05050006351 quản lí Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn tự nhiên và xã hội Ở các trường tiểu học huyện Đông anh, thành phố hà nội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỮU VUI
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2025
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỮU VUI
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8140114.01
Giảng viên hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ NGỌC HÙNG
HÀ NỘI - 2025
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn được thu thập từ các báo cáo, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố và các trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Hữu Vui
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới tập thể các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức
cơ bản, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kĩ
năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
GS.TS Lê Ngọc Hùng, TS Phạm Thị Yên - người trực tiếp hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đông Anh, Ban Giám hiệu cùng tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh các trường tiểu học ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã cung cấp thông tin, tư liệu tham gia đóng góp ý kiến,
giúp đỡ, ủng hộ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, đồng môn và gia đình đã
cổ vũ, động viên, giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, mặc dù có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô, các nhà khoa học trong Hội đồng khoa học cùng các bạn
đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2025
Tác giả
Nguyễn Hữu Vui
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CB: Cán bộ CBQL: Cán bộ quản lý
CNTT: Công nghệ thông tin
CSVC: Cơ sở vật chất
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
GDPT: Giáo dục phổ thông
GV: Giáo viên HS: Học sinh NXB: Nhà xuất bản
TN&XH: Tự nhiên và Xã hội
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các từ viết tắt iii
Danh mục các bảng viii
Danh mục biểu đồ, sơ đồ x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Chức năng quản lý 12
1.3 Một số đặc điểm của dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học 14
1.3.1 Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 14
1.3.2 Dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở trường tiểu học 17
1.3.3 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học 18
1.4 CNTT và ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cấp tiểu học 22
1.4.1 Công nghệ thông tin 22
1.4.2 Ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học 23
1.5 Quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học 29
1.5.1 Hiệu trưởng trường tiểu họctrong quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học 29
1.5.2 Nội dung quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học 31
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học 37
Trang 71.6.1 Yếu tố thuộc về nhà quản lý 37
1.6.2 Yếu tố thuộc về giáo viên 38
1.6.3 Yếu tố môi trường tại các nhà trường tiểu học 39
Kết luận Chương 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 41
2.1 Vài nét về giáo dục tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 41
2.1.1 Quy mô giáo dục 41
2.1.2 Chất lượng giáo dục 44
2.1.3 Ứng dụng CNTT trong dạy học tại huyện Đông Anh………… 44
2.2 Giới thiệu về tiến trình khảo sát 45
2.3 Thực trạng về việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 46
2.3.1 Thực trạng trình độ CNTT của đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh của các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 47
2.3.2 Thực trạng nhận thức của đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Đông Anh với ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 48
2.3.3 Thực trạng về cơ sở vật chất, thiết bị CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 51
2.4 Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học 53
2.5 Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội của Hiệu trưởng ở các trường tiểu học, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 60
2.5.1 Thực trạng nhận thức vai trò quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 60
2.5.2 Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học Error! Bookmark not defined 2.5.3 Thực trạng tổ chức ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội……….65
Trang 82.5.4 Thực trạng chỉ đạo ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội……….68
2.5.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học huyện Đông Anh………… 70
2.5.6 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học huyện Đông Anh……… 73
2.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn TN&XH 78
2.6.1 Yếu tố người Hiệu trưởng 78
2.6.2 Yếu tố giáo viên 80
2.6.3 Yếu tố môi trường 82
2.7 Đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn TN&XH của Hiệu trưởng ở các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành Phố Hà Nội 84
2.7.1 Thuận lợi 84
2.7.2 Khó khăn 85
Kết luận Chương 2 87
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 88
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 88
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 88
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 88
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 88
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển ổn định của nhà trường 89
3.2 Biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 89
3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 89
Trang 93.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ về tin học cho
cán bộ, giáo viên 94
3.2.3 Biện pháp 3: Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin 97
3.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo đầu tư cơ sở vật chất, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, đảm bảo các điều kiện hỗ trợ cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 99
3.2.5 Biện pháp 5: Kiểm tra kế hoạch quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội và tổ chức thi đua khen thưởng cho các giáo viên bộ môn Tự nhiên và Xã hội 101
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 103
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 104
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 104
3.4.2 Nội dung và cách khảo nghiệm 104
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 106
3.4.4 Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn TN&XH ở các trường tiểu học 110
Kết luận Chương 3 112
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Phân phối chương trình cấp tiểu học theo Chương trình GDPT 2018 16
Bảng 2.1: Mạng lưới các trường tiểu học huyện Đông Anh (2023 - 2024) 42
Bảng 2.2: Thang đo khoảng theo giá trị trung bình 46
Bảng 2.3: Thống kê mẫu khảo sát 46
Bảng 2.4: Thực trạng trình độ CNTT của đội ngũ CB, GV, HS của trường 47
Bảng 2.5: Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết phải ứng dụng CNTT trong dạy học của đội ngũ giáo viên trong các trường tiểu học 48
Bảng 2.6: Thống kê thực trạng ưu thế của việc sử dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học 48
Bảng 2.7: Thống kê thực trạng hạn chế của việc sử dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học 49
Bảng 2.8: Thống kê trang bị cơ sở vật chất cho ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội tại các trường tiểu học 51
Bảng 2.9: Thực trạng việc ứng dụng CNTT vào trong dạy học môn TN&XH ở các trường tiểu học 54
Bảng 2.10: Thực trạng đánh giá mức độ thực hiện ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học 57
Bảng 2.11: Vai trò của quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học 60
Bảng 2.12: Thực trạng lập kế hoạch ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 61
Bảng 2.13: Thực trạng tổ chức ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 65
Bảng 2.14: Thực trạng chỉ đạo ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 68
Bảng 2.15: Thực trạng kiểm tra, đánh giá ứng dụng CNTT trong dạy học môn TN&XH 71
Bảng 2.16: Thực trạng về quản lý CSVC phục vụ ứng dụng CNTT trong dạy học môn TN&XH 74
Bảng 2.17: Thống kê thực trạng đánh giá hiệu quả của quản lý ứng dụng CNTT vào trong dạy học môn TN&XH ở các trường tiểu học huyện Đông Anh 76
Trang 11Bảng 2.18: Thống kê mức độ ảnh hưởng của yếu tố thuộc về Hiệu trưởng đến
việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn TN&XH ở các
trường tiểu học 78 Bảng 2.19: Thống kê mức độ ảnh hưởng của yếu tố GV đến việc quản lý ứng
dụng CNTT trong dạy học môn TN&XH ở các trường tiểu học 80 Bảng 2.20: Thống kê thực trạng mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến
việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn TN&XH tiểu học 82 Bảng 3.1: Tính cần thiết các biện pháp mà nhà trường sẽ thực hiện nhằm đẩy
mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học môn Tự
nhiên và Xã hội 106 Bảng 3.2: Tính khả thi các biện pháp mà nhà trường sẽ thực hiện nhằm đẩy
