ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN THỊ LÝ NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM VÀ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH VẬT, HÓA HỌC CỦA VI KHUẨN STREPTOCOCCUS UBERIS GÂY BỆNH VIÊM VÚ Ở BÒ SỮA TẠI TR
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ LÝ
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM VÀ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH
SINH VẬT, HÓA HỌC CỦA VI KHUẨN STREPTOCOCCUS UBERIS
GÂY BỆNH VIÊM VÚ Ở BÒ SỮA TẠI TRANG TRẠI TH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Thái Nguyên, năm 2024
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ LÝ
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM VÀ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH
SINH VẬT, HÓA HỌC CỦA VI KHUẨN STREPTOCOCCUS UBERIS
GÂY BỆNH VIÊM VÚ Ở BÒ SỮA TẠI TRANG TRẠI TH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, ngày … tháng… năm 2024
Tác giả
Trần Thị Lý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành Luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc đến TS Đặng Thị Mai Lan đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành Luận văn
Đồng thời, tôi xin được gửi lời biết ơn đối với Ban Lãnh Đạo công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH True milk đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài Cảm ơn cán bộ công nhân viên Phòng Đảm bảo Chất lượng, Phòng Thú y thuộc Công ty cổ phần thực phẩm sữa TH True milk đã giúp đỡ về mọi mặt
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành Luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành Luận văn
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày… tháng…năm 2024
Tác giả
Trần Thị Lý
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ x
THESIS ABSTRACT xiii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Bệnh viêm vú do vi khuẩn S uberis gây ra ở bò sữa 4
1.1.2 Tổng quan về vi khuẩn S uberis 4
1.1.3 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm vú bò sữa 9
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa 14
1.2.1 Tổng quan về tình hình bệnh viêm vú bò sữa trên Thế giới 14
1.2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa ở Việt Nam 17
Trang 6CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, vật liệu, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.2 Vật liệu nghiên cứu 21
2.2.1 Các loại mẫu dùng trong nghiên cứu 21
2.2.2 Các loại môi trường, hóa chất dùng trong nghiên cứu 21
2.2.3.Các thiết bị và dụng cụ dùng trong nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.2.1 Nghiên cứu tình hình bệnh viêm vú bò sữa tại các trang trại TH 21
2.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S uberis phân lập từ bò sữa mắc bệnh viêm vú 22
2.2.3 Xác định một số biện pháp phòng và trị bệnh viêm vú bò sữa 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình bệnh viêm vú bò sữa tại các trang trại TH 22
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S uberis phân lập từ bò sữa mắc bệnh viêm vú 24
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu một số biện pháp phòng và trị bệnh viêm vú bò sữa 29
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Kết quả về tình hình bệnh viêm vú bò sữa tại các trang trại TH 32
3.1.1 Kết quả về tình hình bò sữa mắc bệnh viêm vú trong 3 năm gần đây 32
Trang 73.1.2 Kết quả về tình hình bệnh viêm vú bò sữa tại các trang trị TH 33
3.1.3 Kết quả xác định bệnh viêm vú bò sữa theo thể bệnh 36
3.1.4 Kết quả về tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo mùa 38
3.1.5 Kết quả về tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo lứa đẻ 41
3.2 Kết quả về một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S uberis phân lập từ bò sữa mắc bệnh viêm vú 42
3.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn S uberis 42
3.2.2 Kết quả phân lập vi khuẩn S uberis 45
3.2.3 Kết quả về cường độ nhiễm vi khuẩn S uberis 47
3.2.4 Kết quả giám định một số đặc tính sinh hóa của vi khuẩn S uberis 48
3.2.5 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn S uberis 50
3.2.6 Kết quả xác định một số gen độc lực của vi khuẩn S uberis 52
3.3 Kết quả về một số biện pháp phòng và trị bệnh viêm vú bò sữa 54
3.3.1 Kết quả một số biện pháp phòng bệnh viêm vú bò sữa 54
3.3.2 Kết quả điều trị bệnh viêm vú bò sữa 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
RAPD Random Amplified Polymorphism DNA ADN đa hình khuếch đại ngẫu nhiên
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diễn giải kết quả thử CMT 23
Bảng 2.2: Quy định về xác định mật độ vi khuẩn 26
Bảng 2.3: Các loại kháng sinh sử dụng trong nghiên cứu 27
Bảng 2.4: Danh sách các đoạn mồi được sử dụng để mô tả 28
Bảng 2.5: Bố trí thí nghiệm phòng viêm vú bằng chất độn nền chuồng 29
Bảng 2.6: Bố trí thí nghiệm phòng viêm vú bằng chất bịt núm vú trên bò 30
Bảng 2.7: Một số phác đồ điều trị viêm vú lâm sàng do S uberis 30
Bảng 3.1: Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú trong 3 năm gần đây 32
Bảng 3.2: Tỷ lệ mắc bệnh viêm vú ở bò sữa thông qua độ dẫn điện và CMT 33
Bảng 3.3: Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo các trang trại 35
Bảng 3.4: Kết quả xác định bệnh viêm vú bò sữa theo thể bệnh 36
Bảng 3.5: Tình hình bò sữa mắc bệnh viêm vú theo mùa 38
Bảng 3.6: Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo lứa đẻ 41
Bảng 3.7: Tỷ lệ vi khuẩn phân lập được theo tháng theo dõi (%) 43
Bảng 3.8: Kết quả phân lập vi khuẩn S uberis trong sữa bò 46
Bảng 3.9: Kết quả xác định mật độ vi khuẩn S uberis 47
Bảng 3.10: Kết quả giám định đặc tính sinh hóa của vi khuẩn S uberis 49
Bảng 3.11: Kết quả kháng sinh đồ của vi khuẩn S uberis phân lập 51
Bảng 3.12: Kết quả xác định các gen độc lực của các chủng S uberis 52
Bảng 3.13: Kết quả thử nghiệm các loại nền chuồng tới tỷ lệ mắc bệnh viêm vú bò sữa 55
Bảng 3.14: Kết quả thử nghiệm phòng viêm vú ở bò cho sữa 56
Bảng 3.15: Kết quả điều trị bệnh viêm vú bò sữa do vi khuẩn S uberis 58
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Hình thái vi khuẩn S uberis 5
Hình 1.2: Các yếu tố độc lực của vi khuẩn S uberis 8
Hình 3.1: Hình thái vi khuẩn S uberis được soi dưới kính hiển vi 48
Hình 3.2: Khuẩn lạc S uberis trên thạch máu sau khi nuôi cấy 49
Hình 3.3: Hình ảnh thử kháng sinh đồ 50
Hình 3.4: Kết quả điện di xác định gen hasA (khoảng 338bp) 53
Hình 3.5: Kết quả điện di xác định gen hasB (khoảng 552bp) 53
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 3.1: Tỷ lệ bệnh viêm vú bò sữa theo thể bệnh 37
Biều đồ 3.2: Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo các trang trại 35
Biều đồ 3.3: Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú qua các mùa 39
Biều đồ 3.4: Tỷ lệ vi khuẩn phân lập được từ sữa bò 45
Biều đồ 3.5: Tỷ lệ mẫu phân lập nhiễm vi khuẩn S uberis trong sữa bò 47
Biều đồ 3.6: Khả năng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn 51
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ
1 Những thông tin chung
1.1 Họ và tên tác giả: Trần Thị Lý
1.2 Tên đề tài: Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm và một số đặc tính sinh vật, hóa học của vi
khuẩn Streptococus uberis gây bệnh viêm vú ở bò sữa tại trang trại TH và biện pháp
phòng, trị
