Dinh dưỡng đóng vai trò then chốt không chỉ trong điều trị màcòn trong phòng ngừa tái phát viêm loét dạ dày – tá tràng, thông qua việc xâydựng chế độ ăn hợp lý, hạn chế các yếu tố kích t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
BỘ DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM
“Xây dựng tài liệu truyền thông nhằm nâng cao kiến thức
và thực hành dinh dưỡng cho người bệnh nhằm phòng ngừa tái phát viêm loét dạ dày – tá tràng sau điều trị Nội khoa”
Khoá đào tạo cấp chứng chỉ Dinh dưỡng lâm sàng Khoá 2 năm 2025 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: Bs CKII Lê Thị Hường
CN Lê Thị Ngọc Trinh HỌC VIÊN: Lương Kim Đính
Cần Thơ, 2025
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Đạihọc Y Dược Cần Thơ, Khoa Dinh dưỡng – Tiết chế cùng toàn thể quý thầy cô
đã tổ chức và giảng dạy khóa học Dinh dưỡng lâm sàng – Khóa 2 năm
2025 Khóa học không chỉ cung cấp cho tôi những kiến thức chuyên môn quý
báu mà còn giúp tôi nâng cao kỹ năng thực hành trong công tác chăm sócdinh dưỡng cho người bệnh
Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên đã truyền tải những kiến thức tạođiều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành chuyên đề tiểu luận cuối khóa Sự tậntâm, nhiệt huyết và kiến thức sâu rộng của quý thầy cô là nguồn động lực tolớn giúp tôi hoàn thiện bài tiểu luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa và các đồng nghiệp tạicác đơn vị công tác đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và tài liệu
để tôi có thể tham gia khóa học và hoàn thành chuyên đề
Mặc dù đã cố gắng hết sức, song bài tiểu luận không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và đồng nghiệp đểtôi có thể tiếp tục hoàn thiện hơn nữa trong quá trình học tập và công tác
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ 4
1 Tổng quan bệnh loét dạ dày – tá tràng 4
2 Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị và phòng ngừa tái phát 7
2.1 Dinh dưỡng trong quá trình điều trị 8
2.2 Dinh dưỡng sau điều trị và phòng ngừa tái phát: 14
3 Vai trò của truyền thông giáo dục dinh dưỡng trong việc nâng cao kiến thức và thực hành dinh dưỡng cho người bệnh loét dạ dày – tá tràng 16
4 Xây dựng tài liệu tư vấn chế độ dinh dưỡng phòng tránh tái phát cho bệnh nhân viêm loét dạ dày – tá tràng sau điều trị nội khoa 17
4.1 Mục tiêu và đối tượng của tài liệu 17
4.2 Hình thức và nguyên tắc xây dựng tài liệu tư vấn 18
4.3 Quy trình xây dựng 18
4.4 Đánh giá điểm mạnh, hạn chế, khả năng triển khai thực tế 20
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 22
Kết luận 22
Kiến nghị 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
PHỤ LỤC BẢNG 27
Trang 4dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày Việc sử dụng lâu dài các loại thuốc này làmtăng nguy cơ loét dạ dày và tá tràng [7]
3 Căng thẳng (Stress): Mặc dù không phải là nguyên nhân trực tiếp, căngthẳng có thể làm tăng sản xuất axit dạ dày, làm giảm khả năng phục hồi niêmmạc và làm trầm trọng thêm các triệu chứng loét Nghiên cứu cho thấy căngthẳng tinh thần có thể làm cho các yếu tố khác như H pylori và thuốcNSAIDs tác động mạnh hơn lên niêm mạc dạ dày [8,17]
Ngoài ra còn một số nguyên nhân gián tiếp đến từ thói quen và lối sống khônglành mạnh ảnh hưởng nghiêm trọng lên các yếu tố bảo vệ và yếu tố gây hạinhư:
4 Thuốc lá và rượu: Hút thuốc lá làm tăng sản xuất axit dạ dày và ức chế quátrình làm lành niêm mạc dạ dày, trong khi rượu có tác dụng gây kích ứng vàlàm tổn thương niêm mạc Cả hai yếu tố này đều làm tăng nguy cơ loét dạ dày– tá tràng [5]
5 Chế độ ăn uống không lành mạnh: Ăn thực phẩm cay, chua, hoặc quá nhiềugia vị có thể làm tăng sản xuất axit dạ dày và kích thích niêm mạc dạ dày, làmgia tăng nguy cơ loét [18]
Việc điều trị VLDDTT chủ yếu tập trung vào loại bỏ các nguyên nhân nhưnhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori), sử dụng thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và các yếu tố lối sống không lành mạnh Tuy nhiên,nếu không tuân thủ điều trị đúng cách, bệnh nhân có thể đối mặt với nguy cơtái phát và các biến chứng nghiêm trọng Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ táiphát loét sau 5 năm lên tới 30,9%, đặc biệt ở những bệnh nhân tiếp tục sửdụng NSAID hoặc không được điều trị triệt để H pylori Việc không tuân thủđiều trị, chẳng hạn như không hoàn thành liệu trình kháng sinh hoặc không sửdụng thuốc ức chế bơm proton (PPI) đúng cách, là nguyên nhân chính dẫn
Trang 5II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Tổng quan bệnh loét dạ dày – tá tràng
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là tình trạng tổn thương niêm mạcống tiêu hóa do mất cân bằng giữa yếu tố tấn công (acid, pepsin, H pylori,NSAIDs) và yếu tố bảo vệ (niêm mạc, bicarbonat, prostaglandin) Bệnhthường gặp ở dạ dày và tá tràng, với nguyên nhân phổ biến là nhiễm vi khuẩn
Helicobacter pylori, sử dụng thuốc NSAIDs kéo dài, hút thuốc, rượu bia và
căng thẳng tâm lý Tỷ lệ tái phát cao nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy
cơ [9]
Bệnh VLDDTT phát sinh do sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêmmạc và các yếu tố gây hại Các yếu tố bảo vệ bao gồm lớp chất nhầy,bicarbonat, dòng máu nuôi dưỡng niêm mạc, sự toàn vẹn của biểu mô và cácchất trung gian như prostaglandin và nitric oxide Khi các yếu tố này bị suygiảm, niêm mạc trở nên dễ bị tổn thương trước tác động của các yếu tố gâyhại như acid hydrochloric (HCl), pepsin, muối mật, các loại thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori)
Ba nguyên nhân phổ biến gây nên VLDDTT có thể kể đến như:
1 Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori): Đây là nguyên nhân hàngđầu gây ra loét dạ dày – tá tràng Vi khuẩn H pylori gây ra sự tổn thươngniêm mạc dạ dày và tá tràng thông qua việc sản xuất enzym urease, tạo ra môitrường kiềm và làm giảm khả năng bảo vệ niêm mạc khỏi sự tác động của axit
dạ dày [10]
2 Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Các thuốc NSAIDs nhưaspirin, ibuprofen, diclofenac có thể ức chế sản xuất prostaglandin, chất có tác
Trang 6I ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là một trong những bệnh lý tiêu hóaphổ biến và có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ hiện mắc VLDDTT theo một phân tích tổng hợpnăm 2020 được ước tính vào khoảng 8,4% (95% CI: 5–13,7%), với xu hướngtăng theo độ tuổi và có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực địa lý [19] Dữliệu từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease –GBD) năm 2019 cho thấy tỷ lệ mắc VLDDTT cao nhất tập trung ở các quốcgia đang phát triển như khu vực Nam Á (624,9/100.000 dân), châu Phi hạSahara (474,8/100.000 dân) và cả ở các nước có thu nhập cao như Bắc Mỹ(575,5/100.000 dân) [26] Mặc dù tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi có xu hướnggiảm trong vòng ba thập kỷ qua nhờ cải thiện điều kiện sống và chăm sóc y