mạnh việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn TN&XH 108 Bảng 3.3: Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
đề xuất quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn
TN&XH ở các trường tiểu học 110
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thực trạng các mức độ ứng dụng CNTT vào trong dạy học môn
TN&XH ở các trường tiểu học 57 Biểu đồ 2.2: Vai trò của quản lý trong việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 61 Biểu đồ 2.3: Thực trạng hiệu quả của quản lý ứng dụng vào trong dạy học môn
TN&XH của hiệu trưởng đang tiến hành hiện nay 77 Biểu đồ 3.1: Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề
xuất quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học môn TN&XH 111
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp 104
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và quản lý ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường tiểu học
Khoa học công nghệ phát triển đã làm thay đổi nhanh chóng nền kinh tế toàn cầu, yếu tố có tính chất quyết định thay đổi đó chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn lực con người, một sản phẩm của khoa học kỹ thuật nói chung và của giáo dục nói riêng Trong quá trình thế giới không ngừng phát triển và hội nhập, toàn cầu hoá, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao là một nhu cầu cấp cấp thiết Trong văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XII năm 2016 đã khẳng định: “Đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” Đến văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII năm 2021 nhấn mạnh: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hoá, con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất” Thực hiện được sứ
mạng lớn lao mà Đảng và nhân dân trao phó cho giáo dục và đào tạo, đặc biệt là vai trò của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) có vai trò quan trọng
Để có được một nền giáo dục hiện đại đòi hỏi phải đổi mới toàn diện từ mục tiêu đến nội dung, chương trình, phương tiện, phương pháp, đặc biệt là đổi mới công tác QLGD của Hiệu trưởng có vai trò rất quan trọng, quyết định đến thành công của mỗi nhà trường hay cơ sở giáo dục
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông (GDPT) hiện hành, trong mục tiêu đổi mới hoạt động dạy học đòi hỏi phải đổi mới công tác quản lý trong giáo dục Ngày 7/10/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn số 4003/BGDĐT-CNTT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Công nghệ thông tin (CNTT) năm học
2020 - 2021
Trang 14Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cơ sở giáo dục và đào tạo triển khai có hiệu quả Chương trình chuyển đổi số quốc gia trong ngành Giáo dục; triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử theo Nghị quyết
số 17/NQ-CP ngày 7/3/2019 của Chính phủ; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các hoạt động giáo dục và đào tạo theo Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/1/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý
và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025"
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục thường xuyên; triển khai kết nối liên thông dữ liệu, tích hợp các hệ thống thông tin vào cơ sở dữ liệu ngành
Đồng thời, tăng cường ứng dụng CNTT trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi và kiểm tra đánh giá, quản lý giáo dục, quản trị nhà trường; áp dụng dạy học trực tuyến; phát triển kho học liệu số toàn ngành, ngân hàng câu hỏi trực tuyến dùng chung, kho bài giảng e-learning kết nối với Hệ tri thức Việt số hóa
Một trong những nhiệm vụ đổi mới QLGD, trong đó có hoạt động ứng dụng vào trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội của nhà trường trở thành yêu cầu cấp thiết, có ảnh hưởng trực tiếp nâng cao chất lượng GDPT Hơn bao giờ hết, giáo dục
và đào tạo không chỉ có vai trò thúc đẩy quá trình đổi mới, phát triển ứng dụng CNTT trở nên mạnh mẽ hơn, nhằm theo kịp xu thế phát triển của thời đại, của thế giới mà còn có trách nhiệm đào tạo ra nguồn nhân lực sẵn sàng để đáp ứng cho nhu cầu phát triển, cạnh tranh của đất nước trong tiến trình hội nhập toàn cầu này
1.2 Xuất phát từ tầm quan trọng của môn học Tự nhiên và xã hội trong các trường tiểu học hiện nay
Thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Tự nhiên và Xã hội là môn học do Bộ Giáo dục và Đào tạo bắt buộc được giảng dạy ở các khối lớp 1, 2, 3 với thời lượng quy định là 70 tiết/ năm học ở mỗi lớp Môn học này tích hợp những kiến thức về môi trường, tự nhiên và xã hội Môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học nói chung đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp cho học sinh học tập tốt các môn liên quan như: Tiếng Việt, Lịch sử và Địa lý ở các khối lớp 4, 5 của cấp tiểu học, mặt khác
Trang 15cũng góp phần tạo nền tảng nhận thức cơ sở đầu tiên cho việc giảng dạy các môn học có chiều sâu hơn là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở các cấp học tiếp theo Tự nhiên
và Xã hội có ý nghĩa giúp cho học sinh hình thành và phát triển về những phẩm chất tốt như: tình yêu thương con người, yêu thiên nhiên; tính chăm chỉ, cần cù lao động; ý thức
tự bảo vệ sức khoẻ thể chất và tinh thần của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi trường thiên nhiên Đồng thời góp phần giúp cho học sinh hình thành và phát triển các năng lực như: tìm hiểu về
tự nhiên và xã hội; tìm tòi và khám phá các sự vật, hiện tượng và mối quan hệ thường gặp trong tự nhiên và xã hội; vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống, ứng
xử phù hợp với tự nhiên và xã hội
Môn Tự nhiên và Xã hội trong trường tiểu học nói chung là môn học có tầm quan trọng trong công tác đổi mới giáo dục, thông qua biểu hiện coi trọng năng lực thực hành và vận dụng kiến thức, đặc biệt quan tâm đến năng lực tự học, tự khám phá
kiến thức của học sinh hơn
1.3 Xuất phát từ thực tiễn ứng dụng CNTT và quản lý việc ứng dụng trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội trong các trường tiểu học trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội còn có nhiều bất cập, đặc biệt khi đứng trước yêu cầu của đổi mới của Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Đã có nhiều nhà khoa học trong nước, ngoài nước nghiên cứu về những vấn
đề căn bản và chung nhất trong lĩnh vực quản lý nhà trường, đó là những thành quả khoa học hết sức đáng ghi nhận được các cán bộ quản lý (CBQL) các trường học áp
dụng vào thực tiễn và đã đem lại những thành tựu nhất định trong giáo dục
Các trường tiểu học thuộc địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã có nhiều biện pháp trong việc thực hiện đổi mới công tác quản lý nhà trường Mặc dù, chất lượng giáo dục đã được cải thiện hơn nhưng trong quá trình đó không tránh khỏi những hạn chế nhất định trong quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội Điều này đặt ra vấn
đề hết sức cấp thiết là phải tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả hơn để chất lượng giáo dục tại các trường tiểu học trong khu vực được phát triển tối đa, đáp ứng tốt mọi
mặt yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay của đất nước
Nhận thấy, việc ứng dụng CNTT của giáo viên các trường tiểu học trong quá trình
Trang 16dạy học ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội vào những năm gần đây có sự chuyển biến
tích cực nhưng chưa đồng đều và thực sự hiệu quả trong quá trình ứng dụng
Từ những lý do về lý luận và thực tiễn trên, tác giả nhận thấy cần phải thực hiện nghiên cứu sâu hơn vấn đề quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội ở các trường tiểu học thuộc đại bàn huyện Đông Anh, nên đã chọn nghiên cứu
đề tài: "Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
ở các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng vào trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cấp tiểu học phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay nhằm nâng cao chất lượng dạy học của các trường tiểu học,
huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội của cán bộ quản lý
các trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội của cán bộ
quản lý các trường tiểu học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý CNTT trong dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội ở các trường tiểu học
4.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học
môn Tự nhiên và Xã hội của cán bộ quản lý các trường tiểu học trên địa bàn huyện
Đông Anh, thành phố Hà Nội
4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự
nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học
Nếu hệ thống được cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học và đánh giá được thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
Trang 17ở các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội ở các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường tiểu học ở huyện Đông Anh, thành phố
Hà Nội.
