SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 4 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “SỬ DỤNG KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO PHẦN MỞ ĐẦU BÀI HỌC NHẰM GÂY
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“SỬ DỤNG KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO PHẦN MỞ ĐẦU BÀI HỌC NHẰM GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH KHI GIẢNG DẠY PHẦN THỨ HAI: "CÔNG DÂN VỚI PHÁP LUẬT" MÔN GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT LỚP 11”
Người thực hiện: Nguyễn Thị Dung Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): GDKT&PL
THANH HOÁ NĂM 2025
Trang 22.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 22.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực 22.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy môn
2.1.6 Sự cần thiết phải kết hợp phương pháp dạy học trực quan,
phương pháp dạy học dự án với phương pháp nêu vấn đề trong
2.3.2.1 Sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với phương pháp
dự án
10
2.3.2.2 Sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với phương pháp
nêu vấn đề vào phần mở đầu bài học
13
2.3.2.3 Sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp với phương pháp
trực quan và phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài
học
14
2.3.2.4 Sử dụng phương pháp đóng vai kết hợp phương pháp dạy
học tích cực vào phần mở đầu bài học
16
Trang 32.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 172.5 Khả năng ứng dụng và triển khai sáng kiến kinh nghiệm 18
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 4+ Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩnmực đạo đức, pháp luật.
+ Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân vớicộng đồng, đất nước
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực học tập
+ Năng lực lựa chọn nghề nghiệp
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp, tự tin
+ Năng lực hợp tác…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hơp lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp trao đổi, khảo sát thăm dò ý kiến giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm giúp người đọc nhận diện rõgiá trị và mức độ đóng góp của sáng kiến trong giảng dạy Để từ đó làm nổi bật
sự khác biệt và sự sáng tạo so với kinh nghiệm trước đó Tính mới của sáng kiếnnày nằm ở việc: kết hợp các phương pháp với phương pháp dạy học tích cực vàoquá trình giảng dạy để gây hứng thú cho HS ngay từ phần đầu bài giảng, thay vìchỉ tập trung truyền đạt kiến thức nhàm chán để khuyến khích HS tham gia tíchcực vào quá trình học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đồng thờiphát triển tư duy sáng tạo của HS
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là cách nói về phương pháp dạy học giáo dục, là cách dạyhọc theo hướng phát huy tinh thần học tập tích cực, tư duy và sáng tạo của họcsinh
- Phương pháp dạy học tích cực là hướng đến nhiều hoạt động khác nhautrong học tập, phát triển tính sáng tạo của học sinh Chú ý rằng, ở phương phápnày thường sẽ tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, người dạy sẽthông qua các kỹ thuật dạy học tích cực để bài giảng có hiệu quả nhất
2.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy học môn GDKT&PL.
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học sử dụng những phươngtiện dạy học trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học như: Bản đồ, tranh ảnh,
Trang 5luật” Tất cả những điều đó đang đặt ra cho giáo viên dạy GDKT&PL có tâmhuyết với nghề cần còn phải tiếp tục, không ngừng nghiên cứu để tìm ra nhữnggiải pháp thực hiện việc kết hợp PPTQ,PPDA với PPNVĐ có hiệu quả cao hơn.
Bảng 3: Tình hình học tập môn GDKT&PL khối 11 qua khảo sát bài kiểm tra Thường xuyên đầu học kì II.
TT Lớp Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
(Nguồn: Thống kê điểm kiểm tra thường xuyên lớp 11- Trường THPT
Hoằng hóa 4, huyện Hoằng Hóa, tháng 01/2025)
Từ kết quả kiểm tra 15 phút đầu kì 2 của cả khối cùng với nhóm chuyênmôn chúng tôi lưa chọn 2 nhóm lớp thực nghiệm và nhóm đối chứng kết quảnhư sau;
Bảng 4: Bảng điểm kiểm tra 15 phút của 2 nhóm lớp thựcnghiệm và nhóm đối chứng
Nhóm
Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
10 điểm)
Lớp đối
chứng
11A8 42 0 (0%) 14 (33.3%) 26 (61.9%) 2 (4.76%)11A9 42 0 (0%) 12 (28.6%) 30 (71.4%) 0 (0%)
(Nguồn: Số liệu tổng hợp điểm kiểm tra lớp 11- Trường THPT Hoằng Hóa 4,
huyện Hoằng Hóa)
Từ thực trạng nói trên bản thân thấy việc tìm ra giải pháp để sử dụng hiệuquả “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tíchcực vào phần mở đầu bài học nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy phần hai:
“Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11” là hết sứccần thiết, đây cũng là lí do để bản thân tôi mày mò và tìm kiếm
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề và cách thức thực hiện 2.3.1 Giải pháp thực hiện sáng kiến.
2.3.1.1 Nhóm giải pháp đối với giáo viên
Trang 6luật” Tất cả những điều đó đang đặt ra cho giáo viên dạy GDKT&PL có tâmhuyết với nghề cần còn phải tiếp tục, không ngừng nghiên cứu để tìm ra nhữnggiải pháp thực hiện việc kết hợp PPTQ,PPDA với PPNVĐ có hiệu quả cao hơn.
Bảng 3: Tình hình học tập môn GDKT&PL khối 11 qua khảo sát bài kiểm tra Thường xuyên đầu học kì II.
TT Lớp Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
(Nguồn: Thống kê điểm kiểm tra thường xuyên lớp 11- Trường THPT
Hoằng hóa 4, huyện Hoằng Hóa, tháng 01/2025)
Từ kết quả kiểm tra 15 phút đầu kì 2 của cả khối cùng với nhóm chuyênmôn chúng tôi lưa chọn 2 nhóm lớp thực nghiệm và nhóm đối chứng kết quảnhư sau;
Bảng 4: Bảng điểm kiểm tra 15 phút của 2 nhóm lớp thựcnghiệm và nhóm đối chứng
Nhóm
Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
10 điểm)
Lớp đối
chứng
11A8 42 0 (0%) 14 (33.3%) 26 (61.9%) 2 (4.76%)11A9 42 0 (0%) 12 (28.6%) 30 (71.4%) 0 (0%)
(Nguồn: Số liệu tổng hợp điểm kiểm tra lớp 11- Trường THPT Hoằng Hóa 4,
huyện Hoằng Hóa)
Từ thực trạng nói trên bản thân thấy việc tìm ra giải pháp để sử dụng hiệuquả “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tíchcực vào phần mở đầu bài học nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy phần hai:
“Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11” là hết sứccần thiết, đây cũng là lí do để bản thân tôi mày mò và tìm kiếm
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề và cách thức thực hiện 2.3.1 Giải pháp thực hiện sáng kiến.
2.3.1.1 Nhóm giải pháp đối với giáo viên
Trang 7+ Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩnmực đạo đức, pháp luật.
+ Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân vớicộng đồng, đất nước
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực học tập
+ Năng lực lựa chọn nghề nghiệp
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp, tự tin
+ Năng lực hợp tác…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hơp lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp trao đổi, khảo sát thăm dò ý kiến giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm giúp người đọc nhận diện rõgiá trị và mức độ đóng góp của sáng kiến trong giảng dạy Để từ đó làm nổi bật
sự khác biệt và sự sáng tạo so với kinh nghiệm trước đó Tính mới của sáng kiếnnày nằm ở việc: kết hợp các phương pháp với phương pháp dạy học tích cực vàoquá trình giảng dạy để gây hứng thú cho HS ngay từ phần đầu bài giảng, thay vìchỉ tập trung truyền đạt kiến thức nhàm chán để khuyến khích HS tham gia tíchcực vào quá trình học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đồng thờiphát triển tư duy sáng tạo của HS
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là cách nói về phương pháp dạy học giáo dục, là cách dạyhọc theo hướng phát huy tinh thần học tập tích cực, tư duy và sáng tạo của họcsinh
- Phương pháp dạy học tích cực là hướng đến nhiều hoạt động khác nhautrong học tập, phát triển tính sáng tạo của học sinh Chú ý rằng, ở phương phápnày thường sẽ tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, người dạy sẽthông qua các kỹ thuật dạy học tích cực để bài giảng có hiệu quả nhất
2.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy học môn GDKT&PL.
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học sử dụng những phươngtiện dạy học trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học như: Bản đồ, tranh ảnh,
Trang 8video, các đồ vật, các thí nghiệm… giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thứchơn.
PPDH trực quan thường được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trìnhbày:
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họanhư bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, băngvideo…Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan được chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát choquá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng trithức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đóhình thành kĩ năng, kĩ xảo…
2.1.3 Quan niệm về phương pháp dự án trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH dự án là một hình thức dạy học mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Nhằmtạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng
PPDH theo dự án là mô hình học tập mới phát triển kiến thức cùng các kỹnăng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ Nó khuyến khích việchọc sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trongquá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm ra
PPDH theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sựđiều khiển và giúp đỡ của giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học củamình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Thông qua quátrình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập
2.1.4 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ học tập
Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong môn GDKT&PL sẽ giúp HS nắm vững,hiểu sâu và rộng tri thức khi biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề cùng vớigiáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời đây cũng là bước HScần chuẩn bị cho mình những tri thức trước khi bước vào cuộc sống sôi động,luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tư mình tìm hiểu, đặt ra và giải quyết vấn đề.Mặt khác, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên cung cấp cho học sinh môi trường
sư phạm lí tưởng theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôinhớ và tôi làm thì tôi nhanh hiểu và hiểu sâu
Dạy học nêu vấn đề trong môn GDKT&PL thường được sử dụng dưới 3hình thức:
- Trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này được sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng vàkhái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghethấy, nhưng chưa có một chút hiểu biết nào về chúng
Trang 9+ Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩnmực đạo đức, pháp luật.
+ Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân vớicộng đồng, đất nước
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực học tập
+ Năng lực lựa chọn nghề nghiệp
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp, tự tin
+ Năng lực hợp tác…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hơp lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp trao đổi, khảo sát thăm dò ý kiến giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm giúp người đọc nhận diện rõgiá trị và mức độ đóng góp của sáng kiến trong giảng dạy Để từ đó làm nổi bật
sự khác biệt và sự sáng tạo so với kinh nghiệm trước đó Tính mới của sáng kiếnnày nằm ở việc: kết hợp các phương pháp với phương pháp dạy học tích cực vàoquá trình giảng dạy để gây hứng thú cho HS ngay từ phần đầu bài giảng, thay vìchỉ tập trung truyền đạt kiến thức nhàm chán để khuyến khích HS tham gia tíchcực vào quá trình học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đồng thờiphát triển tư duy sáng tạo của HS
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là cách nói về phương pháp dạy học giáo dục, là cách dạyhọc theo hướng phát huy tinh thần học tập tích cực, tư duy và sáng tạo của họcsinh
- Phương pháp dạy học tích cực là hướng đến nhiều hoạt động khác nhautrong học tập, phát triển tính sáng tạo của học sinh Chú ý rằng, ở phương phápnày thường sẽ tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, người dạy sẽthông qua các kỹ thuật dạy học tích cực để bài giảng có hiệu quả nhất
2.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy học môn GDKT&PL.
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học sử dụng những phươngtiện dạy học trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học như: Bản đồ, tranh ảnh,
Trang 10video, các đồ vật, các thí nghiệm… giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thứchơn.
PPDH trực quan thường được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trìnhbày:
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họanhư bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, băngvideo…Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan được chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát choquá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng trithức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đóhình thành kĩ năng, kĩ xảo…
2.1.3 Quan niệm về phương pháp dự án trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH dự án là một hình thức dạy học mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Nhằmtạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng
PPDH theo dự án là mô hình học tập mới phát triển kiến thức cùng các kỹnăng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ Nó khuyến khích việchọc sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trongquá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm ra
PPDH theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sựđiều khiển và giúp đỡ của giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học củamình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Thông qua quátrình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập
2.1.4 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ học tập
Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong môn GDKT&PL sẽ giúp HS nắm vững,hiểu sâu và rộng tri thức khi biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề cùng vớigiáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời đây cũng là bước HScần chuẩn bị cho mình những tri thức trước khi bước vào cuộc sống sôi động,luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tư mình tìm hiểu, đặt ra và giải quyết vấn đề.Mặt khác, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên cung cấp cho học sinh môi trường
sư phạm lí tưởng theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôinhớ và tôi làm thì tôi nhanh hiểu và hiểu sâu
Dạy học nêu vấn đề trong môn GDKT&PL thường được sử dụng dưới 3hình thức:
- Trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này được sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng vàkhái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghethấy, nhưng chưa có một chút hiểu biết nào về chúng
Trang 11+ Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩnmực đạo đức, pháp luật.
+ Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân vớicộng đồng, đất nước
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực học tập
+ Năng lực lựa chọn nghề nghiệp
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp, tự tin
+ Năng lực hợp tác…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hơp lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp trao đổi, khảo sát thăm dò ý kiến giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm giúp người đọc nhận diện rõgiá trị và mức độ đóng góp của sáng kiến trong giảng dạy Để từ đó làm nổi bật
sự khác biệt và sự sáng tạo so với kinh nghiệm trước đó Tính mới của sáng kiếnnày nằm ở việc: kết hợp các phương pháp với phương pháp dạy học tích cực vàoquá trình giảng dạy để gây hứng thú cho HS ngay từ phần đầu bài giảng, thay vìchỉ tập trung truyền đạt kiến thức nhàm chán để khuyến khích HS tham gia tíchcực vào quá trình học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đồng thờiphát triển tư duy sáng tạo của HS
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là cách nói về phương pháp dạy học giáo dục, là cách dạyhọc theo hướng phát huy tinh thần học tập tích cực, tư duy và sáng tạo của họcsinh
- Phương pháp dạy học tích cực là hướng đến nhiều hoạt động khác nhautrong học tập, phát triển tính sáng tạo của học sinh Chú ý rằng, ở phương phápnày thường sẽ tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, người dạy sẽthông qua các kỹ thuật dạy học tích cực để bài giảng có hiệu quả nhất
2.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy học môn GDKT&PL.
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học sử dụng những phươngtiện dạy học trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học như: Bản đồ, tranh ảnh,
Trang 12video, các đồ vật, các thí nghiệm… giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thứchơn.
PPDH trực quan thường được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trìnhbày:
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họanhư bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, băngvideo…Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan được chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát choquá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng trithức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đóhình thành kĩ năng, kĩ xảo…
2.1.3 Quan niệm về phương pháp dự án trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH dự án là một hình thức dạy học mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Nhằmtạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng
PPDH theo dự án là mô hình học tập mới phát triển kiến thức cùng các kỹnăng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ Nó khuyến khích việchọc sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trongquá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm ra
PPDH theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sựđiều khiển và giúp đỡ của giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học củamình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Thông qua quátrình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập
2.1.4 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ học tập
Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong môn GDKT&PL sẽ giúp HS nắm vững,hiểu sâu và rộng tri thức khi biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề cùng vớigiáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời đây cũng là bước HScần chuẩn bị cho mình những tri thức trước khi bước vào cuộc sống sôi động,luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tư mình tìm hiểu, đặt ra và giải quyết vấn đề.Mặt khác, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên cung cấp cho học sinh môi trường
sư phạm lí tưởng theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôinhớ và tôi làm thì tôi nhanh hiểu và hiểu sâu
Dạy học nêu vấn đề trong môn GDKT&PL thường được sử dụng dưới 3hình thức:
- Trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này được sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng vàkhái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghethấy, nhưng chưa có một chút hiểu biết nào về chúng
Trang 13- Tìm tòi bộ phận: Trong mỗi bài giảng bao gồm nhiều đề mục, mỗi đề mục
lại bao gồm nhiều mục nhỏ Các đề mục và các mục nhỏ có liên quan chặt chẽvới nhau, tạo thành một bài giảng trọn vẹn với kết cấu logic xác định
- Nêu vấn đề toàn bộ: Đây là hình thức có mức độ cao nhất trong PPDH
nêu vấn đề Ở hình thức này, dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt khéo léo của giáo viên
HS tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề nêu ra trong bài giảng
2.1.5 Quan niệm về phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDKT&PL
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong tình huống giả định Đây là phương pháp giúp chohọc sinh suy nghĩ sâu sắc một vấn đề nào đó bằng cách tập trung vào sự việc cụthể mà các em vừa thực hiện hoặc vừa quan sát được Việc “diễn” không phải làphần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phầndiễn ấy Phương pháp đóng vai có những ưu điểm là học sinh được rèn luyện,thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàntrước khi thực hành trong thực tiễn Gây hứng thú và tạo điều kiện phát triển ócsáng tạo cho học sinh, khích lệ được sự thay đổi thái độ, hành vi theo hướng tíchcực Nhưng bên cạnh đó còn có nhược điểm là nếu giáo viên không có kinhnghiệm tổ chức thì có thể mất nhiều thời gian, một số học sinh nhút nhát khôngchịu tham gia, lớp ồn ào, ảnh hưởng đến lớp khác, và nếu một tình huống chonhiều nhóm đóng vai thì sẽ gây ra nhàm chán đối với học sinh
2.1.6 Sự cần thiết phải kết hợp phương pháp dạy học trực quan, phương pháp dạy học theo dự án, nêu vấn đề, đóng vai, trò chơi tiếp sức với phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần mở đầu bài học môn GDKT&PL 11.
Xuất phát từ mối quan hệ giữa mục đích dạy học và nội dung cần truyềnđạt cho người học với PPDH; xuất phát từ thực tế mỗi phương pháp dạy học đều
có những ưu điểm và hạn chế riêng; đồng thời, trong mỗi bài học có rất nhiềuđơn vị kiến thức khác nhau không thể sử dụng đơn nhất một phương pháp Dovậy, để đảm bảo kiến thức cần truyền đạt nhất thiết chúng ta phải kết hợp nhiềuphương pháp dạy học khác nhau và tất nhiên các phương pháp được chọn để kếthợp phải phát huy tối đa ưu điểm trong những đơn vị kiến thức nhất định vàkhắc phục những hạn chế của phương pháp còn lại
Theo các nhà nghiên cứu tâm lí, con người chỉ tích cực tư duy khi họ rơivào hoàn cảnh có vấn đề, khi phải tìm cách thoát khỏi những tình huống đanglàm cản bước trong nhận thức hoặc trong cuộc sống thực tế của họ Hoàn cảnh
có vấn đề nảy sinh khi con người phát hiện các mâu thuẫn trong lí thuyết haytrong thực tế, với phương pháp tư duy cũ, với kinh nghiệm và những tri thức đã
có họ không thể giải quyết được, làm cho họ rơi vào trạng thái tâm lí đặc biệt,thôi thúc họ đi tìm cách giải quyết Do đó, bên cạnh PPDH theo hướng truyềnthống cần kết hợp với PPDH theo hướng hiện đại để ngay khi ngồi trên nghếnhà trường THPT học sinh có ý thức chuẩn bị vào đời sống thích nghi hơn,thuận lợi hơn
Sự kết hợp các phương pháp dạy học trong một tiết dạy góp phần nâng caohiệu quả tiết dạy, hạn chế của PPDH này sẽ được mặt tích cực của PPDH kia
Trang 14video, các đồ vật, các thí nghiệm… giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thứchơn.
