văn hóa của Việt Nam
2.2 Lịch sử hình thành và thông tin khái quát về bảo tàng mỹ thuật Việt Nam
Lịch sử
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam được thành lập ngày 24 tháng 6 năm 1966 sau bốn năm chuẩn bị Ra đời với tên gọi Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ do Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung làm Viện trưởng, theo thời gian Bảo tàng có các tên gọi khác nhau: Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Ban đầu, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chỉ gồm tòa nhà chính trong khuôn viên rộng khoảng 5.000 m2 do một tổ chức kinh doanh của Giáo hội Gia tô Famille de Jeane d’Arc” (Gia đình Gian đa) xây dựng năm 1937 làm ký túc xá dành riêng cho con gái các quan chức thực dân Pháp ở Đông Dương đến trọ học Đến nay, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có hai cơ sở với tổng diện tích gần 10.000 m2 Cơ sở I tọa
Trang 9lạc tại 66 Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, gồm bốn không gian chính: Hệ thống trưng bày thường xuyên, Phòng trưng bày chuyên đề, Không gian sáng tạo cho trẻ em và Không gian ẩm thực và đồ uống Cơ
sở II tại số 2 ngõ 31, phố Hoàng Cầu, phường Ô chợ Dừa, Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, gồm: Hệ thống kho lưu giữ hiện vật, Thư viện khoa học, Trung tâm Bảo quản - Tu sửa tác phẩm mỹ thuật và một số phòng nghiệp vụ
Trung tâm Bảo quản - Tu sửa tác phẩm mỹ thuật trực thuộc Bảo tàng được thành lập năm 2006 trên cơ sở tiền thân là Xưởng Mỹ nghệ Việt Nam (1962), Xưởng Mỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam (1963), Tổ phục chế (1970), Phòng Phục chế (1978), Xưởng phục chế (1979) Đây là Trung tâm duy nhất ở Việt Nam cung cấp dịch vụ
tu sửa, bảo quản hiện vật thuộc loại hình mỹ thuật cho các bảo tàng và cá nhân trên toàn quốc Tính riêng từ 2006 đến 2020, Trung tâm đã tu sửa, phục chế hàng ngàn tác phẩm, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và tiết kiệm kinh phí cho Nhà nước Cán bộ Trung tâm còn thực hiện vai trò chuyên gia cho một số đơn vị: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh, Bảo tàng Mỹ thuật Huế, Bảo tàng Tôn Đức Thắng, Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh tp Hồ Chí Minh, Khu Di tích Phủ Chủ tịch, Khu Di tích Dinh Độc lập, Văn phòng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bảo tàng và Khu di tích Kaysone Phomvihan, Khu di tích Suphanuvong, Khu di tích Nuhacsavan (Cộng hòa nhân dân Lào)
Hiện vật
Năm mươi lăm năm xây dựng và phát triển, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sưu tầm
và lưu giữ trên 20.000 đơn vị bảo quản hiện vật Bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là tài sản vô giá, đặc sắc của văn hóa Việt Nam, phản ánh cơ bản tiến trình lịch sử Mỹ thuật Việt Nam; là những tác phẩm thành công, đại diện cho hội họa và điêu khắc Việt Nam thế kỷ XX Những sưu tập giá trị mà bảo tàng đang sở hữu như: Sưu tập tác phẩm của các tác giả học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương từ khóa I đến khóa XVIII; Sưu tập tác phẩm của các tác giả đạt giải thưởng
Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật; Sưu tập Ký họa kháng chiến, Tranh cổ động, Tranh dân gian, Tranh thờ miền núi phía Bắc; Sưu tập tác phẩm về đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, Phụ
nữ, Mùa xuân …
Qua hai kỳ xét tặng, Bảo tàng có chín hiện vật và tác phẩm được công nhận Bảo vật quốc gia, đó là: Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, niên đại thế kỷ XVI, chất liệu gỗ phủ sơn; Tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, niên đại thế kỷ XVII, chất liệu gỗ phủ sơn; Cánh cửa chạm rồng, niên đại thế kỷ XVII, chất liệu gỗ; Hai thiếu nữ và em bé, tác giả Tô Ngọc Vân (1906-1954) sáng tác năm 1944, chất liệu sơn dầu; Em Thúy, tác giả Trần Văn Cẩn (1910-1994) sáng tác năm 1943,
Trang 10chất liệu sơn dầu; Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc, tác giả Dương Bích
Liên (1924-1988) sáng tác năm 1980, chất liệu sơn dầu; Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ, tác giả Nguyễn Sáng (1923-1988) sáng tác năm 1963, chất liệu sơn mài; Bình phong (Phong cảnh và Thiếu nữ trong vườn), tác giả Nguyễn Gia Trí (1908-1993) sáng tác năm 1939, chất liệu sơn mài; Gióng, tác giả Nguyễn Tư
Nghiêm (1922-2016) sáng tác năm 1990, chất liệu sơn mài
Hệ thống trưng bày
Hệ thống trưng bày thường xuyên của Bảo tàng có diện tích trên 3.000m2, giới thiệu khoảng 2.000 hiện vật, tác phẩm khái quát về tiến trình phát triển của nền mỹ thuật Việt Nam giàu tính nhân văn, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Cách giới thiệu và trưng bày theo ba hướng tiếp cận: tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam, loại hình và chất liệu hiện vật Nội dung gồm: mỹ thuật thời Tiền - Sơ sử; mỹ thuật thế kỷ XI đến thế kỷ XIX; mỹ thuật thế kỷ XX; mỹ thuật thời kỳ đổi mới (1986) đến nay; mỹ thuật Dân gian; nghệ thuật trang trí ứng dụng truyền thống; nghệ thuật Gốm từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX; tranh sơn mài; tranh sơn dầu; tranh lụa; tranh giấy; điêu khắc hiện đại
Trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam luôn chú trọng tới màu sắc, kiểu dáng của khung, bục, bệ và ánh sáng Mục đích nhằm đáp ứng yêu cầu về bảo quản, tăng sức hấp dẫn và tạo điều kiện cho khách tham quan tiếp cận hiện vật, tác phẩm thuận lợi nhất Phần thông tin về hiện vật, tác phẩm cung cấp ở những tiêu chí: tên gọi, tác giả, năm sáng tác, chất liệu, kích thước Thông tin chuyên sâu về nội dung phòng trưng bày hoặc hiện vật, tác phẩm được giới thiệu qua hệ thống pano, etiket
mở rộng và ứng dụng thuyết minh đa phương tiện (iMuseum VFA) Nếu không thể đến tham quan trực tiếp, du khách mua vé sử dụng iMuseum VFA bằng hình thức trực tuyến trên chợ Google Play và App Store Ứng dụng iMuseum VFA hiện có 8 ngôn ngữ: Việt, Anh, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Ý với thời lượng sử dụng 8 tiếng Người dùng sẽ được cung cấp: file âm thanh, hình ảnh hiện vật, tác phẩm, bản text bài thuyết minh và sơ đồ hướng dẫn tham quan Ngoài trưng bày thường xuyên, Bảo tàng còn xây dựng nhiều bộ sưu tập gọn nhẹ tổ chức lưu động tại một số tỉnh, thành trong nước và quốc tế, từ đồng bằng, miền núi tới hải đảo của Việt Nam đến các quốc gia thuộc Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ
Đóng góp
Phòng trưng bày chuyên đề của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có ba chức năng Thứ nhất, đây là nơi tổ chức các cuộc triển lãm nhân dịp các sự kiện lớn của đất nước hoặc công bố những sưu tập hiện vật mới sưu tầm Thứ hai, Bảo tàng phối hợp với