1.4 Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Thị Mai Lan
1.5 Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
2 Nội dung bản trích yếu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh viêm vú trên đàn bò sữa tại các trang trại của TH
- Nghiên cứu và xác định được một số đặc tính sinh vật hóa học, đặc tính gây
bệnh của Streptococus uberis
- Đề xuất và áp dụng được các biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả cho đàn
bò tại TH
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình bệnh viêm vú bò sữa tại các trang trại TH
Sử dụng phương pháp sàng lọc bò nghi bị viêm vú thông qua đo độ dẫn điện của sữa và thử CMT để xác định các cá thể mắc viêm vú Xác định tỷ lệ viêm vú bò sữa theo tháng, theo mùa và theo lứa đẻ tại các trại theo phương pháp điều tra của Nguyễn Văn Thiện và cs (2002)
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S uberis phân lập từ bò sữa mắc bệnh viêm vú
Mẫu sữa được lấy theo phương pháp của Adkins và cs (2017)
Vi khuẩn S uberis được nuôi cấy, phân lập theo quy trình được phê duyệt của
Phòng thí nghiệm TH
Trang 13Thử kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh theo CLSI Vet01S (2015), CLSI M100 (2020) và kháng sinh mà các trang trại TH đang sử dụng để điều trị bệnh viêm vú bò sữa
Xác định gen độc lực hasA và hasB của vi khuẩn S uberis bằng kỹ thuật PCR 2.2.3 Phương pháp nghiên cứu một số biện pháp phòng và trị bệnh viêm vú bò sữa
Thử nghiệm ảnh hưởng của 2 phương pháp xử lý chất độn nền chuồng, chất bịt núm vú Teatseal đến tỷ lệ mắc bệnh
Điều tra và đánh giá hiệu quả của 3 phác đồ điều trị bệnh tại các trang trại
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu thu được được tổng hợp bằng ứng dụng Excel
- Xử lý thống kê bằng phần mềm Excel
3 Kết quả chính và kết luận:
3.1 Tình hình bệnh viêm vú bò sữa tại các trang trại TH
3.1.1 Tỷ lệ bệnh viêm vú bò sữa theo tháng tại TH
Bò sữa tại các trang trại TH mắc bệnh viêm vú với tỷ lệ là 3,01%/tháng Tình trạng viêm vú trong đàn bò được phân loại thành ba mức độ: viêm thể nhẹ chiếm tỷ
lệ cao nhất với 54,38% (627 cá thể), viêm thể vừa chiếm 30,53% (352 cá thể), viêm thể nặng chiếm 15,09%
3.1.2 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo mùa
Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm vú qua các mùa trong năm có sự thay đổi đáng kể, thấp nhất vào mùa Đông (2,72%), cao nhất vào mùa Hè (3,41%), mùa Thu và mùa Xuân lần lượt là 3,07% và 2,91%
3.1.3 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo lứa đẻ
Trong giai đoạn nghiên cứu, bò sữa đẻ lứa đầu mắc bệnh viêm vú có tỷ lệ là 1,80%; bò đẻ nhiều lứa mắc bệnh viêm vú chiếm tỷ lệ 3,97%
3.2 Đặc điểm sinh học của vi khuẩn S uberis phân lập từ bò sữa viêm vú tại các trang trại TH
3.2.1 Đặc điểm sinh học của vi khuẩn S uberis
Kết quả phân lập vi khuẩn S uberis từ mẫu sữa bò mắc viêm vú đã xác định
được 108 mẫu, chiếm tỷ lệ 9,31%
Trang 14Tất cả các chủng đều là vi khuẩn Gr+, âm tính với phản ứng catalase và KOH, thủy phân esculine, không phát triển trong môi trường BHI bổ sung NaCl 6,5% và MacConkey agar, trong môi trường chromogenic agar khuẩn lạc có màu xanh Trong số 5 loại kháng sinh thử nghiệm thì sulfamethoxazole & trimethoprim
và ceftiofur là kháng sinh có hiệu quả cao nhất với tỷ lệ mẫu nhạy lên tới hơn 84,00% và tỷ lệ kháng lần lượt là 1,85% và 5,56% đây chính là hai loại kháng sinh được coi là lựa chọn ưu việt trong điều trị viêm vú Penicilin, ampicilin có tỷ lệ nhạy lần lượt là 82,41% và 77,78% và tỷ lệ kháng lần lượt là 17,59% và 22,22% Tetracyline có tỷ lệ nhạy thấp hơn là 67,59% và tỷ lệ kháng cao là 25,93%
Tất cả các chủng vi khuẩn S uberis thử nghiệm đều mang gen độc lực hasA,
hasB đặc trưng cho yếu tố tổng hợp vỏ polysaccharide (hyaluronic acid) của vi
khuẩn S uberis
3.3 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh viêm vú cho bò sữa
3.3.1 Nghiên cứu một số biện pháp phòng bệnh viêm vú cho bò sữa
Đến 90 ngày theo dõi thì lô thí nghiệm dùng bã tách ủ nhanh qua hệ thống BRU có
tỷ lệ viêm vú thấp hơn lô đối chứng (dùng nền chuồng ủ sinh học) với P < 0,05
Sử dụng Teatseal làm giảm tỷ lệ mắc bệnh viêm vú đối với bò cho sữa chu kỳ
1 đến 30 ngày theo dõi (P < 0,05)
3.3.2 Đánh giá hiệu quả của một số phác đồ điều trị bệnh viêm vú ở bò sữa do S uberis gây ra
Phác đồ điều trị cho hiệu quả điều trị bệnh viêm vú do S uberis tốt với tỷ lệ khỏi là
78,70%; đối với ở các thể nhẹ áp dụng phác đồ 1 thì tỷ lệ khỏi là 89,47%; đối với thể vừa
và nặng áp dụng phác đồ 2 và 3 có tỷ lệ khỏi lần lượt là 75,00% và 52,63%
Trang 15THESIS ABSTRACT
Master of Science: Trần Thị Lý
Thesis title: Study of infectious rates and certain biological, chemical properties of
the bacterium Streptococcus uberis that causes Mastitis in dairy cows at TH farms
and preventive and therapeutic measures
Major: Veterinary Medicine Code: 8.64.01.01
Educational organization: Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry –
Thai Nguyen University
Research Objectives:
- Determined rates of mastitis in dairy cow on farms of TH
- Study and identify some of the chemical and pathogenic properties of S uberis
- Propose and implement effective preventive and therapeutic measures for cattle in TH
Materials and Methods
Method on the situation of mastitis in dairy cows at TH farms
The method involves screening cows suspected of mastitis by measuring milk conductivity and conducting the California Mastitis Test (CMT) to identify affected individuals The rate of mastitis in dairy cows is determined monthly, seasonally, and by parity using the survey method of Nguyễn Văn Thiện et al (2002)
Method on certain biological characteristics of S uberis isolated from dairy
cows with mastitis
Milk samples are collected following the method of Adkins et al (2017)
The S uberis bacteria are cultured and isolated according to the approved
protocol of the TH laboratory
The antibiotic susceptibility test was conducted with five types of antibiotics according to the guidelines of CLSI Vet01S (2015), CLSI M100 (2020), and the antibiotics currently used by TH farms to treat bovine mastitis
Trang 16The virulence genes hasA and hasB of S uberis are identified using PCR
techniques
Method on some prevention and treatment measures for mastitis in dairy cows
Experiments assess the impact of two methods for treating bedding materials and the use of Teatseal on the disease incidence rate The effectiveness of three
treatment regimens for mastitis in farms is also evaluated
Data Processing Method
Data collected is summarized using Excel
Statistical analysis is performed using Excel
Main findings and conclusions
1 Situation of mastitis in dairy cows at TH farms
The monthly rate of mastitis in dairy cows at TH is 3.01% The mastitis is classified into three levels: mild mastitis accounts for the highest proportion at 54.38% (627 cows), followed by moderate mastitis at 30.53% (352 cows), and severe mastitis at 15.09%
Seasonal rates of mastitis show significant variation, with the lowest in winter (2,72%) and the highest in summer (3,41%) The rates in autumn and spring are 3.07% and 2.91%, respectively
The incidence rate of mastitis among first-parity cows is 1,80%, while for multiparous cows, it is 3,97%