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Đề tài luận văn nghiên cứu một số biện pháp quản lý CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội của CBQL các trường tiểu học
- Đề tài chỉ nghiên cứu quản lý ứng dụng CNTTtrong dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội của người giáo viên tiểu học
6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu các biện pháp quản lý ứng dụng CNTTtrong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội tại 09 trường Tiểu học của huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Trong đó 04 trường Tiểu học trong cụm số 1 là: Đại Mạch, Hải Bối, Võng La, Vĩnh Ngọc và 05 trường Tiểu học thuộc 5 cụm số 2,3,4,5,6 là: Kim Nỗ, Liên Hà A, Việt Hùng, Thị Trấn A, Uy Nỗ
6.3 Giới hạn về khách thể điều tra
Đề tài tập trung khảo sát các khách thể sau: CBQL nhà trường, tổ trưởng chuyên môn, GV bộ môn Tự nhiên và Xã hội của 09 trường Tiểu học thuộc huyện Đông Anh Trong 9 trường em chọn khảo sát gồm 04 trường trong cụ số 01, hiện em đang công tác
và 05 trường còn lại thuộc 05 cụm trường trong Huyện để có đánh giá khách quan và phạm vi rộng khắp hơn Tổng số lượng mẫu khảo sát là 1005 mẫu
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài thông qua các văn bản, chủ trương của Đảng; các chính sách pháp luật của Nhà nước về giáo dục và đào tạo; các văn bản quy định
của Bộ GD&ĐT và quy chế nội bộ các nhà trường
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 187.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Lập các mẫu phiếu điều tra bằng bảng câu hỏi đã soạn sẵn, với hệ thống câu hỏi thu thập ý kiến về các vấn đề liên quan tới đề tài nghiên cứu Đối tượng điều tra
là các CBQL nhà trường, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên bộ môn Tự nhiên và Xã
hội trong các trường tiểu học
7.2.2 Phương pháp tọa đàm (trò chuyện, phỏng vấn)
Thu thập thêm thông tin qua việc phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với các CBQL, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên bộ môn Tự nhiên và Xã hội các trường tiểu
học để nắm bắt các thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu của đề tài
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Vận dụng các lý luận về khoa học giáo dục để thu thập, phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa, đánh giá từ thực tiễn rồi rút ra kết luận Từ đó, tôi đề xuất các biện
pháp quản lý có hiệu quả cao hơn
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được tiến hành thông qua việc tác động trực tiếp giữa người hỏi và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu của đề
tài
7.2.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng thông tin điều tra thống kê, từ đó phân tích, so sánh các đánh giá của
các đối tượng tham gia khảo sát, từ đó rút ra kết luận
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong
dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Phát hiện được thực trạng các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội của các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà
Nội hiện nay
- Đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội của CBQL ở các trường tiểu học thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Trang 199 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục bảng biểu, tài liệu tham
khảo và các phụ lục kèm theo, luận văn trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học
- Chương 2: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội ở các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
- Chương 3: Các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
CNTT phát triển trở thành một chủ đề vĩ mô, được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO vô cùng quan tâm và chính thức đưa vào chương trình hành động
trước ngưỡng cửa bước sang thế kỷ XXI và đã dự đoán “sẽ có sự thay đổi căn bản
trong nền giáo dục thế giới vào ngay đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT”
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, CNTT đã được ứng dụng như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội tại một số quốc gia phát triển trên thế giới Cùng với việc ứng dụng CNTT ngày càng rộng rãi đó, nhiều quốc gia đã xây dựng những chiến lược riêng cho việc ứng dụng CNTT vào mọi mặt lĩnh vực cuộc sống Đặc biệt ở các nước tiên tiến, một bộ phận quan trọng của chiến lược CNTT là xác định cách thức đưa kiến thức tin học vào các hoạt động giảng dạy trong nhà trường Theo các tài liệu nghiên cứu của UNESCO cho hay, đa số những nước đã đưa các kiến thức Tin học, kĩ năng sử dụng cơ bản của CNTT vào giảng dạy ở các trường phổ thông và biểu hiện rõ ràng hơn từ cấp Trung học cơ sở theo nhiều cách thức tổ
chức giảng dạy đa dạng, khác nhau Cụ thể:
- Giảng dạy môn Tin học là một môn học riêng biệt và đưa môn học này thành
bắt buộc đối với mọi HS (ở nhiều bang của Hoa Kỳ, Úc )
- Giảng dạy môn Tin học như môn học riêng biệt, nhưng theo hình thức tự
chọn (ở các nước Pháp, Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc )
Cho tới nay, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục được các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm và đã trở nên một vấn đề song hành với sự phát triển toàn cầu CNTT mang đến sự đổi mới về hình thức, phương pháp dạy và học cho mọi cấp học, mọi đối tượng người học Vì vậy, các quốc gia đã xem CNTT như là công cụ, phương tiện trong dạy học mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Từ đó khởi nguồn cho sự đa dạng và phong phú đối với các nghiên cứu về vai trò, lợi ích, phương pháp
Trang 21ứng dụng CNTT trong công tác dạy và học hay công tác QLGD Đặc biệt, với sự ra đời của các phần mềm dạy học mô phỏng kiến thức về tự nhiên và xã hội đã hỗ trợ đắc lực cho việc thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng vào trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học như: Crocodile Physics, Crocodile Chemics, Geometer’s Sketchpad, hoặc là các phần mềm CNTT cơ bản hơn được ứng dụng nhiều trong
dạy học như Powerpoint, Quizz,
Ở Việt Nam, việc áp dụng CNTT trong giáo dục, bước đầu cũng có thể coi là việc đưa các kiến thức Tin học vào giảng dạy trong nhà trường Đến đầu những năm
1980, 10 ngành giáo dục đã nhận thức rõ sự cần thiết phải dạy cho thế hệ học sinh tiếp sau các kiến thức Tin học cơ bản, không lâu sau thì đã được tổ chức dạy thí điểm
ở một vài địa phương Bên cạnh đó, CNTT được đưa vào trường học với vai trò là phương tiện phục vụ cho các công tác quản lý như: quản lý học sinh, quản lý giáo viên, quản lý lớp, quản lý quá trình học tập của học sinh, quản lý kết quả giảng dạy của giáo viên, Hơn thế nữa, việc ứng dụng CNTT vào trường học là việc sử dụng máy tính kết hợp với các phần mềm khác và Internet, để dùng chúng với vai trò là phương tiện giảng dạy mới Dù là môn khoa học ra đời muộn, nhưng thực tế cho thấy
rõ ràng CNTT đã và đang phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, chất lượng ngày một vượt trội
Ngày 25/01/2017 Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Đề án “Tăng cường
ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020 định hướng đến năm 2025” Công văn số 3946/BGDĐT-CNTT của Bộ
GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2019 - 2020 đối
với các cơ sở giáo dục, đào tạo cũng đã chú trọng nhiệm vụ “Ứng dụng CNTT hỗ
trợ đổi mới nội dung, phương pháp dạy, học và kiểm tra đánh giá”, song song đó
là việc “Bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo
dục”
Mục tiêu trong kế hoạch Giáo dục đến năm giai đoạn 2020, định hướng chiến phát triển CNTT đã lên đến 90% giáo viên đại học và trên 70% giáo viên cao đẳng chuyên ngành CNTT có trình độ từ thạc sĩ trở lên, trên 30% giáo viên đại học có trình
Trang 22độ tiến sĩ Ngoài ra, trong các doanh nghiệp tăng lên 70% lao động được đào tạo về
CNTT
Ngày 25/01/2022, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 131/QĐ-TTg về việc
Phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong Giáo dục và
Đào tạo giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030” [22] Trong quá trình
dạy học, CNTT được sử dụng như là một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo nhà trường nâng cao chất lượng quản lý, giúp các giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy Việc sử dụng CNTT đã mở ra hướng kết nối thông tin liên tục giữa phụ huynh
và giáo viên giúp các cấp phụ huynh nắm bắt kịp thời và đầy đủ về thời khóa biểu và
tình hình học tập của con em mình
Như vậy, ứng dụng CNTT vào giáo dục là một xu thế mới của nền giáo dục Việt Nam trong thời điểm hiện tại và trong tương lai gần Tuy nhiên quản lý ứng dụng CNTT như thế nào trong các trường học cho có hiệu quả đang thực sự là một vấn đề
cần bàn thảo thêm
Nhận thức được vai trò to lớn của CNTT và ứng dụng CNTT vào thực tiễn, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục nên ngày càng có không ít tài liệu, công trình nghiên cứu viết về việc ứng dụng CNTT trong giáo dục, đặc biệt là đối với GDPT như:
- Tác giả Lưu Lâm (2002) với nghiên cứu “CNTT với việc dạy và học trong
nhà trường Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 20;
- Tác giả Đỗ Trung Tá (2004) với đề tài “Ứng dụng CNTT truyền thông để đổi
mới giáo dục đại học ở Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 84;
- Tác giả Đào Thái Lai (2006) với nghiên cứu “Những yêu cầu đối với người
giáo viên về ứng dụng CNTT trong hoạt động nghề nghiệp”, Nghiên cứu Khoa học
Giáo dục số 5
- Nhóm tác giả Lê Công Triêm - Nguyễn Đức Vũ (2006), với đề tài “Ứng dụng
CNTT trong dạy học”, NXB Giáo dục số 11;
- Tác giả Trần Khánh (2007) với đề tài “Tổng quan về ứng dụng CNTT và
truyền thông trong giáo dục”, Tạp chí Giáo dục số 161 [15, tr.24];
- Tác giả Nguyễn Văn Hiền (2007) với đề tài “Một số kỹ năng CNTT cơ bản cần
trang bị cho giáo viên Sinh học ở trường THPT hiện nay”, Tạp chí Giáo dục số 179;
Trang 23Ngoài ra, còn có các Hội thảo Khoa học với chủ đề “Ứng dụng CNTT trong
giáo dục và đào tạo” nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Cụ thể
như:
- Hội thảo “Trí tuệ nhân tạo và tương lai của giáo dục” được tổ chức vào ngày 28/02 đến 29/02/2023
- Hội thảo “Ứng dụng CNTT vào dạy học và kiểm tra đánh giá năng lực ngoại
ngữ” được tổ chức ở Đồng Nai vào ngày 30/11/2023
Gần đây, đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học tích cực có kết hợp ứng dụng CNTT trong giáo dục Tiểu học như các đề
tài của nhóm tác giả Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn (2008) về “Ứng dụng CNTT
trong dạy học tích cực”[13, tr.39]; Cụ thể hơn là nghiên cứu về ứng dụng CNTT
trong dạy học môn” ở cấp tiểu học, mới chỉ có các SKKN, tiêu biểu là nghiên cứu
của tác giả Bùi Thu Nguyệt (2011) về “Ứng dụng CNTT trong việc giảng dạy môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 3” trong phạm vi trường Tiểu học Đền Lừ
Đề tài “Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các
trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” chưa được ai nghiên cứu Vì
thế, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi môn học Tự nhiên và Xã hội tại các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội với hy vọng đề xuất được một số biện pháp quản lý hiệu quả hơn, góp phần hoàn thiện đổi mới phương pháp dạy học nói riêng, nâng cao chất lượng giảng dạy môn học Tự nhiên và Xã hội
nói chung đối với các trường tiểu học ở địa phương hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo những
nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản
lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích nhóm với thời gian, tiền cấp, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn kiến thức có tổ chức về quản lý là
một khoa học” [12, tr 33]
Tác giả Đặng Thành Hưng đưa ra khái niệm: “Quản lý là một dạng lao động
Trang 24đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng một tổ chức hoặc cùng một công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt được mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những
người tham gia” [17, tr.28]
Tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp
với quy luật khách quan” [18, tr.24]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong
việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm
đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [14, tr.127]
Theo Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong cuốn: “Đại cương khoa
học quản lý” đã khái quát hơn khi đưa ra quan niệm: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý-trong một tổ chức -
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr 9]
Tóm lại có thể thấy rằng: Những quan điểm trên có khác nhau nhưng đều có điểm chung thống nhất: Quản lý (một tổ chức/ hệ thống) là tổ hợp các tác động chuyên biệt, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm phát huy tiềm năng của các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và cơ hội của tổ chức/ hệ thống trên cơ sở đó đảm bảo cho tổ chức, hệ thống vận hành (hoạt động) tốt, đạt được các mục tiêu đã đặt ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong các điều kiện biến động của môi trường Từ đó có thể định nghĩa
rõ hơn: Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý thông qua hoạt động (chức
năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra đến đối tượng quản lý
nhằm đạt được mục tiêu quản lý đặt ra
1.2.2 Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông qua chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định
Trang 25Theo quan điểm quản lý hiện đại có bốn chức năng quản lý cơ bản: Kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá
Chức năng kế hoạch hóa là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục
và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý, bao gồm soạn thảo, thông qua được những chủ
trương quản lý quan trọng
Khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành được hai nhiệm vụ là xác định đúng mục tiêu cần phát triển giáo dục và quyết định được những biện pháp có tính khả thi (phù hợp với quan điểm, đường lối theo từng giai đoạn phát
triển của đất nước)
Chức năng tổ chức là quá trình phân phối, sắp xếp nguồn nhân lực theo