PPDH trực quan thường được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trìnhbày:
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họanhư bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, băngvideo…Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan được chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát choquá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng trithức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đóhình thành kĩ năng, kĩ xảo…
2.1.3 Quan niệm về phương pháp dự án trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH dự án là một hình thức dạy học mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Nhằmtạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng
PPDH theo dự án là mô hình học tập mới phát triển kiến thức cùng các kỹnăng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ Nó khuyến khích việchọc sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trongquá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm ra
PPDH theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sựđiều khiển và giúp đỡ của giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học củamình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Thông qua quátrình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập
2.1.4 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ học tập
Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong môn GDKT&PL sẽ giúp HS nắm vững,hiểu sâu và rộng tri thức khi biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề cùng vớigiáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời đây cũng là bước HScần chuẩn bị cho mình những tri thức trước khi bước vào cuộc sống sôi động,luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tư mình tìm hiểu, đặt ra và giải quyết vấn đề.Mặt khác, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên cung cấp cho học sinh môi trường
sư phạm lí tưởng theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôinhớ và tôi làm thì tôi nhanh hiểu và hiểu sâu
Dạy học nêu vấn đề trong môn GDKT&PL thường được sử dụng dưới 3hình thức:
- Trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này được sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng vàkhái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghethấy, nhưng chưa có một chút hiểu biết nào về chúng
Trang 15- Tìm tòi bộ phận: Trong mỗi bài giảng bao gồm nhiều đề mục, mỗi đề mục
lại bao gồm nhiều mục nhỏ Các đề mục và các mục nhỏ có liên quan chặt chẽvới nhau, tạo thành một bài giảng trọn vẹn với kết cấu logic xác định
- Nêu vấn đề toàn bộ: Đây là hình thức có mức độ cao nhất trong PPDH
nêu vấn đề Ở hình thức này, dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt khéo léo của giáo viên
HS tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề nêu ra trong bài giảng
2.1.5 Quan niệm về phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDKT&PL
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong tình huống giả định Đây là phương pháp giúp chohọc sinh suy nghĩ sâu sắc một vấn đề nào đó bằng cách tập trung vào sự việc cụthể mà các em vừa thực hiện hoặc vừa quan sát được Việc “diễn” không phải làphần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phầndiễn ấy Phương pháp đóng vai có những ưu điểm là học sinh được rèn luyện,thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàntrước khi thực hành trong thực tiễn Gây hứng thú và tạo điều kiện phát triển ócsáng tạo cho học sinh, khích lệ được sự thay đổi thái độ, hành vi theo hướng tíchcực Nhưng bên cạnh đó còn có nhược điểm là nếu giáo viên không có kinhnghiệm tổ chức thì có thể mất nhiều thời gian, một số học sinh nhút nhát khôngchịu tham gia, lớp ồn ào, ảnh hưởng đến lớp khác, và nếu một tình huống chonhiều nhóm đóng vai thì sẽ gây ra nhàm chán đối với học sinh
2.1.6 Sự cần thiết phải kết hợp phương pháp dạy học trực quan, phương pháp dạy học theo dự án, nêu vấn đề, đóng vai, trò chơi tiếp sức với phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần mở đầu bài học môn GDKT&PL 11.
Xuất phát từ mối quan hệ giữa mục đích dạy học và nội dung cần truyềnđạt cho người học với PPDH; xuất phát từ thực tế mỗi phương pháp dạy học đều
có những ưu điểm và hạn chế riêng; đồng thời, trong mỗi bài học có rất nhiềuđơn vị kiến thức khác nhau không thể sử dụng đơn nhất một phương pháp Dovậy, để đảm bảo kiến thức cần truyền đạt nhất thiết chúng ta phải kết hợp nhiềuphương pháp dạy học khác nhau và tất nhiên các phương pháp được chọn để kếthợp phải phát huy tối đa ưu điểm trong những đơn vị kiến thức nhất định vàkhắc phục những hạn chế của phương pháp còn lại
Theo các nhà nghiên cứu tâm lí, con người chỉ tích cực tư duy khi họ rơivào hoàn cảnh có vấn đề, khi phải tìm cách thoát khỏi những tình huống đanglàm cản bước trong nhận thức hoặc trong cuộc sống thực tế của họ Hoàn cảnh
có vấn đề nảy sinh khi con người phát hiện các mâu thuẫn trong lí thuyết haytrong thực tế, với phương pháp tư duy cũ, với kinh nghiệm và những tri thức đã
có họ không thể giải quyết được, làm cho họ rơi vào trạng thái tâm lí đặc biệt,thôi thúc họ đi tìm cách giải quyết Do đó, bên cạnh PPDH theo hướng truyềnthống cần kết hợp với PPDH theo hướng hiện đại để ngay khi ngồi trên nghếnhà trường THPT học sinh có ý thức chuẩn bị vào đời sống thích nghi hơn,thuận lợi hơn
Sự kết hợp các phương pháp dạy học trong một tiết dạy góp phần nâng caohiệu quả tiết dạy, hạn chế của PPDH này sẽ được mặt tích cực của PPDH kia
Trang 161 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật(GDKT&PL) là một yêu cầu cơ bản và quan trọng hàng đầu trong sự nghiệpgiáo dục - đào tạo Môn GDKT&PL có vai trò to lớn trong việc trang bị cho họcsinh Trung học phổ thông (THPT) - những chủ nhân tương lai của đất nước, mộtcách tương đối có hệ thống những kiến thức phổ thông, cơ bản, thiết thực củatriết học duy vật biện chứng, của lý luận về chủ nghĩa xã hội và thời đại, về nhànước và pháp luật Đông thời, môn học bước đầu hình thành và bồi dưỡng tưtưởng khoa học, cách mạng, phương pháp tư duy biện chứng trong việc phântích và đánh giá thế giới hiện thực, sự hình thành đúng đắn về tư tưởng chính trịđạo đức cho mỗi người công dân và cộng đồng xã hội
Đổi mới phương pháp dạy học là nội dung được thực hiện thường xuyên,liên tục trong các nhà trường, mục đích của việc này là đưa học sinh vào trungtâm của hoạt động học, phát huy tinh thần tự học và sáng tạo của học sinh Dovậy, phải đổi mới quá trình dạy và học mà trước tiên là đổi mới cách dạy Đổimới không có nghĩa là vứt bỏ hoàn toàn cái cũ , mà đổi mới phải đảm bảo sự kếthừa có chọn lọc Trong dạy học hiện đại ngày nay để kích thích, phát huy nănglực của học sinh đòi hỏi người giáo viên phải biết tìm tòi sáng tạo, không ngừngđổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt phải biết “dẫn lối tâm hồn- là kĩ sư tâmhồn” để học sinh yêu thích môn học, bài học và say mê học tập
Từ năm học 2016 – 2017 Bộ Giáo dục và đào tạo bắt đầu triển khai thựchiện “ Phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫnhọc sinh tự học” với cách thiết kế bài học linh hoạt, sử dụng những phương phápdạy học hướng tới sự chủ động, tích cực nắm bắt kiến thức của học sinh Trongnăm học vừa qua tôi đã tiến hành thiết kế và giảng dạy theo phương pháp và kĩthuật dạy học mới này Qua quá trình thiết kế bài giảng và giảng dạy bản thântôi thấy được sự hứng thú với nội dung các tiết học của học sinh được nâng cao,song trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình tôi chỉ chọn vấn đề gây hứng thúcho học sinh ở phần khởi động với đề tài thì việc kết hợp phương pháp trựcquan, phương pháp dự án với phương pháp nêu vấn đề là cách dạy đạt hiệu quảcao nhất khi ứng dụng vào giảng dạy, đặc biệt là ứng dụng vào dạy phần mở đầubài học Tại trường THPT Hoằng Hóa 4 nơi tôi công tác, việc kết hợp giữa dạyhọc này đã được thực hiện nhưng chưa nhiều, hiệu quả sử dụng chưa cao, cònmang tính đối phó Vì vậy, tôi xin được phép trao đổi một vài kinh nghiệm
trong việc: “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy
học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần thứ hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệuquả trong giảng dạy, gây hứng thú học tập cho học sinh khi học phần công dânvới pháp luật môn GDKT&PL lớp 11 Cụ thể là:
+ Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề về pháp luật
Trang 171 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật(GDKT&PL) là một yêu cầu cơ bản và quan trọng hàng đầu trong sự nghiệpgiáo dục - đào tạo Môn GDKT&PL có vai trò to lớn trong việc trang bị cho họcsinh Trung học phổ thông (THPT) - những chủ nhân tương lai của đất nước, mộtcách tương đối có hệ thống những kiến thức phổ thông, cơ bản, thiết thực củatriết học duy vật biện chứng, của lý luận về chủ nghĩa xã hội và thời đại, về nhànước và pháp luật Đông thời, môn học bước đầu hình thành và bồi dưỡng tưtưởng khoa học, cách mạng, phương pháp tư duy biện chứng trong việc phântích và đánh giá thế giới hiện thực, sự hình thành đúng đắn về tư tưởng chính trịđạo đức cho mỗi người công dân và cộng đồng xã hội
Đổi mới phương pháp dạy học là nội dung được thực hiện thường xuyên,liên tục trong các nhà trường, mục đích của việc này là đưa học sinh vào trungtâm của hoạt động học, phát huy tinh thần tự học và sáng tạo của học sinh Dovậy, phải đổi mới quá trình dạy và học mà trước tiên là đổi mới cách dạy Đổimới không có nghĩa là vứt bỏ hoàn toàn cái cũ , mà đổi mới phải đảm bảo sự kếthừa có chọn lọc Trong dạy học hiện đại ngày nay để kích thích, phát huy nănglực của học sinh đòi hỏi người giáo viên phải biết tìm tòi sáng tạo, không ngừngđổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt phải biết “dẫn lối tâm hồn- là kĩ sư tâmhồn” để học sinh yêu thích môn học, bài học và say mê học tập
Từ năm học 2016 – 2017 Bộ Giáo dục và đào tạo bắt đầu triển khai thựchiện “ Phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫnhọc sinh tự học” với cách thiết kế bài học linh hoạt, sử dụng những phương phápdạy học hướng tới sự chủ động, tích cực nắm bắt kiến thức của học sinh Trongnăm học vừa qua tôi đã tiến hành thiết kế và giảng dạy theo phương pháp và kĩthuật dạy học mới này Qua quá trình thiết kế bài giảng và giảng dạy bản thântôi thấy được sự hứng thú với nội dung các tiết học của học sinh được nâng cao,song trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình tôi chỉ chọn vấn đề gây hứng thúcho học sinh ở phần khởi động với đề tài thì việc kết hợp phương pháp trựcquan, phương pháp dự án với phương pháp nêu vấn đề là cách dạy đạt hiệu quảcao nhất khi ứng dụng vào giảng dạy, đặc biệt là ứng dụng vào dạy phần mở đầubài học Tại trường THPT Hoằng Hóa 4 nơi tôi công tác, việc kết hợp giữa dạyhọc này đã được thực hiện nhưng chưa nhiều, hiệu quả sử dụng chưa cao, cònmang tính đối phó Vì vậy, tôi xin được phép trao đổi một vài kinh nghiệm
trong việc: “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy
học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần thứ hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệuquả trong giảng dạy, gây hứng thú học tập cho học sinh khi học phần công dânvới pháp luật môn GDKT&PL lớp 11 Cụ thể là:
+ Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề về pháp luật
Trang 18với pháp luật” là việc làm: Đơn giản 0 0%
7 Các lớp tập huấn chuyên đề đã phục vụ
như thế nào cho việc đổi mới PPDH của
thầy (cô)?