2 Biological characteristics of S uberis isolated from dairy cows with mastitis
at TH farms
The results show that S uberis was isolated from 108 samples, accounting for
9.31% All strains exhibit key characteristics: is a Gram-positive (Gr+) bacterium, negative for the catalase test, negative for KOH, positive for esculin hydrolysis; do not grow in BHI medium supplemented with 6.50% NaCl and MacConkey agar; colonies on Chromogenic agar appear green
In the study of four types of antibiotics, Sulfamethoxazole & Trimethoprim and Ceftiofur showed the highest efficacy with sensitivity rates exceeding 84%, while the resistance rates were only 1.85% and 5.56%, respectively This indicates
Trang 17that these two antibiotics are the superior choices for treating mastitis Penicillin and Ampicillin had sensitivity rates of 82.41% and 77.78%, respectively, with resistance rates of 17.59% and 22.22% Tetracycline had the lowest sensitivity (67.59%) and the highest resistance (25.93%)
All tested strains of S uberis carry the virulence genes hasA and hasB, which
are specific to polysaccharide (hyaluronic acid) synthesis
3 Research and proposal of prevention and preatment measures for mastitis
in dairy cows
3.1 Research on prevention measures
After 90 days of monitoring, the experimental group using rapidly fermented bedding showed a lower mastitis rate than the control group (P < 0.05)
The use of Teatseal reduced mastitis incidence in first-lactation cows during
30 days of monitoring (P < 0.05)
3.2 Evaluating treatment regimens for mastitis caused by S uberis
Treatment regimens tailored to disease severity showed an overall recovery
rate of 78,70% for mastitis caused by S uberis For mild cases using regimenm1,
the recovery rate was 89,47%; for moderate and severe cases, regimens 2 and 3 had recovery rates of 75.00% and 52.63%
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi tại Việt Nam đã và đang đóng vai trò thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp, trong cơ cấu nền kinh tế quốc gia Hiện nay, chăn nuôi bò, đặc biệt là bò sữa, chiếm vị trí quan trọng góp phần cung cấp nguồn thực phẩm cao cấp và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường tiêu thụ Sản phẩm sữa từ bò sữa cung cấp protein chất lượng cao, là nguồn vitamin, khoáng chất thiết yếu, hỗ trợ sức khỏe cho xương, cơ bắp và tiêu hóa
Tập đoàn TH (TH) là một trong những doanh nghiệp tiên phong đã triển khai dự
án “Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp công nghệ cao”
từ năm 2009 tại tỉnh Nghệ An Bằng việc tự động hóa, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ 4.0 một cách mẫu mực trong sản xuất nông nghiệp và chế biến, TH đã tạo ra dòng sữa tươi, sạch, chất lượng góp phần giảm tỷ lệ sữa bột pha lại trên thị trường xuống mức dưới 60% và đứng đầu thị trường trong phân khúc sữa tươi
Theo Tổng cục thống kê năm 2023, Việt Nam có số lượng bò khoảng 6.331.900 con, trong đó bò sữa chiếm gần 6% với số lượng 375.000 con Chăn nuôi bò sữa chủ yếu phát triển mạnh ở một số tỉnh, thành phố như: Hồ Chí Minh, Nghệ An, Hà Nội, Sơn La, Lâm Đồng, Vĩnh Phúc, Tây Ninh, Thanh Hóa và Sóc Trăng Các cơ sở chăn nuôi lớn trong lĩnh vực này bao gồm Tập đoàn TH, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Công ty Cổ phần Sữa Mộc Châu và Công ty Cổ phần Dinh Dưỡng Nutifood Tại các trại của TH năm 2023, có khoảng 70.000 con bò được nuôi tại 8 trang trại nuôi bò sữa lớn, trong đó có 1 trang trại nuôi theo phương pháp hữu cơ và 1 trang trại cách ly
Dù có những điều kiện thuận lợi về chăn nuôi và thị trường tiêu thụ nhưng ngành chăn nuôi bò sữa nói chung và trang trại TH nói riêng hiện vẫn còn gặp không ít khó khăn đối với các vấn đề về sức khoẻ của bò sữa Viêm vú ở bò là một trong những bệnh phổ biến nhất ở bò sữa, gây tổn thất kinh tế lớn trong ngành công nghiệp sữa trên toàn thế giới (chi phí điều trị, giảm sút về sản lượng và chất lượng sữa, tỷ lệ loại bỏ và tử vong cao ở các con vật bị mắc bệnh) (Käppeli và cs., 2019) Hiện tượng sữa hỏng phải loại bỏ tương đối phổ biến ở nhiều trang trại nông hộ,
Trang 19Seegers và cs (2003) cho biết: viêm vú lâm sàng có thể làm giảm sản lượng sữa từ 20 - 30% trong thời gian điều trị, còn viêm vú không triệu chứng giảm khoảng 10 - 15% Ở Estonia có 19,10% các mẫu vi khuẩn từ viêm vú lâm sàng của
các bò cái mới sinh được phát hiện là Streptococcus uberis (S uberis) (Kalmus và cs., 2006) Ở Phần Lan, S uberis là nguyên nhân phổ biến thứ ba gây viêm vú
(Koivula và cs., 2007) Ở Bắc Mỹ, tỷ lệ viêm vú cận lâm sàng ở các trang trại bò sữa dao động từ 15 - 40%, với chi phí điều trị trung bình mỗi ca dao động từ 200 -
400 USD (Ruegg, 2017) Ở Canada, ngành chăn nuôi bò sữa thiệt hại khoảng 400 triệu đô la mỗi năm do ảnh hưởng của bệnh viêm vú (Dego, 2020) Tại trang trại của TH của Việt Nam, Trần Trung Mỹ và cs (2020) cho biết: trong các tác nhân gây
bệnh viêm vú thì nguyên nhân do nhiễm S uberis chiếm khoảng 8,19% Có thể thấy rằng Streptococci là một trong những mầm bệnh chính gây viêm vú ở bò trên toàn thế giới, trong đó đáng chú ý là S uberis (Kabelitz, 2021)
Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có những nghiên cứu đầy đủ về bệnh viêm vú
do vi khuẩn S uberis gây ra một cách toàn diện Xuất phát từ thực tiễn về bệnh viêm
vú do S uberis tại các trang trại của TH, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
tỷ lệ nhiễm và một số đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn Streptococcus uberis gây bệnh viêm vú ở bò tại trang trại TH và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh viêm vú trên đàn bò sữa tại các trang trại của TH
- Nghiên cứu và xác định được một số đặc tính sinh vật hóa học, đặc tính gây
- Bổ sung tư liệu khoa học về tình hình mắc bệnh, kết quả phân lập, giám định
đặc tính sinh vật hóa học, yếu tố gây bệnh và biện pháp phòng và trị bệnh do S uberis gây ra
Trang 20- Cơ sở khoa học cho người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng và trị bệnh để
hạn chế thiệt hại do S uberis gây viêm vú trên đàn bò
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp tư liệu thực tế về S uberis trong chăn nuôi bò sữa
- Góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa phát triển
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Bệnh viêm vú do vi khuẩn S uberis gây ra ở bò sữa
Vi khuẩn S uberis là một tác nhân gây bệnh viêm vú phổ biến ở các đàn
bò sữa, đây là nguyên nhân gây ra phần lớn các trường hợp viêm vú lâm sàng và cận lâm sàng ở New Zealand và Vương quốc Anh, và xếp vào nhóm các nguyên
nhân phổ biến nhất gây viêm vú ở Hoa Kỳ và Hà Lan (Zadoks và cs., 2001)
S uberis là một loại vi khuẩn Gram dương (Gr+) chủ yếu gây ra bệnh
viêm vú trên bò sữa đang trong giai đoạn tiết sữa, cạn sữa đối với cả bò đẻ lứa đầu và bò đã đẻ nhiều lứa, vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, ở cả bò sữa nuôi nhốt hoặc chăn thả Đây là loại vi khuẩn môi trường thường gặp và khó xử lý nhất, gây bệnh viêm vú lâm sàng cấp tính và tái phát, thường cư trú trong cơ thể
bò và môi trường của chúng gây bệnh viêm vú cho bò ở các thể từ nhẹ đến nặng (Went và cs., 2019)
Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng S uberis gây ra cả các trường hợp viêm vú