tế, tổng số ca mắc vẫn tăng, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi Năm 2019, sốngười từ 70 tuổi trở lên mắc bệnh này đã tăng lên 1,61 triệu người, so với1,07 triệu người vào năm 1990 [26]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lý dạ dàykhá cao, với ước tính khoảng 15–20% dân số mắc các bệnh liên quan đến dạdày, trong đó loét dạ dày – tá tràng chiếm tỷ lệ đáng kể [21] Một nghiên cứutại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy nguyênnhân chính gây loét là do vi khuẩn Helicobacter pylori (chiếm 33,1%) và sửdụng rượu bia (39,3%) [15] Chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng bịảnh hưởng rõ rệt; khảo sát bằng thang đo SF-36 cho thấy 56,4% bệnh nhân cóchất lượng cuộc sống ở mức trung bình, với điểm trung bình 66,53 ± 20,74[17]
Đáng chú ý, một nghiên cứu khác tại cùng đơn vị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân cókiến thức tốt về phòng ngừa tái phát chỉ đạt 17,6%, trong khi có tới 82,4%
Trang 7dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày Việc sử dụng lâu dài các loại thuốc này làmtăng nguy cơ loét dạ dày và tá tràng [7]
3 Căng thẳng (Stress): Mặc dù không phải là nguyên nhân trực tiếp, căngthẳng có thể làm tăng sản xuất axit dạ dày, làm giảm khả năng phục hồi niêmmạc và làm trầm trọng thêm các triệu chứng loét Nghiên cứu cho thấy căngthẳng tinh thần có thể làm cho các yếu tố khác như H pylori và thuốcNSAIDs tác động mạnh hơn lên niêm mạc dạ dày [8,17]
Ngoài ra còn một số nguyên nhân gián tiếp đến từ thói quen và lối sống khônglành mạnh ảnh hưởng nghiêm trọng lên các yếu tố bảo vệ và yếu tố gây hạinhư:
4 Thuốc lá và rượu: Hút thuốc lá làm tăng sản xuất axit dạ dày và ức chế quátrình làm lành niêm mạc dạ dày, trong khi rượu có tác dụng gây kích ứng vàlàm tổn thương niêm mạc Cả hai yếu tố này đều làm tăng nguy cơ loét dạ dày– tá tràng [5]
5 Chế độ ăn uống không lành mạnh: Ăn thực phẩm cay, chua, hoặc quá nhiềugia vị có thể làm tăng sản xuất axit dạ dày và kích thích niêm mạc dạ dày, làmgia tăng nguy cơ loét [18]
Việc điều trị VLDDTT chủ yếu tập trung vào loại bỏ các nguyên nhân nhưnhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori), sử dụng thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và các yếu tố lối sống không lành mạnh Tuy nhiên,nếu không tuân thủ điều trị đúng cách, bệnh nhân có thể đối mặt với nguy cơtái phát và các biến chứng nghiêm trọng Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ táiphát loét sau 5 năm lên tới 30,9%, đặc biệt ở những bệnh nhân tiếp tục sửdụng NSAID hoặc không được điều trị triệt để H pylori Việc không tuân thủđiều trị, chẳng hạn như không hoàn thành liệu trình kháng sinh hoặc không sửdụng thuốc ức chế bơm proton (PPI) đúng cách, là nguyên nhân chính dẫn
Trang 8người bệnh chưa có nhận thức đúng và đầy đủ [16] Tỷ lệ tái phát bệnhVLDDTT sau điều trị nội khoa vẫn còn ở mức đáng kể, đặc biệt trong bốicảnh chưa loại bỏ triệt để vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori) hoặc do cácyếu tố nguy cơ tái phát chưa được kiểm soát hiệu quả Theo Nguyễn và cộng
sự, trong số các bệnh nhân được điều trị diệt trừ H pylori, tỷ lệ tái phát trungbình sau 11 tháng là 23,5%, bao gồm 13,8% tái phát và 9,7% tái nhiễm [25] Các nguyên nhân chính dẫn đến tái phát bao gồm: (1) tái nhiễm hoặc khôngdiệt trừ triệt để H pylori, được xem là yếu tố nguy cơ hàng đầu; (2) khôngtuân thủ phác đồ điều trị, đặc biệt là ngừng thuốc sớm hoặc sử dụng khángsinh không đúng liều; (3) sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID)hoặc corticosteroid kéo dài, gây tổn thương niêm mạc dạ dày; và (4) thói quensống không lành mạnh như hút thuốc, uống rượu, ăn uống thất thường vàstress kéo dài [13,3] Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ, điều trị triệt để H.pylori và nâng cao kiến thức – tuân thủ điều trị là các yếu tố then chốt nhằmhạn chế tái phát VLDDTT sau điều trị nội khoa
Theo Nutrition Guide for Clinicians (2020), chế độ ăn có ảnh hưởng trực tiếpđến mức độ tiết acid dạ dày, tốc độ làm rỗng dạ dày và mức độ kích ứng niêmmạc tiêu hóa Dinh dưỡng đóng vai trò then chốt không chỉ trong điều trị màcòn trong phòng ngừa tái phát viêm loét dạ dày – tá tràng, thông qua việc xâydựng chế độ ăn hợp lý, hạn chế các yếu tố kích thích và phù hợp với từngngười bệnh, từ đó giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống Giáodục dinh dưỡng giúp người bệnh tự chủ trong kiểm soát chế độ ăn uống vàthói quen sinh hoạt sau điều trị, giảm sự phụ thuộc vào thuốc và tăng khảnăng quản lý bệnh bền vững Đồng thời, truyền thông – giáo dục còn hỗ trợnhân viên y tế lồng ghép tư vấn dinh dưỡng vào chăm sóc lâm sàng, góp phầnnâng cao hiệu quả điều trị toàn diện và cá nhân hóa hơn cho từng bệnh nhân
Trang 9người bệnh chưa có nhận thức đúng và đầy đủ [16] Tỷ lệ tái phát bệnhVLDDTT sau điều trị nội khoa vẫn còn ở mức đáng kể, đặc biệt trong bốicảnh chưa loại bỏ triệt để vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori) hoặc do cácyếu tố nguy cơ tái phát chưa được kiểm soát hiệu quả Theo Nguyễn và cộng
sự, trong số các bệnh nhân được điều trị diệt trừ H pylori, tỷ lệ tái phát trungbình sau 11 tháng là 23,5%, bao gồm 13,8% tái phát và 9,7% tái nhiễm [25] Các nguyên nhân chính dẫn đến tái phát bao gồm: (1) tái nhiễm hoặc khôngdiệt trừ triệt để H pylori, được xem là yếu tố nguy cơ hàng đầu; (2) khôngtuân thủ phác đồ điều trị, đặc biệt là ngừng thuốc sớm hoặc sử dụng khángsinh không đúng liều; (3) sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID)hoặc corticosteroid kéo dài, gây tổn thương niêm mạc dạ dày; và (4) thói quensống không lành mạnh như hút thuốc, uống rượu, ăn uống thất thường vàstress kéo dài [13,3] Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ, điều trị triệt để H.pylori và nâng cao kiến thức – tuân thủ điều trị là các yếu tố then chốt nhằmhạn chế tái phát VLDDTT sau điều trị nội khoa
Theo Nutrition Guide for Clinicians (2020), chế độ ăn có ảnh hưởng trực tiếpđến mức độ tiết acid dạ dày, tốc độ làm rỗng dạ dày và mức độ kích ứng niêmmạc tiêu hóa Dinh dưỡng đóng vai trò then chốt không chỉ trong điều trị màcòn trong phòng ngừa tái phát viêm loét dạ dày – tá tràng, thông qua việc xâydựng chế độ ăn hợp lý, hạn chế các yếu tố kích thích và phù hợp với từngngười bệnh, từ đó giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống Giáodục dinh dưỡng giúp người bệnh tự chủ trong kiểm soát chế độ ăn uống vàthói quen sinh hoạt sau điều trị, giảm sự phụ thuộc vào thuốc và tăng khảnăng quản lý bệnh bền vững Đồng thời, truyền thông – giáo dục còn hỗ trợnhân viên y tế lồng ghép tư vấn dinh dưỡng vào chăm sóc lâm sàng, góp phầnnâng cao hiệu quả điều trị toàn diện và cá nhân hóa hơn cho từng bệnh nhân
Trang 10đến thất bại trong điều trị và tái phát bệnh [2] Tái phát loét làm tăng nguy cơxuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày – tá tràng và hẹp môn vị Đặc biệt, xuấthuyết tiêu hóa là biến chứng phổ biến nhất và là nguyên nhân tử vong hàngđầu liên quan đến VLDDTT Trong những trường hợp loét tái phát không đápứng điều trị nội khoa, can thiệp ngoại khoa có thể được xem xét [20] Cácbiến chứng nghiêm trọng có thể kể đến như:
