1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Skkn cấp tỉnh một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trong Ôn thi Địa lý lớp 12 thpt

75 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trong ôn thi địa lý lớp 12 thpt
Tác giả Lê Thị Hiên
Người hướng dẫn TP. Nguyễn Văn A
Trường học Trường THPT Triệu Sơn 5
Chuyên ngành Địa Lí
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2025
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 302,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật giáo dục nêu rõ:“phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG

ÔN THI ĐỊA LÍ LỚP 12 - THPT

Người thực hiện: Lê Thị Hiên Chức vụ: Tp/Nhóm trưởng chuyên môn SKKN thuộc môn: Địa Lí

THANH HOÁ, NĂM 2025

Trang 2

1.1 Lí do chọn đề tài 1

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) được xây dựng

và triển khai trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh “đổi mới căn bản, toàn

diện giáo dục và đào tạo” nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp

hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Thực tiễn thế giới và khu vực

đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của “cách mạng công nghiệp 4.0”, với sự lên ngôi của “kỹ năng mềm, tư duy phản biện, năng lực giải quyết vấn đề

và học tập suốt đời”.

Trong nước, chất lượng giáo dục tuy đã có những chuyển biến tích cực

nhưng vẫn còn “nặng về truyền thụ kiến thức, ít chú trọng phát triển phẩm chất

và năng lực người học” Mô hình giáo dục cũ đã bộc lộ hạn chế trong việc

chuẩn bị cho học sinh những kỹ năng thiết yếu của thế kỷ XXI

Trước thực tế đó, CTGDPT 2018 được triển khai nhằm chuyển mạnh từ

“dạy cái gì”sang “dạy như thế nào và dạy để làm gì”, với trọng tâm là “phát triển phẩm chất, năng lực tự học của học sinh”, xây dựng một nền giáo dục mở,

linh hoạt, chú trọng khả năng tự học, tự chủ, sáng tạo Chương trình mới thểhiện qua các điểm đổi mới nổi bật như: dạy học phân hóa, tích hợp, tăng cườngthực hành, khai thác dữ liệu thực tiễn, thay đổi cách đánh giá kết quả học tập,

Tác động của CTGDPT 2018 đối với bộ môn Địa Lí, học sinh cần phải ph

át triển “năng lực tư duy Địa Lí, năng lực sử dụng số liệu -biểu đồ - bản đồ”, “

năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn địa phương” Vì vậy, việc giáo viên

hướng dẫn học sinh tự học, tự chủ động tiếp cận số liệu thực tế, thực hành kỹnăng xử lí thông tin là yêu cầu tất yếu để nâng cao hiệu quả dạy và học, giúphọc sinh tự tin thích ứng với yêu cầu mới của chương trình

Luật giáo dục nêu rõ:“phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

của học sinh, phù hợp đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[2]

Với mục đích tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy theo yêu

cầu đổi mới phương pháp dạy học, định hướng “phát triển năng lực tự học của

học sinh”, trong những năm gần đây công tác chỉ đạo chuyên môn tại Trường

THPT Triệu Sơn 5 được chú trọng, thống nhất từ BGH đến các tổ/nhóm chuyênmôn và mỗi giáo viên Bản thân tôi là tổ/nhóm trưởng chuyên môn, một giáoviên dạy Địa lí tôi luôn xác định “muốn khơi dậy niềm đam mê, bồi đắp tình yêucủa học sinh đối với môn học cần phải chú trọng đổi mới không chỉ trong hoạtđộng hình thành kiến thức mà cả trong hoạt động phát triển tư duy, năng lực tựhọc” Vì dạy-học là một hoạt động phức tạp có sự tác động đa chiều, trong đóchất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy học cơ bản phụ thuộc vào chủ thểnhận thức-người học Việc tiếp nhận và hình thành kiến thức kĩ năng lại phụthuộc vào nhiều yếu tố chủ quan của người học như năng lực nhận thức, động cơhọc tập, nổ lực của bản thân

Trang 4

một môi trường học tập chủ động và hiệu quả Dưới đây là các bước thực hiệnchi tiết:

2.3.1 Các bước thực hiện hướng dẫn tự học

Bước 1: Khảo sát thực trạng

- Mục tiêu: Nhằm đánh giá năng lực và nhu cầu học tập của học sinh Tôi tiến hành khảo sát thông qua bảng hỏi gồm các câu hỏi về mức độ hiểu biết cơbản về môn Địa Lí, khả năng tự học, và mong muốn cải thiện kỹ năng học tập

- Tiến hành khảo sát đối với 105 em HS lớp 12 đăng kí nguyện vọng thitốt nghiệp và xét tuyển ĐH năm 2025 về các vấn đề gặp phải trong môn Địa Lí,bao gồm việc tìm hiểu các phương pháp học tập mà các em sử dụng, kiến thức

mà các em cảm thấy khó khăn, những nguồn tài liệu-học liệu mà các em thườngtham khảo, sau đó phân tích kết quả khảo sát giúp GV xác định mức độ tự họccủa học sinh và các vấn đề học sinh cần giáo viên hỗ trợ

Bảng 1: Sử dụng bảng hỏi dưới dạng bảng như sau: Em đánh dấu ( ✔) vào

tương ứng

Em có hiểu biết cơ bản về các khái niệm Địa Lí

không?

Em có tự học môn Địa Lí ngoài giờ học không?

Em thấy tự tin khi làm bài thi môn Địa Li không?

Em có thường xuyên tìm kiếm, tra cứu tư liệu học

tập về Địa Lí không?

Bảng 2: Trả lời có hoặc không bằng cách đánh dấu (✔) vào tương ứng

Em có thường xuyên tự học không?

Em có khó khăn khi học và ôn thi Địa Lí không?

Em có sử dụng tài liệu để tự học và ôn thi môn Địa

Lí không?

Em có thường xuyên tự tìm kiếm, tra cứu tư liệu học

tập trên hệ thống thông tin mạng Internet và sử dụng

công nghệ để tự học và ôn thi không?

Em có biết cách lập kế hoạch để tự học và ôn thi

không?

Bảng 3: Thói quen và hình thức tự học phổ biến của em

(Em thường học theo cách nào? Đánh dấu ✔ ô phù hợp với em)

Tự đọc SGK và làm bài tập trong sách giáo khoa

Ghi chép, làm sơ đồ tư duy

Tìm kiếm thông tin trên internet (YouTube,

Wikipedia, trang giáo dục…)

Tra cứu số liệu thực tiễn (báo, thời sự, biểu đồ, thực

tế…)

Trang 5

kiến thức Kết quả là các em gặp khó khăn trong việc tự giải quyết bài tập hoặclàm bài kiểm tra mà không có sự trợ giúp của giáo viên.

2.2.2.3 Học sinh thiếu động lực và sự tự tin

Nhiều học sinh cảm thấy lo lắng và thiếu tự tin khi đối diện với kỳ thiHSG Sự thiếu động lực này có thể xuất phát từ việc không có kế hoạch học tập

rõ ràng hoặc không nhận thấy được lộ trình học tập của mình

Ví dụ: khi phải làm bài thi thử, nhiều em không biết cách phân bổ thời

gian hợp lý hoặc không biết nên ôn tập những phần nào là quan trọng, dẫn đếnkết quả không như mong muốn

2.2.2.4 Học sinh thiếu tài liệu học tập

Nhiều học sinh không có đủ tài liệu để tham khảo hoặc ôn tập hiệu quả.Các SGK hiện tại thường không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu sâu của họcsinh về môn Địa Lí Hơn nữa, việc tìm kiếm tài liệu ngoài sách giáo khoa cũnggặp khó khăn do thiếu kỹ năng tìm kiếm thông tin và phân tích tài liệu

2.2.2.5 Áp lực thi

Kì thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển đại học ngày càng trở nên cạnh tranh,khiến cho học sinh cảm thấy áp lực và Stress, làm giảm hiệu suất học tập và tậptrung của học sinh vào việc ôn thi, các em thường lo lắng việc đạt điểm cao màkhông chú ý đến phương pháp học tập phù hợp

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Chương trình đào tạo giáo viên trước đây chưa chú trọng năng lực hướngdẫn tự học, thiếu công cụ, tài liệu hướng dẫn cụ thể cho cả giáo viên và học sinh

Thực trạng trên chính là động lực thôi thúc để bản thân tôi rút kinhnghiệm từ thực tiễn, mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tựhọc cho học sinh một cách hiệu quả hơn, giúp các em đạt thành tích cao hơntrong các kì thi đặc biệt thi HSG và thi tốt nghiệp lớp 12

2.3 Các giải pháp sử dụng để hướng dẫn học sinh tự học

Để giải quyết những vấn đề nêu trên và nâng cao khả năng tự học cho họcsinh lớp 12 trong môn Địa Lí, tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể, nhằm tạo ra

Trang 6

“hướng dẫn học sinh tự học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đặc biệt hơn kể từkhi TT29 cấm dạy thêm, học thêm trong nhà trường được ban hành và đưa vào

áp dụng từ sau ngày 14/02/2025 thì việc hướng dẫn học sinh tự học càng trở nênquan trọng hơn hết

Sáng kiến này được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết, giảiquyết các vấn đề mà học sinh thường gặp phải trong quá trình ôn thi và thựchiện các kì thi Việc hướng dẫn HS biết cách tự học, tự nghiên cứu và vận dụngkiến thức là yếu tố quan trọng giúp các em không chỉ đạt thành tích cao trongcác kỳ thi mà còn phát triển kĩ năng tự học và năng lực học tập suốt đời

Việc nghiên cứu về phương pháp tự học để viết sáng kiến kinh nghiệmnày cần dựa trên một số lý thuyết và khái niệm cơ bản liên quan đến tự học,phương pháp giảng dạy và sự phát triển năng lực học tập của học sinh Dưới đây

là những cơ sở lý luận định hướng cho việc nghiên cứu và tìm kiếm giải phápkhắc phục những khó khăn đã trình bày trong phần đặt vấn đề

2.1.1 Căn cứ pháp lý:

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 nêu rõ: “ tập trung dạy

cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực ”.[3]

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT (ngày 26/12/2018) nhấn mạnh vai trò

của “phát triển năng lực tự học” như một trong các năng lực cốt lõi của học sinh Đặt ra yêu cầu giáo viên hướng dẫn học sinh “tự học, tự nghiên cứu tài liệu,

Thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT (ngày 26/8/2020) về: Sửa đổi, bổ sung

một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung

học phổ thông: Đưa tiêu chí đánh giá “ý thức, thái độ học tập” bao gồm cả năng lực tự học của học sinh Khuyến khích đánh giá thông qua “dự án học tập, sản

Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH (ngày 18/12/2020) khuyến khích

“lồng ghép hoạt động hướng dẫn tự học” trong kế hoạch bài dạy Xây dựng các nhiệm vụ học tập đa dạng “theo hướng mở để HS tự nghiên cứu, tìm hiểu” [5]

Thông tư 29/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hiệu lực

từ ngày 20/12/2021) quy định về DT-HT Thông tư 29 gián tiếp góp phần hạnchế dạy thêm học thêm, từ đó thúc đẩy vai trò của tự học Tuy nhiên cần sự đổi

Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/01/2022

với mục tiêu: "Phát triển năng lực học suốt đời, tự học, tự thích ứng"; Định

Ngoài ra, yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học còn được cụ thểhóa trong các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học hằng năm của bộGiáo dục và đào tạo; hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của sở Giáo dục vàđào tạo; kế hoạch năm học của nhà trường và của mỗi giáo viên

Trang 7

2.1.2 Mục đích, vai trò của tự học

Tự học là quá trình học sinh chủ động tìm kiếm kiến thức và tổ chức việchọc của mình mà không cần sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Đây là mộthình thức học tập giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng

tự quản lý thời gian học tập

Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc học nói chung và học- ôn luyệnthi môn Địa Lí 12 nói riêng đòi hỏi học sinh phải nắm vững cả kiến thức lýthuyết và kĩ năng tính toán cơ bản, kĩ năng phân tích bảng số liệu, nhận dạng vàphân tích biểu đồ, lập sơ đồ tư duy- hệ thống hóa kiến thức trọng tâm của bàihọc

Trước hết, tự học giúp học sinh chủ động tiếp cận và hệ thống hóa khốilượng kiến thức lý thuyết từ tự nhiên, dân cư - xã hội, đến các ngành kinh tế vàvùng kinh tế của Việt Nam