Rất hiệu quảHiệu quảKhông hiệu quả
1 25%
2 50%
1 25%
8 Thầy (cô) có thường xuyên dự giờ đồng
nghiệp để học hỏi kinh nghiệm không?
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
1 25%
3 75%
[Nguồn: Tác giả điều tra tại trường THPT Hoằng Hóa 4]
Với bảng số liệu trên, chúng tôi thấy rằng: Trên cơ sở các quan điểm chỉđạo đổi mới PPDH của Bộ GD & ĐT nói chung, Sở GD & ĐT tỉnh Thanh Hóanói riêng, bản thân giáo viên dạy học bộ môn GDKT&PL ở trường THPTHoằng Hóa 4 có nhận thấy việc đổi mới PPDH đối với bộ môn là cần thiết Đa
số các giáo viên đã chủ động trong việc đổi mới PPDH, đặc biệt là việc kết hợpphương pháp trực quan, phương pháp dự án với dạy học nêu vấn đề trong dạy
học phần “Công dân với pháp luật” đã bước đầu đem lại những kết quả nhất
định, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn
Bảng 2 Bảng tổng hợp ý kiến của học sinh
TT Nội dung câu hỏi Phương án trả lời Đồng ý
98 21.2%
258 55.8%
123 26.6%
3 Kiến thức trong phần “Công
dân với pháp luật” là:
4 Việc em chuẩn bị bài ở nhà
trước khi đến lớp đối với
môn GDKT&PL là:
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
123 26%
270 58%
85 17.%
5 Trong quá trình học môn
GDKT&PL, em đã tham gia
xây dựng bài như thế nào?
Thường xuyênThỉnh thoảngKhông tham gia
115 19,07%
269 57,05%
84 18.8%
[Nguồn: Tác giả điều tra tại trường THPT Hoằng Hóa 4]
Theo kết quả điều tra, thăm dò ý kiến của 504 HS lớp 11 ở trường THPTHoằng Hóa 4 thì có đến 97% HS trả lời rằng học tập môn GDKT&PL ở trườngTHPT là bổ ích và rất bổ ích Có 21.2% HS xác định môn GDKT&PL có vị tríquan trọng trong các môn được học và các em cũng thấy được những kiến thức
ở phần “Công dân với pháp” gắn liền với thực tiễn cuộc sống, chiếm tỉ lệ 52.1%[số liệu ở bảng 2] Tuy số lượng HS tham gia xây dựng bài chưa nhiều nhưngcác em đã có sự chuẩn bị bài ở nhà để có thể tham gia học tập nghiêm túc ở lớp
đã cho thấy những kết quả đạt được ban đầu của việc kết hợp dạy học trực quan,dạy học dự án với dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với pháp
Trang 19video, các đồ vật, các thí nghiệm… giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thứchơn.
PPDH trực quan thường được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trìnhbày:
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họanhư bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, băngvideo…Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan được chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát choquá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng trithức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đóhình thành kĩ năng, kĩ xảo…
2.1.3 Quan niệm về phương pháp dự án trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH dự án là một hình thức dạy học mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Nhằmtạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng
PPDH theo dự án là mô hình học tập mới phát triển kiến thức cùng các kỹnăng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ Nó khuyến khích việchọc sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trongquá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm ra
PPDH theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sựđiều khiển và giúp đỡ của giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học củamình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Thông qua quátrình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập
2.1.4 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ học tập
Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong môn GDKT&PL sẽ giúp HS nắm vững,hiểu sâu và rộng tri thức khi biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề cùng vớigiáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời đây cũng là bước HScần chuẩn bị cho mình những tri thức trước khi bước vào cuộc sống sôi động,luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tư mình tìm hiểu, đặt ra và giải quyết vấn đề.Mặt khác, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên cung cấp cho học sinh môi trường
sư phạm lí tưởng theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôinhớ và tôi làm thì tôi nhanh hiểu và hiểu sâu
Dạy học nêu vấn đề trong môn GDKT&PL thường được sử dụng dưới 3hình thức:
- Trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này được sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng vàkhái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghethấy, nhưng chưa có một chút hiểu biết nào về chúng
Trang 20với pháp luật” là việc làm: Đơn giản 0 0%
7 Các lớp tập huấn chuyên đề đã phục vụ
như thế nào cho việc đổi mới PPDH của
thầy (cô)?
Rất hiệu quảHiệu quảKhông hiệu quả
1 25%
2 50%
1 25%
8 Thầy (cô) có thường xuyên dự giờ đồng
nghiệp để học hỏi kinh nghiệm không?
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
1 25%
3 75%
[Nguồn: Tác giả điều tra tại trường THPT Hoằng Hóa 4]
Với bảng số liệu trên, chúng tôi thấy rằng: Trên cơ sở các quan điểm chỉđạo đổi mới PPDH của Bộ GD & ĐT nói chung, Sở GD & ĐT tỉnh Thanh Hóanói riêng, bản thân giáo viên dạy học bộ môn GDKT&PL ở trường THPTHoằng Hóa 4 có nhận thấy việc đổi mới PPDH đối với bộ môn là cần thiết Đa
số các giáo viên đã chủ động trong việc đổi mới PPDH, đặc biệt là việc kết hợpphương pháp trực quan, phương pháp dự án với dạy học nêu vấn đề trong dạy
học phần “Công dân với pháp luật” đã bước đầu đem lại những kết quả nhất
định, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn
Bảng 2 Bảng tổng hợp ý kiến của học sinh
TT Nội dung câu hỏi Phương án trả lời Đồng ý
98 21.2%
258 55.8%
123 26.6%
3 Kiến thức trong phần “Công
dân với pháp luật” là:
4 Việc em chuẩn bị bài ở nhà
trước khi đến lớp đối với
môn GDKT&PL là:
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
123 26%
270 58%
85 17.%
5 Trong quá trình học môn
GDKT&PL, em đã tham gia
xây dựng bài như thế nào?
Thường xuyênThỉnh thoảngKhông tham gia
115 19,07%
269 57,05%
84 18.8%
[Nguồn: Tác giả điều tra tại trường THPT Hoằng Hóa 4]
Theo kết quả điều tra, thăm dò ý kiến của 504 HS lớp 11 ở trường THPTHoằng Hóa 4 thì có đến 97% HS trả lời rằng học tập môn GDKT&PL ở trườngTHPT là bổ ích và rất bổ ích Có 21.2% HS xác định môn GDKT&PL có vị tríquan trọng trong các môn được học và các em cũng thấy được những kiến thức
ở phần “Công dân với pháp” gắn liền với thực tiễn cuộc sống, chiếm tỉ lệ 52.1%[số liệu ở bảng 2] Tuy số lượng HS tham gia xây dựng bài chưa nhiều nhưngcác em đã có sự chuẩn bị bài ở nhà để có thể tham gia học tập nghiêm túc ở lớp
đã cho thấy những kết quả đạt được ban đầu của việc kết hợp dạy học trực quan,dạy học dự án với dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với pháp
Trang 21video, các đồ vật, các thí nghiệm… giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thứchơn.