lâm sàng và tiềm ẩn, và được phân loại là một tác nhân gây bệnh chính liên quan đến môi trường (Krömker và cs., 2014) Theo Hillerton và Berry (2003), Charman và cs (2012), khoảng một phần ba các trường hợp viêm vú lâm sàng là
do các loại Streptococci môi trường là gây ra Vi khuẩn S uberis có thể tồn tại ở
nhiều vị trí không chỉ trên cơ thể vật chủ mà còn có thể trong chất độn chuồng, dụng cụ vắt sữa và các vật dụng khác trong khu vực chăn nuôi bò (Leigh, 1999)
1.1.2 Tổng quan về vi khuẩn S uberis
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy
S uberis là vi khuẩn Gr+, không di động, tế bào có dạng cầu khuẩn (đường kính 0,5 - 1 µm) xếp liên tiếp với nhau thành từng chuỗi, dài ngắn khác nhau và có thể đứng với nhau thành từng đôi hoặc từng đám, có khả năng phát triển tốt trong
chậm hoặc không phát triển ở nhiệt độ ≤ 10°C hoặc ≥ 45°C và bị vô hiệu bởi 60°C trong 30 phút (Kromker và cs., 2014)
Trang 22Hình 1.1 Hình thái vi khuẩn S uberis (Fessia, 2018)
Trong môi trường thạch máu, S uberis phát triển ở 30 - 37°C Các khuẩn lạc
có hình tròn, trong mờ và nhỏ với đường kính từ 1 - 2 mm, có cạnh nhẵn sau khi ủ trong thời gian từ 24 - 48 giờ (Kromker và cs., 2014)
Việc bổ sung 0,1% aesculin vào môi trường nuôi cấy giúp nhận diện vi khuẩn,
vì S uberis cùng với các vi khuẩn thuộc chi Enterococcus có khả năng phân giải aesculin thành glucose và aesculetin Hầu hết các khuẩn lạc của S uberis thể hiện
tính chất α-hemolytic (tan máu một phần), nhưng cũng có thể γ-hemolytic (không
có hiện tượng tan máu) (Oliver, 2011)
1.1.2.2 Đặc tính sinh hóa và tính chất bắt màu thuốc nhuộm
Có thể phân biệt S uberis với các Enterococci phân giải aesculin do có khoảng 95% các chủng S uberis dương tính với β-galactosidase Năm 1993, Watts và cs đã khuyến nghị sử dụng môi trường Rambach để xác định các khuẩn lạc S uberis phát triển cho màu xanh, trong khi các khuẩn lạc của S agalactiae, S dysgalactiae, E saccharolyticus hoặc E faecalis phát triển màu đỏ và không sản xuất β-galactosidase
S uberis có khả năng phân giải hippurate và aesculin (Khan và cs., 2003) cùng
với khả năng sản xuất acid từ inulin (Watts, 1988) Trong phòng thí nghiệm, khi
tính với catalase và có khả năng phân giải aesculin, thường được phân loại là S uberis (Odierno, 2006)
Theo Oliver (2011), S uberis âm tính với catalase, có thể âm tính hoặc dương
Trang 23hippurat, chủ yếu là dương tính với inulin và không thể phân nhóm theo Lancefield (một số chủng được báo cáo là thuộc nhóm E, G, P hoặc U của Lancefield)
S uberis có thể phát triển ở nồng độ 4% NaCl, nhưng không phát triển ở nồng
độ 6,5% NaCl hoặc ở pH 9,6 S uberis phát triển chậm hoặc ngừng phát triển ở
nhiệt độ ≤ 10°C và ≥ 45°C Vi khuẩn bị ngừng hoạt động khi được đun nóng ở 60°C trong 30 phút (Kromker và cs., 2014)
Khi nhuộm Gram, S uberis giữ lại phẩm nhuộm crystal violet nên tế bào vi
khuẩn xuất hiện màu tím đậm dưới kính hiển vi do chứa một lớp peptidoglycan dày, đặc trưng cho vi khuẩn Gr+
1.1.2.3 Đặc tính gây bệnh
* Quá trình lây nhiễm
Trong điều kiện bình thường, để ngăn vi khuẩn xâm nhập vào ống dẫn sữa, thì
cơ vòng bao quanh ống dẫn sữa sẽ được đóng lại giữa các lần vắt sữa Ngoài ra, tuyến vú cũng tạo ra các chất kháng khuẩn để chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn vào ống dẫn sữa Bên cạnh đó, quá trình vắt sữa cũng làm giảm mức độ xâm nhập của vi khuẩn trong tuyến vú, do hoạt động vắt sữa làm sữa chảy ra khỏi ống dẫn sữa
có thể rửa trôi những vi khuẩn có mặt
S uberis có thể ảnh hưởng đến bò đang trong chu kỳ tiết sữa, bò cạn sữa, bò
cái sinh lứa đầu và bò cái đã sinh nhiều lứa (Oliver, 2011)
Vi khuẩn S uberis có thể tìm thấy ở nhiều vị trí trên cơ thể bò như: bề mặt da
bầu vú, đường hô hấp, lông, trực tràng, dạ cỏ, amiđan, âm hộ và âm đạo, nhưng có rất ít bằng chứng cho thấy có hoạt động gây bệnh nào ở các vị trí khác ngoài bầu vú
(Harjanti, 2017)
Sau khi S uberis từ môi trường xâm nhập vào tuyến vú sẽ di chuyển lên ống
dẫn sữa và xâm chiếm các tế bào tạo sữa gây nhiễm trùng ở tuyến vú (bao gồm các tiểu thùy và các tế bào biểu mô tuyến vú) Đồng thời, cơ chế phòng thủ của tế bào
sẽ được kích hoạt và các tế bào thực bào (từ máu) sẽ cố gắng tiêu diệt vi khuẩn Vi
khuẩn S uberis thường bắt đầu tăng lên trong giai đoạn đầu của thời điểm cạn sữa,
bởi vì sau khi ngừng tiết sữa, bò không được vắt sữa hàng ngày sẽ có nguy cơ mắc
bệnh viêm vú do S uberis cao hơn so với bò trong thời kì vắt sữa Bò đang trong
Trang 24giai đoạn tiết sữa cũng có nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng do căng thẳng gia tăng và suy giảm miễn dịch liên quan đến giai đoạn hậu sản (Peterson-Wolfe, 2012)
* Yếu tố bám dính
Almeida (1996) đã chứng minh khả năng bám dính của hai chủng S uberis
(một chủng có vỏ và một chủng không có vỏ) đối với các dòng tế bào biểu mô vú
bò và các protein ma trận ngoại bào bao gồm fibronectin, collagen và laminin S uberis được phối hợp nuôi cấy ở nhiệt độ 4°C với lớp tế bào biểu mô vú Kết quả cho thấy cả hai chủng S uberis đều có khả năng bám dính vào tế bào biểu mô vú bò
và các các protein ma trận ngoại bào Khả năng bám dính của S uberis vào biểu mô
vú có thể là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong việc thiết lập và phát triển các nhiễm trùng nội vú ở bò
Trong số các yếu tố gây bệnh S uberis, phân tử bám dính của SUAM là một trong những yếu tố chính gây bệnh Phân tử này giúp S uberis xâm nhập vào các tế
bám dính của S uberis vào các tế bào biểu mô tuyến vú có thể mang lại lợi thế cho
vi khuẩn trong việc bám dính và xâm nhập vào biểu mô tuyến vú (Fessia, 2020)
* Các yếu tố độc lực
Nghiên cứu của Parin (2017) cho biết: có 32 chủng (91,00%) có biểu hiện gen hasB, gapC và skc; 30 chủng (86,00%) có biểu hiện gen cfu, hasC và hasA; 29 chủng (83,00%) có biểu hiện gen sua; 28 chủng (80,00%) có biểu hiện gen oppF; 25 chủng (71,00%) có biểu hiện gen pauA và 9 chủng (26,00%) có biểu hiện gen Ibp Đến năm 2018, Boonyatra và cs (2018) bổ sung thông tin về các gen liên quan đến độc lực bao gồm pauA, gapC, oppF, mtuA, hasA, hasB, hasC, lbp, sua và cfu Sự
hiện diện của các gen liên quan đến độc lực của S uberis, bao gồm hoạt hóa
oligopeptide permease (oppF), metal transporter uberis A (mtuA), các gen vỏ acid hyaluronic (hasA, hasB, hasC), protein gắn lactoferrin (lbp), protein bám dính (sua)
và yếu tố CAMP (cfu) Khi kiểm tra các gen độc lực một cách riêng lẻ
Trang 25Hình 1.2: Các yếu tố độc lực của vi khuẩn S uberis (Kabelitz và cs., 2020)
S uberis có khả năng ngăn chặn quá trình opsonization thông qua việc tổng
hợp protein hasC, giúp vi khuẩn che giấu các kháng nguyên bề mặt và tránh sự nhận diện của hệ miễn dịch Protein sua và vru của vi khuẩn liên kết với lactoferrin, làm giảm tính chất kháng khuẩn của môi trường và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại của vi khuẩn Thêm vào đó, việc phân giải casein, một quá trình chưa được làm rõ hoàn toàn, cung cấp thêm chất dinh dưỡng, giúp hình thành màng sinh học Các
protein pauA và skc của S uberis kích hoạt plasminogen, chuyển đổi thành plasmin,
dẫn đến sự phân giải chất nền ngoại bào và tạo điều kiện cho sự xâm lấn của vi khuẩn vào tế bào biểu mô tuyến vú của bò (Kabelitz và cs., 2021)