1 Xuất huyết tiêu hóa: Biến chứng phổ biến nhất của bệnh loét dạ dày – tátràng là xuất huyết, có thể biểu hiện qua nôn ra máu hoặc phân đen Đây làtình trạng nguy hiểm và cần được can thiệp kịp thời để tránh sốc mất máu [7]
2 Thủng dạ dày hoặc tá tràng: Là một biến chứng nặng nề khi vết loét pháttriển và xuyên thủng thành dạ dày hoặc tá tràng, gây viêm phúc mạc Thủng
dạ dày đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật ngay lập tức để ngừng chảy máu và
xử lý nhiễm trùng [11]
3 Hẹp môn vị: Vết loét có thể làm cho môn vị (vùng nối giữa dạ dày và ruộtnon) bị thu hẹp, gây tắc nghẽn và ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa, dẫn đếnnôn mửa và giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng [27]
4 Ung thư dạ dày: Loét dạ dày mạn tính, đặc biệt là khi có nhiễm H pylorikéo dài, có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư dạ dày Một số nghiên cứuchỉ ra rằng H pylori có thể dẫn đến sự hình thành các khối u ác tính sau thờigian dài [22]
Để giảm nguy cơ tái phát và biến chứng, việc tuân thủ điều trị là yếu tố thenchốt Điều này bao gồm hoàn thành đầy đủ liệu trình kháng sinh để diệt trừ H.pylori, sử dụng PPI đúng liều lượng và thời gian, cũng như tránh các yếu tốnguy cơ như NSAID, hút thuốc lá và rượu bia Giáo dục bệnh nhân về tầmquan trọng của việc tuân thủ điều trị và thay đổi lối sống lành mạnh đóng vaitrò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và phòng ngừa tái phát
Trang 11đến thất bại trong điều trị và tái phát bệnh [2] Tái phát loét làm tăng nguy cơxuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày – tá tràng và hẹp môn vị Đặc biệt, xuấthuyết tiêu hóa là biến chứng phổ biến nhất và là nguyên nhân tử vong hàngđầu liên quan đến VLDDTT Trong những trường hợp loét tái phát không đápứng điều trị nội khoa, can thiệp ngoại khoa có thể được xem xét [20] Cácbiến chứng nghiêm trọng có thể kể đến như:
1 Xuất huyết tiêu hóa: Biến chứng phổ biến nhất của bệnh loét dạ dày – tátràng là xuất huyết, có thể biểu hiện qua nôn ra máu hoặc phân đen Đây làtình trạng nguy hiểm và cần được can thiệp kịp thời để tránh sốc mất máu [7]
2 Thủng dạ dày hoặc tá tràng: Là một biến chứng nặng nề khi vết loét pháttriển và xuyên thủng thành dạ dày hoặc tá tràng, gây viêm phúc mạc Thủng
dạ dày đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật ngay lập tức để ngừng chảy máu và
xử lý nhiễm trùng [11]
3 Hẹp môn vị: Vết loét có thể làm cho môn vị (vùng nối giữa dạ dày và ruộtnon) bị thu hẹp, gây tắc nghẽn và ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa, dẫn đếnnôn mửa và giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng [27]
4 Ung thư dạ dày: Loét dạ dày mạn tính, đặc biệt là khi có nhiễm H pylorikéo dài, có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư dạ dày Một số nghiên cứuchỉ ra rằng H pylori có thể dẫn đến sự hình thành các khối u ác tính sau thờigian dài [22]
Để giảm nguy cơ tái phát và biến chứng, việc tuân thủ điều trị là yếu tố thenchốt Điều này bao gồm hoàn thành đầy đủ liệu trình kháng sinh để diệt trừ H.pylori, sử dụng PPI đúng liều lượng và thời gian, cũng như tránh các yếu tốnguy cơ như NSAID, hút thuốc lá và rượu bia Giáo dục bệnh nhân về tầmquan trọng của việc tuân thủ điều trị và thay đổi lối sống lành mạnh đóng vaitrò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và phòng ngừa tái phát
Trang 12I ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là một trong những bệnh lý tiêu hóaphổ biến và có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ hiện mắc VLDDTT theo một phân tích tổng hợpnăm 2020 được ước tính vào khoảng 8,4% (95% CI: 5–13,7%), với xu hướngtăng theo độ tuổi và có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực địa lý [19] Dữliệu từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease –GBD) năm 2019 cho thấy tỷ lệ mắc VLDDTT cao nhất tập trung ở các quốcgia đang phát triển như khu vực Nam Á (624,9/100.000 dân), châu Phi hạSahara (474,8/100.000 dân) và cả ở các nước có thu nhập cao như Bắc Mỹ(575,5/100.000 dân) [26] Mặc dù tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi có xu hướnggiảm trong vòng ba thập kỷ qua nhờ cải thiện điều kiện sống và chăm sóc y
tế, tổng số ca mắc vẫn tăng, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi Năm 2019, sốngười từ 70 tuổi trở lên mắc bệnh này đã tăng lên 1,61 triệu người, so với1,07 triệu người vào năm 1990 [26]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lý dạ dàykhá cao, với ước tính khoảng 15–20% dân số mắc các bệnh liên quan đến dạdày, trong đó loét dạ dày – tá tràng chiếm tỷ lệ đáng kể [21] Một nghiên cứutại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy nguyênnhân chính gây loét là do vi khuẩn Helicobacter pylori (chiếm 33,1%) và sửdụng rượu bia (39,3%) [15] Chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng bịảnh hưởng rõ rệt; khảo sát bằng thang đo SF-36 cho thấy 56,4% bệnh nhân cóchất lượng cuộc sống ở mức trung bình, với điểm trung bình 66,53 ± 20,74[17]
Đáng chú ý, một nghiên cứu khác tại cùng đơn vị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân cókiến thức tốt về phòng ngừa tái phát chỉ đạt 17,6%, trong khi có tới 82,4%
Trang 13Từ những vấn đề trên, chuyên đề này sẽ tập trung vào việc đánh giá thựctrạng, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan và đề xuất các mô hình truyền thông– giáo dục dinh dưỡng phù hợp, với:
● Mục tiêu chung: Xây dựng tài liệu truyền thông dinh dưỡng phù hợp
và hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện thực hành dinhdưỡng cho người bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng sau điều trị nội khoa,
từ đó góp phần giảm nguy cơ tái phát bệnh
Trang 14II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Tổng quan bệnh loét dạ dày – tá tràng
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là tình trạng tổn thương niêm mạcống tiêu hóa do mất cân bằng giữa yếu tố tấn công (acid, pepsin, H pylori,NSAIDs) và yếu tố bảo vệ (niêm mạc, bicarbonat, prostaglandin) Bệnhthường gặp ở dạ dày và tá tràng, với nguyên nhân phổ biến là nhiễm vi khuẩn
Helicobacter pylori, sử dụng thuốc NSAIDs kéo dài, hút thuốc, rượu bia và
căng thẳng tâm lý Tỷ lệ tái phát cao nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy
cơ [9]
Bệnh VLDDTT phát sinh do sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêmmạc và các yếu tố gây hại Các yếu tố bảo vệ bao gồm lớp chất nhầy,bicarbonat, dòng máu nuôi dưỡng niêm mạc, sự toàn vẹn của biểu mô và cácchất trung gian như prostaglandin và nitric oxide Khi các yếu tố này bị suygiảm, niêm mạc trở nên dễ bị tổn thương trước tác động của các yếu tố gâyhại như acid hydrochloric (HCl), pepsin, muối mật, các loại thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori)
Ba nguyên nhân phổ biến gây nên VLDDTT có thể kể đến như:
1 Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori): Đây là nguyên nhân hàngđầu gây ra loét dạ dày – tá tràng Vi khuẩn H pylori gây ra sự tổn thươngniêm mạc dạ dày và tá tràng thông qua việc sản xuất enzym urease, tạo ra môitrường kiềm và làm giảm khả năng bảo vệ niêm mạc khỏi sự tác động của axit