Thông qua việc đọc sách giáo kho (SGK), tra cứu tài liệu, thu thập thôngtin từ mạng internet, ứng dụng công nghệ số, công nghệ trí tuệ nhân tạo trongviệc giải quyết các vấn đề liên quan đến kiến thức, kĩ năng của môn học nhằmrèn luyền tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh, đặc biệt môn Địa Lítrong CTGDPT 2018 còn được cập nhật cả ứng dụng số: tính toán, xử lí các sốliệu, thông tin từ thực tế một trong những kĩ năng quan trọng của đề thi với tổng

số điểm lên tới 2,75 điểm thay cho phần kĩ năng Át lát trước đây là 3,75 điểm.Đây là một phần mới và khó đối với học sinh có khả năng tư duy thấp và họcthiên về các môn khoa học xã hội Việc luyện tập thường xuyên giúp học sinhtăng khả năng tư duy logic và lập luận chặt chẽ

Quá trình tự học còn góp phần hình thành thái độ học tập tích cực, ý thức

tự chịu trách nhiệm và khả năng tự điều chỉnh phương pháp học Đây là nhữngphẩm chất cần thiết để học sinh phát triển bền vững trong môi trường học tập

Vai trò của tự học trong tiết học Địa Lí: Tự học không chỉ diễn ra ngoài

giờ mà còn ngay trong tiết học Khi học sinh chủ động đọc tài liệu, khai thác bản

đồ, biểu đồ, tự rút ra nhận xét từ bảng số liệu thì quá trình học sẽ trở nên sâusắc và bền vững hơn Tự học giúp học sinh hình thành năng lực tư duy độc lập,phát hiện và giải quyết vấn đề về, từ đó tiếp thu kiến thức bằng sự khám phá vàphản biện tích cực Đây là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng và chiều sâucủa mỗi tiết học Địa Lí

Xét từ góc độ tâm lý và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh lớp 12,

có thể thấy rằng nhu cầu tìm hiểu, phát triển tư duy kiến thức, kĩ năng, cảm xúcthẩm mỹ là rất lớn Nhưng các em có tư tưởng muốn tự khám phá, thích độc lậpsuy nghĩ, không thích bị áp đặt

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài

Căn cứ các văn bản chỉ đạo và thực tế giảng dạy và ôn thi cho học sinh

lớp 12 môn Địa Lí, tôi nhận thấy: chương trình giáo dục phổ thông mới “nănglực tự học là năng lực cốt lõi mà học sinh cần phát triển” Tuy nhiên thực tế chothấy rằng: vai trò của GV trong việc hướng dẫn học sinh tự học chưa cao, chưa

Trang 8

+ Giáo viên môn Địa Lí: Các giáo viên sẽ đóng vai trò là người hướngdẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học, từ đó giúp họ cải thiện phương phápgiảng dạy của mình.

+ Phụ huynh học sinh: có thể tham gia vào quá trình tự học của con emmình thông qua việc khuyến khích, động viên, khích lệ con em tự học và cungcấp điều kiện học tập thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả tự học của con

1.3.4 Thời gian áp dụng:

Sáng kiến sẽ được triển khai và áp dụng trong chương trình Giáo dục

2018 nhằm đảm bảo thời gian đủ để thực hiện, ôn luyện, đánh giá và hoàn thiện

kỹ năng tự học trước các kỳ thi Tạo ra cơ hội học tập cho tất cả các em học sinh đặc biệt HS lớp 12 ôn thi tốt nghiệp và HSG Tạo điều kiện cho giáo viên, phụhuynh cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và tối ưu hóa quá trìnhhọc tập của học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn, quan sát, phân tích

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc học tập và ôn thi môn Địa

Lí lớp 12- THPT, ôn thi học sinh giỏi (HSG) không chỉ đơn thuần là việc truyềnthụ kiến thức mà bao hàm hơn hết là việc phát triển năng lực tự học, năng lực tưduy sáng tạo cho học sinh (HS) Khi đối diện với áp lực của các kì thi trongchương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) đã rất nhiều em HS gặpkhó khăn trọng việc tự học, tự củng cố kiến thức, kĩ năng một cách hiệu quả

Điều này dẫn tới việc “không đạt được kết quả cao như mong muốn, thiếu tự

tin, giảm hứng thú và đam mê môn học học tập”

Với chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc “hướng dẫn học sinh tự

học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với môn Địa Lí Khác với

chương trình cũ, cấu trúc đề thi mới đã “loại bỏ phần kĩ năng sử dụng Atlat”, tha

y vào đó là “tăng cường các yêu cầu về tư duy logic, tính toán, xử lí và phân tích

số liệu thực tiễn” Do đó, việc tổ chức hoạt động tự học không chỉ giúp học sinhchủ động tiếp cận kiến thức mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tư duyphản biện - những phẩm chất cốt lõi của công dân thế kỉ XXI Học sinh đượchướng dẫn cách đọc bảng số liệu, xác định biểu đồ, phân tích biểu đồ, liên hệkiến thức với thực tiễn địa phương sẽ hình thành được kĩ năng học tập suốt đời,sẵn sàng tham gia các kì thi với tâm thế tự tin và chủ động Việc đổi mới cáchhọc từ “học thuộc - học chép” sang “học hiểu - học làm - học sáng tạo” chính là

chìa khóa giúp học sinh không chỉ “học tốt môn Địa Lí”, mà còn đạt hiệu quả

cao trong các kì thi HSG và tốt nghiệp theo định hướng phát triển năng lực Việc

Trang 9

kiến thức Kết quả là các em gặp khó khăn trong việc tự giải quyết bài tập hoặclàm bài kiểm tra mà không có sự trợ giúp của giáo viên.

2.2.2.3 Học sinh thiếu động lực và sự tự tin

Nhiều học sinh cảm thấy lo lắng và thiếu tự tin khi đối diện với kỳ thiHSG Sự thiếu động lực này có thể xuất phát từ việc không có kế hoạch học tập

rõ ràng hoặc không nhận thấy được lộ trình học tập của mình

Ví dụ: khi phải làm bài thi thử, nhiều em không biết cách phân bổ thời

gian hợp lý hoặc không biết nên ôn tập những phần nào là quan trọng, dẫn đếnkết quả không như mong muốn

2.2.2.4 Học sinh thiếu tài liệu học tập

Nhiều học sinh không có đủ tài liệu để tham khảo hoặc ôn tập hiệu quả.Các SGK hiện tại thường không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu sâu của họcsinh về môn Địa Lí Hơn nữa, việc tìm kiếm tài liệu ngoài sách giáo khoa cũnggặp khó khăn do thiếu kỹ năng tìm kiếm thông tin và phân tích tài liệu

2.2.2.5 Áp lực thi

Kì thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển đại học ngày càng trở nên cạnh tranh,khiến cho học sinh cảm thấy áp lực và Stress, làm giảm hiệu suất học tập và tậptrung của học sinh vào việc ôn thi, các em thường lo lắng việc đạt điểm cao màkhông chú ý đến phương pháp học tập phù hợp

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Chương trình đào tạo giáo viên trước đây chưa chú trọng năng lực hướngdẫn tự học, thiếu công cụ, tài liệu hướng dẫn cụ thể cho cả giáo viên và học sinh

Thực trạng trên chính là động lực thôi thúc để bản thân tôi rút kinhnghiệm từ thực tiễn, mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tựhọc cho học sinh một cách hiệu quả hơn, giúp các em đạt thành tích cao hơntrong các kì thi đặc biệt thi HSG và thi tốt nghiệp lớp 12

2.3 Các giải pháp sử dụng để hướng dẫn học sinh tự học

Để giải quyết những vấn đề nêu trên và nâng cao khả năng tự học cho họcsinh lớp 12 trong môn Địa Lí, tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể, nhằm tạo ra

Trang 10

Điểm mới của sáng kiến này là áp dụng các nền tảng học trực tuyến, ứngdụng học tập và tài liệu mở từ internet để giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và tựhọc môn Địa Lí Điều chỉnh cách tiếp cận từ việc giáo viên chỉ truyền đạt kiếnthức sang việc giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trongviệc phát triển kỹ năng tự học và trách nhiệm trong việc quản lý quá trình họctập của bản thân Tạo môi trường học tập linh hoạt hơn, khuyến khích học sinhchủ động tìm tòi, sáng tạo trong việc học, tài liệu học tập mở, và các kỹ thuậthọc tập hiện đại để nâng cao hiệu quả tự học của học sinh đặc biệt kể từ khi ápdụng TT29 của Bộ giáo dục về “cấm dạy thêm, học thêm trong nhà trường từ

học tập tích cực, khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập và khả năng tựhọc, từ đó nâng cao hiệu quả ôn thi môn Địa Lí

Xuất phát từ những lí do nêu trên và qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều

năm của bản thân, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực

tự học cho học sinh trong ôn thi Địa Lí 12 - THPT” làm sáng kiến kinh nghiệm

của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nâng cao kết quả và năng lực tự học của học sinh lớp 12 trong ôn thi

môn Địa Lí

- Xây dựng tài liệu học tập tự học cho học sinh.

- Tổ chức các buổi tự học trên lớp, học trực tuyến và ngoại khóa để hỗ trợhọc sinh

- Tạo ra môi trường học tập tích cực

- Đề xuất các giài pháp nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao năng lực

tư duy sáng tạo, năng lực tự học và ứng dụng công nghệ số, vận dụng kiến thứcvào giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống cho học sinh

1.3 Đối tượng và phạm vi áp dụng của sáng kiến:

Sáng kiến này có phạm vi áp dụng rộng rãi:

1.3.1 Phạm vi áp dụng:

Sáng kiến sẽ được thực hiện tại các trường trung học phổ thông trên địabàn, đặc biệt là những trường có tổ chức ôn thi học sinh giỏi môn Địa Lí, ôn thitốt nghiệp lớp 12 Đồng thời, sáng kiến cũng có thể được mở rộng ra một sốtrung tâm ôn luyện và việc học ngoài giờ lên lớp tại địa phương

+ Học sinh lớp 12: Sáng kiến được thiết kế chủ yếu dành cho học sinh lớp

12 đang trong quá trình ôn thi môn Địa Lí, nhằm giúp các em nâng cao khả năng

tự học và chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi

Trang 11

2.1.2 Mục đích, vai trò của tự học

Tự học là quá trình học sinh chủ động tìm kiếm kiến thức và tổ chức việchọc của mình mà không cần sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Đây là mộthình thức học tập giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng

tự quản lý thời gian học tập

Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc học nói chung và học- ôn luyệnthi môn Địa Lí 12 nói riêng đòi hỏi học sinh phải nắm vững cả kiến thức lýthuyết và kĩ năng tính toán cơ bản, kĩ năng phân tích bảng số liệu, nhận dạng vàphân tích biểu đồ, lập sơ đồ tư duy- hệ thống hóa kiến thức trọng tâm của bàihọc

Trước hết, tự học giúp học sinh chủ động tiếp cận và hệ thống hóa khốilượng kiến thức lý thuyết từ tự nhiên, dân cư - xã hội, đến các ngành kinh tế vàvùng kinh tế của Việt Nam

Thông qua việc đọc sách giáo kho (SGK), tra cứu tài liệu, thu thập thôngtin từ mạng internet, ứng dụng công nghệ số, công nghệ trí tuệ nhân tạo trongviệc giải quyết các vấn đề liên quan đến kiến thức, kĩ năng của môn học nhằmrèn luyền tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh, đặc biệt môn Địa Lítrong CTGDPT 2018 còn được cập nhật cả ứng dụng số: tính toán, xử lí các sốliệu, thông tin từ thực tế một trong những kĩ năng quan trọng của đề thi với tổng

số điểm lên tới 2,75 điểm thay cho phần kĩ năng Át lát trước đây là 3,75 điểm.Đây là một phần mới và khó đối với học sinh có khả năng tư duy thấp và họcthiên về các môn khoa học xã hội Việc luyện tập thường xuyên giúp học sinhtăng khả năng tư duy logic và lập luận chặt chẽ

Quá trình tự học còn góp phần hình thành thái độ học tập tích cực, ý thức

tự chịu trách nhiệm và khả năng tự điều chỉnh phương pháp học Đây là nhữngphẩm chất cần thiết để học sinh phát triển bền vững trong môi trường học tập

