1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề Cương - Môn - Toán (giáo dục mầm non - full đáp án 6 câu )

19 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Môn Toán
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Giáo Dục Mầm Non
Thể loại Đề Cương
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 56,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

Đề cương môn Toán Câu 1 Phân tích vai trò của quá trình cho trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng toán học đối với sự phát triển và giáo dục trẻ.

Câu 2: Phân tích nguyên tắc học đi đôi với hành Giáo dục gắn liền với thực tiễn trong quá trình cho trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng toán học.

Câu 3 Phân tích nguyên tắc vừa sức tiếp thu của trẻ trong quá trình cho trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng toán học.

Câu 4 kể tên các nhóm phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng toán học phân tích nhóm phương pháp dạy trẻ thực hành Câu 5: Phân tích đặc điểm phát triển biểu tượng về số lượng con số và phép đếm của trẻ mẫu giáo và rút ra những kết luận sư phạm cần thiết Câu 6; Phân tích những đặc điểm phát triển sự định hướng về thời gian của trẻ mầm non và rút ra những kết luận sư phạm cần thiết.

Trang 2

ĐÁP ÁN

Câu 1 Phân tích vai trò của quá trình cho trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng

toán học đối với sự phát triển và giáo dục trẻ.

1 Khái niệm: Quá trình hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non là quá trình hình thành ở trẻ những kiến thức sơ đẳng về tập hợp, con số, phép đếm về kích thước, hình dạng của các vật, về khả năng định hướng không gian thời gian và mối quan hệ giữa các đại lượng giữa sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên trong quá trình dạy học ở trường mầm non

2 Vai trò: Làm quen với toán là một trong những hoạt động của trẻ ở trường mầm non Có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy, phát triển năng lực học tập

và góp phần hình thành nhân cách cách cho trẻ

 Góp phần phát triển trí tuệ cho trẻ:

- Hình thàng và phát triển hoạt động nhận thức: chuyển từ tư duy trực quan hành động sng trực quan hình tượng, sau đoa sang tư duy ligic

Vd:Thông qua quá trình dạy học như vậy trẻ sẽ nắm được những kiến thức sơ đẳng về tập hợp, con số, phép đếm về kích thước và hình dạng của các vật, trẻ biết định hướng trong không gian và thời gian

- Hình thành khả năng nhận thức thể giới xung quanh: vd khi tổ chức cho trẻ hoạt động làm quen với toán thì sẽ hình thành ở trẻ khả năng tìm tòi, quan sát, tư duy , phán đoán

- Hình thành và rén luyện các thao tác tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp khái quát hóa… vd: ……

- Góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ: cung cấp vốn từ về các biểu tượng toán cho trẻ Vd:tên các hình học, tên các khối hình, kỹ năng đếm

 Góp phần giáo dục nhân cách:

- Hình thành rén luyện tính kỷ luật, ý thức tổ chức: vd: khi trẻ học về lập số trẻ phải tuân theo đúng các bước của quá trình lập số, theo trật tự sắp xếp

- Hình trẻ tình cảm giữa cô và trẻ , giữa trẻ với trẻ: vd: khi trẻ làm quen với các biểu tượng toàn học trẻ cần có sự hường dẫn của cô và sự trao đổi giữa cô với trẻ, hay khi than gia trò chơi ôn luyện trẻ cần co sự cộng tác vơi nhau để hoàn thành bài tập

- Gop phần giáo dục thẩm mỹ, ý thức lao động vd: …

 Các hoạt động làm quen với toán còn có vai trò đặc biệt trong việc phát triển hửng thú

vá những kỹ năng nhận biết cho trẻ, dạy trẻ biết chú ý lắng nghe, làm việc có kế hoạch

và góp phần hoàn thiện các giác quan, các quá trình tâm sinh lí ở trẻ mầm non

 Góp phần nhân biết trong cuộc sống hàng ngày:

Việc hình thành các biểu tượng toán học giúp trẻ làm quen với thể giới xung quanh, giải quêt được một số khó khăn trong cuộc sống hằng ngày đồng thới giúp trẻ diễn đạt dduwwocj dễ dàng hơn Vd: …

 Chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông

Trang 3

- Khi cho trẻ làm quen với các biểu tượng toán học là chuẩn bị cho trẻ những kiến thức

sơ đẳng về: số lượng, phép đếm, hình dạng, kích thước, định hướng trong không gián, xác định về thời gian

- Chuẩn bị về tân thé cho trẻ: giúp trẻ làm qen với :

+ hoạt động chủ đạo ở trường phổ thông;

+ phương pháp giảng dayk ở trường phổ thông;

+ quan hệ thầy trò trong trường phổ thông;

+ nội dung chương trình học ở trường phổ thông;

+ nhiệm vụ của trẻ ở trường phổ thồng;

+ tác phong nề nếp, kỷ luật, trẻ làm quen quá trình học tập…

vì vậy, cần thiết phải hình thành các biểu tượng toán cho trẻ từ lứa tuổi mẫu giáo.