dạ dày [10]
2 Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Các thuốc NSAIDs nhưaspirin, ibuprofen, diclofenac có thể ức chế sản xuất prostaglandin, chất có tác
Trang 15I ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là một trong những bệnh lý tiêu hóaphổ biến và có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ hiện mắc VLDDTT theo một phân tích tổng hợpnăm 2020 được ước tính vào khoảng 8,4% (95% CI: 5–13,7%), với xu hướngtăng theo độ tuổi và có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực địa lý [19] Dữliệu từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease –GBD) năm 2019 cho thấy tỷ lệ mắc VLDDTT cao nhất tập trung ở các quốcgia đang phát triển như khu vực Nam Á (624,9/100.000 dân), châu Phi hạSahara (474,8/100.000 dân) và cả ở các nước có thu nhập cao như Bắc Mỹ(575,5/100.000 dân) [26] Mặc dù tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi có xu hướnggiảm trong vòng ba thập kỷ qua nhờ cải thiện điều kiện sống và chăm sóc y
tế, tổng số ca mắc vẫn tăng, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi Năm 2019, sốngười từ 70 tuổi trở lên mắc bệnh này đã tăng lên 1,61 triệu người, so với1,07 triệu người vào năm 1990 [26]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lý dạ dàykhá cao, với ước tính khoảng 15–20% dân số mắc các bệnh liên quan đến dạdày, trong đó loét dạ dày – tá tràng chiếm tỷ lệ đáng kể [21] Một nghiên cứutại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy nguyênnhân chính gây loét là do vi khuẩn Helicobacter pylori (chiếm 33,1%) và sửdụng rượu bia (39,3%) [15] Chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng bịảnh hưởng rõ rệt; khảo sát bằng thang đo SF-36 cho thấy 56,4% bệnh nhân cóchất lượng cuộc sống ở mức trung bình, với điểm trung bình 66,53 ± 20,74[17]
Đáng chú ý, một nghiên cứu khác tại cùng đơn vị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân cókiến thức tốt về phòng ngừa tái phát chỉ đạt 17,6%, trong khi có tới 82,4%
Trang 16Từ những vấn đề trên, chuyên đề này sẽ tập trung vào việc đánh giá thựctrạng, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan và đề xuất các mô hình truyền thông– giáo dục dinh dưỡng phù hợp, với:
● Mục tiêu chung: Xây dựng tài liệu truyền thông dinh dưỡng phù hợp
và hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện thực hành dinhdưỡng cho người bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng sau điều trị nội khoa,
từ đó góp phần giảm nguy cơ tái phát bệnh
Trang 17II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Tổng quan bệnh loét dạ dày – tá tràng
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là tình trạng tổn thương niêm mạcống tiêu hóa do mất cân bằng giữa yếu tố tấn công (acid, pepsin, H pylori,NSAIDs) và yếu tố bảo vệ (niêm mạc, bicarbonat, prostaglandin) Bệnhthường gặp ở dạ dày và tá tràng, với nguyên nhân phổ biến là nhiễm vi khuẩn
Helicobacter pylori, sử dụng thuốc NSAIDs kéo dài, hút thuốc, rượu bia và
căng thẳng tâm lý Tỷ lệ tái phát cao nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy
cơ [9]
Bệnh VLDDTT phát sinh do sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêmmạc và các yếu tố gây hại Các yếu tố bảo vệ bao gồm lớp chất nhầy,bicarbonat, dòng máu nuôi dưỡng niêm mạc, sự toàn vẹn của biểu mô và cácchất trung gian như prostaglandin và nitric oxide Khi các yếu tố này bị suygiảm, niêm mạc trở nên dễ bị tổn thương trước tác động của các yếu tố gâyhại như acid hydrochloric (HCl), pepsin, muối mật, các loại thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori)
Ba nguyên nhân phổ biến gây nên VLDDTT có thể kể đến như:
1 Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori): Đây là nguyên nhân hàngđầu gây ra loét dạ dày – tá tràng Vi khuẩn H pylori gây ra sự tổn thươngniêm mạc dạ dày và tá tràng thông qua việc sản xuất enzym urease, tạo ra môitrường kiềm và làm giảm khả năng bảo vệ niêm mạc khỏi sự tác động của axit
dạ dày [10]
2 Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Các thuốc NSAIDs nhưaspirin, ibuprofen, diclofenac có thể ức chế sản xuất prostaglandin, chất có tác
Trang 18II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Tổng quan bệnh loét dạ dày – tá tràng
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là tình trạng tổn thương niêm mạcống tiêu hóa do mất cân bằng giữa yếu tố tấn công (acid, pepsin, H pylori,NSAIDs) và yếu tố bảo vệ (niêm mạc, bicarbonat, prostaglandin) Bệnhthường gặp ở dạ dày và tá tràng, với nguyên nhân phổ biến là nhiễm vi khuẩn
Helicobacter pylori, sử dụng thuốc NSAIDs kéo dài, hút thuốc, rượu bia và
căng thẳng tâm lý Tỷ lệ tái phát cao nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy
cơ [9]
Bệnh VLDDTT phát sinh do sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêmmạc và các yếu tố gây hại Các yếu tố bảo vệ bao gồm lớp chất nhầy,bicarbonat, dòng máu nuôi dưỡng niêm mạc, sự toàn vẹn của biểu mô và cácchất trung gian như prostaglandin và nitric oxide Khi các yếu tố này bị suygiảm, niêm mạc trở nên dễ bị tổn thương trước tác động của các yếu tố gâyhại như acid hydrochloric (HCl), pepsin, muối mật, các loại thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori)
Ba nguyên nhân phổ biến gây nên VLDDTT có thể kể đến như:
1 Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori): Đây là nguyên nhân hàngđầu gây ra loét dạ dày – tá tràng Vi khuẩn H pylori gây ra sự tổn thươngniêm mạc dạ dày và tá tràng thông qua việc sản xuất enzym urease, tạo ra môitrường kiềm và làm giảm khả năng bảo vệ niêm mạc khỏi sự tác động của axit
dạ dày [10]
2 Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Các thuốc NSAIDs nhưaspirin, ibuprofen, diclofenac có thể ức chế sản xuất prostaglandin, chất có tác
Trang 19Từ những vấn đề trên, chuyên đề này sẽ tập trung vào việc đánh giá thựctrạng, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan và đề xuất các mô hình truyền thông– giáo dục dinh dưỡng phù hợp, với:
● Mục tiêu chung: Xây dựng tài liệu truyền thông dinh dưỡng phù hợp
và hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện thực hành dinhdưỡng cho người bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng sau điều trị nội khoa,
từ đó góp phần giảm nguy cơ tái phát bệnh
Trang 202 Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị và phòng ngừa tái phát
Chế độ ăn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phục hồi niêm mạc dạ dày vàkiểm soát triệu chứng Thực phẩm có thể kích thích tiết acid dạ dày, làmchậm lành loét nếu không được lựa chọn đúng Chế độ ăn hợp lý giúp:
Giảm đau và hồi phục tổn thương niêm mạc
Chế độ ăn hợp lý là một phần quan trọng trong điều trị nội khoa loét dạ dày –
tá tràng, không chỉ giúp giảm triệu chứng lâm sàng mà còn hỗ trợ quá trìnhhồi phục mô tổn thương
Trước hết, dinh dưỡng hợp lý giúp giảm tiết acid dịch vị – một trong nhữngyếu tố chính gây tổn thương niêm mạc dạ dày Thông qua việc hạn chế sửdụng các thực phẩm kích thích như cà phê, rượu, thức ăn cay, chua hoặcnhiều chất béo, chế độ ăn sẽ góp phần làm giảm tác động của acid dạ dày lênvùng loét, từ đó giảm đau và khó chịu cho người bệnh Ngoài ra, can thiệpdinh dưỡng còn hướng tới việc loại bỏ hoặc hạn chế những yếu tố kích thích