Trong một nghiên cứu khác, Kabelitz và cs (2021) cũng cho biết, với trên 78
chủng S uberis, có ba gen phổ biến nhất được xác định là: gen hasA, hasB và hasC
có liên quan đến sự sản xuất axit hyaluronic xuất hiện ở 89,70% các chủng; gen sua liên kết với lactoferrin có mặt ở 83,30% các chủng; gen gapC liên kết với plasmin
và điều hòa miễn dịch, có mặt ở 79,40% các chủng
Trang 26Việc làm mất chức năng của gen hasA hoặc hasC trong S uberis dẫn đến việc
ngừng hoàn toàn sản xuất vỏ acid hyaluronic mất khả năng kháng lại sự thực bào của bạch cầu trung tính ở bò
1.1.2.4 Tính kháng kháng sinh
Một nghiên cứu ở Pháp của Boireau và cs (2018) cho thấy: mức độ kháng của
S uberis đối với oxacillin là thấp (2,20%), gentamicin (2,40%) và 9,30% đối với
trimethoprim-sulfamethoxazole (SXT) Trong khi đó, mức độ kháng thuốc đối với tetracycline (18,10%), lincomycin (19,10%) và erythromycin (20,00%)
Zhang và cs (2021) đã làm thử nghiệm năm loại kháng sinh: penicillinG,
ceftiofur, erythromycin, tetracycline và gentamicin, kết quả là phần lớn các chủng S uberis được kiểm tra đều kháng với tetracycline (82,00%), tiếp theo là ceftiofur (19,30%) và erythromycin (8,30%) Tất cả các chủng S uberis đều nhạy cảm với
1.1.3 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm vú bò sữa
1.1.3.1 Các phương pháp chẩn đoán bệnh viêm vú bò sữa
* Chẩn đoán thông qua các triệu chứng lâm sàng
Theo nghiên cứu của Sepúlveda-Varas và cs (2016), dấu hiệu lâm sàng của bệnh viêm vú không chỉ bao gồm các triệu chứng như sưng tấy và đỏ ở vú, mà còn liên quan đến sự thay đổi hành vi của bò sữa như: giảm hoạt động, tăng thời gian nằm nghỉ, giảm sự thèm ăn những hành vi này là phản ứng của bò đối với cảm giác đau đớn và khó chịu do bệnh viêm vú gây ra và đây chính là các thông tin quan trọng cung cấp cho việc chẩn đoán bệnh sớm
Tommasoni và cs (2023) cho biết: việc chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm vú thường bắt đầu bằng quan sát các triệu chứng lâm sàng điển hình: sưng tấy và đỏ ở
Trang 27bầu vú, sự thay đổi màu sắc của sữa từ trắng đục sang vàng, có lẫn máu hoặc mủ và các dấu hiệu đau đớn khi chạm vào vú Những triệu chứng này phản ánh sự viêm nhiễm và mức độ nghiêm trọng của bệnh
* Chẩn đoán cận lâm sàng
Chẩn đoán cận lâm sàng bao gồm các xét nghiệm hóa học và vi sinh để xác định sự hiện diện của vi khuẩn gây bệnh và đánh giá mức độ viêm Các phương pháp phổ biến bao gồm:
- Đo độ dẫn điện
Đo độ dẫn điện của sữa được xác định thông qua việc đo nồng độ của các cation và anion Các ion chính trong sữa bao gồm Na+, Cl¯ và K+ Hệ thống vận chuyển tích cực có trong các tế bào của tuyến vú đảm nhiệm việc bơm Na+ và Cl¯ vào dịch ngoại bào, trong khi K+ được bơm vào trong tế bào
Trong trường hợp nhiễm trùng, nồng độ ion Na+ và Cl¯ trong sữa tăng lên, trong khi nồng độ lactose và K+ giảm Khi có tổn thương tế bào do nhiễm trùng, nồng độ cao của Na+ và Cl¯ trong dịch ngoại bào sẽ xâm nhập vào lòng các tiểu thùy Đồng thời, nồng độ K+ và lactose giảm xuống để duy trì áp suất thẩm thấu trong sữa Sự rò rỉ của lactose vào dịch ngoại bào và máu, xảy ra sau khi hàng rào lactose bình thường bị phá vỡ, dẫn đến sự giảm nồng độ lactose trong sữa Những thay đổi về nồng độ Na+, Cl¯ và K+ trong sữa trong trường hợp viêm vú sẽ làm tăng giá trị độ dẫn điện (Fahmid và cs., 2016)
- Đếm số lượng tế bào soma trong sữa
Cách thông thường nhất để xác định viêm vú tiềm ẩn là dựa vào số lượng tế bào thân trong sữa, qua đó có thể đánh giá mức độ viêm vú Bình thường, 80% sữa sạch chứa ít hơn 100.000 tế bào/ml sữa, 20% có lượng tế bào lớn hơn 100.000 tế bào/ml và chỉ có 5% trên 300.000 tế bào/ml Những con bò khỏe mạnh hoặc đã khỏi bệnh viêm vú phải có SCC dưới 200.000 tế bào/ml và những con bò có số lượng trên 400.000 tế bào/ml được coi là có nhiễm trùng trong vú (Idriss, 2013)
Tế bào thân hiện diện trong sữa bò bình thường chủ yếu là đại thực bào, chiếm
66 - 88% (Pyorala S., 2003) Khi bò bị viêm vú, số lượng tế bào thân tăng lên rất cao và chủ yếu là bạch cầu trung tính (90%) (Nguyễn Văn Phát, 2020)
Trang 28- Phương pháp CMT (California Mastitis Test)
Bên cạnh chẩn đoán lâm sàng, việc ước lượng số lượng tế bào soma có trong sữa thông qua phương pháp thử CMT cũng được ứng dụng rộng rãi để chẩn đoán viêm vú tại các trang trại một cách đơn giản, ít tốn kém và có hiệu quả cao (Kandeel
và cs., 2018) Phương pháp CMT được dùng để khẳng định kết quả sàng lọc bởi phương pháp đo độ dẫn điện Hiện nay, rất nhiều máy vắt sữa đã được trang bị hệ thống đo liên tục độ dẫn điện của sữa trong quá trình vắt Khi bò bị viêm vú thì chỉ
số độ dẫn điện tăng lên do sự tăng lên của các ion Na+ và Cl- trong khi giảm ion K+
trong sữa (Adkins và Middleton, 2018)
- Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction)
Kỹ thuật PCR được áp dụng để chẩn đoán viêm vú cho kết quả nhanh và độ chính xác cao hơn so với phương pháp nuôi cấy truyền thống Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi chi phí cao và kỹ thuật viên có trình độ chuyên môn Hiện nay, kỹ thuật PCR thời gian thực (Real-time PCR) được sử dụng phổ biến, cho phép xác định nhiều loại mầm bệnh cùng một lúc nhờ vào các bộ mồi (primer) được thiết lập trong một phản ứng
1.1.3.2 Biện pháp phòng bệnh viêm vú bò sữa
* Vệ sinh chuồng trại
Để giảm thiểu sự tiếp xúc của đầu vú với S uberis và các tác nhân gây bệnh viêm vú khác như E coli cần quản lý tốt công tác vệ sinh môi trường sống của bò
(chuồng trại, cơ sở vắt sữa, đường dẫn bò nội tại trang trại…), việc chuẩn bị và làm sạch bầu vú trước khi vắt sữa Vi khuẩn từ môi trường tiếp xúc với cơ thể bò (đặc biệt là bầu vú) bị bẩn khi vắt sữa, nhất là đối với bò sữa có sản lượng cao dẫn đến viêm vú Do đó, việc vệ sinh môi trường nuôi giữ bò có vai trò làm giảm tỷ lệ mắc bệnh viêm vú (Haley và cs., 2001)
Ước tính, mỗi ngày vú bò tiếp xúc với nền chuồng khoảng 40 - 60% thời gian
Số lượng và chủng loại mầm bệnh trong nền chuồng có mối tương quan với số lượng mầm bệnh trên núm vú cũng như tỷ lệ mắc viêm vú Do đó, giảm số lượng vi khuẩn trong nền chuồng có thể giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh (Vliegher và cs., 2018) Thêm vào đó, việc định kỳ vệ sinh và khử trùng khu vực bò đứng chờ trước khi vào
Trang 29khu vực vắt sữa, cũng như giữ vệ sinh ở khu vực nuôi bò tơ và bò cạn sữa góp phần làm giảm tỷ lệ mắc viêm vú (Broucek và cs., 2015)
* Chăm sóc, nuôi dưỡng
Michel (2002) đưa ra khuyến cáo nên có sẵn thức ăn cho bò ăn ngay sau khi vắt sữa nhằm không cho bò nằm xuống nền chuồng tối thiểu một giờ Nếu bò nằm quá sớm, khi đó cơ vòng đầu vú chưa đóng lại hoàn toàn là điều kiện cho vi khuẩn môi trường xâm nhập và gây nhiễm trùng vú
Bên cạnh đó, sự mất cân bằng dinh dưỡng và năng lượng trong khẩu phần ăn cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh Ketosis (toan hóa máu), gián tiếp làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc viêm vú lâm sàng Bò được cung cấp đủ selen (Se) cho hàm lượng, hoạt tính men glutathione peroxidase và khả năng tiêu diệt vi khuẩn của bạch cầu trung tính cao hơn bò được cung cấp khẩu phần thiếu Se Cung cấp đủ kẽm (Zn) trong thức ăn cũng có thể làm giảm SCC lên tới 22% (O’Rourke, 2009)
1.1.3.3 Biện pháp trị bệnh viêm vú bò sữa