những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra Đây là giai đoạn hiện thực các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng cấu trúc của tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ chức, lựa chọn sắp xếp
cán bộ
Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của
những người khác nhằm đạt được mục tiêu với chất lượng cao Có nghĩa là chỉ dẫn động viên điều chỉnh và phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường, tích cực
hăng hái chủ động theo sự phân công đã định
Chức năng kiểm tra đánh giá là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm
bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống Nó xem xét tình hình thực
hiện công việc so với yêu cầu, từ đó đánh giá đúng đắn
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý Trong đó, từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong quá trình quản lý, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện
các chức năng quản lý và đưa ra các quyết định quản lý
Mối quan hệ giữa các chức năng được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 26Sơ đồ 1.1: Quan hệ các chức năng quản lý
1.3 Một số đặc điểm của dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học
1.3.1 Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trong hệ thống văn bản pháp luật về QLGD cấp tiểu học có ghi: “Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho GDPT và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân” - theo Điều 2 Điều lệ Trường tiểu học [4, tr.2]
Luật Giáo dục còn ghi rõ: Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học,
từ lớp 1 đến lớp 5 và mức tuổi của HS vào lớp một là 6 tuổi
Theo Thông tư số 28/2020/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường tiểu học đã quy định:
*) Trường tiểu học là cơ sở GDPT của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách
pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng
*) Nhiệm vụ và quyền hạn của Trường tiểu học
- Công khai mục tiêu, chương trình, kế hoạch giáo dục, điều kiện bảo đảm chất
lượng giáo dục, kết quả đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- Thực hiện giáo dục bắt buộc, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ tại địa bàn Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động và tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn
Chỉ đạo
Kế hoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
Trang 27cảnh đặc biệt đến trường Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền
- Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gắn với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học
- Triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thực hiện lựa chọn sách giáo khoa theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo; triển khai thực hiện sách giáo khoa và nội dung giáo dục của địa phương theo quyết định của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); thực hiện tự chủ chuyên môn trong tổ chức các hoạt động giáo dục tại trường tiểu học
- Thực hiện tự kiểm định chất lượng và đảm bảo chất lượng giáo dục theo quy định
- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
- Quản lý và sử dụng đất, tài chính và tài sản của nhà trường theo quy định của pháp luật
- Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh, các tổ chức và
cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục Tổ chức cho giáo viên, người lao động và học sinh tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương
- Xây dựng môi trường văn hoá - giáo dục trong nhà trường, tham gia xây dựng môi trường văn hoá - giáo dục ở địa phương
- Được tiếp nhận các khoản tài trợ, viện trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với nhà trường theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
*) Nhiệm vụ dạy học tiểu học được Bộ GD&ĐT xác định
- Tổ chức dạy học theo chương trình GDPT 2018;
- Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra, đánh giá;
- Dạy học ngoại ngữ theo chương trình GDPT mới 2018 và tổ chức dạy học 2
Trang 28buổi/ngày đối với những trường đủ điều kiện, còn những trường không đủ điều kiện,
tổ chức cho HS học 1 buổi/ ngày phải đảm bảo thời lượng tối đa 5 tiết/ buổi; tối thiểu
5 buổi/ tuần, còn đối với những trường hoạt động lớp dạy học 2 buổi/ ngày thì thời lượng tối đa 7 tiết/ ngày
Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch giảng dạy năm học cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Thực hiện đầy đủ nội dung chương trình giáo dục các môn học chính khóa (như lớp 1 buổi/ ngày
- Thời gian buổi thứ hai sẽ tổ chức các hoạt động tự học cho học sinh có hướng dẫn của giáo viên; dạy học các môn học tự chọn (Tiếng Anh, Tin học); tổ chức các
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa
Bảng 1.1: Phân phối chương trình cấp tiểu học theo Chương trình GDPT 2018
Môn học Số tiết học trong tuần
Hoạt động trải nghiệm 3 3 3 3 3
Lớp 1,2 có các môn học bắt buộc đó là: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên
và Xã hội, Mĩ thuật, Âm nhạc, Giáo dục thể chất và Hoạt động trải nghiệm
Trang 29Lớp 3 có các môn học bắt buộc đó là: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và
Xã hội, Mĩ thuật, Âm nhạc, Giáo dục thể chất, Công nghệ, Tin học và Hoạt động trải
nghiệm
Lớp 4,5 có các môn học bắt buộc đó là: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Khoa học,
Lịch sử và Địa lí, Mĩ thuật, Giáo dục thể chất, Âm nhạc, Công nghệ, Tin học,
và Hoạt động trải nghiệm
Với vai trò là cấp học nền tảng về tri thức trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học có vững vàng thì mới đảm bảo tốt việc xây dựng cả nền tảng không những cho GDPT mà còn cho toàn bộ quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người
1.3.2 Dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở trường tiểu học
1.3.2.1 Vai trò của môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học
Môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học là một môn học được cấu trúc kiến thức từ các lớp dưới theo 6 chủ đề: Gia đình, Trường học, Cộng đồng địa phương, Thực vật
và động vật, Con người và sức khoẻ, Trái Đất và bầu trời Thông qua 6 chủ đề trên, giáo viên giúp cho học sinh có được vốn kiến thức ban đầu về con người và sinh thái thiên nhiên, cụ thể: Các kiến thức căn bản về cơ thể người, biết giữ gìn hệ sinh thái
và phòng chống một số dịch bệnh, tai nạn thường gặp Các kiến thức về một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên, xã hội Đồng thời môn học Tự nhiên và Xã hội giúp cho các em có một số kĩ năng ban đầu về chăm sóc sức khỏe bản thân và phòng tránh một số bệnh tật, tai nạn dễ xảy ra ở lứa tuổi của mình Giúp các em có khả năng quan sát, nhìn nhận, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi và diễn đạt được những hiểu biết của bản thân đối với sự vật hiện tượng giản đơn trong tự nhiên và xã hội Không những vậy, môn học này còn giúp các em có thái độ và hành vi tự giác thực hiện các nguyên tắc giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ an toàn cho cá nhân, gia đình và xã hội Sâu sắc hơn là biết yêu thương con người, động vật, thiên nhiên, cộng đồng, trường lớp, quê