cơ học và hóa học lên niêm mạc tiêu hóa như thức ăn thô, cứng, nhiều gia vịhoặc chế biến không phù hợp Điều này tạo điều kiện cho dạ dày được “nghỉngơi” – một yếu tố quan trọng giúp vết loét nhanh lành Cuối cùng, bằng cáchcung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết như protein dễ tiêu, vitamin A,
C, kẽm và các chất chống oxy hóa, chế độ ăn phù hợp sẽ thúc đẩy quá trìnhtái tạo và phục hồi các tổn thương của niêm mạc dạ dày – tá tràng, đồng thờităng cường sức đề kháng của cơ thể trong suốt quá trình điều trị
Hạn chế biến chứng và giảm nguy cơ tái phát
Các nghiên cứu cho thấy rằng việc tuân thủ chế độ ăn chống loét – tức làgiảm thức ăn kích thích acid, ăn nhiều bữa nhỏ, không ăn khuya và tránh bỏbữa – có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ tái phát sau điều trị nội khoa Ví dụ, theobáo cáo từ Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), bệnh nhân duy trì chế độ
Trang 21I ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là một trong những bệnh lý tiêu hóaphổ biến và có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ hiện mắc VLDDTT theo một phân tích tổng hợpnăm 2020 được ước tính vào khoảng 8,4% (95% CI: 5–13,7%), với xu hướngtăng theo độ tuổi và có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực địa lý [19] Dữliệu từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease –GBD) năm 2019 cho thấy tỷ lệ mắc VLDDTT cao nhất tập trung ở các quốcgia đang phát triển như khu vực Nam Á (624,9/100.000 dân), châu Phi hạSahara (474,8/100.000 dân) và cả ở các nước có thu nhập cao như Bắc Mỹ(575,5/100.000 dân) [26] Mặc dù tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi có xu hướnggiảm trong vòng ba thập kỷ qua nhờ cải thiện điều kiện sống và chăm sóc y
tế, tổng số ca mắc vẫn tăng, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi Năm 2019, sốngười từ 70 tuổi trở lên mắc bệnh này đã tăng lên 1,61 triệu người, so với1,07 triệu người vào năm 1990 [26]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lý dạ dàykhá cao, với ước tính khoảng 15–20% dân số mắc các bệnh liên quan đến dạdày, trong đó loét dạ dày – tá tràng chiếm tỷ lệ đáng kể [21] Một nghiên cứutại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy nguyênnhân chính gây loét là do vi khuẩn Helicobacter pylori (chiếm 33,1%) và sửdụng rượu bia (39,3%) [15] Chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng bịảnh hưởng rõ rệt; khảo sát bằng thang đo SF-36 cho thấy 56,4% bệnh nhân cóchất lượng cuộc sống ở mức trung bình, với điểm trung bình 66,53 ± 20,74[17]
Đáng chú ý, một nghiên cứu khác tại cùng đơn vị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân cókiến thức tốt về phòng ngừa tái phát chỉ đạt 17,6%, trong khi có tới 82,4%
Trang 22II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Tổng quan bệnh loét dạ dày – tá tràng
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là tình trạng tổn thương niêm mạcống tiêu hóa do mất cân bằng giữa yếu tố tấn công (acid, pepsin, H pylori,NSAIDs) và yếu tố bảo vệ (niêm mạc, bicarbonat, prostaglandin) Bệnhthường gặp ở dạ dày và tá tràng, với nguyên nhân phổ biến là nhiễm vi khuẩn
Helicobacter pylori, sử dụng thuốc NSAIDs kéo dài, hút thuốc, rượu bia và
căng thẳng tâm lý Tỷ lệ tái phát cao nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy
cơ [9]
Bệnh VLDDTT phát sinh do sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêmmạc và các yếu tố gây hại Các yếu tố bảo vệ bao gồm lớp chất nhầy,bicarbonat, dòng máu nuôi dưỡng niêm mạc, sự toàn vẹn của biểu mô và cácchất trung gian như prostaglandin và nitric oxide Khi các yếu tố này bị suygiảm, niêm mạc trở nên dễ bị tổn thương trước tác động của các yếu tố gâyhại như acid hydrochloric (HCl), pepsin, muối mật, các loại thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori)
Ba nguyên nhân phổ biến gây nên VLDDTT có thể kể đến như:
1 Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori): Đây là nguyên nhân hàngđầu gây ra loét dạ dày – tá tràng Vi khuẩn H pylori gây ra sự tổn thươngniêm mạc dạ dày và tá tràng thông qua việc sản xuất enzym urease, tạo ra môitrường kiềm và làm giảm khả năng bảo vệ niêm mạc khỏi sự tác động của axit
dạ dày [10]
2 Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Các thuốc NSAIDs nhưaspirin, ibuprofen, diclofenac có thể ức chế sản xuất prostaglandin, chất có tác
Trang 232 Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị và phòng ngừa tái phát
Chế độ ăn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phục hồi niêm mạc dạ dày vàkiểm soát triệu chứng Thực phẩm có thể kích thích tiết acid dạ dày, làmchậm lành loét nếu không được lựa chọn đúng Chế độ ăn hợp lý giúp:
Giảm đau và hồi phục tổn thương niêm mạc
Chế độ ăn hợp lý là một phần quan trọng trong điều trị nội khoa loét dạ dày –
tá tràng, không chỉ giúp giảm triệu chứng lâm sàng mà còn hỗ trợ quá trìnhhồi phục mô tổn thương
Trước hết, dinh dưỡng hợp lý giúp giảm tiết acid dịch vị – một trong nhữngyếu tố chính gây tổn thương niêm mạc dạ dày Thông qua việc hạn chế sửdụng các thực phẩm kích thích như cà phê, rượu, thức ăn cay, chua hoặcnhiều chất béo, chế độ ăn sẽ góp phần làm giảm tác động của acid dạ dày lênvùng loét, từ đó giảm đau và khó chịu cho người bệnh Ngoài ra, can thiệpdinh dưỡng còn hướng tới việc loại bỏ hoặc hạn chế những yếu tố kích thích
cơ học và hóa học lên niêm mạc tiêu hóa như thức ăn thô, cứng, nhiều gia vịhoặc chế biến không phù hợp Điều này tạo điều kiện cho dạ dày được “nghỉngơi” – một yếu tố quan trọng giúp vết loét nhanh lành Cuối cùng, bằng cáchcung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết như protein dễ tiêu, vitamin A,
C, kẽm và các chất chống oxy hóa, chế độ ăn phù hợp sẽ thúc đẩy quá trìnhtái tạo và phục hồi các tổn thương của niêm mạc dạ dày – tá tràng, đồng thờităng cường sức đề kháng của cơ thể trong suốt quá trình điều trị
Hạn chế biến chứng và giảm nguy cơ tái phát
Các nghiên cứu cho thấy rằng việc tuân thủ chế độ ăn chống loét – tức làgiảm thức ăn kích thích acid, ăn nhiều bữa nhỏ, không ăn khuya và tránh bỏbữa – có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ tái phát sau điều trị nội khoa Ví dụ, theobáo cáo từ Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), bệnh nhân duy trì chế độ
Trang 24I ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là một trong những bệnh lý tiêu hóaphổ biến và có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ hiện mắc VLDDTT theo một phân tích tổng hợpnăm 2020 được ước tính vào khoảng 8,4% (95% CI: 5–13,7%), với xu hướngtăng theo độ tuổi và có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực địa lý [19] Dữliệu từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease –GBD) năm 2019 cho thấy tỷ lệ mắc VLDDTT cao nhất tập trung ở các quốcgia đang phát triển như khu vực Nam Á (624,9/100.000 dân), châu Phi hạSahara (474,8/100.000 dân) và cả ở các nước có thu nhập cao như Bắc Mỹ(575,5/100.000 dân) [26] Mặc dù tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi có xu hướnggiảm trong vòng ba thập kỷ qua nhờ cải thiện điều kiện sống và chăm sóc y