Vai trò của tự học trong tiết học Địa Lí: Tự học không chỉ diễn ra ngoài

giờ mà còn ngay trong tiết học Khi học sinh chủ động đọc tài liệu, khai thác bản

đồ, biểu đồ, tự rút ra nhận xét từ bảng số liệu thì quá trình học sẽ trở nên sâusắc và bền vững hơn Tự học giúp học sinh hình thành năng lực tư duy độc lập,phát hiện và giải quyết vấn đề về, từ đó tiếp thu kiến thức bằng sự khám phá vàphản biện tích cực Đây là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng và chiều sâucủa mỗi tiết học Địa Lí

Xét từ góc độ tâm lý và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh lớp 12,

có thể thấy rằng nhu cầu tìm hiểu, phát triển tư duy kiến thức, kĩ năng, cảm xúcthẩm mỹ là rất lớn Nhưng các em có tư tưởng muốn tự khám phá, thích độc lậpsuy nghĩ, không thích bị áp đặt

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài

Căn cứ các văn bản chỉ đạo và thực tế giảng dạy và ôn thi cho học sinh

lớp 12 môn Địa Lí, tôi nhận thấy: chương trình giáo dục phổ thông mới “nănglực tự học là năng lực cốt lõi mà học sinh cần phát triển” Tuy nhiên thực tế chothấy rằng: vai trò của GV trong việc hướng dẫn học sinh tự học chưa cao, chưa

Trang 12

đầy đủ, hiệu quả còn hạn chế, dẫn đến nhiều học sinh còn khó khăn, học thụđộng, thiếu phương pháp và động lực tự học dẫn đến tình trạng học sinh gặpnhiều khó khăn trong việc tự học và chuẩn bị cho các kỳ thi định kì, thi HSG vàthi tốt nghiệp THPT Cụ thể như sau:

2.2.1 Thực trạng việc hướng dẫn tự học của giáo viên

Ứng dụng CNTT, nền tảng trực tuyến (Zalo, Goole classroom, để hỗtrợ học sinh tự học và kiểm tra kết quả một cách độc lập;

Một số giáo viên đã tổ chức hoạt động học theo nhóm, theo dự án, dạyhọc thực nghiệm-trãi nghiệm thực tế, giúp HS rèn luyện và nâng cao năng lựchọc tập, biết vận dụng lý thuyết học được vào thực tiễn đời sống

2.2.1.2 Hạn chế

Nhiều giáo viên chưa mạnh dạn ứng dụng CNTT, chưa sử dụng phươngpháp dạy học hiện đại vào giảng dạy, vẫn còn thói quen truyền thụ kiến thức mà

ít dạy kĩ năng, vẫn chủ yếu dừng lại ở việc giao bài tập về nhà;

Thiếu định hướng cụ thể, không hướng dẫn học sinh cách học, cách đọc

và nghiên cứu học liệu, ghi chép, tra cứu thông tin, lập kế hoạch học tập và tựkiểm tra, ;

Chưa hoặc ít theo dõi và đánh giá quá trình tự học của HS ở nhà, chưa cóphản hồi, chưa động viên khích lệ tinh thần và điều chỉnh quá trình tự học;

Một số GV vẫn còn tư duy “thầy giảng- trò nghe và ghi chép”, ngại thayđổi, không tự tin khi áp dụng phương pháp dạy học mới;

Lượng kiến thức trong chương trình nặng, thời gian trên lớp ít dẫn đếnviệc hướng dẫn học sinh tự học bị hạn chế nhiều,

2.2.2 Thực trạng tự học về phía học sinh

2.2.2.1 Học sinh thiếu kiến thức nền tảng vững chắc

Nhiều học sinh khi bước vào lớp 12 chưa có nền tảng kiến thức vững chắc

từ các lớp trước Khi gặp các bài kiểm tra có tính chất phân tích và ứng dụngcao, các em thường bỡ ngỡ và không đạt yêu cầu

2.2.2.2 Học sinh thiếu phương pháp và kỹ năng tự học

Hầu hết học sinh quen với phương pháp học thụ động, chỉ ghi chú những

gì giáo viên giảng dạy mà không tự tìm tòi, nghiên cứu thêm Nhiều em học đốiphó, chưa chủ động, chưa biết cách quản lí và phân bổ thời gian học tập hoặctìm kiếm học liệu phù hợp;

Ví dụ: Sau khi học xong phần nội dung về sự phân bố dân cư, học sinh ít

có thói quen tìm kiếm thông tin từ sách báo, tài liệu hoặc internet để mở rộng

Trang 13

“hướng dẫn học sinh tự học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đặc biệt hơn kể từkhi TT29 cấm dạy thêm, học thêm trong nhà trường được ban hành và đưa vào

áp dụng từ sau ngày 14/02/2025 thì việc hướng dẫn học sinh tự học càng trở nênquan trọng hơn hết

Sáng kiến này được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết, giảiquyết các vấn đề mà học sinh thường gặp phải trong quá trình ôn thi và thựchiện các kì thi Việc hướng dẫn HS biết cách tự học, tự nghiên cứu và vận dụngkiến thức là yếu tố quan trọng giúp các em không chỉ đạt thành tích cao trongcác kỳ thi mà còn phát triển kĩ năng tự học và năng lực học tập suốt đời

Việc nghiên cứu về phương pháp tự học để viết sáng kiến kinh nghiệmnày cần dựa trên một số lý thuyết và khái niệm cơ bản liên quan đến tự học,phương pháp giảng dạy và sự phát triển năng lực học tập của học sinh Dưới đây

là những cơ sở lý luận định hướng cho việc nghiên cứu và tìm kiếm giải phápkhắc phục những khó khăn đã trình bày trong phần đặt vấn đề

2.1.1 Căn cứ pháp lý:

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 nêu rõ: “ tập trung dạy

cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực ”.[3]

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT (ngày 26/12/2018) nhấn mạnh vai trò

của “phát triển năng lực tự học” như một trong các năng lực cốt lõi của học sinh Đặt ra yêu cầu giáo viên hướng dẫn học sinh “tự học, tự nghiên cứu tài liệu,

Thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT (ngày 26/8/2020) về: Sửa đổi, bổ sung

một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung

học phổ thông: Đưa tiêu chí đánh giá “ý thức, thái độ học tập” bao gồm cả năng lực tự học của học sinh Khuyến khích đánh giá thông qua “dự án học tập, sản

Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH (ngày 18/12/2020) khuyến khích

“lồng ghép hoạt động hướng dẫn tự học” trong kế hoạch bài dạy Xây dựng các nhiệm vụ học tập đa dạng “theo hướng mở để HS tự nghiên cứu, tìm hiểu” [5]

Thông tư 29/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hiệu lực

từ ngày 20/12/2021) quy định về DT-HT Thông tư 29 gián tiếp góp phần hạnchế dạy thêm học thêm, từ đó thúc đẩy vai trò của tự học Tuy nhiên cần sự đổi

Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/01/2022

với mục tiêu: "Phát triển năng lực học suốt đời, tự học, tự thích ứng"; Định

Ngoài ra, yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học còn được cụ thểhóa trong các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học hằng năm của bộGiáo dục và đào tạo; hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của sở Giáo dục vàđào tạo; kế hoạch năm học của nhà trường và của mỗi giáo viên

Trang 14

“hướng dẫn học sinh tự học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đặc biệt hơn kể từkhi TT29 cấm dạy thêm, học thêm trong nhà trường được ban hành và đưa vào

áp dụng từ sau ngày 14/02/2025 thì việc hướng dẫn học sinh tự học càng trở nênquan trọng hơn hết

Sáng kiến này được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết, giảiquyết các vấn đề mà học sinh thường gặp phải trong quá trình ôn thi và thựchiện các kì thi Việc hướng dẫn HS biết cách tự học, tự nghiên cứu và vận dụngkiến thức là yếu tố quan trọng giúp các em không chỉ đạt thành tích cao trongcác kỳ thi mà còn phát triển kĩ năng tự học và năng lực học tập suốt đời

Việc nghiên cứu về phương pháp tự học để viết sáng kiến kinh nghiệmnày cần dựa trên một số lý thuyết và khái niệm cơ bản liên quan đến tự học,phương pháp giảng dạy và sự phát triển năng lực học tập của học sinh Dưới đây

là những cơ sở lý luận định hướng cho việc nghiên cứu và tìm kiếm giải phápkhắc phục những khó khăn đã trình bày trong phần đặt vấn đề

2.1.1 Căn cứ pháp lý:

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 nêu rõ: “ tập trung dạy

cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực ”.[3]

Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT (ngày 26/12/2018) nhấn mạnh vai trò

của “phát triển năng lực tự học” như một trong các năng lực cốt lõi của học sinh Đặt ra yêu cầu giáo viên hướng dẫn học sinh “tự học, tự nghiên cứu tài liệu,

Thông tư số 26/2020/TT-BGDĐT (ngày 26/8/2020) về: Sửa đổi, bổ sung

một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung

học phổ thông: Đưa tiêu chí đánh giá “ý thức, thái độ học tập” bao gồm cả năng lực tự học của học sinh Khuyến khích đánh giá thông qua “dự án học tập, sản

Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH (ngày 18/12/2020) khuyến khích

“lồng ghép hoạt động hướng dẫn tự học” trong kế hoạch bài dạy Xây dựng các nhiệm vụ học tập đa dạng “theo hướng mở để HS tự nghiên cứu, tìm hiểu” [5]

Thông tư 29/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hiệu lực

từ ngày 20/12/2021) quy định về DT-HT Thông tư 29 gián tiếp góp phần hạnchế dạy thêm học thêm, từ đó thúc đẩy vai trò của tự học Tuy nhiên cần sự đổi

Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/01/2022

với mục tiêu: "Phát triển năng lực học suốt đời, tự học, tự thích ứng"; Định

Ngoài ra, yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học còn được cụ thểhóa trong các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học hằng năm của bộGiáo dục và đào tạo; hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của sở Giáo dục vàđào tạo; kế hoạch năm học của nhà trường và của mỗi giáo viên

Trang 15

+ Giáo viên môn Địa Lí: Các giáo viên sẽ đóng vai trò là người hướngdẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học, từ đó giúp họ cải thiện phương phápgiảng dạy của mình.

+ Phụ huynh học sinh: có thể tham gia vào quá trình tự học của con emmình thông qua việc khuyến khích, động viên, khích lệ con em tự học và cungcấp điều kiện học tập thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả tự học của con

1.3.4 Thời gian áp dụng:

Sáng kiến sẽ được triển khai và áp dụng trong chương trình Giáo dục

2018 nhằm đảm bảo thời gian đủ để thực hiện, ôn luyện, đánh giá và hoàn thiện

kỹ năng tự học trước các kỳ thi Tạo ra cơ hội học tập cho tất cả các em học sinh đặc biệt HS lớp 12 ôn thi tốt nghiệp và HSG Tạo điều kiện cho giáo viên, phụhuynh cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và tối ưu hóa quá trìnhhọc tập của học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn, quan sát, phân tích

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc học tập và ôn thi môn Địa

Lí lớp 12- THPT, ôn thi học sinh giỏi (HSG) không chỉ đơn thuần là việc truyềnthụ kiến thức mà bao hàm hơn hết là việc phát triển năng lực tự học, năng lực tưduy sáng tạo cho học sinh (HS) Khi đối diện với áp lực của các kì thi trongchương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) đã rất nhiều em HS gặpkhó khăn trọng việc tự học, tự củng cố kiến thức, kĩ năng một cách hiệu quả

Điều này dẫn tới việc “không đạt được kết quả cao như mong muốn, thiếu tự

tin, giảm hứng thú và đam mê môn học học tập”

Với chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc “hướng dẫn học sinh tự

học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với môn Địa Lí Khác với

chương trình cũ, cấu trúc đề thi mới đã “loại bỏ phần kĩ năng sử dụng Atlat”, tha

y vào đó là “tăng cường các yêu cầu về tư duy logic, tính toán, xử lí và phân tích

số liệu thực tiễn” Do đó, việc tổ chức hoạt động tự học không chỉ giúp học sinhchủ động tiếp cận kiến thức mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tư duyphản biện - những phẩm chất cốt lõi của công dân thế kỉ XXI Học sinh đượchướng dẫn cách đọc bảng số liệu, xác định biểu đồ, phân tích biểu đồ, liên hệkiến thức với thực tiễn địa phương sẽ hình thành được kĩ năng học tập suốt đời,sẵn sàng tham gia các kì thi với tâm thế tự tin và chủ động Việc đổi mới cáchhọc từ “học thuộc - học chép” sang “học hiểu - học làm - học sáng tạo” chính là

chìa khóa giúp học sinh không chỉ “học tốt môn Địa Lí”, mà còn đạt hiệu quả

cao trong các kì thi HSG và tốt nghiệp theo định hướng phát triển năng lực Việc

Trang 16

+ Giáo viên môn Địa Lí: Các giáo viên sẽ đóng vai trò là người hướngdẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học, từ đó giúp họ cải thiện phương phápgiảng dạy của mình.