* Điều trị viêm vú lâm sàng
Đối với bò bị viêm vú lâm sàng, việc sử dụng kháng sinh phổ hẹp thường là phương pháp điều trị hiệu quả nhất Cụ thể, khi viêm vú do liên cầu và tụ cầu có khả năng nhạy cảm với penicillin, các kháng sinh thuộc nhóm β-lactam, đặc biệt là penicillinG được khuyến nghị sử dụng Những kháng sinh này có tác dụng tốt trong việc kiểm soát nhiễm trùng mà không làm gia tăng nguy cơ kháng thuốc Ngược lại, các kháng sinh phổ rộng như cephalosporin thế hệ 3 và 4, dù có khả năng chống lại nhiều loại vi khuẩn, không nên được ưu tiên trong điều trị viêm vú vì việc sử dụng chúng có thể dẫn đến sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc đối với nhóm β-lactam phổ rộng
Trang 30Phạm Bảo Ngọc (2003) đã thử nghiệm sáu phác đồ điều trị khác nhau đối với
bò bị viêm vú Kết quả cho thấy, phác đồ sử dụng tetramycin LA với hoạt chất chính là oxytetracycline, liều 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm bắp trong 2 ngày cho hiệu quả điều trị lên đến 93,80% Trong khi đó, phác đồ phối hợp penicillinG và streptomycin với tỷ lệ 1 : 1 có hiệu quả điều trị kém hơn với tỷ lệ khỏi chỉ đạt 55,00% sau 3 - 5 ngày điều trị
Trong các trường hợp viêm vú nặng, đặc biệt là do vi khuẩn S aureus hoặc các
vi khuẩn coliform gây ra, việc điều trị nên bao gồm sử dụng kháng sinh toàn thân và
bơm kháng sinh trực tiếp vào bầu vú Phương pháp này giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị bằng cách tập trung kháng sinh vào vùng nhiễm trùng chính, đồng thời hỗ trợ việc điều trị toàn thân để kiểm soát vi khuẩn trong cơ thể bò (Barkema và cs., 2006) Đối với viêm vú cấp tính, khi không thể thực hiện chẩn đoán vi sinh để xác định chính xác tác nhân gây bệnh, việc điều trị chủ yếu dựa vào dữ liệu lịch sử của trang trại và kinh nghiệm của người điều trị để đạt được kết quả tốt nhất mà không làm gia tăng nguy cơ phát triển kháng thuốc Các bác sĩ thú y cần dựa vào các thông tin đã biết về tình trạng viêm vú trong trang trại và áp dụng phương pháp điều trị phù hợp (Pyorala, 2009)
Nghiên cứu của Sa Đình Chiến và cs (2012) tại Sơn La đã thử nghiệm các phác đồ điều trị khác nhau và cho thấy: các phác đồ gồm (1) Mastijet Fort (Intervet,
Hà Lan), (2) kết hợp lincomycin + norfloxacin (Hantrin-5) và (3) kết hợp amoxicillin + ciprofloxacin (Hancipro-50) đều đạt tỷ lệ khỏi bệnh 100% sau 1 - 2 liệu trình Nguyễn Hoài Châu và cs (2019) đã sử dụng kem nano bạc kết hợp với kháng sinh ceftiofur trong điều trị viêm vú có hiệu quả điều trị cao, đạt đến 93,30% trên bò
bị viêm vú lâm sàng Việc sử dụng kem nano bạc cho thấy tiềm năng đáng kể trong việc cải thiện hiệu quả điều trị viêm vú khi phối hợp với kháng sinh truyền thống
* Điều trị viêm vú cận lâm sàng
Việc điều trị viêm vú cận lâm sàng ở bò sữa đang là vấn đề gây tranh cãi trong cộng đồng khoa học và thực hành nông nghiệp Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả và tính kinh tế của việc điều trị trong giai đoạn này, ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng sữa
Trang 31Pyorala (2009) cho biết: việc điều trị viêm vú cận lâm sàng bằng kháng sinh trong giai đoạn cho sữa thường không mang lại hiệu quả kinh tế cao Điều này chủ yếu do chi phí điều trị khá lớn và không đạt được kết quả như mong đợi Theo quan điểm này, việc điều trị viêm vú cận lâm sàng có thể không mang lại lợi ích đủ để biện minh cho chi phí và công sức bỏ ra
Ngược lại, nghiên cứu của McDougall và cs (2022) lại cho rằng điều trị viêm
vú cận lâm sàng có thể mang lại kết quả tích cực hơn nếu thực hiện một cách hiệu quả Cụ thể, liệu trình điều trị kéo dài 5 ngày đã chứng tỏ có hiệu quả hơn nhiều so với liệu trình 3 ngày, với tỷ lệ sạch mầm bệnh khỏi bầu vú bò cao hơn đáng kể Điều này cho thấy rằng thời gian điều trị có thể là yếu tố quan trọng để đạt được kết quả điều trị tốt hơn
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa
1.2.1 Tổng quan về tình hình bệnh viêm vú bò sữa trên Thế giới
Zadoks (2003) đã tiến hành điều tra các đặc điểm lâm sàng, dịch tễ học và
sinh học phân tử của viêm vú do S uberis trong 18 tháng trên hai đàn bò sữa ở Hà
Lan Với tổng số 84 con bò được điều tra, đã phát hiện 70 bầu vú bị nhiễm trùng của 46 con bò Các mẫu vi khuẩn được phân loại theo chủng bằng kỹ thuật RAPD
Kết quả cho thấy các ca nhiễm kéo dài thường do một chủng của vi khuẩn S uberis
duy nhất gây ra, trong khi các ca nhiễm tái phát có thể liên quan đến nhiều chủng khác nhau Đa số các ca nhiễm là không triệu chứng và các ca nhiễm do một chủng gây ra có xu hướng mãn tính hơn so với các ca nhiễm do nhiều chủng Dữ liệu dịch
tễ học và sinh học phân tử cho thấy vi khuẩn có thể lây nhiễm từ các nguồn môi
trường với nhiều chủng khác nhau của S uberis, cũng như sự lây truyền trong và giữa các con bò từ một số ít chủng S uberis, với khả năng vi khuẩn có thể được
truyền qua máy vắt sữa
Khảo sát của Bradly và cs (2007) về viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn
trên 97 trang trại bò sữa ở Anh và xứ Wales cho thấy: Đối với viêm vú lâm sàng, S uberis chiếm 23,50% và E coli chiếm 19,80% trong số các mẫu được phân tích Đối
với viêm vú tiềm ẩn, các tác nhân vi khuẩn phổ biến bao gồm tụ cầu khuẩn
Trang 32coagulase âm tính chiếm 15%; S uberis chiếm 14% và các loài Corynebacterium chiếm 10%, S aureus và tụ cầu khuẩn coagulase dương tính chiếm 10%
Nielsen (2009) đã đánh giá thiệt hại kinh tế của viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn trong điều kiện chăn nuôi ở Thụy Điển cho thấy thiệt hại kinh tế trung bình liên quan đến các trường hợp viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn lần lượt là 275 €
và 60 € Sự giảm sản lượng hàng ngày ở bò với SCC 500,000 tế bào/ml dao động từ
0,7 - 2,0 kg sữa ở bò đẻ lứa đầu và từ 1,1 - 3,7 kg sữa ở bò đã đẻ nhiều lứa Sự giảm sản lượng trong chu kỳ cho sữa 305 ngày do SCM là 150 kg sữa ở bò đẻ lần đầu và
450 kg sữa ở bò đã đẻ nhiều lần
Nghiên cứu của Kromker (2014) đã cung cấp cái nhìn tổng quan về S uberis
và vai trò của nó trong ngành chăn nuôi bò sữa hiện đại S uberis là một tác nhân
gây bệnh phổ biến, chủ yếu liên quan đến môi trường được tìm thấy trong nệm rơm,
đồng cỏ, da bò và niêm mạc tiêu hóa Dù nhiều chủng S uberis vẫn nhạy cảm với
hầu hết các tác nhân kháng sinh, tỷ lệ tái nhiễm cao vẫn là một vấn đề nghiêm trọng đối với các trang trại sữa Bài báo cũng đánh giá các yếu tố rủi ro, các phương pháp
điều trị và các biện pháp kiểm soát S uberis ở cấp trang trại
Thomas (2015) đã thực hiện một nghiên cứu về độ nhạy cảm với kháng sinh của các tác nhân gây viêm vú được phân lập từ các trường hợp viêm vú lâm sàng
cấp tính ở bò sữa trên toàn Châu Âu Kết quả cho thấy E coli (n = 280) có tỷ lệ
kháng kháng sinh phổ biến nhất đối với tetracycline (14,30%) và cefapirin
(11,10%) S aureus (n = 250) có độ nhạy cảm cao với hầu hết các loại kháng sinh được thử nghiệm, và 36,00% các chủng kháng với penicillinG S uberis (n = 282)
nhạy cảm với tất cả các loại kháng sinh β-lactam, mặc dù 29,80% các chủng có độ nhạy cảm trung bình đối với penicillinG; 18,80% kháng erythromycin và 28,70% kháng tetracycline
Tại Brazil, Tomazi và cs., (2019) đã tiến hành phân tích đặc điểm kiểu gen của