PPDH trực quan thường được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trìnhbày:
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họanhư bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, băngvideo…Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan được chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát choquá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng trithức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đóhình thành kĩ năng, kĩ xảo…
2.1.3 Quan niệm về phương pháp dự án trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH dự án là một hình thức dạy học mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Nhằmtạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng
PPDH theo dự án là mô hình học tập mới phát triển kiến thức cùng các kỹnăng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ Nó khuyến khích việchọc sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trongquá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm ra
PPDH theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sựđiều khiển và giúp đỡ của giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học củamình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Thông qua quátrình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập
2.1.4 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ học tập
Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong môn GDKT&PL sẽ giúp HS nắm vững,hiểu sâu và rộng tri thức khi biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề cùng vớigiáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời đây cũng là bước HScần chuẩn bị cho mình những tri thức trước khi bước vào cuộc sống sôi động,luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tư mình tìm hiểu, đặt ra và giải quyết vấn đề.Mặt khác, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên cung cấp cho học sinh môi trường
sư phạm lí tưởng theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôinhớ và tôi làm thì tôi nhanh hiểu và hiểu sâu
Dạy học nêu vấn đề trong môn GDKT&PL thường được sử dụng dưới 3hình thức:
- Trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này được sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng vàkhái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghethấy, nhưng chưa có một chút hiểu biết nào về chúng
Trang 22khắc phục từng bước hoàn thiện phương pháp dạy học Các PPDH có mối quan
hệ biện chứng với nhau.Ví dụ: Phương pháp nêu vấn đề đưa học sinh đứng trướcmâu thuẫn cần được giải quyết, phương pháp dự án giúp phát triển kỹ năng bảnthân học sinh thông qua nhiệm vụ Vì vậy, sự kết hợp các PPDH trong tiết dạy
là một tất yếu khách quan
Kết hợp dạy học trực quan, phương pháp dự án với dạy học nêu vấn đề gópphần đổi mới phương pháp dạy học Lúc này phương pháp nêu vấn đề khôngđơn giản là đưa người học vào tình huống có vấn đề, mà còn được sử dụng đểhướng dẫn học sinh cách thức làm việc, con đường để khám phá tri thức, từngbước được giải quyết tạo tâm thế tự tin cho người học, giờ học sẽ trở nên hấpdẫn, sội động hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Để tìm hiểu thực trạng của việc kết hợp phương pháp dạy học trực quan,phương pháp dạy học theo dự án với phương pháp nêu vấn đề vào giảng dạyphần khởi động nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy, gây hứng thú học tậpcho học sinh trong dạy học phần: “Công dân với pháp luật” môn GDKT&PLlớp 11 ở trường THPT Hoằng Hóa 4, chúng tôi tiến hành điều tra, thăm dò ýkiến của 504 học sinh và 03 giáo viên dạy học môn GDKT&PL tại trườngTHPT Hoằng Hóa 4 hiện nay Đội ngũ giáo viên dạy có 4 người, tất cả đều cótrình độ Đại học trở lên và được đào tạo đúng chuyên ngành, kinh nghiệm dạyhọc trên 10 năm quan trọng hơn họ đều tâm huyết với nghề Những điểm này sẽtạo điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
Bảng 1 Bảng tổng hợp ý kiến của giáo viên
trả lời
Đồng ý
SL tỉ lệ%
1 Theo thầy (cô), việc đổi mới PPDH đối
với môn GDKT&PL là:
Rất cần thiếtCần thiếtKhông cần thiết
4 100%
0 0%
0 0%
2 Thầy cô đã thực hiện việc đổi mới PPDH
theo hướng phát huy tính tích cực của
HS như thế nào?
Rất chủ độngChủ độngChưa chủ động
1 25%
3 75%
0 0%
3 Theo thầy (cô), đối với nội dung phần
“Công dân với pháp luật” thì việc kết
hợp linh hoạt giữa các phương pháp là
vấn đề:
Rất cần thiếtCần thiếtKhông cần thiết
4 100%
0 0%
0 0%
4 Thầy cô có thường xuyên thực hiện kết
hợp PPTQ, PPDA với PPNVĐ trong dạy
học phần “Công dân với pháp luật”
không?
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
2 50%
2 50%
0 0%
5 Trong dạy học phần “Công dân với pháp
luật”, việc thầy (cô) kết hợp PPTQ,
PPDA với PPNVĐ đã mang lại kết quả
như thế nào?
Rất tốtTốtChưa tốt
1 25%
2 50%
1 25%
6 Theo thầy (cô), kết hợp PPTQ,PPDA với
PPNVĐ trong dạy học phần “Công dân
Rất khó khănKhó khăn
3 75%
1 25%
Trang 23+ Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩnmực đạo đức, pháp luật.
+ Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân vớicộng đồng, đất nước
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực học tập
+ Năng lực lựa chọn nghề nghiệp
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp, tự tin
+ Năng lực hợp tác…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hơp lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp trao đổi, khảo sát thăm dò ý kiến giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm giúp người đọc nhận diện rõgiá trị và mức độ đóng góp của sáng kiến trong giảng dạy Để từ đó làm nổi bật
sự khác biệt và sự sáng tạo so với kinh nghiệm trước đó Tính mới của sáng kiếnnày nằm ở việc: kết hợp các phương pháp với phương pháp dạy học tích cực vàoquá trình giảng dạy để gây hứng thú cho HS ngay từ phần đầu bài giảng, thay vìchỉ tập trung truyền đạt kiến thức nhàm chán để khuyến khích HS tham gia tíchcực vào quá trình học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đồng thờiphát triển tư duy sáng tạo của HS
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là cách nói về phương pháp dạy học giáo dục, là cách dạyhọc theo hướng phát huy tinh thần học tập tích cực, tư duy và sáng tạo của họcsinh
- Phương pháp dạy học tích cực là hướng đến nhiều hoạt động khác nhautrong học tập, phát triển tính sáng tạo của học sinh Chú ý rằng, ở phương phápnày thường sẽ tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, người dạy sẽthông qua các kỹ thuật dạy học tích cực để bài giảng có hiệu quả nhất
2.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy học môn GDKT&PL.
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học sử dụng những phươngtiện dạy học trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học như: Bản đồ, tranh ảnh,
Trang 24khắc phục từng bước hoàn thiện phương pháp dạy học Các PPDH có mối quan
hệ biện chứng với nhau.Ví dụ: Phương pháp nêu vấn đề đưa học sinh đứng trướcmâu thuẫn cần được giải quyết, phương pháp dự án giúp phát triển kỹ năng bảnthân học sinh thông qua nhiệm vụ Vì vậy, sự kết hợp các PPDH trong tiết dạy
là một tất yếu khách quan
Kết hợp dạy học trực quan, phương pháp dự án với dạy học nêu vấn đề gópphần đổi mới phương pháp dạy học Lúc này phương pháp nêu vấn đề khôngđơn giản là đưa người học vào tình huống có vấn đề, mà còn được sử dụng đểhướng dẫn học sinh cách thức làm việc, con đường để khám phá tri thức, từngbước được giải quyết tạo tâm thế tự tin cho người học, giờ học sẽ trở nên hấpdẫn, sội động hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Để tìm hiểu thực trạng của việc kết hợp phương pháp dạy học trực quan,phương pháp dạy học theo dự án với phương pháp nêu vấn đề vào giảng dạyphần khởi động nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy, gây hứng thú học tậpcho học sinh trong dạy học phần: “Công dân với pháp luật” môn GDKT&PLlớp 11 ở trường THPT Hoằng Hóa 4, chúng tôi tiến hành điều tra, thăm dò ýkiến của 504 học sinh và 03 giáo viên dạy học môn GDKT&PL tại trườngTHPT Hoằng Hóa 4 hiện nay Đội ngũ giáo viên dạy có 4 người, tất cả đều cótrình độ Đại học trở lên và được đào tạo đúng chuyên ngành, kinh nghiệm dạyhọc trên 10 năm quan trọng hơn họ đều tâm huyết với nghề Những điểm này sẽtạo điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
Bảng 1 Bảng tổng hợp ý kiến của giáo viên
trả lời
Đồng ý
SL tỉ lệ%
1 Theo thầy (cô), việc đổi mới PPDH đối
với môn GDKT&PL là:
Rất cần thiếtCần thiếtKhông cần thiết
4 100%
0 0%
0 0%
2 Thầy cô đã thực hiện việc đổi mới PPDH
theo hướng phát huy tính tích cực của
HS như thế nào?
Rất chủ độngChủ độngChưa chủ động
1 25%
3 75%
0 0%
3 Theo thầy (cô), đối với nội dung phần
“Công dân với pháp luật” thì việc kết
hợp linh hoạt giữa các phương pháp là
vấn đề:
Rất cần thiếtCần thiếtKhông cần thiết
4 100%
0 0%
0 0%
4 Thầy cô có thường xuyên thực hiện kết
hợp PPTQ, PPDA với PPNVĐ trong dạy
học phần “Công dân với pháp luật”
không?
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
2 50%
2 50%
0 0%
5 Trong dạy học phần “Công dân với pháp
luật”, việc thầy (cô) kết hợp PPTQ,
PPDA với PPNVĐ đã mang lại kết quả
như thế nào?
Rất tốtTốtChưa tốt
1 25%
2 50%
1 25%
6 Theo thầy (cô), kết hợp PPTQ,PPDA với
PPNVĐ trong dạy học phần “Công dân
Rất khó khănKhó khăn
3 75%
1 25%
Trang 25video, các đồ vật, các thí nghiệm… giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thứchơn.
PPDH trực quan thường được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trìnhbày:
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họanhư bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, băngvideo…Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan được chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát choquá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng trithức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đóhình thành kĩ năng, kĩ xảo…
2.1.3 Quan niệm về phương pháp dự án trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH dự án là một hình thức dạy học mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Nhằmtạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng
PPDH theo dự án là mô hình học tập mới phát triển kiến thức cùng các kỹnăng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ Nó khuyến khích việchọc sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trongquá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm ra
PPDH theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sựđiều khiển và giúp đỡ của giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học củamình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Thông qua quátrình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập
2.1.4 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ học tập
Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong môn GDKT&PL sẽ giúp HS nắm vững,hiểu sâu và rộng tri thức khi biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề cùng vớigiáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời đây cũng là bước HScần chuẩn bị cho mình những tri thức trước khi bước vào cuộc sống sôi động,luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tư mình tìm hiểu, đặt ra và giải quyết vấn đề.Mặt khác, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên cung cấp cho học sinh môi trường
sư phạm lí tưởng theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôinhớ và tôi làm thì tôi nhanh hiểu và hiểu sâu
Dạy học nêu vấn đề trong môn GDKT&PL thường được sử dụng dưới 3hình thức:
- Trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này được sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng vàkhái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghethấy, nhưng chưa có một chút hiểu biết nào về chúng
Trang 26+ Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩnmực đạo đức, pháp luật.
+ Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân vớicộng đồng, đất nước
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực học tập
+ Năng lực lựa chọn nghề nghiệp
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp, tự tin
+ Năng lực hợp tác…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hơp lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp trao đổi, khảo sát thăm dò ý kiến giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm giúp người đọc nhận diện rõgiá trị và mức độ đóng góp của sáng kiến trong giảng dạy Để từ đó làm nổi bật
sự khác biệt và sự sáng tạo so với kinh nghiệm trước đó Tính mới của sáng kiếnnày nằm ở việc: kết hợp các phương pháp với phương pháp dạy học tích cực vàoquá trình giảng dạy để gây hứng thú cho HS ngay từ phần đầu bài giảng, thay vìchỉ tập trung truyền đạt kiến thức nhàm chán để khuyến khích HS tham gia tíchcực vào quá trình học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đồng thờiphát triển tư duy sáng tạo của HS
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là cách nói về phương pháp dạy học giáo dục, là cách dạyhọc theo hướng phát huy tinh thần học tập tích cực, tư duy và sáng tạo của họcsinh
- Phương pháp dạy học tích cực là hướng đến nhiều hoạt động khác nhautrong học tập, phát triển tính sáng tạo của học sinh Chú ý rằng, ở phương phápnày thường sẽ tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, người dạy sẽthông qua các kỹ thuật dạy học tích cực để bài giảng có hiệu quả nhất
2.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy học môn GDKT&PL.
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học sử dụng những phươngtiện dạy học trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học như: Bản đồ, tranh ảnh,
Trang 27với pháp luật” là việc làm: Đơn giản 0 0%
7 Các lớp tập huấn chuyên đề đã phục vụ
như thế nào cho việc đổi mới PPDH của
thầy (cô)?
Rất hiệu quảHiệu quảKhông hiệu quả
1 25%
2 50%
1 25%
8 Thầy (cô) có thường xuyên dự giờ đồng
nghiệp để học hỏi kinh nghiệm không?
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
1 25%
3 75%
[Nguồn: Tác giả điều tra tại trường THPT Hoằng Hóa 4]
Với bảng số liệu trên, chúng tôi thấy rằng: Trên cơ sở các quan điểm chỉđạo đổi mới PPDH của Bộ GD & ĐT nói chung, Sở GD & ĐT tỉnh Thanh Hóanói riêng, bản thân giáo viên dạy học bộ môn GDKT&PL ở trường THPTHoằng Hóa 4 có nhận thấy việc đổi mới PPDH đối với bộ môn là cần thiết Đa
số các giáo viên đã chủ động trong việc đổi mới PPDH, đặc biệt là việc kết hợpphương pháp trực quan, phương pháp dự án với dạy học nêu vấn đề trong dạy
học phần “Công dân với pháp luật” đã bước đầu đem lại những kết quả nhất
định, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn
Bảng 2 Bảng tổng hợp ý kiến của học sinh
TT Nội dung câu hỏi Phương án trả lời Đồng ý
98 21.2%
258 55.8%
123 26.6%
3 Kiến thức trong phần “Công
dân với pháp luật” là:
4 Việc em chuẩn bị bài ở nhà
trước khi đến lớp đối với
môn GDKT&PL là:
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
123 26%
270 58%
85 17.%
5 Trong quá trình học môn
GDKT&PL, em đã tham gia
xây dựng bài như thế nào?
Thường xuyênThỉnh thoảngKhông tham gia
115 19,07%
269 57,05%
84 18.8%
[Nguồn: Tác giả điều tra tại trường THPT Hoằng Hóa 4]
Theo kết quả điều tra, thăm dò ý kiến của 504 HS lớp 11 ở trường THPTHoằng Hóa 4 thì có đến 97% HS trả lời rằng học tập môn GDKT&PL ở trườngTHPT là bổ ích và rất bổ ích Có 21.2% HS xác định môn GDKT&PL có vị tríquan trọng trong các môn được học và các em cũng thấy được những kiến thức
ở phần “Công dân với pháp” gắn liền với thực tiễn cuộc sống, chiếm tỉ lệ 52.1%[số liệu ở bảng 2] Tuy số lượng HS tham gia xây dựng bài chưa nhiều nhưngcác em đã có sự chuẩn bị bài ở nhà để có thể tham gia học tập nghiêm túc ở lớp
đã cho thấy những kết quả đạt được ban đầu của việc kết hợp dạy học trực quan,dạy học dự án với dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với pháp
Trang 28+ Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩnmực đạo đức, pháp luật.
+ Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân vớicộng đồng, đất nước
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực học tập
+ Năng lực lựa chọn nghề nghiệp
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp, tự tin
+ Năng lực hợp tác…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hơp lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp trao đổi, khảo sát thăm dò ý kiến giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm giúp người đọc nhận diện rõgiá trị và mức độ đóng góp của sáng kiến trong giảng dạy Để từ đó làm nổi bật
sự khác biệt và sự sáng tạo so với kinh nghiệm trước đó Tính mới của sáng kiếnnày nằm ở việc: kết hợp các phương pháp với phương pháp dạy học tích cực vàoquá trình giảng dạy để gây hứng thú cho HS ngay từ phần đầu bài giảng, thay vìchỉ tập trung truyền đạt kiến thức nhàm chán để khuyến khích HS tham gia tíchcực vào quá trình học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đồng thờiphát triển tư duy sáng tạo của HS
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là cách nói về phương pháp dạy học giáo dục, là cách dạyhọc theo hướng phát huy tinh thần học tập tích cực, tư duy và sáng tạo của họcsinh
- Phương pháp dạy học tích cực là hướng đến nhiều hoạt động khác nhautrong học tập, phát triển tính sáng tạo của học sinh Chú ý rằng, ở phương phápnày thường sẽ tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, người dạy sẽthông qua các kỹ thuật dạy học tích cực để bài giảng có hiệu quả nhất
2.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy học môn GDKT&PL.
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học sử dụng những phươngtiện dạy học trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học như: Bản đồ, tranh ảnh,
Trang 29luật” Tất cả những điều đó đang đặt ra cho giáo viên dạy GDKT&PL có tâmhuyết với nghề cần còn phải tiếp tục, không ngừng nghiên cứu để tìm ra nhữnggiải pháp thực hiện việc kết hợp PPTQ,PPDA với PPNVĐ có hiệu quả cao hơn.
Bảng 3: Tình hình học tập môn GDKT&PL khối 11 qua khảo sát bài kiểm tra Thường xuyên đầu học kì II.
TT Lớp Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
(Nguồn: Thống kê điểm kiểm tra thường xuyên lớp 11- Trường THPT
Hoằng hóa 4, huyện Hoằng Hóa, tháng 01/2025)
Từ kết quả kiểm tra 15 phút đầu kì 2 của cả khối cùng với nhóm chuyênmôn chúng tôi lưa chọn 2 nhóm lớp thực nghiệm và nhóm đối chứng kết quảnhư sau;
Bảng 4: Bảng điểm kiểm tra 15 phút của 2 nhóm lớp thựcnghiệm và nhóm đối chứng
Nhóm
Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
10 điểm)
Lớp đối
chứng
11A8 42 0 (0%) 14 (33.3%) 26 (61.9%) 2 (4.76%)11A9 42 0 (0%) 12 (28.6%) 30 (71.4%) 0 (0%)
(Nguồn: Số liệu tổng hợp điểm kiểm tra lớp 11- Trường THPT Hoằng Hóa 4,
huyện Hoằng Hóa)
Từ thực trạng nói trên bản thân thấy việc tìm ra giải pháp để sử dụng hiệuquả “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tíchcực vào phần mở đầu bài học nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy phần hai:
“Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11” là hết sứccần thiết, đây cũng là lí do để bản thân tôi mày mò và tìm kiếm
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề và cách thức thực hiện 2.3.1 Giải pháp thực hiện sáng kiến.
2.3.1.1 Nhóm giải pháp đối với giáo viên
Trang 30- Tìm tòi bộ phận: Trong mỗi bài giảng bao gồm nhiều đề mục, mỗi đề mục
lại bao gồm nhiều mục nhỏ Các đề mục và các mục nhỏ có liên quan chặt chẽvới nhau, tạo thành một bài giảng trọn vẹn với kết cấu logic xác định
- Nêu vấn đề toàn bộ: Đây là hình thức có mức độ cao nhất trong PPDH
nêu vấn đề Ở hình thức này, dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt khéo léo của giáo viên
HS tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề nêu ra trong bài giảng
2.1.5 Quan niệm về phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDKT&PL
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong tình huống giả định Đây là phương pháp giúp chohọc sinh suy nghĩ sâu sắc một vấn đề nào đó bằng cách tập trung vào sự việc cụthể mà các em vừa thực hiện hoặc vừa quan sát được Việc “diễn” không phải làphần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phầndiễn ấy Phương pháp đóng vai có những ưu điểm là học sinh được rèn luyện,thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàntrước khi thực hành trong thực tiễn Gây hứng thú và tạo điều kiện phát triển ócsáng tạo cho học sinh, khích lệ được sự thay đổi thái độ, hành vi theo hướng tíchcực Nhưng bên cạnh đó còn có nhược điểm là nếu giáo viên không có kinhnghiệm tổ chức thì có thể mất nhiều thời gian, một số học sinh nhút nhát khôngchịu tham gia, lớp ồn ào, ảnh hưởng đến lớp khác, và nếu một tình huống chonhiều nhóm đóng vai thì sẽ gây ra nhàm chán đối với học sinh
2.1.6 Sự cần thiết phải kết hợp phương pháp dạy học trực quan, phương pháp dạy học theo dự án, nêu vấn đề, đóng vai, trò chơi tiếp sức với phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần mở đầu bài học môn GDKT&PL 11.