+ Phụ huynh học sinh: có thể tham gia vào quá trình tự học của con emmình thông qua việc khuyến khích, động viên, khích lệ con em tự học và cungcấp điều kiện học tập thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả tự học của con

1.3.4 Thời gian áp dụng:

Sáng kiến sẽ được triển khai và áp dụng trong chương trình Giáo dục

2018 nhằm đảm bảo thời gian đủ để thực hiện, ôn luyện, đánh giá và hoàn thiện

kỹ năng tự học trước các kỳ thi Tạo ra cơ hội học tập cho tất cả các em học sinh đặc biệt HS lớp 12 ôn thi tốt nghiệp và HSG Tạo điều kiện cho giáo viên, phụhuynh cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và tối ưu hóa quá trìnhhọc tập của học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn, quan sát, phân tích

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc học tập và ôn thi môn Địa

Lí lớp 12- THPT, ôn thi học sinh giỏi (HSG) không chỉ đơn thuần là việc truyềnthụ kiến thức mà bao hàm hơn hết là việc phát triển năng lực tự học, năng lực tưduy sáng tạo cho học sinh (HS) Khi đối diện với áp lực của các kì thi trongchương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) đã rất nhiều em HS gặpkhó khăn trọng việc tự học, tự củng cố kiến thức, kĩ năng một cách hiệu quả

Điều này dẫn tới việc “không đạt được kết quả cao như mong muốn, thiếu tự

tin, giảm hứng thú và đam mê môn học học tập”

Với chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc “hướng dẫn học sinh tự

học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với môn Địa Lí Khác với

chương trình cũ, cấu trúc đề thi mới đã “loại bỏ phần kĩ năng sử dụng Atlat”, tha

y vào đó là “tăng cường các yêu cầu về tư duy logic, tính toán, xử lí và phân tích

số liệu thực tiễn” Do đó, việc tổ chức hoạt động tự học không chỉ giúp học sinhchủ động tiếp cận kiến thức mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tư duyphản biện - những phẩm chất cốt lõi của công dân thế kỉ XXI Học sinh đượchướng dẫn cách đọc bảng số liệu, xác định biểu đồ, phân tích biểu đồ, liên hệkiến thức với thực tiễn địa phương sẽ hình thành được kĩ năng học tập suốt đời,sẵn sàng tham gia các kì thi với tâm thế tự tin và chủ động Việc đổi mới cáchhọc từ “học thuộc - học chép” sang “học hiểu - học làm - học sáng tạo” chính là

chìa khóa giúp học sinh không chỉ “học tốt môn Địa Lí”, mà còn đạt hiệu quả

cao trong các kì thi HSG và tốt nghiệp theo định hướng phát triển năng lực Việc

Trang 17

đầy đủ, hiệu quả còn hạn chế, dẫn đến nhiều học sinh còn khó khăn, học thụđộng, thiếu phương pháp và động lực tự học dẫn đến tình trạng học sinh gặpnhiều khó khăn trong việc tự học và chuẩn bị cho các kỳ thi định kì, thi HSG vàthi tốt nghiệp THPT Cụ thể như sau:

2.2.1 Thực trạng việc hướng dẫn tự học của giáo viên

Ứng dụng CNTT, nền tảng trực tuyến (Zalo, Goole classroom, để hỗtrợ học sinh tự học và kiểm tra kết quả một cách độc lập;

Một số giáo viên đã tổ chức hoạt động học theo nhóm, theo dự án, dạyhọc thực nghiệm-trãi nghiệm thực tế, giúp HS rèn luyện và nâng cao năng lựchọc tập, biết vận dụng lý thuyết học được vào thực tiễn đời sống

2.2.1.2 Hạn chế

Nhiều giáo viên chưa mạnh dạn ứng dụng CNTT, chưa sử dụng phươngpháp dạy học hiện đại vào giảng dạy, vẫn còn thói quen truyền thụ kiến thức mà

ít dạy kĩ năng, vẫn chủ yếu dừng lại ở việc giao bài tập về nhà;

Thiếu định hướng cụ thể, không hướng dẫn học sinh cách học, cách đọc

và nghiên cứu học liệu, ghi chép, tra cứu thông tin, lập kế hoạch học tập và tựkiểm tra, ;

Chưa hoặc ít theo dõi và đánh giá quá trình tự học của HS ở nhà, chưa cóphản hồi, chưa động viên khích lệ tinh thần và điều chỉnh quá trình tự học;

Một số GV vẫn còn tư duy “thầy giảng- trò nghe và ghi chép”, ngại thayđổi, không tự tin khi áp dụng phương pháp dạy học mới;

Lượng kiến thức trong chương trình nặng, thời gian trên lớp ít dẫn đếnviệc hướng dẫn học sinh tự học bị hạn chế nhiều,

2.2.2 Thực trạng tự học về phía học sinh

2.2.2.1 Học sinh thiếu kiến thức nền tảng vững chắc

Nhiều học sinh khi bước vào lớp 12 chưa có nền tảng kiến thức vững chắc

từ các lớp trước Khi gặp các bài kiểm tra có tính chất phân tích và ứng dụngcao, các em thường bỡ ngỡ và không đạt yêu cầu

2.2.2.2 Học sinh thiếu phương pháp và kỹ năng tự học

Hầu hết học sinh quen với phương pháp học thụ động, chỉ ghi chú những

gì giáo viên giảng dạy mà không tự tìm tòi, nghiên cứu thêm Nhiều em học đốiphó, chưa chủ động, chưa biết cách quản lí và phân bổ thời gian học tập hoặctìm kiếm học liệu phù hợp;

Ví dụ: Sau khi học xong phần nội dung về sự phân bố dân cư, học sinh ít

có thói quen tìm kiếm thông tin từ sách báo, tài liệu hoặc internet để mở rộng

Trang 18

đầy đủ, hiệu quả còn hạn chế, dẫn đến nhiều học sinh còn khó khăn, học thụđộng, thiếu phương pháp và động lực tự học dẫn đến tình trạng học sinh gặpnhiều khó khăn trong việc tự học và chuẩn bị cho các kỳ thi định kì, thi HSG vàthi tốt nghiệp THPT Cụ thể như sau:

2.2.1 Thực trạng việc hướng dẫn tự học của giáo viên

Ứng dụng CNTT, nền tảng trực tuyến (Zalo, Goole classroom, để hỗtrợ học sinh tự học và kiểm tra kết quả một cách độc lập;

Một số giáo viên đã tổ chức hoạt động học theo nhóm, theo dự án, dạyhọc thực nghiệm-trãi nghiệm thực tế, giúp HS rèn luyện và nâng cao năng lựchọc tập, biết vận dụng lý thuyết học được vào thực tiễn đời sống

2.2.1.2 Hạn chế

Nhiều giáo viên chưa mạnh dạn ứng dụng CNTT, chưa sử dụng phươngpháp dạy học hiện đại vào giảng dạy, vẫn còn thói quen truyền thụ kiến thức mà

ít dạy kĩ năng, vẫn chủ yếu dừng lại ở việc giao bài tập về nhà;

Thiếu định hướng cụ thể, không hướng dẫn học sinh cách học, cách đọc

và nghiên cứu học liệu, ghi chép, tra cứu thông tin, lập kế hoạch học tập và tựkiểm tra, ;

Chưa hoặc ít theo dõi và đánh giá quá trình tự học của HS ở nhà, chưa cóphản hồi, chưa động viên khích lệ tinh thần và điều chỉnh quá trình tự học;

Một số GV vẫn còn tư duy “thầy giảng- trò nghe và ghi chép”, ngại thayđổi, không tự tin khi áp dụng phương pháp dạy học mới;

Lượng kiến thức trong chương trình nặng, thời gian trên lớp ít dẫn đếnviệc hướng dẫn học sinh tự học bị hạn chế nhiều,

2.2.2 Thực trạng tự học về phía học sinh

2.2.2.1 Học sinh thiếu kiến thức nền tảng vững chắc

Nhiều học sinh khi bước vào lớp 12 chưa có nền tảng kiến thức vững chắc

từ các lớp trước Khi gặp các bài kiểm tra có tính chất phân tích và ứng dụngcao, các em thường bỡ ngỡ và không đạt yêu cầu

2.2.2.2 Học sinh thiếu phương pháp và kỹ năng tự học

Hầu hết học sinh quen với phương pháp học thụ động, chỉ ghi chú những

gì giáo viên giảng dạy mà không tự tìm tòi, nghiên cứu thêm Nhiều em học đốiphó, chưa chủ động, chưa biết cách quản lí và phân bổ thời gian học tập hoặctìm kiếm học liệu phù hợp;

Ví dụ: Sau khi học xong phần nội dung về sự phân bố dân cư, học sinh ít

có thói quen tìm kiếm thông tin từ sách báo, tài liệu hoặc internet để mở rộng

Trang 19

+ Giáo viên môn Địa Lí: Các giáo viên sẽ đóng vai trò là người hướngdẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học, từ đó giúp họ cải thiện phương phápgiảng dạy của mình.

+ Phụ huynh học sinh: có thể tham gia vào quá trình tự học của con emmình thông qua việc khuyến khích, động viên, khích lệ con em tự học và cungcấp điều kiện học tập thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả tự học của con

1.3.4 Thời gian áp dụng:

Sáng kiến sẽ được triển khai và áp dụng trong chương trình Giáo dục

2018 nhằm đảm bảo thời gian đủ để thực hiện, ôn luyện, đánh giá và hoàn thiện

kỹ năng tự học trước các kỳ thi Tạo ra cơ hội học tập cho tất cả các em học sinh đặc biệt HS lớp 12 ôn thi tốt nghiệp và HSG Tạo điều kiện cho giáo viên, phụhuynh cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và tối ưu hóa quá trìnhhọc tập của học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn, quan sát, phân tích

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc học tập và ôn thi môn Địa

Lí lớp 12- THPT, ôn thi học sinh giỏi (HSG) không chỉ đơn thuần là việc truyềnthụ kiến thức mà bao hàm hơn hết là việc phát triển năng lực tự học, năng lực tưduy sáng tạo cho học sinh (HS) Khi đối diện với áp lực của các kì thi trongchương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) đã rất nhiều em HS gặpkhó khăn trọng việc tự học, tự củng cố kiến thức, kĩ năng một cách hiệu quả

Điều này dẫn tới việc “không đạt được kết quả cao như mong muốn, thiếu tự

tin, giảm hứng thú và đam mê môn học học tập”

Với chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc “hướng dẫn học sinh tự

học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với môn Địa Lí Khác với

chương trình cũ, cấu trúc đề thi mới đã “loại bỏ phần kĩ năng sử dụng Atlat”, tha

y vào đó là “tăng cường các yêu cầu về tư duy logic, tính toán, xử lí và phân tích

số liệu thực tiễn” Do đó, việc tổ chức hoạt động tự học không chỉ giúp học sinhchủ động tiếp cận kiến thức mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tư duyphản biện - những phẩm chất cốt lõi của công dân thế kỉ XXI Học sinh đượchướng dẫn cách đọc bảng số liệu, xác định biểu đồ, phân tích biểu đồ, liên hệkiến thức với thực tiễn địa phương sẽ hình thành được kĩ năng học tập suốt đời,sẵn sàng tham gia các kì thi với tâm thế tự tin và chủ động Việc đổi mới cáchhọc từ “học thuộc - học chép” sang “học hiểu - học làm - học sáng tạo” chính là

chìa khóa giúp học sinh không chỉ “học tốt môn Địa Lí”, mà còn đạt hiệu quả

cao trong các kì thi HSG và tốt nghiệp theo định hướng phát triển năng lực Việc

Trang 20

2.1.2 Mục đích, vai trò của tự học

Tự học là quá trình học sinh chủ động tìm kiếm kiến thức và tổ chức việchọc của mình mà không cần sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Đây là mộthình thức học tập giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng

tự quản lý thời gian học tập

Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc học nói chung và học- ôn luyệnthi môn Địa Lí 12 nói riêng đòi hỏi học sinh phải nắm vững cả kiến thức lýthuyết và kĩ năng tính toán cơ bản, kĩ năng phân tích bảng số liệu, nhận dạng vàphân tích biểu đồ, lập sơ đồ tư duy- hệ thống hóa kiến thức trọng tâm của bàihọc