S uberis phân lập từ bệnh viêm vú lâm sàng ở bò sữa và mối liên quan giữa kiểu gen với khả năng kháng kháng sinh của S uberis Thử nghiệm được thực hiện trên môi trường nuôi cấy để xác định khả năng kháng kháng sinh của S uberis đối với 8
loại thuốc kháng sinh (ampicillin, ceftiofur, cephalothin, erythromycin, penicillin,
Trang 33penicillin + novobiocin, pirlimycin và tetracycline) Kết quả cho thấy S uberis phân
lập từ các ca viêm vú lâm sàng của bò kháng với hầu hết các loại thuốc kháng khuẩn, ngoại trừ cephalothin và penicillin + novobiocin
Nghiên cứu của Zhang (2020) khi điều tra sự kháng thuốc kháng sinh của S
uberis và S parauberis phân lập từ bò bị viêm vú lâm sàng ở Trung Quốc và kiểm
tra sự phân bố các mẫu gen liên quan đến kháng thuốc, độc lực cho thấy: độ nhạy
cảm với thuốc kháng sinh được xác định bằng phương pháp E-test Các chủng S
uberis (n = 16) có sự kháng cao đối với tetracycline (81,30%) và clindamycin
(62,50%) Cả hai loài đều nhạy cảm với ampicillin Gen kháng thuốc phổ biến nhất
ở S uberis là tetM (80,00%), tiếp theo là blaZ (62,50%) và ermB (62,50%) Ngoài
ra, tất cả các chủng đều mang ít nhất một gen liên quan đến độc lực đã chọn Gen liên quan đến độc lực phổ biến nhất trong nghiên cứu là sua+pauA/skc+gapC+hasC
được phát hiện ở 22,20% các chủng Một chủng S uberis mang 7 gen liên quan đến
độc lực và thuộc kiểu gen sua+pauA/skc+gapC+cfu+hasA+hasB+hasC Hơn 59,30% các chủng được phân tích mang từ 4 - 7 gen liên quan đến độc lực
Khi nghiên cứu về sự kháng kháng sinh và các gen của S uberis liên quan đến
bệnh viêm vú bò ở miền Bắc - Thái Lan từ năm 2010 đến năm 2017, Zhang và cs
(2021) đã phân tích có 228 chủng S uberis liên quan đến bệnh viêm vú ở bò, phần lớn các chủng S uberis đều kháng tetracycline (82,00%), tiếp theo là ceftiofur
Tại Cộng hòa Séc, kết quả nghiên cứu về sự xuất hiện của các gen liên quan
đến độc lực trong S uberis và S parauberis được phân lập từ vú bò của Zouharova (2022) đã chứng minh rằng tất cả các mẫu phân lập S uberis đều dương tính với các
gen oppF, gapC và sua Trong số đó các gen phổ biến nhất là skc (98,00%) và pauA (97,00%) cũng được tìm thấy Gen hasA và hasB luôn có mặt cùng nhau ở 94,00% các mẫu Gen cfu và lbp được phát hiện là 6,00% và 2,00% Trong các mẫu phân
Trang 34lập S uberis, đã quan sát thấy 14 kiểu gen virulence khác nhau Kiểu gen phổ biến
nhất là hasA+ hasB+ sua+ skc+ pauA+ gapC+ oppF với hasC thay đổi, được quan sát ở 86,0% các mẫu thử, xuất hiện ở 127 trong số 135 trang trại
Ranjan (2021) đã tiến hành khảo sát về viêm vú bò dưới các điều kiện khí hậu khác nhau ở Jharkhand, Ấn Độ cho thấy: có 190 mẫu sữa dương tính với viêm vú
bò qua các phương pháp kiểm tra CMT và số lượng tế bào Trong số này, số mẫu có
sự hiện diện của các vi khuẩn gây bệnh là 138 mẫu (72,63%) Nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng vi khuẩn Gr+ là nguyên nhân phổ biến hơn so với vi khuẩn Gr-, viêm vú do
Streptococcus spp có xu hướng gia tăng đáng kể vào mùa hè và sự biến động theo
mùa có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc viêm vú bò cũng như các tác nhân vi khuẩn liên quan
Một nghiên cứu mới của Fidelis (2024) đánh giá về khả năng hình thành màng
sinh học và kháng kháng sinh của các chủng S aureus và S uberis phân lập từ bò bị
viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn, đồng thời xác định mối liên quan giữa khả năng hình thành màng sinh học và kháng kháng sinh Khả năng hình thành màng sinh học được xác định bằng phương pháp microplate và độ nhạy cảm với 13 loại kháng sinh được đánh giá bằng phương pháp khuếch tán đĩa Kết quả cho thấy
57,30% chủng S aureus và 53,80% chủng S uberis có khả năng hình thành màng sinh học Các chủng S aureus kháng penicillin (92,90%), ampicillin (50,80%) và tetracycline (52,70%); trong khi các chủng S uberis kháng penicillin (80,60%),
oxacillin (80,60và tetracycline (37,80%)
1.2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa ở Việt Nam
Phạm Bảo Ngọc (2003) cho biết: vi khuẩn Staphylococcus sp và Streptococcus sp chiếm tỷ lệ cao nhất ở tất cả các mẫu được tiến hành phân lập với
tỷ lệ lần lượt là 33,30% và 29,20%; tiếp theo đó là E coli với tỷ lệ 19,60% Ngoài
ra, còn các vi khuẩn khác cũng được phân lập với tỷ lệ 4,10 - 12,20%
Nghiên cứu của Trương Quang và cs (2008) tại huyện Gia Lâm và quận Long Biên, Hà Nội cho thấy: 39,80% trong số 435 con bò sữa kiểm tra bằng phương pháp CMT có phản ứng dương tính với viêm vú phi lâm sàng Tỷ lệ viêm theo số lượng
lá vú là 32,40% viêm 1 lá; 27,70% viêm 2 lá; 22,00% viêm 3 lá và 17,90% viêm 4
Trang 35lá Các vi khuẩn gây bệnh phổ biến được phân lập bao gồm Streptococcus (85,00%), Staphylococcus (78,80%) và E coli (30,00%) Tất cả các chủng vi khuẩn
này đều nhạy cảm với marbofloxacin, ciprofloxacin và cephalothin, cho phép sử dụng các kháng sinh này trong điều trị viêm vú bò sữa
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Phát (2010) về bệnh viêm vú bò sữa và biện pháp phòng trị tại khu vực Tp Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận từ năm 2002 đến năm 2007 cho biết: Tỷ lệ bò bị viêm vú lâm sàng trung bình hàng tháng khá cao (5,10%), dao động từ 2,00 - 7,30% Số giống vi khuẩn hiện diện trong 1 mẫu sữa bò
bị viêm vú chủ yếu là 1 giống (chiếm 81,50%), 2 giống (chiếm 15,60%), 3 giống
(chiếm 0,60%) Vi khuẩn chính ghi nhận được là Staphylococcus (52,20%) và Streptococcus (40,30%), E coli chiếm tỷ lệ thấp (2,50%), còn các loại vi khuẩn khác chiếm tỷ lệ rất thấp Vi khuẩn Staphylococcus đề kháng khá cao với amoxicillin, ampicillin, bactrim, erythromycin và penicillin Streptococcus đề kháng với
amoxicillin, ampicillin, bactrim, ciprofloxacin, erythromycin, neomycin, norfloxacin,
ofloxacin, penicillin và tobramycin E coli đề kháng với amoxicillin, ampicillin, bactrim, doxycycline, tetracycline và streptomycin Enterococcus faecalis đề kháng với
ampicillin, bactrim, ciprofloxacin, colistin, erythromycin, norfloxacin, tetracycline và
tobramycin, còn vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa đề kháng amoxicillin, ampicillin,
bactrim, cephalexin, ciprofloxacin, erythromycin và streptomycin
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hà và Hoàng Thị Mai (2016) cho thấy, khi cho dung dịch nước Javel tiếp xúc trực tiếp với dịch vi khuẩn, hiệu quả khử trùng trên các bầu vú bò sữa đang nuôi tại xã Mộc Bắc, huyện Duy tiên, tỉnh Hà Nam đạt khá cao, mức độ giảm tổng nấm đạt tới 98,90% còn tổng vi khuẩn hiếu khí và các vi
khuẩn gây bệnh S aureus và S agalactiae đạt tới gần 95,00%
Nguyễn Hoài Châu và cs (2019), đã lựa chọn carbomer 4% làm chất tạo kem kết hợp với nano bạc tạo thành chế phẩm kem nano bạc có độ đồng nhất cao và ổn định lâu dài về màu sắc, độ đồng nhất, kích thước và hàm lượng nano bạc Kem nano bạc hàm lượng 50 - 250 ppm có khả năng kháng rất mạnh các loài vi khuẩn
như E coli, S aureus, Pseudomonas aeruginosa gây bệnh viêm vú Kem nano bạc
150 ppm có tác dụng tối đa trong phòng bệnh viêm vú lâm sàng và cận lâm sàng
Trang 36của bò trước khi đẻ Sử dụng kem nano bạc 150 ppm kết hợp với kháng sinh ceftiofer cho hiệu quả điều trị cao đạt đến 93,33% Kết quả nghiên cứu còn cho thấy
có thể sử dụng kem nano bạc 150 ppm trong phòng bệnh viêm vú bò sữa trước khi