Xuất phát từ mối quan hệ giữa mục đích dạy học và nội dung cần truyềnđạt cho người học với PPDH; xuất phát từ thực tế mỗi phương pháp dạy học đều
có những ưu điểm và hạn chế riêng; đồng thời, trong mỗi bài học có rất nhiềuđơn vị kiến thức khác nhau không thể sử dụng đơn nhất một phương pháp Dovậy, để đảm bảo kiến thức cần truyền đạt nhất thiết chúng ta phải kết hợp nhiềuphương pháp dạy học khác nhau và tất nhiên các phương pháp được chọn để kếthợp phải phát huy tối đa ưu điểm trong những đơn vị kiến thức nhất định vàkhắc phục những hạn chế của phương pháp còn lại
Theo các nhà nghiên cứu tâm lí, con người chỉ tích cực tư duy khi họ rơivào hoàn cảnh có vấn đề, khi phải tìm cách thoát khỏi những tình huống đanglàm cản bước trong nhận thức hoặc trong cuộc sống thực tế của họ Hoàn cảnh
có vấn đề nảy sinh khi con người phát hiện các mâu thuẫn trong lí thuyết haytrong thực tế, với phương pháp tư duy cũ, với kinh nghiệm và những tri thức đã
có họ không thể giải quyết được, làm cho họ rơi vào trạng thái tâm lí đặc biệt,thôi thúc họ đi tìm cách giải quyết Do đó, bên cạnh PPDH theo hướng truyềnthống cần kết hợp với PPDH theo hướng hiện đại để ngay khi ngồi trên nghếnhà trường THPT học sinh có ý thức chuẩn bị vào đời sống thích nghi hơn,thuận lợi hơn
Sự kết hợp các phương pháp dạy học trong một tiết dạy góp phần nâng caohiệu quả tiết dạy, hạn chế của PPDH này sẽ được mặt tích cực của PPDH kia
Trang 31luật” Tất cả những điều đó đang đặt ra cho giáo viên dạy GDKT&PL có tâmhuyết với nghề cần còn phải tiếp tục, không ngừng nghiên cứu để tìm ra nhữnggiải pháp thực hiện việc kết hợp PPTQ,PPDA với PPNVĐ có hiệu quả cao hơn.
Bảng 3: Tình hình học tập môn GDKT&PL khối 11 qua khảo sát bài kiểm tra Thường xuyên đầu học kì II.
TT Lớp Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
(Nguồn: Thống kê điểm kiểm tra thường xuyên lớp 11- Trường THPT
Hoằng hóa 4, huyện Hoằng Hóa, tháng 01/2025)
Từ kết quả kiểm tra 15 phút đầu kì 2 của cả khối cùng với nhóm chuyênmôn chúng tôi lưa chọn 2 nhóm lớp thực nghiệm và nhóm đối chứng kết quảnhư sau;
Bảng 4: Bảng điểm kiểm tra 15 phút của 2 nhóm lớp thựcnghiệm và nhóm đối chứng
Nhóm
Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
10 điểm)
Lớp đối
chứng
11A8 42 0 (0%) 14 (33.3%) 26 (61.9%) 2 (4.76%)11A9 42 0 (0%) 12 (28.6%) 30 (71.4%) 0 (0%)
(Nguồn: Số liệu tổng hợp điểm kiểm tra lớp 11- Trường THPT Hoằng Hóa 4,
huyện Hoằng Hóa)
Từ thực trạng nói trên bản thân thấy việc tìm ra giải pháp để sử dụng hiệuquả “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tíchcực vào phần mở đầu bài học nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy phần hai:
“Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11” là hết sứccần thiết, đây cũng là lí do để bản thân tôi mày mò và tìm kiếm
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề và cách thức thực hiện 2.3.1 Giải pháp thực hiện sáng kiến.
2.3.1.1 Nhóm giải pháp đối với giáo viên
Trang 32video, các đồ vật, các thí nghiệm… giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thứchơn.
PPDH trực quan thường được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trìnhbày:
Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họanhư bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng…
Trình bày thường gắn liền với trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, băngvideo…Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan được chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát choquá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng trithức mà còn giúp các em học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đóhình thành kĩ năng, kĩ xảo…
2.1.3 Quan niệm về phương pháp dự án trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH dự án là một hình thức dạy học mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Nhằmtạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng
PPDH theo dự án là mô hình học tập mới phát triển kiến thức cùng các kỹnăng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ Nó khuyến khích việchọc sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trongquá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm ra
PPDH theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sựđiều khiển và giúp đỡ của giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học củamình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành Thông qua quátrình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập
2.1.4 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDKT&PL
PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâuthuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ học tập
Sử dụng PPDH nêu vấn đề trong môn GDKT&PL sẽ giúp HS nắm vững,hiểu sâu và rộng tri thức khi biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề cùng vớigiáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời đây cũng là bước HScần chuẩn bị cho mình những tri thức trước khi bước vào cuộc sống sôi động,luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tư mình tìm hiểu, đặt ra và giải quyết vấn đề.Mặt khác, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên cung cấp cho học sinh môi trường
sư phạm lí tưởng theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôinhớ và tôi làm thì tôi nhanh hiểu và hiểu sâu
Dạy học nêu vấn đề trong môn GDKT&PL thường được sử dụng dưới 3hình thức:
- Trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề.
Hình thức này được sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng vàkhái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS, những thuật ngữ khoa học HS nghethấy, nhưng chưa có một chút hiểu biết nào về chúng
Trang 33khắc phục từng bước hoàn thiện phương pháp dạy học Các PPDH có mối quan
hệ biện chứng với nhau.Ví dụ: Phương pháp nêu vấn đề đưa học sinh đứng trướcmâu thuẫn cần được giải quyết, phương pháp dự án giúp phát triển kỹ năng bảnthân học sinh thông qua nhiệm vụ Vì vậy, sự kết hợp các PPDH trong tiết dạy
là một tất yếu khách quan
Kết hợp dạy học trực quan, phương pháp dự án với dạy học nêu vấn đề gópphần đổi mới phương pháp dạy học Lúc này phương pháp nêu vấn đề khôngđơn giản là đưa người học vào tình huống có vấn đề, mà còn được sử dụng đểhướng dẫn học sinh cách thức làm việc, con đường để khám phá tri thức, từngbước được giải quyết tạo tâm thế tự tin cho người học, giờ học sẽ trở nên hấpdẫn, sội động hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Để tìm hiểu thực trạng của việc kết hợp phương pháp dạy học trực quan,phương pháp dạy học theo dự án với phương pháp nêu vấn đề vào giảng dạyphần khởi động nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy, gây hứng thú học tậpcho học sinh trong dạy học phần: “Công dân với pháp luật” môn GDKT&PLlớp 11 ở trường THPT Hoằng Hóa 4, chúng tôi tiến hành điều tra, thăm dò ýkiến của 504 học sinh và 03 giáo viên dạy học môn GDKT&PL tại trườngTHPT Hoằng Hóa 4 hiện nay Đội ngũ giáo viên dạy có 4 người, tất cả đều cótrình độ Đại học trở lên và được đào tạo đúng chuyên ngành, kinh nghiệm dạyhọc trên 10 năm quan trọng hơn họ đều tâm huyết với nghề Những điểm này sẽtạo điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
Bảng 1 Bảng tổng hợp ý kiến của giáo viên
trả lời
Đồng ý
SL tỉ lệ%
1 Theo thầy (cô), việc đổi mới PPDH đối
với môn GDKT&PL là:
Rất cần thiếtCần thiếtKhông cần thiết
4 100%
0 0%
0 0%
2 Thầy cô đã thực hiện việc đổi mới PPDH
theo hướng phát huy tính tích cực của
HS như thế nào?
Rất chủ độngChủ độngChưa chủ động
1 25%
3 75%
0 0%
3 Theo thầy (cô), đối với nội dung phần
“Công dân với pháp luật” thì việc kết
hợp linh hoạt giữa các phương pháp là
vấn đề:
Rất cần thiếtCần thiếtKhông cần thiết
4 100%
0 0%
0 0%
4 Thầy cô có thường xuyên thực hiện kết
hợp PPTQ, PPDA với PPNVĐ trong dạy
học phần “Công dân với pháp luật”
không?
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
2 50%
2 50%
0 0%
5 Trong dạy học phần “Công dân với pháp
luật”, việc thầy (cô) kết hợp PPTQ,
PPDA với PPNVĐ đã mang lại kết quả
như thế nào?
Rất tốtTốtChưa tốt
1 25%
2 50%
1 25%
6 Theo thầy (cô), kết hợp PPTQ,PPDA với
PPNVĐ trong dạy học phần “Công dân
Rất khó khănKhó khăn
3 75%
1 25%
Trang 34- Tìm tòi bộ phận: Trong mỗi bài giảng bao gồm nhiều đề mục, mỗi đề mục
lại bao gồm nhiều mục nhỏ Các đề mục và các mục nhỏ có liên quan chặt chẽvới nhau, tạo thành một bài giảng trọn vẹn với kết cấu logic xác định
- Nêu vấn đề toàn bộ: Đây là hình thức có mức độ cao nhất trong PPDH
nêu vấn đề Ở hình thức này, dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt khéo léo của giáo viên
HS tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề nêu ra trong bài giảng
2.1.5 Quan niệm về phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDKT&PL
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong tình huống giả định Đây là phương pháp giúp chohọc sinh suy nghĩ sâu sắc một vấn đề nào đó bằng cách tập trung vào sự việc cụthể mà các em vừa thực hiện hoặc vừa quan sát được Việc “diễn” không phải làphần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phầndiễn ấy Phương pháp đóng vai có những ưu điểm là học sinh được rèn luyện,thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàntrước khi thực hành trong thực tiễn Gây hứng thú và tạo điều kiện phát triển ócsáng tạo cho học sinh, khích lệ được sự thay đổi thái độ, hành vi theo hướng tíchcực Nhưng bên cạnh đó còn có nhược điểm là nếu giáo viên không có kinhnghiệm tổ chức thì có thể mất nhiều thời gian, một số học sinh nhút nhát khôngchịu tham gia, lớp ồn ào, ảnh hưởng đến lớp khác, và nếu một tình huống chonhiều nhóm đóng vai thì sẽ gây ra nhàm chán đối với học sinh
2.1.6 Sự cần thiết phải kết hợp phương pháp dạy học trực quan, phương pháp dạy học theo dự án, nêu vấn đề, đóng vai, trò chơi tiếp sức với phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần mở đầu bài học môn GDKT&PL 11.