Trước hết, tự học giúp học sinh chủ động tiếp cận và hệ thống hóa khốilượng kiến thức lý thuyết từ tự nhiên, dân cư - xã hội, đến các ngành kinh tế vàvùng kinh tế của Việt Nam

Thông qua việc đọc sách giáo kho (SGK), tra cứu tài liệu, thu thập thôngtin từ mạng internet, ứng dụng công nghệ số, công nghệ trí tuệ nhân tạo trongviệc giải quyết các vấn đề liên quan đến kiến thức, kĩ năng của môn học nhằmrèn luyền tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh, đặc biệt môn Địa Lítrong CTGDPT 2018 còn được cập nhật cả ứng dụng số: tính toán, xử lí các sốliệu, thông tin từ thực tế một trong những kĩ năng quan trọng của đề thi với tổng

số điểm lên tới 2,75 điểm thay cho phần kĩ năng Át lát trước đây là 3,75 điểm.Đây là một phần mới và khó đối với học sinh có khả năng tư duy thấp và họcthiên về các môn khoa học xã hội Việc luyện tập thường xuyên giúp học sinhtăng khả năng tư duy logic và lập luận chặt chẽ

Quá trình tự học còn góp phần hình thành thái độ học tập tích cực, ý thức

tự chịu trách nhiệm và khả năng tự điều chỉnh phương pháp học Đây là nhữngphẩm chất cần thiết để học sinh phát triển bền vững trong môi trường học tập

Vai trò của tự học trong tiết học Địa Lí: Tự học không chỉ diễn ra ngoài

giờ mà còn ngay trong tiết học Khi học sinh chủ động đọc tài liệu, khai thác bản

đồ, biểu đồ, tự rút ra nhận xét từ bảng số liệu thì quá trình học sẽ trở nên sâusắc và bền vững hơn Tự học giúp học sinh hình thành năng lực tư duy độc lập,phát hiện và giải quyết vấn đề về, từ đó tiếp thu kiến thức bằng sự khám phá vàphản biện tích cực Đây là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng và chiều sâucủa mỗi tiết học Địa Lí

Xét từ góc độ tâm lý và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh lớp 12,

có thể thấy rằng nhu cầu tìm hiểu, phát triển tư duy kiến thức, kĩ năng, cảm xúcthẩm mỹ là rất lớn Nhưng các em có tư tưởng muốn tự khám phá, thích độc lậpsuy nghĩ, không thích bị áp đặt

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài

Căn cứ các văn bản chỉ đạo và thực tế giảng dạy và ôn thi cho học sinh

lớp 12 môn Địa Lí, tôi nhận thấy: chương trình giáo dục phổ thông mới “nănglực tự học là năng lực cốt lõi mà học sinh cần phát triển” Tuy nhiên thực tế chothấy rằng: vai trò của GV trong việc hướng dẫn học sinh tự học chưa cao, chưa

Trang 21

một môi trường học tập chủ động và hiệu quả Dưới đây là các bước thực hiệnchi tiết:

2.3.1 Các bước thực hiện hướng dẫn tự học

Bước 1: Khảo sát thực trạng

- Mục tiêu: Nhằm đánh giá năng lực và nhu cầu học tập của học sinh Tôi tiến hành khảo sát thông qua bảng hỏi gồm các câu hỏi về mức độ hiểu biết cơbản về môn Địa Lí, khả năng tự học, và mong muốn cải thiện kỹ năng học tập

- Tiến hành khảo sát đối với 105 em HS lớp 12 đăng kí nguyện vọng thitốt nghiệp và xét tuyển ĐH năm 2025 về các vấn đề gặp phải trong môn Địa Lí,bao gồm việc tìm hiểu các phương pháp học tập mà các em sử dụng, kiến thức

mà các em cảm thấy khó khăn, những nguồn tài liệu-học liệu mà các em thườngtham khảo, sau đó phân tích kết quả khảo sát giúp GV xác định mức độ tự họccủa học sinh và các vấn đề học sinh cần giáo viên hỗ trợ

Bảng 1: Sử dụng bảng hỏi dưới dạng bảng như sau: Em đánh dấu ( ✔) vào

tương ứng

Em có hiểu biết cơ bản về các khái niệm Địa Lí

không?

Em có tự học môn Địa Lí ngoài giờ học không?

Em thấy tự tin khi làm bài thi môn Địa Li không?

Em có thường xuyên tìm kiếm, tra cứu tư liệu học

tập về Địa Lí không?

Bảng 2: Trả lời có hoặc không bằng cách đánh dấu (✔) vào tương ứng

Em có thường xuyên tự học không?

Em có khó khăn khi học và ôn thi Địa Lí không?

Em có sử dụng tài liệu để tự học và ôn thi môn Địa

Lí không?

Em có thường xuyên tự tìm kiếm, tra cứu tư liệu học

tập trên hệ thống thông tin mạng Internet và sử dụng

công nghệ để tự học và ôn thi không?

Em có biết cách lập kế hoạch để tự học và ôn thi

không?

Bảng 3: Thói quen và hình thức tự học phổ biến của em

(Em thường học theo cách nào? Đánh dấu ✔ ô phù hợp với em)

Tự đọc SGK và làm bài tập trong sách giáo khoa

Ghi chép, làm sơ đồ tư duy

Tìm kiếm thông tin trên internet (YouTube,

Wikipedia, trang giáo dục…)

Tra cứu số liệu thực tiễn (báo, thời sự, biểu đồ, thực

tế…)

Trang 22

kiến thức Kết quả là các em gặp khó khăn trong việc tự giải quyết bài tập hoặclàm bài kiểm tra mà không có sự trợ giúp của giáo viên.

2.2.2.3 Học sinh thiếu động lực và sự tự tin

Nhiều học sinh cảm thấy lo lắng và thiếu tự tin khi đối diện với kỳ thiHSG Sự thiếu động lực này có thể xuất phát từ việc không có kế hoạch học tập

rõ ràng hoặc không nhận thấy được lộ trình học tập của mình

Ví dụ: khi phải làm bài thi thử, nhiều em không biết cách phân bổ thời

gian hợp lý hoặc không biết nên ôn tập những phần nào là quan trọng, dẫn đếnkết quả không như mong muốn

2.2.2.4 Học sinh thiếu tài liệu học tập

Nhiều học sinh không có đủ tài liệu để tham khảo hoặc ôn tập hiệu quả.Các SGK hiện tại thường không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu sâu của họcsinh về môn Địa Lí Hơn nữa, việc tìm kiếm tài liệu ngoài sách giáo khoa cũnggặp khó khăn do thiếu kỹ năng tìm kiếm thông tin và phân tích tài liệu

2.2.2.5 Áp lực thi

Kì thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển đại học ngày càng trở nên cạnh tranh,khiến cho học sinh cảm thấy áp lực và Stress, làm giảm hiệu suất học tập và tậptrung của học sinh vào việc ôn thi, các em thường lo lắng việc đạt điểm cao màkhông chú ý đến phương pháp học tập phù hợp

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Chương trình đào tạo giáo viên trước đây chưa chú trọng năng lực hướngdẫn tự học, thiếu công cụ, tài liệu hướng dẫn cụ thể cho cả giáo viên và học sinh

Thực trạng trên chính là động lực thôi thúc để bản thân tôi rút kinhnghiệm từ thực tiễn, mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tựhọc cho học sinh một cách hiệu quả hơn, giúp các em đạt thành tích cao hơntrong các kì thi đặc biệt thi HSG và thi tốt nghiệp lớp 12

2.3 Các giải pháp sử dụng để hướng dẫn học sinh tự học

Để giải quyết những vấn đề nêu trên và nâng cao khả năng tự học cho họcsinh lớp 12 trong môn Địa Lí, tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể, nhằm tạo ra

Trang 23

+ Giáo viên môn Địa Lí: Các giáo viên sẽ đóng vai trò là người hướngdẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học, từ đó giúp họ cải thiện phương phápgiảng dạy của mình.

+ Phụ huynh học sinh: có thể tham gia vào quá trình tự học của con emmình thông qua việc khuyến khích, động viên, khích lệ con em tự học và cungcấp điều kiện học tập thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả tự học của con

1.3.4 Thời gian áp dụng:

Sáng kiến sẽ được triển khai và áp dụng trong chương trình Giáo dục

2018 nhằm đảm bảo thời gian đủ để thực hiện, ôn luyện, đánh giá và hoàn thiện

kỹ năng tự học trước các kỳ thi Tạo ra cơ hội học tập cho tất cả các em học sinh đặc biệt HS lớp 12 ôn thi tốt nghiệp và HSG Tạo điều kiện cho giáo viên, phụhuynh cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và tối ưu hóa quá trìnhhọc tập của học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn, quan sát, phân tích

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc học tập và ôn thi môn Địa

Lí lớp 12- THPT, ôn thi học sinh giỏi (HSG) không chỉ đơn thuần là việc truyềnthụ kiến thức mà bao hàm hơn hết là việc phát triển năng lực tự học, năng lực tưduy sáng tạo cho học sinh (HS) Khi đối diện với áp lực của các kì thi trongchương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) đã rất nhiều em HS gặpkhó khăn trọng việc tự học, tự củng cố kiến thức, kĩ năng một cách hiệu quả

Điều này dẫn tới việc “không đạt được kết quả cao như mong muốn, thiếu tự

tin, giảm hứng thú và đam mê môn học học tập”

Với chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc “hướng dẫn học sinh tự

học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với môn Địa Lí Khác với

chương trình cũ, cấu trúc đề thi mới đã “loại bỏ phần kĩ năng sử dụng Atlat”, tha

y vào đó là “tăng cường các yêu cầu về tư duy logic, tính toán, xử lí và phân tích

số liệu thực tiễn” Do đó, việc tổ chức hoạt động tự học không chỉ giúp học sinhchủ động tiếp cận kiến thức mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tư duyphản biện - những phẩm chất cốt lõi của công dân thế kỉ XXI Học sinh đượchướng dẫn cách đọc bảng số liệu, xác định biểu đồ, phân tích biểu đồ, liên hệkiến thức với thực tiễn địa phương sẽ hình thành được kĩ năng học tập suốt đời,sẵn sàng tham gia các kì thi với tâm thế tự tin và chủ động Việc đổi mới cáchhọc từ “học thuộc - học chép” sang “học hiểu - học làm - học sáng tạo” chính là

chìa khóa giúp học sinh không chỉ “học tốt môn Địa Lí”, mà còn đạt hiệu quả

cao trong các kì thi HSG và tốt nghiệp theo định hướng phát triển năng lực Việc

Trang 24

kiến thức Kết quả là các em gặp khó khăn trong việc tự giải quyết bài tập hoặclàm bài kiểm tra mà không có sự trợ giúp của giáo viên.