tế, tổng số ca mắc vẫn tăng, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi Năm 2019, sốngười từ 70 tuổi trở lên mắc bệnh này đã tăng lên 1,61 triệu người, so với1,07 triệu người vào năm 1990 [26]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lý dạ dàykhá cao, với ước tính khoảng 15–20% dân số mắc các bệnh liên quan đến dạdày, trong đó loét dạ dày – tá tràng chiếm tỷ lệ đáng kể [21] Một nghiên cứutại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy nguyênnhân chính gây loét là do vi khuẩn Helicobacter pylori (chiếm 33,1%) và sửdụng rượu bia (39,3%) [15] Chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng bịảnh hưởng rõ rệt; khảo sát bằng thang đo SF-36 cho thấy 56,4% bệnh nhân cóchất lượng cuộc sống ở mức trung bình, với điểm trung bình 66,53 ± 20,74[17]
Đáng chú ý, một nghiên cứu khác tại cùng đơn vị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân cókiến thức tốt về phòng ngừa tái phát chỉ đạt 17,6%, trong khi có tới 82,4%
Trang 25Từ những vấn đề trên, chuyên đề này sẽ tập trung vào việc đánh giá thựctrạng, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan và đề xuất các mô hình truyền thông– giáo dục dinh dưỡng phù hợp, với:
● Mục tiêu chung: Xây dựng tài liệu truyền thông dinh dưỡng phù hợp
và hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện thực hành dinhdưỡng cho người bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng sau điều trị nội khoa,
từ đó góp phần giảm nguy cơ tái phát bệnh
Trang 26I ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là một trong những bệnh lý tiêu hóaphổ biến và có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ hiện mắc VLDDTT theo một phân tích tổng hợpnăm 2020 được ước tính vào khoảng 8,4% (95% CI: 5–13,7%), với xu hướngtăng theo độ tuổi và có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực địa lý [19] Dữliệu từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease –GBD) năm 2019 cho thấy tỷ lệ mắc VLDDTT cao nhất tập trung ở các quốcgia đang phát triển như khu vực Nam Á (624,9/100.000 dân), châu Phi hạSahara (474,8/100.000 dân) và cả ở các nước có thu nhập cao như Bắc Mỹ(575,5/100.000 dân) [26] Mặc dù tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi có xu hướnggiảm trong vòng ba thập kỷ qua nhờ cải thiện điều kiện sống và chăm sóc y
tế, tổng số ca mắc vẫn tăng, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi Năm 2019, sốngười từ 70 tuổi trở lên mắc bệnh này đã tăng lên 1,61 triệu người, so với1,07 triệu người vào năm 1990 [26]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lý dạ dàykhá cao, với ước tính khoảng 15–20% dân số mắc các bệnh liên quan đến dạdày, trong đó loét dạ dày – tá tràng chiếm tỷ lệ đáng kể [21] Một nghiên cứutại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy nguyênnhân chính gây loét là do vi khuẩn Helicobacter pylori (chiếm 33,1%) và sửdụng rượu bia (39,3%) [15] Chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng bịảnh hưởng rõ rệt; khảo sát bằng thang đo SF-36 cho thấy 56,4% bệnh nhân cóchất lượng cuộc sống ở mức trung bình, với điểm trung bình 66,53 ± 20,74[17]
Đáng chú ý, một nghiên cứu khác tại cùng đơn vị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân cókiến thức tốt về phòng ngừa tái phát chỉ đạt 17,6%, trong khi có tới 82,4%
Trang 27người bệnh chưa có nhận thức đúng và đầy đủ [16] Tỷ lệ tái phát bệnhVLDDTT sau điều trị nội khoa vẫn còn ở mức đáng kể, đặc biệt trong bốicảnh chưa loại bỏ triệt để vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori) hoặc do cácyếu tố nguy cơ tái phát chưa được kiểm soát hiệu quả Theo Nguyễn và cộng
sự, trong số các bệnh nhân được điều trị diệt trừ H pylori, tỷ lệ tái phát trungbình sau 11 tháng là 23,5%, bao gồm 13,8% tái phát và 9,7% tái nhiễm [25] Các nguyên nhân chính dẫn đến tái phát bao gồm: (1) tái nhiễm hoặc khôngdiệt trừ triệt để H pylori, được xem là yếu tố nguy cơ hàng đầu; (2) khôngtuân thủ phác đồ điều trị, đặc biệt là ngừng thuốc sớm hoặc sử dụng khángsinh không đúng liều; (3) sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID)hoặc corticosteroid kéo dài, gây tổn thương niêm mạc dạ dày; và (4) thói quensống không lành mạnh như hút thuốc, uống rượu, ăn uống thất thường vàstress kéo dài [13,3] Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ, điều trị triệt để H.pylori và nâng cao kiến thức – tuân thủ điều trị là các yếu tố then chốt nhằmhạn chế tái phát VLDDTT sau điều trị nội khoa
Theo Nutrition Guide for Clinicians (2020), chế độ ăn có ảnh hưởng trực tiếpđến mức độ tiết acid dạ dày, tốc độ làm rỗng dạ dày và mức độ kích ứng niêmmạc tiêu hóa Dinh dưỡng đóng vai trò then chốt không chỉ trong điều trị màcòn trong phòng ngừa tái phát viêm loét dạ dày – tá tràng, thông qua việc xâydựng chế độ ăn hợp lý, hạn chế các yếu tố kích thích và phù hợp với từngngười bệnh, từ đó giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống Giáodục dinh dưỡng giúp người bệnh tự chủ trong kiểm soát chế độ ăn uống vàthói quen sinh hoạt sau điều trị, giảm sự phụ thuộc vào thuốc và tăng khảnăng quản lý bệnh bền vững Đồng thời, truyền thông – giáo dục còn hỗ trợnhân viên y tế lồng ghép tư vấn dinh dưỡng vào chăm sóc lâm sàng, góp phầnnâng cao hiệu quả điều trị toàn diện và cá nhân hóa hơn cho từng bệnh nhân
Trang 28đến thất bại trong điều trị và tái phát bệnh [2] Tái phát loét làm tăng nguy cơxuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày – tá tràng và hẹp môn vị Đặc biệt, xuấthuyết tiêu hóa là biến chứng phổ biến nhất và là nguyên nhân tử vong hàngđầu liên quan đến VLDDTT Trong những trường hợp loét tái phát không đápứng điều trị nội khoa, can thiệp ngoại khoa có thể được xem xét [20] Cácbiến chứng nghiêm trọng có thể kể đến như:
1 Xuất huyết tiêu hóa: Biến chứng phổ biến nhất của bệnh loét dạ dày – tátràng là xuất huyết, có thể biểu hiện qua nôn ra máu hoặc phân đen Đây làtình trạng nguy hiểm và cần được can thiệp kịp thời để tránh sốc mất máu [7]
2 Thủng dạ dày hoặc tá tràng: Là một biến chứng nặng nề khi vết loét pháttriển và xuyên thủng thành dạ dày hoặc tá tràng, gây viêm phúc mạc Thủng
dạ dày đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật ngay lập tức để ngừng chảy máu và
xử lý nhiễm trùng [11]
3 Hẹp môn vị: Vết loét có thể làm cho môn vị (vùng nối giữa dạ dày và ruộtnon) bị thu hẹp, gây tắc nghẽn và ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa, dẫn đếnnôn mửa và giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng [27]
4 Ung thư dạ dày: Loét dạ dày mạn tính, đặc biệt là khi có nhiễm H pylorikéo dài, có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư dạ dày Một số nghiên cứuchỉ ra rằng H pylori có thể dẫn đến sự hình thành các khối u ác tính sau thờigian dài [22]