hương, đất nước…
Vì môn Tự nhiên và Xã hội là một môn học gắn liền với thực tế đời sống xung quanh nên càng cần được các trường tiểu học đặc biệt quan tâm và nâng cao chất lượng giảng dạy Để nâng cao chất lượng giáo dục trong môn học Tự nhiên và Xã hội
Trang 30ở cấp tiểu học, sao cho đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới GDPT 2018, đặc biệt là thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng dụng CNTT vào giảng dạy Hiện nay, ngoài các phương pháp dạy học truyền thống máy móc, phụ thuộc vào tài liệu có sẵn thì việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học nói chung là rất quan trọng bởi đặc điểm của môn học này chủ yếu là thông qua các kênh hình ảnh sống động, các lệnh câu hỏi dễ nhớ để học sinh tự đánh giá và rút
ra kiến thức, kĩ năng cho bản thân Việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội sẽ góp phần làm cho mỗi giờ học trở nên càng sinh động, thu hút, kích thích tính tích cực, sáng tạo của học sinh tham gia học tập, tránh cho tiết học quá đơn điệu
và thụ động, không đạt hiệu quả
1.3.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp
tiểu học
Đổi mới phương pháp dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở trường tiểu học hướng tới tích cực hoá các hoạt động của học sinh được hiểu là: Thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học mới là ứng dụng CNTT vào bài giảng, dựa trên cơ sở phát huy mặt tích cực của phương pháp dạy học truyền thống, để nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội và nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo của các nhà
- Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm
- Rèn luyện kỹ năng vận dụng các kiến thức đã học trên lớp vào thực tiễn cuộc
sống
- Tác động tích cực đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh về môn học
1.3.3 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung, đây là độ tuổi của sự phát triển về chiều
Trang 31cao và không phát triển nhanh như mẫu giáo Nhưng hệ xương của các em đang ở thời kỳ cốt hoá, ngược lại thì hệ cơ lại đang phát triển, đặc biệt là các bắp thịt Vì vậy, các em có thiên hướng thích đùa nghịch vận động mạnh Số ít em thích làm các công
việc đòi hỏi có sự tỉ mỉ và cẩn thận
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học, học sinh tiểu học có những đặc điểm
tâm lí cơ bản sau:
a) Về đặc điểm nhận thức
Hoạt động nhận thức cảm tính của học sinh đầu tiểu học cũng mang màu sắc của trẻ mầm non, rất giàu cảm xúc Cảm xúc đó không những chi phối trong sinh hoạt cuộc sống hàng ngày và cả trong quá trình học tập Các em rất năng động, sôi nổi, ham thích sự mới mẻ nhưng cũng mau chóng chán Ở độ tuổi này, sinh lý não của các
em vẫn tiếp tục hoàn thiện Việc dạy học sẽ kích thích mạnh mẽ việc phát triển các chức năng não Nhờ vậy, xuất hiện các điều kiện để chuyển dần từ tư duy biểu tượng
– đồ vật sang tư duy hình tượng – lời nói
Vậy nên, giáo viên tiểu học cần vận dụng đa dạng hoá các phương pháp dạy học hình ảnh hóa để những hình ảnh các em thu được sẽ trở thành nguyên liệu làm phong phú cho vốn tri thức mới Đặc biệt, cần chú trọng đến rèn kỹ năng dạy học theo chủ đề, tạo bầu không khí học tập vui tươi, hào hứng, linh động, không bị gò bó
và khuyến khích sự tập trung học tập của các em
b) Về đặc điểm tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học phát triển khá nhanh nhưng nó không chủ động chiếm ưu thế Giai đoạn này tri giác của các em mang tính chung chung, còn phiến diện một chiều chưa đầy đủ và được ít chi tiết, ít đi vào bản chất sự vật và mang tính không chủ định Một số em có thể bộc lộ sớm khả năng quan sát các sự vật hiện tượng nhanh, chính xác và đầy đủ Tri giác của trẻ tiểu học gắn liền với cảm xúc, cái gì có thể tạo ra cảm xúc ở trẻ thì sẽ giúp trẻ tri giác Các em sẽ thích nhìn những thứ có sắc màu rực rỡ hơn Cho nên trong quá trình dạy học, giáo viên cần dùng nhiều loại đồ dùng trực quan có màu sắc sẽ tạo ra hiệu quả tốt trong việc gây chú ý vào bài học ở
trẻ
Tri giác phát triển mạnh dưới tác động của giáo dục Trong quá trình học tập,
Trang 32tri giác vừa là điều kiện vừa là hệ quả của việc học, cũng là tiền đề cho các quá trình
nhận thức cao hơn sau này
c) Về khả năng chú ý của học sinh tiểu học
Có 3 loại khả năng chú ý cơ bản: chú ý không chủ định, chú ý có chủ định và chú ý sau chủ định Ở lứa tuổi này cần quan tâm tới loại chú ý không chủ định và chú
ý có chủ định
Chú ý không chủ định là loại chú ý đặc thù đối với trẻ mẫu giáo, tuy nhiên cần tiếp tục phát triển hơn Bởi, các em vẫn thường bị cuốn hút bởi những thứ mới mẻ, màu sắc rực rỡ, hình thù kỳ lạ mắt… Chính vì thế, đối với dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội ở tiểu học, giáo viên cần sử dụng đồ dùng trực quan nhằm gây chú ý không chủ định Tuy nhiên, việc sử dụng đồ dùng trực quan cũng cần tuân thủ quy tắc sư phạm, nếu không sự phấn khích quá mức sẽ dẫn đến việc trẻ không chú ý trong việc
đọc và nghiên cứu tài liệu học tập
Chú ý có chủ định của trẻ chưa thật sự phát triển, ý chí của trẻ không cao cũng ảnh hưởng đến việc phát triển chú ý và ngược lại Hơn nữa sự hình thành động cơ hành vi ở trẻ giúp hình thành sự phát triển chú ý tốt hơn Động cơ hành vi của trẻ chỉ mang tính nhất thời Động cơ có chủ định cũng cần được thực hiện ở trẻ thông qua
phương pháp dạy học chủ động và phát huy tính sáng tạo của trẻ
Sự tập trung chú ý của các em có thời gian nhất định, cụ thể mỗi lần tập trung khoảng 8-10 phút Trong một tiết học 30-35 phút, GV tiểu học cần tổ chức cho học sinh chú ý từng hoạt động riêng lẻ sẽ hiệu quả hơn, linh hoạt thay đổi các hình thức dạy học hoặc đan xen những trò chơi vận động giữa tiết học, tạo hứng thú hơn cho
học sinh trong học tập
d) Trí nhớ của học sinh tiểu học
Ở độ tuổi này cả hai loại ghi nhớ đều phát triển mạnh Đây là giai đoạn các em chuyển giao từ dần dần từ trí nhớ trực quan giàu hình ảnh sang ghi nhớ máy móc, học thuộc lòng các tri thức có sẵn trong sách vở Nhiều em thế hiện khả năng nhớ nhanh
và nhớ nhiều Tuy nhiên có những em không nhớ được tài liệu do không hiểu kiến thức hoặc không chú ý khi học tập Càng lớn lên, HS tiểu học càng phát triển về khả năng học thuộc lòng rất nhanh, nhất là những vấn đề chưa hiểu biết tận tường Khả
Trang 33năng tiếp thu tăng dần, tuy nhiên có xu hướng học thuộc lòng một cách máy móc
nhưng không vận dụng vào thực tiễn một cách hữu hiệu
Trong giai đoạn này, việc gia tăng kiến thức trong trí nhớ là rất cần thiết vì nếu
có được những kiến thức ấy, đứa trẻ sẽ học được suốt quãng đời sau này Chính vì thế, dạy trẻ học thuộc lòng những chú ý nếu ở đâu đó có thể giảng giải giúp trẻ cách gia tăng dần trí nhớ từ vựng thay vì trí nhớ máy móc thì giáo viên cần phải thực hiện ngay Bên cạnh đó dạy học sinh cách tìm điểm tựa trong trí nhớ và không dạy bài học quá nhanh Kiến thức học sinh tiếp thu cần sử dụng thường xuyên, cần lặp đi lặp lại thì mới giữ lâu trong trí nhớ, những trường hợp đặc thù thì cần lưu giữ vào trí nhớ dài
hạn
e) Về đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học