2.2.2.3 Học sinh thiếu động lực và sự tự tin

Nhiều học sinh cảm thấy lo lắng và thiếu tự tin khi đối diện với kỳ thiHSG Sự thiếu động lực này có thể xuất phát từ việc không có kế hoạch học tập

rõ ràng hoặc không nhận thấy được lộ trình học tập của mình

Ví dụ: khi phải làm bài thi thử, nhiều em không biết cách phân bổ thời

gian hợp lý hoặc không biết nên ôn tập những phần nào là quan trọng, dẫn đếnkết quả không như mong muốn

2.2.2.4 Học sinh thiếu tài liệu học tập

Nhiều học sinh không có đủ tài liệu để tham khảo hoặc ôn tập hiệu quả.Các SGK hiện tại thường không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu sâu của họcsinh về môn Địa Lí Hơn nữa, việc tìm kiếm tài liệu ngoài sách giáo khoa cũnggặp khó khăn do thiếu kỹ năng tìm kiếm thông tin và phân tích tài liệu

2.2.2.5 Áp lực thi

Kì thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển đại học ngày càng trở nên cạnh tranh,khiến cho học sinh cảm thấy áp lực và Stress, làm giảm hiệu suất học tập và tậptrung của học sinh vào việc ôn thi, các em thường lo lắng việc đạt điểm cao màkhông chú ý đến phương pháp học tập phù hợp

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Chương trình đào tạo giáo viên trước đây chưa chú trọng năng lực hướngdẫn tự học, thiếu công cụ, tài liệu hướng dẫn cụ thể cho cả giáo viên và học sinh

Thực trạng trên chính là động lực thôi thúc để bản thân tôi rút kinhnghiệm từ thực tiễn, mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tựhọc cho học sinh một cách hiệu quả hơn, giúp các em đạt thành tích cao hơntrong các kì thi đặc biệt thi HSG và thi tốt nghiệp lớp 12

2.3 Các giải pháp sử dụng để hướng dẫn học sinh tự học

Để giải quyết những vấn đề nêu trên và nâng cao khả năng tự học cho họcsinh lớp 12 trong môn Địa Lí, tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể, nhằm tạo ra

Trang 25

Điểm mới của sáng kiến này là áp dụng các nền tảng học trực tuyến, ứngdụng học tập và tài liệu mở từ internet để giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và tựhọc môn Địa Lí Điều chỉnh cách tiếp cận từ việc giáo viên chỉ truyền đạt kiếnthức sang việc giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trongviệc phát triển kỹ năng tự học và trách nhiệm trong việc quản lý quá trình họctập của bản thân Tạo môi trường học tập linh hoạt hơn, khuyến khích học sinhchủ động tìm tòi, sáng tạo trong việc học, tài liệu học tập mở, và các kỹ thuậthọc tập hiện đại để nâng cao hiệu quả tự học của học sinh đặc biệt kể từ khi ápdụng TT29 của Bộ giáo dục về “cấm dạy thêm, học thêm trong nhà trường từ

học tập tích cực, khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập và khả năng tựhọc, từ đó nâng cao hiệu quả ôn thi môn Địa Lí

Xuất phát từ những lí do nêu trên và qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều

năm của bản thân, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực

tự học cho học sinh trong ôn thi Địa Lí 12 - THPT” làm sáng kiến kinh nghiệm

của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nâng cao kết quả và năng lực tự học của học sinh lớp 12 trong ôn thi

môn Địa Lí

- Xây dựng tài liệu học tập tự học cho học sinh.

- Tổ chức các buổi tự học trên lớp, học trực tuyến và ngoại khóa để hỗ trợhọc sinh

- Tạo ra môi trường học tập tích cực

- Đề xuất các giài pháp nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao năng lực

tư duy sáng tạo, năng lực tự học và ứng dụng công nghệ số, vận dụng kiến thứcvào giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống cho học sinh

1.3 Đối tượng và phạm vi áp dụng của sáng kiến:

Sáng kiến này có phạm vi áp dụng rộng rãi:

1.3.1 Phạm vi áp dụng:

Sáng kiến sẽ được thực hiện tại các trường trung học phổ thông trên địabàn, đặc biệt là những trường có tổ chức ôn thi học sinh giỏi môn Địa Lí, ôn thitốt nghiệp lớp 12 Đồng thời, sáng kiến cũng có thể được mở rộng ra một sốtrung tâm ôn luyện và việc học ngoài giờ lên lớp tại địa phương

+ Học sinh lớp 12: Sáng kiến được thiết kế chủ yếu dành cho học sinh lớp

12 đang trong quá trình ôn thi môn Địa Lí, nhằm giúp các em nâng cao khả năng

tự học và chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi

Trang 26

2.1.2 Mục đích, vai trò của tự học

Tự học là quá trình học sinh chủ động tìm kiếm kiến thức và tổ chức việchọc của mình mà không cần sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Đây là mộthình thức học tập giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng

tự quản lý thời gian học tập

Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc học nói chung và học- ôn luyệnthi môn Địa Lí 12 nói riêng đòi hỏi học sinh phải nắm vững cả kiến thức lýthuyết và kĩ năng tính toán cơ bản, kĩ năng phân tích bảng số liệu, nhận dạng vàphân tích biểu đồ, lập sơ đồ tư duy- hệ thống hóa kiến thức trọng tâm của bàihọc

Trước hết, tự học giúp học sinh chủ động tiếp cận và hệ thống hóa khốilượng kiến thức lý thuyết từ tự nhiên, dân cư - xã hội, đến các ngành kinh tế vàvùng kinh tế của Việt Nam

Thông qua việc đọc sách giáo kho (SGK), tra cứu tài liệu, thu thập thôngtin từ mạng internet, ứng dụng công nghệ số, công nghệ trí tuệ nhân tạo trongviệc giải quyết các vấn đề liên quan đến kiến thức, kĩ năng của môn học nhằmrèn luyền tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh, đặc biệt môn Địa Lítrong CTGDPT 2018 còn được cập nhật cả ứng dụng số: tính toán, xử lí các sốliệu, thông tin từ thực tế một trong những kĩ năng quan trọng của đề thi với tổng

số điểm lên tới 2,75 điểm thay cho phần kĩ năng Át lát trước đây là 3,75 điểm.Đây là một phần mới và khó đối với học sinh có khả năng tư duy thấp và họcthiên về các môn khoa học xã hội Việc luyện tập thường xuyên giúp học sinhtăng khả năng tư duy logic và lập luận chặt chẽ

Quá trình tự học còn góp phần hình thành thái độ học tập tích cực, ý thức

tự chịu trách nhiệm và khả năng tự điều chỉnh phương pháp học Đây là nhữngphẩm chất cần thiết để học sinh phát triển bền vững trong môi trường học tập

Vai trò của tự học trong tiết học Địa Lí: Tự học không chỉ diễn ra ngoài

giờ mà còn ngay trong tiết học Khi học sinh chủ động đọc tài liệu, khai thác bản

đồ, biểu đồ, tự rút ra nhận xét từ bảng số liệu thì quá trình học sẽ trở nên sâusắc và bền vững hơn Tự học giúp học sinh hình thành năng lực tư duy độc lập,phát hiện và giải quyết vấn đề về, từ đó tiếp thu kiến thức bằng sự khám phá vàphản biện tích cực Đây là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng và chiều sâucủa mỗi tiết học Địa Lí

Xét từ góc độ tâm lý và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh lớp 12,

có thể thấy rằng nhu cầu tìm hiểu, phát triển tư duy kiến thức, kĩ năng, cảm xúcthẩm mỹ là rất lớn Nhưng các em có tư tưởng muốn tự khám phá, thích độc lậpsuy nghĩ, không thích bị áp đặt

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài

Căn cứ các văn bản chỉ đạo và thực tế giảng dạy và ôn thi cho học sinh

lớp 12 môn Địa Lí, tôi nhận thấy: chương trình giáo dục phổ thông mới “nănglực tự học là năng lực cốt lõi mà học sinh cần phát triển” Tuy nhiên thực tế chothấy rằng: vai trò của GV trong việc hướng dẫn học sinh tự học chưa cao, chưa

Trang 27

một môi trường học tập chủ động và hiệu quả Dưới đây là các bước thực hiệnchi tiết:

2.3.1 Các bước thực hiện hướng dẫn tự học

Bước 1: Khảo sát thực trạng

- Mục tiêu: Nhằm đánh giá năng lực và nhu cầu học tập của học sinh Tôi tiến hành khảo sát thông qua bảng hỏi gồm các câu hỏi về mức độ hiểu biết cơbản về môn Địa Lí, khả năng tự học, và mong muốn cải thiện kỹ năng học tập

- Tiến hành khảo sát đối với 105 em HS lớp 12 đăng kí nguyện vọng thitốt nghiệp và xét tuyển ĐH năm 2025 về các vấn đề gặp phải trong môn Địa Lí,bao gồm việc tìm hiểu các phương pháp học tập mà các em sử dụng, kiến thức

mà các em cảm thấy khó khăn, những nguồn tài liệu-học liệu mà các em thườngtham khảo, sau đó phân tích kết quả khảo sát giúp GV xác định mức độ tự họccủa học sinh và các vấn đề học sinh cần giáo viên hỗ trợ

Bảng 1: Sử dụng bảng hỏi dưới dạng bảng như sau: Em đánh dấu ( ✔) vào

tương ứng

Em có hiểu biết cơ bản về các khái niệm Địa Lí

không?

Em có tự học môn Địa Lí ngoài giờ học không?

Em thấy tự tin khi làm bài thi môn Địa Li không?

Em có thường xuyên tìm kiếm, tra cứu tư liệu học

tập về Địa Lí không?

Bảng 2: Trả lời có hoặc không bằng cách đánh dấu (✔) vào tương ứng

Em có thường xuyên tự học không?

Em có khó khăn khi học và ôn thi Địa Lí không?

Em có sử dụng tài liệu để tự học và ôn thi môn Địa

Lí không?

Em có thường xuyên tự tìm kiếm, tra cứu tư liệu học

tập trên hệ thống thông tin mạng Internet và sử dụng

công nghệ để tự học và ôn thi không?

Em có biết cách lập kế hoạch để tự học và ôn thi

không?

Bảng 3: Thói quen và hình thức tự học phổ biến của em

(Em thường học theo cách nào? Đánh dấu ✔ ô phù hợp với em)

Tự đọc SGK và làm bài tập trong sách giáo khoa

Ghi chép, làm sơ đồ tư duy

Tìm kiếm thông tin trên internet (YouTube,

Wikipedia, trang giáo dục…)

Tra cứu số liệu thực tiễn (báo, thời sự, biểu đồ, thực

tế…)

Trang 28

một môi trường học tập chủ động và hiệu quả Dưới đây là các bước thực hiệnchi tiết:

2.3.1 Các bước thực hiện hướng dẫn tự học

Bước 1: Khảo sát thực trạng

- Mục tiêu: Nhằm đánh giá năng lực và nhu cầu học tập của học sinh Tôi tiến hành khảo sát thông qua bảng hỏi gồm các câu hỏi về mức độ hiểu biết cơbản về môn Địa Lí, khả năng tự học, và mong muốn cải thiện kỹ năng học tập

- Tiến hành khảo sát đối với 105 em HS lớp 12 đăng kí nguyện vọng thitốt nghiệp và xét tuyển ĐH năm 2025 về các vấn đề gặp phải trong môn Địa Lí,bao gồm việc tìm hiểu các phương pháp học tập mà các em sử dụng, kiến thức

mà các em cảm thấy khó khăn, những nguồn tài liệu-học liệu mà các em thườngtham khảo, sau đó phân tích kết quả khảo sát giúp GV xác định mức độ tự họccủa học sinh và các vấn đề học sinh cần giáo viên hỗ trợ

Bảng 1: Sử dụng bảng hỏi dưới dạng bảng như sau: Em đánh dấu ( ✔) vào

tương ứng

Em có hiểu biết cơ bản về các khái niệm Địa Lí

không?

Em có tự học môn Địa Lí ngoài giờ học không?

Em thấy tự tin khi làm bài thi môn Địa Li không?

Em có thường xuyên tìm kiếm, tra cứu tư liệu học

tập về Địa Lí không?

Bảng 2: Trả lời có hoặc không bằng cách đánh dấu (✔) vào tương ứng

Em có thường xuyên tự học không?

Em có khó khăn khi học và ôn thi Địa Lí không?

Em có sử dụng tài liệu để tự học và ôn thi môn Địa

Lí không?

Em có thường xuyên tự tìm kiếm, tra cứu tư liệu học

tập trên hệ thống thông tin mạng Internet và sử dụng

công nghệ để tự học và ôn thi không?

Em có biết cách lập kế hoạch để tự học và ôn thi

không?

Bảng 3: Thói quen và hình thức tự học phổ biến của em

(Em thường học theo cách nào? Đánh dấu ✔ ô phù hợp với em)

Tự đọc SGK và làm bài tập trong sách giáo khoa

Ghi chép, làm sơ đồ tư duy

Tìm kiếm thông tin trên internet (YouTube,

Wikipedia, trang giáo dục…)

Tra cứu số liệu thực tiễn (báo, thời sự, biểu đồ, thực

tế…)

Trang 29

Điểm mới của sáng kiến này là áp dụng các nền tảng học trực tuyến, ứngdụng học tập và tài liệu mở từ internet để giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và tựhọc môn Địa Lí Điều chỉnh cách tiếp cận từ việc giáo viên chỉ truyền đạt kiếnthức sang việc giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trongviệc phát triển kỹ năng tự học và trách nhiệm trong việc quản lý quá trình họctập của bản thân Tạo môi trường học tập linh hoạt hơn, khuyến khích học sinhchủ động tìm tòi, sáng tạo trong việc học, tài liệu học tập mở, và các kỹ thuậthọc tập hiện đại để nâng cao hiệu quả tự học của học sinh đặc biệt kể từ khi ápdụng TT29 của Bộ giáo dục về “cấm dạy thêm, học thêm trong nhà trường từ

học tập tích cực, khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập và khả năng tựhọc, từ đó nâng cao hiệu quả ôn thi môn Địa Lí

Xuất phát từ những lí do nêu trên và qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều

năm của bản thân, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực

tự học cho học sinh trong ôn thi Địa Lí 12 - THPT” làm sáng kiến kinh nghiệm

của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nâng cao kết quả và năng lực tự học của học sinh lớp 12 trong ôn thi

môn Địa Lí

- Xây dựng tài liệu học tập tự học cho học sinh.