Xuất phát từ mối quan hệ giữa mục đích dạy học và nội dung cần truyềnđạt cho người học với PPDH; xuất phát từ thực tế mỗi phương pháp dạy học đều
có những ưu điểm và hạn chế riêng; đồng thời, trong mỗi bài học có rất nhiềuđơn vị kiến thức khác nhau không thể sử dụng đơn nhất một phương pháp Dovậy, để đảm bảo kiến thức cần truyền đạt nhất thiết chúng ta phải kết hợp nhiềuphương pháp dạy học khác nhau và tất nhiên các phương pháp được chọn để kếthợp phải phát huy tối đa ưu điểm trong những đơn vị kiến thức nhất định vàkhắc phục những hạn chế của phương pháp còn lại
Theo các nhà nghiên cứu tâm lí, con người chỉ tích cực tư duy khi họ rơivào hoàn cảnh có vấn đề, khi phải tìm cách thoát khỏi những tình huống đanglàm cản bước trong nhận thức hoặc trong cuộc sống thực tế của họ Hoàn cảnh
có vấn đề nảy sinh khi con người phát hiện các mâu thuẫn trong lí thuyết haytrong thực tế, với phương pháp tư duy cũ, với kinh nghiệm và những tri thức đã
có họ không thể giải quyết được, làm cho họ rơi vào trạng thái tâm lí đặc biệt,thôi thúc họ đi tìm cách giải quyết Do đó, bên cạnh PPDH theo hướng truyềnthống cần kết hợp với PPDH theo hướng hiện đại để ngay khi ngồi trên nghếnhà trường THPT học sinh có ý thức chuẩn bị vào đời sống thích nghi hơn,thuận lợi hơn
Sự kết hợp các phương pháp dạy học trong một tiết dạy góp phần nâng caohiệu quả tiết dạy, hạn chế của PPDH này sẽ được mặt tích cực của PPDH kia
Trang 35với pháp luật” là việc làm: Đơn giản 0 0%
7 Các lớp tập huấn chuyên đề đã phục vụ
như thế nào cho việc đổi mới PPDH của
thầy (cô)?
Rất hiệu quảHiệu quảKhông hiệu quả
1 25%
2 50%
1 25%
8 Thầy (cô) có thường xuyên dự giờ đồng
nghiệp để học hỏi kinh nghiệm không?
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
1 25%
3 75%
[Nguồn: Tác giả điều tra tại trường THPT Hoằng Hóa 4]
Với bảng số liệu trên, chúng tôi thấy rằng: Trên cơ sở các quan điểm chỉđạo đổi mới PPDH của Bộ GD & ĐT nói chung, Sở GD & ĐT tỉnh Thanh Hóanói riêng, bản thân giáo viên dạy học bộ môn GDKT&PL ở trường THPTHoằng Hóa 4 có nhận thấy việc đổi mới PPDH đối với bộ môn là cần thiết Đa
số các giáo viên đã chủ động trong việc đổi mới PPDH, đặc biệt là việc kết hợpphương pháp trực quan, phương pháp dự án với dạy học nêu vấn đề trong dạy
học phần “Công dân với pháp luật” đã bước đầu đem lại những kết quả nhất
định, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn
Bảng 2 Bảng tổng hợp ý kiến của học sinh
TT Nội dung câu hỏi Phương án trả lời Đồng ý
98 21.2%
258 55.8%
123 26.6%
3 Kiến thức trong phần “Công
dân với pháp luật” là:
4 Việc em chuẩn bị bài ở nhà
trước khi đến lớp đối với
môn GDKT&PL là:
Thường xuyênThỉnh thoảngChưa bao giờ
123 26%
270 58%
85 17.%
5 Trong quá trình học môn
GDKT&PL, em đã tham gia
xây dựng bài như thế nào?
Thường xuyênThỉnh thoảngKhông tham gia
115 19,07%
269 57,05%
84 18.8%
[Nguồn: Tác giả điều tra tại trường THPT Hoằng Hóa 4]
Theo kết quả điều tra, thăm dò ý kiến của 504 HS lớp 11 ở trường THPTHoằng Hóa 4 thì có đến 97% HS trả lời rằng học tập môn GDKT&PL ở trườngTHPT là bổ ích và rất bổ ích Có 21.2% HS xác định môn GDKT&PL có vị tríquan trọng trong các môn được học và các em cũng thấy được những kiến thức
ở phần “Công dân với pháp” gắn liền với thực tiễn cuộc sống, chiếm tỉ lệ 52.1%[số liệu ở bảng 2] Tuy số lượng HS tham gia xây dựng bài chưa nhiều nhưngcác em đã có sự chuẩn bị bài ở nhà để có thể tham gia học tập nghiêm túc ở lớp
đã cho thấy những kết quả đạt được ban đầu của việc kết hợp dạy học trực quan,dạy học dự án với dạy học nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với pháp
Trang 36+ Năng lực tự nhận thức và điều chỉnh hành vi phù hợp với các chuẩnmực đạo đức, pháp luật.
+ Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân vớicộng đồng, đất nước
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực học tập
+ Năng lực lựa chọn nghề nghiệp
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp, tự tin
+ Năng lực hợp tác…
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tích cực vào phần mở đầu bài học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi giảng dạy phần hai: “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11”.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hơp lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp trao đổi, khảo sát thăm dò ý kiến giáo viên
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm giúp người đọc nhận diện rõgiá trị và mức độ đóng góp của sáng kiến trong giảng dạy Để từ đó làm nổi bật
sự khác biệt và sự sáng tạo so với kinh nghiệm trước đó Tính mới của sáng kiếnnày nằm ở việc: kết hợp các phương pháp với phương pháp dạy học tích cực vàoquá trình giảng dạy để gây hứng thú cho HS ngay từ phần đầu bài giảng, thay vìchỉ tập trung truyền đạt kiến thức nhàm chán để khuyến khích HS tham gia tíchcực vào quá trình học, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và đồng thờiphát triển tư duy sáng tạo của HS
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực.
- Dạy học tích cực là cách nói về phương pháp dạy học giáo dục, là cách dạyhọc theo hướng phát huy tinh thần học tập tích cực, tư duy và sáng tạo của họcsinh
- Phương pháp dạy học tích cực là hướng đến nhiều hoạt động khác nhautrong học tập, phát triển tính sáng tạo của học sinh Chú ý rằng, ở phương phápnày thường sẽ tập trung vào phát huy tính tích cực của người học, người dạy sẽthông qua các kỹ thuật dạy học tích cực để bài giảng có hiệu quả nhất
2.1.2 Quan niệm về phương pháp trực quan trong dạy học môn GDKT&PL.
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học sử dụng những phươngtiện dạy học trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học như: Bản đồ, tranh ảnh,
Trang 37luật” Tất cả những điều đó đang đặt ra cho giáo viên dạy GDKT&PL có tâmhuyết với nghề cần còn phải tiếp tục, không ngừng nghiên cứu để tìm ra nhữnggiải pháp thực hiện việc kết hợp PPTQ,PPDA với PPNVĐ có hiệu quả cao hơn.
Bảng 3: Tình hình học tập môn GDKT&PL khối 11 qua khảo sát bài kiểm tra Thường xuyên đầu học kì II.
TT Lớp Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
(Nguồn: Thống kê điểm kiểm tra thường xuyên lớp 11- Trường THPT
Hoằng hóa 4, huyện Hoằng Hóa, tháng 01/2025)
Từ kết quả kiểm tra 15 phút đầu kì 2 của cả khối cùng với nhóm chuyênmôn chúng tôi lưa chọn 2 nhóm lớp thực nghiệm và nhóm đối chứng kết quảnhư sau;
Bảng 4: Bảng điểm kiểm tra 15 phút của 2 nhóm lớp thựcnghiệm và nhóm đối chứng
Nhóm
Sĩ số
Điểm yếu kém (dưới
5 điểm)
Điểm trung bình (Từ 5 đến dưới 7 điểm)
Điểm khá (từ 7.0 dưới
9 điểm)
Điểm giỏi (từ 9.0 đến
10 điểm)
Lớp đối
chứng
11A8 42 0 (0%) 14 (33.3%) 26 (61.9%) 2 (4.76%)11A9 42 0 (0%) 12 (28.6%) 30 (71.4%) 0 (0%)
(Nguồn: Số liệu tổng hợp điểm kiểm tra lớp 11- Trường THPT Hoằng Hóa 4,
huyện Hoằng Hóa)
Từ thực trạng nói trên bản thân thấy việc tìm ra giải pháp để sử dụng hiệuquả “Sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học với phương pháp dạy học tíchcực vào phần mở đầu bài học nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy phần hai:
“Công dân với pháp luật” môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 11” là hết sứccần thiết, đây cũng là lí do để bản thân tôi mày mò và tìm kiếm
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề và cách thức thực hiện 2.3.1 Giải pháp thực hiện sáng kiến.
2.3.1.1 Nhóm giải pháp đối với giáo viên