Tưởng tượng của các em có phát triển nhưng cũng rất hời hợt, xa rời thực tiễn
và chưa có tổ chức Tưởng tượng là hiện tượng tâm lí tương đối phổ biến và có ý nghĩa to lớn trong cuộc sống của con người Tưởng tượng không phát triển đầy đủ sẽ làm học sinh gặp trở ngại trong cuộc sống cũng như trong tư duy, học tập Tưởng tượng vừa là kết quả của hoạt động học tập và giáo dục vừa là công cụ quan trọng để học sinh ghi nhớ được kiến thức Không có tưởng tượng học sinh không thể tái hiện bức tranh của lịch sử, khó nhớ được đặc điểm địa lý của từng vùng miền khác nhau
trên trái đất chúng ta
Đối với học sinh tiểu học hình ảnh của tưởng tượng khá đơn giản, không phức tạp Đặc biệt, lúc này các em đã bắt đầu có khả năng tưởng tượng dựa trên tri giác đã
có từ lâu và dựa trên tri giác cộng với khả năng so sánh, quan sát, phân tích và tổng hợp của mình, các em có thể tự sáng tạo được những hình ảnh tưởng tượng có tính chất sáng tạo, tổng hợp những điều mà em nghĩ rằng là ấn tượng nhất trong ý nghĩ
của mình
g) Về đặc điểm tư duy và sự phát triển của học sinh tiểu học
Tư duy là hoạt động nhận thức cơ bản nhất, là nền tảng của hoạt động nhận thức, thể hiện các đặc điểm, các mối quan hệ bản chất có tính quy luật của sự vật và hiện tượng khách quan Trong giai đoạn độ tuổi này, tư duy của các em phát triển mạnh mẽ thông qua hoạt động học tập Tiểu học là giai đoạn mà các em đang chuyển
biến dần dần từ loại tư duy trực quan trừu tượng, sang tư duy nhận thức
Trang 34Càng về cuối cấp tiểu học, càng là thời kỳ mới của phát triển trí tuệ, một số
em có năng lực phân tích và lập luận ở cấp độ sâu sắc và đúng đắn Các em có thể giải quyết tốt các vấn đề tương đối phức tạp Nhiêu em thế hiện trí tuệ ở cấp độ cao Tuy nhiên một số em không thể suy nghĩ độc lập logic mà còn phải nhờ vào người lớn, khả năng suy nghĩ độc lập sáng tạo, chưa phát triển Bước đầu các em có kỹ năng trong việc phân tích, suy luận, phán đoán và những dạng cơ bản của suy luận, phán đoán Dạy tư duy là dạy cho các em con đường ngắn nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất đến mục tiêu đã định trong học tập Trong quá trình dạy học, giáo viên tiểu học cần chú ý đồ dùng dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cho trẻ phát triển tư duy tốt
1.4 CNTT và ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cấp tiểu học
1.4.1 Công nghệ thông tin
Theo Bách Khoa toàn thư Wikiperdia: “CNTT là ngành ứng dụng công nghệ
quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin” [23]
Khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP kí
ngày 04/8/1993: "CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công
cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"
Theo Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 (Điều 4: Giải thích từ
ngữ): “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ
thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông
tin số” [19, tr.30]
Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số
Tóm lại, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin Như vậy, CNTT là một hệ thống bao gồm các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, … của con người”
Trang 35CNTT được phát triển trên nền tảng của các công nghệ Tin học - Điện tử - Viễn thông và Tự động hóa CNTT mang một ý nghĩa bao trùm rộng rãi, nó vừa là khoa học, vừa là công nghệ, vừa là kỹ thuật, vừa là tin học, viễn thông và tự động
hóa CNTT không ngừng phát triển trên toàn thế giới Cùng với sự phát triển này nhu
cầu về truyền thông tin số cũng phát triển song song và trở thành một nhu cầu không thể thiếu của xã hội văn minh Khi hầu hết các lĩnh vực khoa học xã hội đều chịu ảnh hưởng của tin học và dần dần được tin học hóa thì việc liên kết giữa các công việc trong một lĩnh vực hay giữa các lĩnh vực với nhau trở nên cực kỳ quan trọng Việc liên kết này thu hẹp khoảng cách không gian giữa con người với con người và với
môi trường xung quanh
CNTT nghiên cứu tới các công nghệ và các ứng dụng, nghĩa là thiên về công nghệ theo nghĩa cổ điển, ngụ ý nói về nghĩa khoa học công nghệ Còn Tin học lại gần gũi với cách nói là ngành khoa học, hay môn học Khi nói về "Tin học" là ngụ ý muốn nói về nghĩa lý thuyết, nghĩa môn học Tuy nhiên cả CNTT và Tin học cùng là ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là quá trình thu nhận, tàng trữ, xử lí và truyền gửi
thông tin
Sự phát triển của CNTT đã tạo điều kiện thuận lợi đối với ngành giáo dục Tuy nhiên, nó cũng đặt ra thách thức đối với ngành Việc ứng dụng CNTT trong mỗi cấp học, cấp học có mục tiêu, nội dung chương trình khác nhau Làm thế nào để ứng dụng CNTT một cách phù hợp và có hiệu quả là bài toán khó đặt ra cho mỗi thầy giáo, cô giáo nhằm đổi mới hơn nữa phương pháp dạy học đồng thời tận dụng triệt để được
Đối với lĩnh vực GD&ĐT, CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao
Trang 36hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước (trích chỉ thị số: 55/2008/CT-BGDĐT)
Luật CNTT số 67/2006/QH11 29/6/2006- Điều 4 giải nghĩa từ ngữ: “Ứng
dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”[19]
Như vậy, ứng dụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng CNTT vào hoạt động dạy của GV và hoạt động học của học sinh nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học
1.4.2.2 Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
Ứng dụng vào trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội có vai trò quan trọng trong sự phát triển giáo dục Việt Nam nhất là ở giai đoạn hiện nay Yếu kém lớn nhất của GV phổ thông hiện nay vẫn là phương pháp dạy học Phương pháp dạy còn nặng
về truyền đạt kiến thức, chưa phát huy tính chủ động và khuyến khích sự vận dụng sáng tạo của người học Chưa chú trọng việc hướng dẫn hình thành năng lực tự học của người học và khả năng làm việc tập thể, làm việc theo nhóm… Phần lớn CBQL giáo dục còn bị hạn chế về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng sử dụng và ứng dụng CNTT
Để khắc phục những tồn tại đó cần bồi dưỡng kỹ năng sư phạm, phương pháp nghiên cứu khoa học và ứng dụng kỹ thuật, nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn nghề nghiệp, trình độ tay nghề, năng lực sử dụng CNTT, ngoại ngữ cho đội ngũ giáo
viên Việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội sẽ góp phần tạo
ra môi trường học tập đa phương tiện (Multimedia)
Bốn thành tố cơ bản của quá trình dạy học là: Mục tiêu, nội dung, phương
pháp và thiết bị giáo dục
Môi trường học tập đa phương tiện là môi trường học tập được trang bị, lắp đặt các phương tiện truyền thông (Multimedia) và các điều kiện đảm bảo cho các
phương tiện đó hoạt động tốt Ở đó diễn ra các tương tác đa chiều:
+ Tương tác hai chiều giữa giáo viên – học sinh
Trang 37+ Tương tác hai chiều giữa phương tiện – học sinh
+ Tương tác hai chiều giữa giáo viên – phương tiện
Cơ sở vật chất cải tiến phương pháp dạy học là sự lựa chọn nội dung bài học thích hợp, sau đó là việc nghiên cứu áp dụng những phương pháp và phương tiện
thích hợp dạy học