- Tổ chức các buổi tự học trên lớp, học trực tuyến và ngoại khóa để hỗ trợhọc sinh

- Tạo ra môi trường học tập tích cực

- Đề xuất các giài pháp nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao năng lực

tư duy sáng tạo, năng lực tự học và ứng dụng công nghệ số, vận dụng kiến thứcvào giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống cho học sinh

1.3 Đối tượng và phạm vi áp dụng của sáng kiến:

Sáng kiến này có phạm vi áp dụng rộng rãi:

1.3.1 Phạm vi áp dụng:

Sáng kiến sẽ được thực hiện tại các trường trung học phổ thông trên địabàn, đặc biệt là những trường có tổ chức ôn thi học sinh giỏi môn Địa Lí, ôn thitốt nghiệp lớp 12 Đồng thời, sáng kiến cũng có thể được mở rộng ra một sốtrung tâm ôn luyện và việc học ngoài giờ lên lớp tại địa phương

+ Học sinh lớp 12: Sáng kiến được thiết kế chủ yếu dành cho học sinh lớp

12 đang trong quá trình ôn thi môn Địa Lí, nhằm giúp các em nâng cao khả năng

tự học và chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi

Trang 30

Điểm mới của sáng kiến này là áp dụng các nền tảng học trực tuyến, ứngdụng học tập và tài liệu mở từ internet để giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và tựhọc môn Địa Lí Điều chỉnh cách tiếp cận từ việc giáo viên chỉ truyền đạt kiếnthức sang việc giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trongviệc phát triển kỹ năng tự học và trách nhiệm trong việc quản lý quá trình họctập của bản thân Tạo môi trường học tập linh hoạt hơn, khuyến khích học sinhchủ động tìm tòi, sáng tạo trong việc học, tài liệu học tập mở, và các kỹ thuậthọc tập hiện đại để nâng cao hiệu quả tự học của học sinh đặc biệt kể từ khi ápdụng TT29 của Bộ giáo dục về “cấm dạy thêm, học thêm trong nhà trường từ

học tập tích cực, khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập và khả năng tựhọc, từ đó nâng cao hiệu quả ôn thi môn Địa Lí

Xuất phát từ những lí do nêu trên và qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều

năm của bản thân, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực

tự học cho học sinh trong ôn thi Địa Lí 12 - THPT” làm sáng kiến kinh nghiệm

của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nâng cao kết quả và năng lực tự học của học sinh lớp 12 trong ôn thi

môn Địa Lí

- Xây dựng tài liệu học tập tự học cho học sinh.

- Tổ chức các buổi tự học trên lớp, học trực tuyến và ngoại khóa để hỗ trợhọc sinh

- Tạo ra môi trường học tập tích cực

- Đề xuất các giài pháp nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao năng lực

tư duy sáng tạo, năng lực tự học và ứng dụng công nghệ số, vận dụng kiến thứcvào giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống cho học sinh

1.3 Đối tượng và phạm vi áp dụng của sáng kiến:

Sáng kiến này có phạm vi áp dụng rộng rãi:

1.3.1 Phạm vi áp dụng:

Sáng kiến sẽ được thực hiện tại các trường trung học phổ thông trên địabàn, đặc biệt là những trường có tổ chức ôn thi học sinh giỏi môn Địa Lí, ôn thitốt nghiệp lớp 12 Đồng thời, sáng kiến cũng có thể được mở rộng ra một sốtrung tâm ôn luyện và việc học ngoài giờ lên lớp tại địa phương

+ Học sinh lớp 12: Sáng kiến được thiết kế chủ yếu dành cho học sinh lớp

12 đang trong quá trình ôn thi môn Địa Lí, nhằm giúp các em nâng cao khả năng

tự học và chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi

Trang 31

Điểm mới của sáng kiến này là áp dụng các nền tảng học trực tuyến, ứngdụng học tập và tài liệu mở từ internet để giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và tựhọc môn Địa Lí Điều chỉnh cách tiếp cận từ việc giáo viên chỉ truyền đạt kiếnthức sang việc giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trongviệc phát triển kỹ năng tự học và trách nhiệm trong việc quản lý quá trình họctập của bản thân Tạo môi trường học tập linh hoạt hơn, khuyến khích học sinhchủ động tìm tòi, sáng tạo trong việc học, tài liệu học tập mở, và các kỹ thuậthọc tập hiện đại để nâng cao hiệu quả tự học của học sinh đặc biệt kể từ khi ápdụng TT29 của Bộ giáo dục về “cấm dạy thêm, học thêm trong nhà trường từ

học tập tích cực, khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập và khả năng tựhọc, từ đó nâng cao hiệu quả ôn thi môn Địa Lí

Xuất phát từ những lí do nêu trên và qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều

năm của bản thân, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực

tự học cho học sinh trong ôn thi Địa Lí 12 - THPT” làm sáng kiến kinh nghiệm

của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nâng cao kết quả và năng lực tự học của học sinh lớp 12 trong ôn thi

môn Địa Lí

- Xây dựng tài liệu học tập tự học cho học sinh.

- Tổ chức các buổi tự học trên lớp, học trực tuyến và ngoại khóa để hỗ trợhọc sinh

- Tạo ra môi trường học tập tích cực

- Đề xuất các giài pháp nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao năng lực

tư duy sáng tạo, năng lực tự học và ứng dụng công nghệ số, vận dụng kiến thứcvào giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống cho học sinh

1.3 Đối tượng và phạm vi áp dụng của sáng kiến:

Sáng kiến này có phạm vi áp dụng rộng rãi:

1.3.1 Phạm vi áp dụng:

Sáng kiến sẽ được thực hiện tại các trường trung học phổ thông trên địabàn, đặc biệt là những trường có tổ chức ôn thi học sinh giỏi môn Địa Lí, ôn thitốt nghiệp lớp 12 Đồng thời, sáng kiến cũng có thể được mở rộng ra một sốtrung tâm ôn luyện và việc học ngoài giờ lên lớp tại địa phương

+ Học sinh lớp 12: Sáng kiến được thiết kế chủ yếu dành cho học sinh lớp

12 đang trong quá trình ôn thi môn Địa Lí, nhằm giúp các em nâng cao khả năng

tự học và chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi

Trang 32

đầy đủ, hiệu quả còn hạn chế, dẫn đến nhiều học sinh còn khó khăn, học thụđộng, thiếu phương pháp và động lực tự học dẫn đến tình trạng học sinh gặpnhiều khó khăn trong việc tự học và chuẩn bị cho các kỳ thi định kì, thi HSG vàthi tốt nghiệp THPT Cụ thể như sau:

2.2.1 Thực trạng việc hướng dẫn tự học của giáo viên

Ứng dụng CNTT, nền tảng trực tuyến (Zalo, Goole classroom, để hỗtrợ học sinh tự học và kiểm tra kết quả một cách độc lập;

Một số giáo viên đã tổ chức hoạt động học theo nhóm, theo dự án, dạyhọc thực nghiệm-trãi nghiệm thực tế, giúp HS rèn luyện và nâng cao năng lựchọc tập, biết vận dụng lý thuyết học được vào thực tiễn đời sống

2.2.1.2 Hạn chế

Nhiều giáo viên chưa mạnh dạn ứng dụng CNTT, chưa sử dụng phươngpháp dạy học hiện đại vào giảng dạy, vẫn còn thói quen truyền thụ kiến thức mà

ít dạy kĩ năng, vẫn chủ yếu dừng lại ở việc giao bài tập về nhà;

Thiếu định hướng cụ thể, không hướng dẫn học sinh cách học, cách đọc

và nghiên cứu học liệu, ghi chép, tra cứu thông tin, lập kế hoạch học tập và tựkiểm tra, ;

Chưa hoặc ít theo dõi và đánh giá quá trình tự học của HS ở nhà, chưa cóphản hồi, chưa động viên khích lệ tinh thần và điều chỉnh quá trình tự học;

Một số GV vẫn còn tư duy “thầy giảng- trò nghe và ghi chép”, ngại thayđổi, không tự tin khi áp dụng phương pháp dạy học mới;

Lượng kiến thức trong chương trình nặng, thời gian trên lớp ít dẫn đếnviệc hướng dẫn học sinh tự học bị hạn chế nhiều,

2.2.2 Thực trạng tự học về phía học sinh

2.2.2.1 Học sinh thiếu kiến thức nền tảng vững chắc

Nhiều học sinh khi bước vào lớp 12 chưa có nền tảng kiến thức vững chắc

từ các lớp trước Khi gặp các bài kiểm tra có tính chất phân tích và ứng dụngcao, các em thường bỡ ngỡ và không đạt yêu cầu

2.2.2.2 Học sinh thiếu phương pháp và kỹ năng tự học

Hầu hết học sinh quen với phương pháp học thụ động, chỉ ghi chú những

gì giáo viên giảng dạy mà không tự tìm tòi, nghiên cứu thêm Nhiều em học đốiphó, chưa chủ động, chưa biết cách quản lí và phân bổ thời gian học tập hoặctìm kiếm học liệu phù hợp;

Ví dụ: Sau khi học xong phần nội dung về sự phân bố dân cư, học sinh ít

có thói quen tìm kiếm thông tin từ sách báo, tài liệu hoặc internet để mở rộng

Trang 33

+ Giáo viên môn Địa Lí: Các giáo viên sẽ đóng vai trò là người hướngdẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học, từ đó giúp họ cải thiện phương phápgiảng dạy của mình.

+ Phụ huynh học sinh: có thể tham gia vào quá trình tự học của con emmình thông qua việc khuyến khích, động viên, khích lệ con em tự học và cungcấp điều kiện học tập thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả tự học của con

1.3.4 Thời gian áp dụng:

Sáng kiến sẽ được triển khai và áp dụng trong chương trình Giáo dục

2018 nhằm đảm bảo thời gian đủ để thực hiện, ôn luyện, đánh giá và hoàn thiện

kỹ năng tự học trước các kỳ thi Tạo ra cơ hội học tập cho tất cả các em học sinh đặc biệt HS lớp 12 ôn thi tốt nghiệp và HSG Tạo điều kiện cho giáo viên, phụhuynh cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và tối ưu hóa quá trìnhhọc tập của học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn, quan sát, phân tích

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc học tập và ôn thi môn Địa

Lí lớp 12- THPT, ôn thi học sinh giỏi (HSG) không chỉ đơn thuần là việc truyềnthụ kiến thức mà bao hàm hơn hết là việc phát triển năng lực tự học, năng lực tưduy sáng tạo cho học sinh (HS) Khi đối diện với áp lực của các kì thi trongchương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) đã rất nhiều em HS gặpkhó khăn trọng việc tự học, tự củng cố kiến thức, kĩ năng một cách hiệu quả

Điều này dẫn tới việc “không đạt được kết quả cao như mong muốn, thiếu tự

tin, giảm hứng thú và đam mê môn học học tập”

Với chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc “hướng dẫn học sinh tự

học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với môn Địa Lí Khác với

chương trình cũ, cấu trúc đề thi mới đã “loại bỏ phần kĩ năng sử dụng Atlat”, tha

y vào đó là “tăng cường các yêu cầu về tư duy logic, tính toán, xử lí và phân tích

số liệu thực tiễn” Do đó, việc tổ chức hoạt động tự học không chỉ giúp học sinhchủ động tiếp cận kiến thức mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tư duyphản biện - những phẩm chất cốt lõi của công dân thế kỉ XXI Học sinh đượchướng dẫn cách đọc bảng số liệu, xác định biểu đồ, phân tích biểu đồ, liên hệkiến thức với thực tiễn địa phương sẽ hình thành được kĩ năng học tập suốt đời,sẵn sàng tham gia các kì thi với tâm thế tự tin và chủ động Việc đổi mới cáchhọc từ “học thuộc - học chép” sang “học hiểu - học làm - học sáng tạo” chính là

chìa khóa giúp học sinh không chỉ “học tốt môn Địa Lí”, mà còn đạt hiệu quả

cao trong các kì thi HSG và tốt nghiệp theo định hướng phát triển năng lực Việc

Trang 34

kiến thức Kết quả là các em gặp khó khăn trong việc tự giải quyết bài tập hoặclàm bài kiểm tra mà không có sự trợ giúp của giáo viên.