đẻ 15 ngày và toàn bộ thời gian trong giai đoạn vắt sữa Sử dụng kết hợp kem nano bạc trong điều trị bệnh viêm vú với kháng sinh đưa lại hiệu quả cao
Trong chăn nuôi bò sữa, việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh viêm vú là điều bắt buộc, điều đó có thể gây nên một số hậu quả như đề kháng kháng sinh, tổn
dư kháng sinh trong sữa, loại bỏ sữa trong giai đoạn điều trị, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế Việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế kháng sinh là điều cần thiết trong chăn nuôi bò sữa và chitosan được xem là giải pháp tiềm năng Thí nghiệm bước đầu khảo sát tính kháng khuẩn của chitosan trong phòng thí nghiệm được thực hiện nhằm dò tìm nồng độ và liều dùng tối ưu của chitosan, gồm 5 thí nghiệm riêng biệt Kết quả cho thấy chitosan/oligochitosan kết hợp tinh dầu cam, chanh cho hiệu quả kháng khuẩn tốt nhất đối với nhóm vi khuẩn gây viêm vú Khi điều chỉnh mức pH của chitosan về mức lớn hơn 5 thì cho kết quả kháng khuẩn cao hơn Như vậy, chitosan là một giải pháp rất tiềm năng cho việc thay thế kháng sinh sử dụng trong điều trị bệnh viêm vú trên bò sữa (Ngô Hồng Phượng và cs., 2021)
Trần Trung Mỹ và cs (2023) khi kiểm tra 64.802 bò sữa từ sáu trang trại tại Việt Nam, thu được 1.874 (2,90%) trường hợp viêm vú lâm sàng Phần lớn trong số
14 tác nhân gây bệnh đã được xác định là Klebsiella spp chiếm 21,00% tổng số các trường hợp phân lập Tiếp theo là S uberis chiếm 12,60%; E coli chiếm 7,60%; các Streptococcus spp khác chiếm 6,00% và Staphylococci Coagulase-Negative (CNS) chiếm 5,50% Các tác nhân gây bệnh còn lại bao gồm Pseudomonas spp., Enterococcus faecalis, Enterobacter spp., Bacillus spp., Citrobacter spp., Pasteurella spp., Proteus spp., và Staphylococcus aureus được phân lập với tỷ lệ dưới 1%
Tóm lại: S uberis là một trong những tác nhân chính gây bệnh viêm vú cho
bò sữa, đồng thời gây tổn thất kinh tế lớn trong ngành công nghiệp chế biến sữa trên toàn thế giới (với chi phí điều trị cao, giảm sản lượng và chất lượng sữa, tỷ lệ loại
bỏ và tử vong cao ở bò bị mắc bệnh) Hiện nay, mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu
và biện pháp điều trị bệnh cho bò trên thế giới và Việt Nam tuy nhiên diễn biến của
Trang 37bệnh phức tạp do có sự xuất hiện của nhiều gen độc lực và gen kháng kháng sinh
của S uberis Do đó, để xác định được tỷ lệ nhiễm và một số đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn S uberis gây bệnh viêm vú ở bò sữa mà chúng tôi đã tiến hành
thực hiện đề tài này
Trang 38CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, vật liệu, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bò sữa giống nuôi tại các trang trại của Công ty cổ phần thực phẩm sữa TH tại Nghĩa Sơn, Nghĩa Đàn, Nghệ An
- Các chủng vi khuẩn S uberis phân lập được từ mẫu sữa bò mắc bệnh viêm vú
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Bệnh viêm vú do S uberis gây ra trên đàn bò sữa của Công ty cổ phần thực
phẩm sữa TH
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.3.1 Địa điểm triển khai đề tài
- Đề tài được triển khai thực hiện tại các trang trại và phòng thí nghiệm của Công ty cổ phần thực phẩm sữa TH tại xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
2.1.3.2 Địa điểm xét nghiệm, phân tích, xử lý mẫu
- Phòng thí nghiệm thuộc Công ty cổ thực phẩm sữa TH tại xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
2.1.3.3 Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 6/2023 đến tháng 6/2024
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Các loại mẫu dùng trong nghiên cứu
- Mẫu sữa thu thập từ các cá thể bò nghi mắc bệnh viêm vú
- Mẫu ADN tách chiết từ các chủng vi khuẩn phân lập được
2.2.2 Các loại môi trường, hóa chất dùng trong nghiên cứu
Các loại hóa chất và môi trường được trình bày tại Phụ lục 1
2.2.3 Các thiết bị và dụng cụ dùng trong nghiên cứu
Các loại thiết bị và dụng cụ được trình bày tại Phụ lục 2
2.2 Nội dung nghiên cứu
Trang 392.2.1.1 Tình hình bò sữa mắc bệnh viêm vú trong 3 năm gần đây
2.2.1.2 Tình hình bệnh viêm vú bò sữa tại các trang trại TH
2.2.1.3 Tình hình bò sữa mắc bệnh viêm vú theo thể bệnh
2.2.1.4 Tình hình bò sữa mắc bệnh viêm vú theo mùa
2.2.1.5 Tình hình bò sữa mắc bệnh viêm vú theo lứa đẻ
2.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S uberis phân lập từ
bò sữa mắc bệnh viêm vú
2.2.2.1 Phân lập vi khuẩn S uberis
2.2.2.2 Xác định đặc tính sinh hóa của vi khuẩn S uberis
2.2.2.3 Xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn S uberis
2.2.2.4 Xác định một số gen độc lực của vi khuẩn S uberis
2.2.3 Xác định một số biện pháp phòng và trị bệnh viêm vú bò sữa
2.2.4.1 Các biện pháp phòng bệnh
2.2.4.2 Lựa chọn phác đồ/ quyết định điều trị bệnh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình bệnh viêm vú bò sữa tại các trang trại TH
2.3.1.1 Phương pháp sàng lọc bò nghi bị viêm vú thông qua đo độ dẫn điện của sữa
Trong quá trình vắt sữa, từng cá thể bò sẽ được đo độ dẫn điện của sữa ở từng máy vắt Khi độ dẫn điện tăng cao bất thường, hệ thống phần mềm vận hành máy vắt sữa sẽ phát tín hiện cảnh báo tới công nhân vắt sữa và Bác sĩ thú y
Cụ thể, hệ thống sẽ kích hoạt đèn cảnh báo trên máy vắt sữa Khi phát hiện giá trị độ dẫn điện không bình thường, đèn sẽ nhấp nháy, công nhân sẽ tiến hành kiểm tra lâm sàng, bao gồm việc quan sát bầu vú để phát hiện dấu hiệu sưng, đỏ, nóng hoặc tổn thương và cảm nhận độ cứng, mềm của mô vú, kiểm tra bò có biểu hiện đau đớn hay không Nếu phát hiện dấu hiệu nghi ngờ, công nhân sẽ đặt lệnh cho hệ thống cổng phân loại tách riêng các cá thể này vào chuồng khác
Ngoài ra, hệ thống cũng phát tín hiệu cảnh báo lên phần mềm cho Bác sĩ thú y Bác sĩ thú y có thể theo dõi trên phần mềm về sản lượng sữa, giá trị độ dẫn điện, hoạt động bước chân, thời gian nghỉ ngơi của bò để đánh giá tình trạng sức khỏe
Trang 40của những cá thể bị cảnh báo Sau đó sẽ kiểm tra lại những con bò đó bằng phương pháp CMT
2.3.1.2 Phương pháp thử CMT xác định bò sữa mắc bệnh viêm vú
Chúng tôi tiến hành thử CMT đối với các cá thể nghi ngờ viêm vú theo phương pháp được mô tả bởi Kandeel và cs (2018) như sau: vắt sữa từ 4 núm vú vào 4 ngăn của khay thử CMT với dung tích mẫu khoảng 2ml/ núm vú Tiến hành bóp bình chứa thuốc thử CMT để thuốc trộn lẫn với mẫu ở thể tích tương ứng khoảng 2ml/ ngăn Lắc nhẹ khay theo vòng tròn để trộn lẫn thuốc thử và mẫu trong vòng tối đa 45 giây từ khi thêm thuốc thử
Bảng 2.1: Diễn giải kết quả thử CMT Kết quả Ký hiệu Kết luận
Hỗn hợp có hiện tượng kết tủa hoặc tạo keo mạnh,
2.3.1.3 Phương pháp xác định tỷ lệ viêm vú theo thể bệnh
Để phân loại tình trạng viêm vú theo thể bệnh, đã tiến hành điều tra và phân loại các cá thể bò mắc viêm vú thành 3 thể bệnh khác nhau (theo Adkins và Middleton, 2018)
2.3.1.4 Phương pháp xác định bò sữa mắc bệnh viêm vú theo mùa
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt: Xuân,
1 - 3); mùa Hè nắng nóng, 33 - 38oC (tháng 4 - 6); mùa Thu se lạnh, mưa nhiều, 22 -
28oC (tháng 7 – 9); mùa Đông gió lạnh, 17 - 20oC (tháng 10 - 12) (Cổng TTĐT Nghệ An)
Để xác định tần suất bò mắc bệnh viêm vú theo mùa, thống kê số liệu bò mắc viêm vú mới và tổng số bò theo dõi qua các mùa trong năm theo quy trình đã nêu Tiến hành tổng hợp số liệu, phân tích và trình bày vào bảng