Để giảm nguy cơ tái phát và biến chứng, việc tuân thủ điều trị là yếu tố thenchốt Điều này bao gồm hoàn thành đầy đủ liệu trình kháng sinh để diệt trừ H.pylori, sử dụng PPI đúng liều lượng và thời gian, cũng như tránh các yếu tốnguy cơ như NSAID, hút thuốc lá và rượu bia Giáo dục bệnh nhân về tầmquan trọng của việc tuân thủ điều trị và thay đổi lối sống lành mạnh đóng vaitrò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và phòng ngừa tái phát
Trang 29người bệnh chưa có nhận thức đúng và đầy đủ [16] Tỷ lệ tái phát bệnhVLDDTT sau điều trị nội khoa vẫn còn ở mức đáng kể, đặc biệt trong bốicảnh chưa loại bỏ triệt để vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori) hoặc do cácyếu tố nguy cơ tái phát chưa được kiểm soát hiệu quả Theo Nguyễn và cộng
sự, trong số các bệnh nhân được điều trị diệt trừ H pylori, tỷ lệ tái phát trungbình sau 11 tháng là 23,5%, bao gồm 13,8% tái phát và 9,7% tái nhiễm [25] Các nguyên nhân chính dẫn đến tái phát bao gồm: (1) tái nhiễm hoặc khôngdiệt trừ triệt để H pylori, được xem là yếu tố nguy cơ hàng đầu; (2) khôngtuân thủ phác đồ điều trị, đặc biệt là ngừng thuốc sớm hoặc sử dụng khángsinh không đúng liều; (3) sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID)hoặc corticosteroid kéo dài, gây tổn thương niêm mạc dạ dày; và (4) thói quensống không lành mạnh như hút thuốc, uống rượu, ăn uống thất thường vàstress kéo dài [13,3] Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ, điều trị triệt để H.pylori và nâng cao kiến thức – tuân thủ điều trị là các yếu tố then chốt nhằmhạn chế tái phát VLDDTT sau điều trị nội khoa
Theo Nutrition Guide for Clinicians (2020), chế độ ăn có ảnh hưởng trực tiếpđến mức độ tiết acid dạ dày, tốc độ làm rỗng dạ dày và mức độ kích ứng niêmmạc tiêu hóa Dinh dưỡng đóng vai trò then chốt không chỉ trong điều trị màcòn trong phòng ngừa tái phát viêm loét dạ dày – tá tràng, thông qua việc xâydựng chế độ ăn hợp lý, hạn chế các yếu tố kích thích và phù hợp với từngngười bệnh, từ đó giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống Giáodục dinh dưỡng giúp người bệnh tự chủ trong kiểm soát chế độ ăn uống vàthói quen sinh hoạt sau điều trị, giảm sự phụ thuộc vào thuốc và tăng khảnăng quản lý bệnh bền vững Đồng thời, truyền thông – giáo dục còn hỗ trợnhân viên y tế lồng ghép tư vấn dinh dưỡng vào chăm sóc lâm sàng, góp phầnnâng cao hiệu quả điều trị toàn diện và cá nhân hóa hơn cho từng bệnh nhân
Trang 30II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Tổng quan bệnh loét dạ dày – tá tràng
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là tình trạng tổn thương niêm mạcống tiêu hóa do mất cân bằng giữa yếu tố tấn công (acid, pepsin, H pylori,NSAIDs) và yếu tố bảo vệ (niêm mạc, bicarbonat, prostaglandin) Bệnhthường gặp ở dạ dày và tá tràng, với nguyên nhân phổ biến là nhiễm vi khuẩn
Helicobacter pylori, sử dụng thuốc NSAIDs kéo dài, hút thuốc, rượu bia và
căng thẳng tâm lý Tỷ lệ tái phát cao nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy
cơ [9]
Bệnh VLDDTT phát sinh do sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêmmạc và các yếu tố gây hại Các yếu tố bảo vệ bao gồm lớp chất nhầy,bicarbonat, dòng máu nuôi dưỡng niêm mạc, sự toàn vẹn của biểu mô và cácchất trung gian như prostaglandin và nitric oxide Khi các yếu tố này bị suygiảm, niêm mạc trở nên dễ bị tổn thương trước tác động của các yếu tố gâyhại như acid hydrochloric (HCl), pepsin, muối mật, các loại thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori)
Ba nguyên nhân phổ biến gây nên VLDDTT có thể kể đến như:
1 Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori): Đây là nguyên nhân hàngđầu gây ra loét dạ dày – tá tràng Vi khuẩn H pylori gây ra sự tổn thươngniêm mạc dạ dày và tá tràng thông qua việc sản xuất enzym urease, tạo ra môitrường kiềm và làm giảm khả năng bảo vệ niêm mạc khỏi sự tác động của axit
dạ dày [10]
2 Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Các thuốc NSAIDs nhưaspirin, ibuprofen, diclofenac có thể ức chế sản xuất prostaglandin, chất có tác
Trang 31Từ những vấn đề trên, chuyên đề này sẽ tập trung vào việc đánh giá thựctrạng, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan và đề xuất các mô hình truyền thông– giáo dục dinh dưỡng phù hợp, với:
● Mục tiêu chung: Xây dựng tài liệu truyền thông dinh dưỡng phù hợp
và hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện thực hành dinhdưỡng cho người bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng sau điều trị nội khoa,
từ đó góp phần giảm nguy cơ tái phát bệnh
Trang 32I ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là một trong những bệnh lý tiêu hóaphổ biến và có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ hiện mắc VLDDTT theo một phân tích tổng hợpnăm 2020 được ước tính vào khoảng 8,4% (95% CI: 5–13,7%), với xu hướngtăng theo độ tuổi và có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực địa lý [19] Dữliệu từ Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (Global Burden of Disease –GBD) năm 2019 cho thấy tỷ lệ mắc VLDDTT cao nhất tập trung ở các quốcgia đang phát triển như khu vực Nam Á (624,9/100.000 dân), châu Phi hạSahara (474,8/100.000 dân) và cả ở các nước có thu nhập cao như Bắc Mỹ(575,5/100.000 dân) [26] Mặc dù tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi có xu hướnggiảm trong vòng ba thập kỷ qua nhờ cải thiện điều kiện sống và chăm sóc y
tế, tổng số ca mắc vẫn tăng, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi Năm 2019, sốngười từ 70 tuổi trở lên mắc bệnh này đã tăng lên 1,61 triệu người, so với1,07 triệu người vào năm 1990 [26]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong nước ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lý dạ dàykhá cao, với ước tính khoảng 15–20% dân số mắc các bệnh liên quan đến dạdày, trong đó loét dạ dày – tá tràng chiếm tỷ lệ đáng kể [21] Một nghiên cứutại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy nguyênnhân chính gây loét là do vi khuẩn Helicobacter pylori (chiếm 33,1%) và sửdụng rượu bia (39,3%) [15] Chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng bịảnh hưởng rõ rệt; khảo sát bằng thang đo SF-36 cho thấy 56,4% bệnh nhân cóchất lượng cuộc sống ở mức trung bình, với điểm trung bình 66,53 ± 20,74[17]
Đáng chú ý, một nghiên cứu khác tại cùng đơn vị ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân cókiến thức tốt về phòng ngừa tái phát chỉ đạt 17,6%, trong khi có tới 82,4%
Trang 33người bệnh chưa có nhận thức đúng và đầy đủ [16] Tỷ lệ tái phát bệnhVLDDTT sau điều trị nội khoa vẫn còn ở mức đáng kể, đặc biệt trong bốicảnh chưa loại bỏ triệt để vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori) hoặc do cácyếu tố nguy cơ tái phát chưa được kiểm soát hiệu quả Theo Nguyễn và cộng