2.2.2.3 Học sinh thiếu động lực và sự tự tin

Nhiều học sinh cảm thấy lo lắng và thiếu tự tin khi đối diện với kỳ thiHSG Sự thiếu động lực này có thể xuất phát từ việc không có kế hoạch học tập

rõ ràng hoặc không nhận thấy được lộ trình học tập của mình

Ví dụ: khi phải làm bài thi thử, nhiều em không biết cách phân bổ thời

gian hợp lý hoặc không biết nên ôn tập những phần nào là quan trọng, dẫn đếnkết quả không như mong muốn

2.2.2.4 Học sinh thiếu tài liệu học tập

Nhiều học sinh không có đủ tài liệu để tham khảo hoặc ôn tập hiệu quả.Các SGK hiện tại thường không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu sâu của họcsinh về môn Địa Lí Hơn nữa, việc tìm kiếm tài liệu ngoài sách giáo khoa cũnggặp khó khăn do thiếu kỹ năng tìm kiếm thông tin và phân tích tài liệu

2.2.2.5 Áp lực thi

Kì thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển đại học ngày càng trở nên cạnh tranh,khiến cho học sinh cảm thấy áp lực và Stress, làm giảm hiệu suất học tập và tậptrung của học sinh vào việc ôn thi, các em thường lo lắng việc đạt điểm cao màkhông chú ý đến phương pháp học tập phù hợp

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Chương trình đào tạo giáo viên trước đây chưa chú trọng năng lực hướngdẫn tự học, thiếu công cụ, tài liệu hướng dẫn cụ thể cho cả giáo viên và học sinh

Thực trạng trên chính là động lực thôi thúc để bản thân tôi rút kinhnghiệm từ thực tiễn, mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tựhọc cho học sinh một cách hiệu quả hơn, giúp các em đạt thành tích cao hơntrong các kì thi đặc biệt thi HSG và thi tốt nghiệp lớp 12

2.3 Các giải pháp sử dụng để hướng dẫn học sinh tự học

Để giải quyết những vấn đề nêu trên và nâng cao khả năng tự học cho họcsinh lớp 12 trong môn Địa Lí, tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể, nhằm tạo ra

Trang 35

+ Giáo viên môn Địa Lí: Các giáo viên sẽ đóng vai trò là người hướngdẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học, từ đó giúp họ cải thiện phương phápgiảng dạy của mình.

+ Phụ huynh học sinh: có thể tham gia vào quá trình tự học của con emmình thông qua việc khuyến khích, động viên, khích lệ con em tự học và cungcấp điều kiện học tập thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả tự học của con

1.3.4 Thời gian áp dụng:

Sáng kiến sẽ được triển khai và áp dụng trong chương trình Giáo dục

2018 nhằm đảm bảo thời gian đủ để thực hiện, ôn luyện, đánh giá và hoàn thiện

kỹ năng tự học trước các kỳ thi Tạo ra cơ hội học tập cho tất cả các em học sinh đặc biệt HS lớp 12 ôn thi tốt nghiệp và HSG Tạo điều kiện cho giáo viên, phụhuynh cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và tối ưu hóa quá trìnhhọc tập của học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn, quan sát, phân tích

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc học tập và ôn thi môn Địa

Lí lớp 12- THPT, ôn thi học sinh giỏi (HSG) không chỉ đơn thuần là việc truyềnthụ kiến thức mà bao hàm hơn hết là việc phát triển năng lực tự học, năng lực tưduy sáng tạo cho học sinh (HS) Khi đối diện với áp lực của các kì thi trongchương trình giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) đã rất nhiều em HS gặpkhó khăn trọng việc tự học, tự củng cố kiến thức, kĩ năng một cách hiệu quả

Điều này dẫn tới việc “không đạt được kết quả cao như mong muốn, thiếu tự

tin, giảm hứng thú và đam mê môn học học tập”

Với chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc “hướng dẫn học sinh tự

học” giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với môn Địa Lí Khác với

chương trình cũ, cấu trúc đề thi mới đã “loại bỏ phần kĩ năng sử dụng Atlat”, tha

y vào đó là “tăng cường các yêu cầu về tư duy logic, tính toán, xử lí và phân tích

số liệu thực tiễn” Do đó, việc tổ chức hoạt động tự học không chỉ giúp học sinhchủ động tiếp cận kiến thức mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tư duyphản biện - những phẩm chất cốt lõi của công dân thế kỉ XXI Học sinh đượchướng dẫn cách đọc bảng số liệu, xác định biểu đồ, phân tích biểu đồ, liên hệkiến thức với thực tiễn địa phương sẽ hình thành được kĩ năng học tập suốt đời,sẵn sàng tham gia các kì thi với tâm thế tự tin và chủ động Việc đổi mới cáchhọc từ “học thuộc - học chép” sang “học hiểu - học làm - học sáng tạo” chính là

chìa khóa giúp học sinh không chỉ “học tốt môn Địa Lí”, mà còn đạt hiệu quả

cao trong các kì thi HSG và tốt nghiệp theo định hướng phát triển năng lực Việc

Trang 36

2.1.2 Mục đích, vai trò của tự học

Tự học là quá trình học sinh chủ động tìm kiếm kiến thức và tổ chức việchọc của mình mà không cần sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Đây là mộthình thức học tập giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng

tự quản lý thời gian học tập

Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc học nói chung và học- ôn luyệnthi môn Địa Lí 12 nói riêng đòi hỏi học sinh phải nắm vững cả kiến thức lýthuyết và kĩ năng tính toán cơ bản, kĩ năng phân tích bảng số liệu, nhận dạng vàphân tích biểu đồ, lập sơ đồ tư duy- hệ thống hóa kiến thức trọng tâm của bàihọc

Trước hết, tự học giúp học sinh chủ động tiếp cận và hệ thống hóa khốilượng kiến thức lý thuyết từ tự nhiên, dân cư - xã hội, đến các ngành kinh tế vàvùng kinh tế của Việt Nam

Thông qua việc đọc sách giáo kho (SGK), tra cứu tài liệu, thu thập thôngtin từ mạng internet, ứng dụng công nghệ số, công nghệ trí tuệ nhân tạo trongviệc giải quyết các vấn đề liên quan đến kiến thức, kĩ năng của môn học nhằmrèn luyền tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh, đặc biệt môn Địa Lítrong CTGDPT 2018 còn được cập nhật cả ứng dụng số: tính toán, xử lí các sốliệu, thông tin từ thực tế một trong những kĩ năng quan trọng của đề thi với tổng

số điểm lên tới 2,75 điểm thay cho phần kĩ năng Át lát trước đây là 3,75 điểm.Đây là một phần mới và khó đối với học sinh có khả năng tư duy thấp và họcthiên về các môn khoa học xã hội Việc luyện tập thường xuyên giúp học sinhtăng khả năng tư duy logic và lập luận chặt chẽ

Quá trình tự học còn góp phần hình thành thái độ học tập tích cực, ý thức

tự chịu trách nhiệm và khả năng tự điều chỉnh phương pháp học Đây là nhữngphẩm chất cần thiết để học sinh phát triển bền vững trong môi trường học tập

Vai trò của tự học trong tiết học Địa Lí: Tự học không chỉ diễn ra ngoài

giờ mà còn ngay trong tiết học Khi học sinh chủ động đọc tài liệu, khai thác bản

đồ, biểu đồ, tự rút ra nhận xét từ bảng số liệu thì quá trình học sẽ trở nên sâusắc và bền vững hơn Tự học giúp học sinh hình thành năng lực tư duy độc lập,phát hiện và giải quyết vấn đề về, từ đó tiếp thu kiến thức bằng sự khám phá vàphản biện tích cực Đây là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng và chiều sâucủa mỗi tiết học Địa Lí

Xét từ góc độ tâm lý và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh lớp 12,

có thể thấy rằng nhu cầu tìm hiểu, phát triển tư duy kiến thức, kĩ năng, cảm xúcthẩm mỹ là rất lớn Nhưng các em có tư tưởng muốn tự khám phá, thích độc lậpsuy nghĩ, không thích bị áp đặt

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài

Căn cứ các văn bản chỉ đạo và thực tế giảng dạy và ôn thi cho học sinh

lớp 12 môn Địa Lí, tôi nhận thấy: chương trình giáo dục phổ thông mới “nănglực tự học là năng lực cốt lõi mà học sinh cần phát triển” Tuy nhiên thực tế chothấy rằng: vai trò của GV trong việc hướng dẫn học sinh tự học chưa cao, chưa

Trang 37

2.1.2 Mục đích, vai trò của tự học

Tự học là quá trình học sinh chủ động tìm kiếm kiến thức và tổ chức việchọc của mình mà không cần sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Đây là mộthình thức học tập giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng

tự quản lý thời gian học tập

Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc học nói chung và học- ôn luyệnthi môn Địa Lí 12 nói riêng đòi hỏi học sinh phải nắm vững cả kiến thức lýthuyết và kĩ năng tính toán cơ bản, kĩ năng phân tích bảng số liệu, nhận dạng vàphân tích biểu đồ, lập sơ đồ tư duy- hệ thống hóa kiến thức trọng tâm của bàihọc

Trước hết, tự học giúp học sinh chủ động tiếp cận và hệ thống hóa khốilượng kiến thức lý thuyết từ tự nhiên, dân cư - xã hội, đến các ngành kinh tế vàvùng kinh tế của Việt Nam

Thông qua việc đọc sách giáo kho (SGK), tra cứu tài liệu, thu thập thôngtin từ mạng internet, ứng dụng công nghệ số, công nghệ trí tuệ nhân tạo trongviệc giải quyết các vấn đề liên quan đến kiến thức, kĩ năng của môn học nhằmrèn luyền tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh, đặc biệt môn Địa Lítrong CTGDPT 2018 còn được cập nhật cả ứng dụng số: tính toán, xử lí các sốliệu, thông tin từ thực tế một trong những kĩ năng quan trọng của đề thi với tổng

số điểm lên tới 2,75 điểm thay cho phần kĩ năng Át lát trước đây là 3,75 điểm.Đây là một phần mới và khó đối với học sinh có khả năng tư duy thấp và họcthiên về các môn khoa học xã hội Việc luyện tập thường xuyên giúp học sinhtăng khả năng tư duy logic và lập luận chặt chẽ

Quá trình tự học còn góp phần hình thành thái độ học tập tích cực, ý thức

tự chịu trách nhiệm và khả năng tự điều chỉnh phương pháp học Đây là nhữngphẩm chất cần thiết để học sinh phát triển bền vững trong môi trường học tập

Vai trò của tự học trong tiết học Địa Lí: Tự học không chỉ diễn ra ngoài

giờ mà còn ngay trong tiết học Khi học sinh chủ động đọc tài liệu, khai thác bản

đồ, biểu đồ, tự rút ra nhận xét từ bảng số liệu thì quá trình học sẽ trở nên sâusắc và bền vững hơn Tự học giúp học sinh hình thành năng lực tư duy độc lập,phát hiện và giải quyết vấn đề về, từ đó tiếp thu kiến thức bằng sự khám phá vàphản biện tích cực Đây là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng và chiều sâucủa mỗi tiết học Địa Lí

Xét từ góc độ tâm lý và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh lớp 12,

có thể thấy rằng nhu cầu tìm hiểu, phát triển tư duy kiến thức, kĩ năng, cảm xúcthẩm mỹ là rất lớn Nhưng các em có tư tưởng muốn tự khám phá, thích độc lậpsuy nghĩ, không thích bị áp đặt

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài

Căn cứ các văn bản chỉ đạo và thực tế giảng dạy và ôn thi cho học sinh

lớp 12 môn Địa Lí, tôi nhận thấy: chương trình giáo dục phổ thông mới “nănglực tự học là năng lực cốt lõi mà học sinh cần phát triển” Tuy nhiên thực tế chothấy rằng: vai trò của GV trong việc hướng dẫn học sinh tự học chưa cao, chưa

Ngày đăng: 20/06/2025, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w