- Ứng dụng CNTT trong dạy học mang lại cho chúng ta nguồn thông tin phong phú và sinh động, bài giảng trở nên trực quan hơn, giảm bớt trừu tượng, bài giảng sống động hơn, thu hút sự tập trung, niềm say mê hứng thú của người học, làm cho
người học dễ hiểu và nhớ lâu
- Ứng dụng CNTT góp phần chống dạy chay và học chay
- Ứng dụng CNTT giúp người thầy có thể truyền đạt bằng nhiều con đường khác nhau những lượng thông tin cần thiết giúp cho việc tiếp thu bài của HS Việc tiếp thu kiến thức có hiệu quả khi HS nhận được lượng tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau và trong hoạt động riêng của mình, tổng hợp và chọn lọc những nguồn
tin đó
Theo cuốn sách “Phương tiện dạy học” của Tô Xuân Giáp, NXB Giáo dục
1997, mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thông:
- Sự tiếp thu tri thức khi học đạt được là:
- Tỉ lệ kiến thức nhớ được sau khi học đạt được là:
20 % qua nghe được
30 % qua nhìn được
50 % qua nghe và nhìn được
80% qua nói được
90 % qua nói và làm được
Như vậy, ngày nay ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
Trang 38đã thành một yếu tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Nó làm tăng tính tích cực, chủ động của
người học trong quá trình tư duy lĩnh hội tri thức mới
1.4.2.3 Nội dung ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học
- Những năm gần đây, dạy học bằng CNTT đang ngày càng phổ biến trong các cấp học từ phổ thông đến đại học Phải khẳng định rằng dạy học bằng CNTT góp phần đa dạng hóa các hình thức dạy học, hỗ trợ tích cực cho người thầy ở rất nhiều phương diện
Ứng dụng CNTT vào quá trình dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trường tiểu học chủ yếu là ứng dụng vào trong 3 yếu tố tức là ứng dụng vào khâu biên soạn tài liệu, khâu tổ chức tiến trình bài học (trình bày bài giảng và tiếp nhận bài giảng), đánh giá kết quả dạy-học (thi và kiểm tra) Việc đó, đòi hỏi GV cần làm chủ được các nội dung, kĩ thuật, kĩ năng, như sau:
+ Am hiểu về CNTT: Nhập dữ liệu (Font chữ: Font Unicode); lưu trữ và cài đặt các phần mềm tiện ích, các phần mềm môn học, các phần mềm ứng dụng cho giảng dạy môn học có sẵn,…
+ Ứng dụng CNTT vào thiết kế, biên soạn và thực hiện tiến trình bài học góp phần đổi mới PPDH
Căn cứ vào quá trình dạy học tiểu học có thể thấy nội dung ứng dụng vào trong dạy học môn TN&XH tiểu học bao gồm các nội dung cơ bản sau:
a) Ứng dụng CNTT vào chuẩn bị bài giảng trên lớp môn TN&XH
Kế hoạch giờ lên lớp của GV, bao gồm đề tài của giờ lên lớp, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy
và trò, khâu kiểm tra đánh giá Tất cả được ghi ngắn gọn theo trình tự thực tế sẽ diễn
ra trong giờ lên lớp Giáo án được thầy giáo biên soạn trong giai đoạn chuẩn bị lên lớp và quyết định phần lớn sự thành công của bài học
(Nguồn: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn) Bài giảng điện tử là bài giảng của GV được thể hiện trên lớp nhờ sự hỗ trợ của
các thiết bị điện tử và phương tiện CNTT
Trong tiếng Anh cũng không có khái niệm “bài giảng điện tử” theo nghĩa dạy học
Trang 39trên lớp (computer-based Learning) Chỉ có khái niệm “Tiết dạy có ứng dụng CNTT” =
“Information and Communication Technologies-based learning” (ICT)
Như vậy bài giảng có ứng dụng CNTT nói chung được xây dựng bằng máy tính với các phần mềm hỗ trợ chuyên dụng như: phần mềm trình chiếu Microsoft Powerpoint, phần mềm Movie Maker, Violet, Geo Sketchpad, Carbi, Flash, Adobe Presenter,… và sự hỗ trợ của máy chiếu, camera, máy ảnh cùng các thiết bị khác
Ứng dụng CNTT vào bài giảng tạo sự sinh động và gây hứng thú cho học sinh Tuy nhiên khi ứng dụng CNTT và thiết kế bài giảng điện tử, giáo viên cần đảm bảo các nguyên tắc chung, các quy trình thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT sao cho có hiệu quả Các nguyên tắc chung của một bài giảng có ứng dụng CNTT:
+ Đảm bảo tính khoa học sư phạm và khoa học tin học
+ Đảm bảo tính hiệu quả, tính thực tế, tính giáo dục
+ Đảm bảo tính mở và tính phổ dụng
+ Đảm bảo tính cập nhật nội dung kiến thức bài giảng
b) Ứng dụng CNTT vào tổ chức giảng dạy trên lớp môn Tự nhiên và Xã hội
Các hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học:
+ Computer-based learning (dạy học dựa vào máy tính thường trên lớp): Bài
giảng trên lớp có một số khai thác ứng dụng CNTT dưới sự hướng dẫn của GV (sự
tương tác người học-máy còn hạn chế)
+ E-learning (computer-based training hay web-based training, học qua mạng bằng apprentissageen ligne): Sử dụng máy tính và qua mạng để tự học các bài giảng
mà giáo viên soạn sẵn
Ứng dụng CNTT vào tổ chức giảng dạy trên lớp chính là việc sử dụng các phương tiện dạy học như máy tính, máy chiếu đa vật thể, máy chiếu đa năng projecter… với mục đích truyền tải đến HS những kiến thức của bài học một cách
sinh động và hấp dẫn
Đặc điểm của dạy học có ứng dụng CNTT là tính tương tác (interactive) giữa
người học với phương tiện CNTT
Dạy học có ứng dụng CNTT đòi hỏi giáo viên phải biết định hướng, điều khiển
quá trình học tập, giúp HS tự mình lĩnh hội tối đa kiến thức
Trang 40Phương tiện CNTT ứng dụng cho bài giảng trên lớp gồm:
+ Máy móc, thiết bị điện tử
+ Phần mềm trình chiếu như powerpoint (đơn giản và thuận tiện nhất) hay một
số phần mềm trình chiếu khác
+ Các phần mềm dạy học như phần mềm thí nghiệm ảo…
+ Các công cụ thể hiện multimedia Một sản phẩm, một phần mềm, một thiết
bị Tin học được cho là multimedia khi nó cho phép khai thác thông tin đa thức, nhiều kiểu như: văn bản (text), âm thanh (soud), tiếng nói (voice), hình ảnh tĩnh (image),
video-clip, hình động (animation), đồ họa (graphic)…
c) Ứng dụng CNTT vào kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh học môn
Tự nhiên và Xã hội
Việc áp dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá học tập chính là việc ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại, các công cụ để hỗ trợ vào việc ra đề kiểm tra cùng với các phần mềm kiểm tra, đánh giá học sinh trên phương tiện công nghệ hiện đại như máy vi tính, Từ đó, dựa trên kết quả học tập của học sinh, giáo viên đưa ra nhận
xét, đánh giá, kết luận và điều chỉnh
Trong đánh kết quả học tập của HS không những đánh giá kết quả mà chú trọng cả quá trình học tập Đánh giá thành tích theo quan điểm phát triển năng lực không bó hẹp ở khả năng tái tạo tri thức mà chú ý khả năng ứng dụng tri thức trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phức tạp Trong xu hướng xây dựng các bài tập cũng như các bài thi, kiểm tra theo quan điểm phát triển năng lực có thể chia thành 3
mức độ chính: Tái hiện, vận dụng, đánh giá
Sử dụng CNTT vào kiểm tra đánh giá học sinh sẽ giúp cán bộ quản lí, giáo viên xây dựng ngân hàng câu hỏi, bài tập trên cơ sở đó tổng hợp thành những đề thi; kiểm tra phù hợp với mục tiêu, với yêu cầu, điều kiện cụ thể của mỗi nhà trường và
trình độ học sinh
d) Ứng dụng CNTT vào lưu trữ sản phẩm của dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
Ứng dụng CNTT vào lưu trữ sản phẩm là việc sử dụng các phương tiện công nghệ như máy tính, thẻ nhớ, đĩa ghi… để lưu trữ lại những bài dạy đã được thiết
kế, những tư liệu video, tranh ảnh minh họa cần dùng khi thiết kế hoặc khi giảng
dạy …