sự, trong số các bệnh nhân được điều trị diệt trừ H pylori, tỷ lệ tái phát trungbình sau 11 tháng là 23,5%, bao gồm 13,8% tái phát và 9,7% tái nhiễm [25] Các nguyên nhân chính dẫn đến tái phát bao gồm: (1) tái nhiễm hoặc khôngdiệt trừ triệt để H pylori, được xem là yếu tố nguy cơ hàng đầu; (2) khôngtuân thủ phác đồ điều trị, đặc biệt là ngừng thuốc sớm hoặc sử dụng khángsinh không đúng liều; (3) sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID)hoặc corticosteroid kéo dài, gây tổn thương niêm mạc dạ dày; và (4) thói quensống không lành mạnh như hút thuốc, uống rượu, ăn uống thất thường vàstress kéo dài [13,3] Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ, điều trị triệt để H.pylori và nâng cao kiến thức – tuân thủ điều trị là các yếu tố then chốt nhằmhạn chế tái phát VLDDTT sau điều trị nội khoa
Theo Nutrition Guide for Clinicians (2020), chế độ ăn có ảnh hưởng trực tiếpđến mức độ tiết acid dạ dày, tốc độ làm rỗng dạ dày và mức độ kích ứng niêmmạc tiêu hóa Dinh dưỡng đóng vai trò then chốt không chỉ trong điều trị màcòn trong phòng ngừa tái phát viêm loét dạ dày – tá tràng, thông qua việc xâydựng chế độ ăn hợp lý, hạn chế các yếu tố kích thích và phù hợp với từngngười bệnh, từ đó giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống Giáodục dinh dưỡng giúp người bệnh tự chủ trong kiểm soát chế độ ăn uống vàthói quen sinh hoạt sau điều trị, giảm sự phụ thuộc vào thuốc và tăng khảnăng quản lý bệnh bền vững Đồng thời, truyền thông – giáo dục còn hỗ trợnhân viên y tế lồng ghép tư vấn dinh dưỡng vào chăm sóc lâm sàng, góp phầnnâng cao hiệu quả điều trị toàn diện và cá nhân hóa hơn cho từng bệnh nhân
Trang 342 Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị và phòng ngừa tái phát
Chế độ ăn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phục hồi niêm mạc dạ dày vàkiểm soát triệu chứng Thực phẩm có thể kích thích tiết acid dạ dày, làmchậm lành loét nếu không được lựa chọn đúng Chế độ ăn hợp lý giúp:
Giảm đau và hồi phục tổn thương niêm mạc
Chế độ ăn hợp lý là một phần quan trọng trong điều trị nội khoa loét dạ dày –
tá tràng, không chỉ giúp giảm triệu chứng lâm sàng mà còn hỗ trợ quá trìnhhồi phục mô tổn thương
Trước hết, dinh dưỡng hợp lý giúp giảm tiết acid dịch vị – một trong nhữngyếu tố chính gây tổn thương niêm mạc dạ dày Thông qua việc hạn chế sửdụng các thực phẩm kích thích như cà phê, rượu, thức ăn cay, chua hoặcnhiều chất béo, chế độ ăn sẽ góp phần làm giảm tác động của acid dạ dày lênvùng loét, từ đó giảm đau và khó chịu cho người bệnh Ngoài ra, can thiệpdinh dưỡng còn hướng tới việc loại bỏ hoặc hạn chế những yếu tố kích thích
cơ học và hóa học lên niêm mạc tiêu hóa như thức ăn thô, cứng, nhiều gia vịhoặc chế biến không phù hợp Điều này tạo điều kiện cho dạ dày được “nghỉngơi” – một yếu tố quan trọng giúp vết loét nhanh lành Cuối cùng, bằng cáchcung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết như protein dễ tiêu, vitamin A,
C, kẽm và các chất chống oxy hóa, chế độ ăn phù hợp sẽ thúc đẩy quá trìnhtái tạo và phục hồi các tổn thương của niêm mạc dạ dày – tá tràng, đồng thờităng cường sức đề kháng của cơ thể trong suốt quá trình điều trị
Hạn chế biến chứng và giảm nguy cơ tái phát
Các nghiên cứu cho thấy rằng việc tuân thủ chế độ ăn chống loét – tức làgiảm thức ăn kích thích acid, ăn nhiều bữa nhỏ, không ăn khuya và tránh bỏbữa – có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ tái phát sau điều trị nội khoa Ví dụ, theobáo cáo từ Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH), bệnh nhân duy trì chế độ
Trang 35II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Tổng quan bệnh loét dạ dày – tá tràng
Viêm loét dạ dày – tá tràng (VLDDTT) là tình trạng tổn thương niêm mạcống tiêu hóa do mất cân bằng giữa yếu tố tấn công (acid, pepsin, H pylori,NSAIDs) và yếu tố bảo vệ (niêm mạc, bicarbonat, prostaglandin) Bệnhthường gặp ở dạ dày và tá tràng, với nguyên nhân phổ biến là nhiễm vi khuẩn
Helicobacter pylori, sử dụng thuốc NSAIDs kéo dài, hút thuốc, rượu bia và
căng thẳng tâm lý Tỷ lệ tái phát cao nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy
cơ [9]
Bệnh VLDDTT phát sinh do sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêmmạc và các yếu tố gây hại Các yếu tố bảo vệ bao gồm lớp chất nhầy,bicarbonat, dòng máu nuôi dưỡng niêm mạc, sự toàn vẹn của biểu mô và cácchất trung gian như prostaglandin và nitric oxide Khi các yếu tố này bị suygiảm, niêm mạc trở nên dễ bị tổn thương trước tác động của các yếu tố gâyhại như acid hydrochloric (HCl), pepsin, muối mật, các loại thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori)
Ba nguyên nhân phổ biến gây nên VLDDTT có thể kể đến như:
1 Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori): Đây là nguyên nhân hàngđầu gây ra loét dạ dày – tá tràng Vi khuẩn H pylori gây ra sự tổn thươngniêm mạc dạ dày và tá tràng thông qua việc sản xuất enzym urease, tạo ra môitrường kiềm và làm giảm khả năng bảo vệ niêm mạc khỏi sự tác động của axit
dạ dày [10]
2 Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Các thuốc NSAIDs nhưaspirin, ibuprofen, diclofenac có thể ức chế sản xuất prostaglandin, chất có tác
Trang 36Từ những vấn đề trên, chuyên đề này sẽ tập trung vào việc đánh giá thựctrạng, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan và đề xuất các mô hình truyền thông– giáo dục dinh dưỡng phù hợp, với:
● Mục tiêu chung: Xây dựng tài liệu truyền thông dinh dưỡng phù hợp
và hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện thực hành dinhdưỡng cho người bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng sau điều trị nội khoa,
từ đó góp phần giảm nguy cơ tái phát bệnh
Trang 37dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày Việc sử dụng lâu dài các loại thuốc này làmtăng nguy cơ loét dạ dày và tá tràng [7]
3 Căng thẳng (Stress): Mặc dù không phải là nguyên nhân trực tiếp, căngthẳng có thể làm tăng sản xuất axit dạ dày, làm giảm khả năng phục hồi niêmmạc và làm trầm trọng thêm các triệu chứng loét Nghiên cứu cho thấy căngthẳng tinh thần có thể làm cho các yếu tố khác như H pylori và thuốcNSAIDs tác động mạnh hơn lên niêm mạc dạ dày [8,17]
Ngoài ra còn một số nguyên nhân gián tiếp đến từ thói quen và lối sống khônglành mạnh ảnh hưởng nghiêm trọng lên các yếu tố bảo vệ và yếu tố gây hạinhư:
4 Thuốc lá và rượu: Hút thuốc lá làm tăng sản xuất axit dạ dày và ức chế quátrình làm lành niêm mạc dạ dày, trong khi rượu có tác dụng gây kích ứng vàlàm tổn thương niêm mạc Cả hai yếu tố này đều làm tăng nguy cơ loét dạ dày– tá tràng [5]
5 Chế độ ăn uống không lành mạnh: Ăn thực phẩm cay, chua, hoặc quá nhiềugia vị có thể làm tăng sản xuất axit dạ dày và kích thích niêm mạc dạ dày, làmgia tăng nguy cơ loét [18]
Việc điều trị VLDDTT chủ yếu tập trung vào loại bỏ các nguyên nhân nhưnhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H pylori), sử dụng thuốc chống viêmkhông steroid (NSAID), và các yếu tố lối sống không lành mạnh Tuy nhiên,nếu không tuân thủ điều trị đúng cách, bệnh nhân có thể đối mặt với nguy cơtái phát và các biến chứng nghiêm trọng Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ táiphát loét sau 5 năm lên tới 30,9%, đặc biệt ở những bệnh nhân tiếp tục sửdụng NSAID hoặc không được điều trị triệt để H pylori Việc không tuân thủđiều trị, chẳng hạn như không hoàn thành liệu trình kháng sinh hoặc không sửdụng thuốc ức chế bơm proton (PPI) đúng cách, là nguyên nhân chính dẫn