Liên hệ thực tế: tự làm

Câu 2: Phân tích nguyên tắc học đi đôi với hành Giáo dục gắn liền với thực tiễn trong quá trình cho trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng toán học.

a Khái niện:

Nguyên tắc học đi đôi với hành đảm bảo việc cung cấp kiến thức chỉ gắn liền với kiến thức thực tế nhằm vận dụng kiến thức và những vấn đề trong cuộc sống

b Cơ sở:

- Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của trẻ nhanh nhớ nhưng lại mau quên, khả năng so sanh, phân tích, khái quát của trẻ còn rất kém nên khi nhận biết còn chịu nhiều ảnh hưởng các yếu tố bên ngoài: hình dạng, kích thước, chủng loại…

- Xuất phát từ những yêu cầu của xã hội đối với nhà trường sao cho các em có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng thu được để có thể tự lập được trong cuộc sống sau này của mình và tham gia vào công việc phù hợp với sức lực của mình

- Mặt khác nguyên tắc này còn xuất phát từ quy luật duy vật biện chứng, đó là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Vì vậy những kiến thức Toán học mà trẻ nắm được ở trường mầm non cần dựa trên những kinh nghiệm cuộc sống của trẻ và quan trọng hơn những kiến thức này cần được trẻ ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống của trẻ, thông qua các tiết học, các hoạt động phong phú nhưng: vui chơi, học tập, lao động và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ

Ví dụ: Trong cuộc sống hàng ngày sẽ luôn cần tới các kiến thức về số lượng và kỹ năng diễn đạt, tương ứng 1-1 và việc chuẩn bị đồ dùng học tập cho các tiết học với số lượng theo yêu cầu của cô và trẻ: bàn, ghế ,,bát, thìa, cho bữa ăn sao cho số lượng cuộc sống tương ứng với số lượng và kỹ năng thiết lập tương ứng 1 - 1 chuẩn bị các đồ dùng học tập cho các tiết học với số lượng theo yêu cầu của cô

c Các biện pháp:

Trang 4

- Lựa chọn nội dung gắn liền với điều kiện sống của trẻ

Ví dụ: Môi trường ở nông thôn và thành thị: Chợ nông thônvà chợ thành phố, Vd: Khi dạy trẻ hình thành số lượng Chủ đề con vật: nông thôn nhóm con trâu con vịt; thành phố nhóm chó cảnh con mèo

- Tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào các hoạt động, chúng sử dụng hệ thống các bài tập

đa dạng phong phú Các đồ dùng đồ chơi đa dạng phong phú

- Ví dụ khi dạy hình thành biểu tượng số lượng trẻ tham gia trò chơi xếp tương ứng, trò chơi kết đôi

- Tích cực tạo điều kiện để ta sẽ tham gia trải nghiệm cùng người lớn trẻ có có điều kiện tham gia cùng người lớn

Vd: trải nghiệm “chợ quê” việc cân đong đo đếm trẻ sẽ trải nghiệm qua việc mua bán trao đổi

- Tham quan: trẻ quan sát sự vật xung quanh cây cao cây thấp để thấy được hình dạng và kính thước trong cuộc sống

Liên hệ thực tế trong giở dạy toàn những gì đã làm được và chưa làm được.

Câu 3 Phân tích nguyên tắc vừa sức tiếp thu của trẻ trong quá trình cho trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng toán học.

a Khái Niệm:Tính vừa sức trong dạy học được đảm bảo bởi khối lượng những kiến thức

và kĩ năng.Tính cụ thể của nội dung dạy học trong đó nội dung dạy học được lưu giữ trẻ theo các nguyên tắc: từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ gần tới xa

Cần chú ý đến tính vừa sức chung và vừa sức riêng của trẻ

b Cơ sở.

Năng lực tiếp thu của trẻ và đặc biệt trong lượng lĩnh hội những kiến thức Toán học rất cần thiết Vì vậy nội dung những kiến thức, kỹ năng dạy trẻ cần phù hợp với lứa tuổi trẻ

và với từng trẻ; nghĩa là nội dung những kiến thức và kỹ năng và phù hợp với đối tượng trẻ làm cho tất cả trẻ tiếp thu được cùng với sự nỗ lực nhất định Đồng thời góp phần phát triển

tư duy và các năng lực toán học

Dựa vào những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, cũng như những đặc điểm riêng của từng trẻ, trong các hoạt động khác nhau và trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ: nhưng tình tự tin, nhút nhát, sức khỏe của từng trẻ, khả năng tư duy, ngôn ngữ, chú ý, ghi nhớ…

Yêu cầu dạy học cần phải hướng vào vùng phát triển gần nhất, tức là phù hợp với trình

độ mà trẻ đạt tới ở thời điểm đó

Vd: để hình thành biểu tượng về kích thước cho trẻ, đầu tiên ta cho trẻ tri giác các vật

có kích thước khác nhau trên cơ sở đó ta dạy trẻ phân biệt vá nhận biết kích thước của chúng: chiều dài, chiều rộng, chiều cao…

Trang 5

Trên cơ sở đó cần cân nhắc, lựa chọn nội dung dạy học sao cho phù hợp với cả lớp trẻ

và với từng trẻ trong đó có sự kết hợp hợp lý giữa nội dung các kiến thức cảm tính và lý tính

c Các biện pháp để thực hiện nguyên tắc tính cuộc sống.

- lựa chọn nội dung kiến thức dựa trên những kinh nghiệm của trẻ vd:

- Muốn biết có Vừa sức trẻ không giáo viên cần nghiên cứu kỹ về những gì trẻ đã biết và những gì trẻ chưa biết Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, đặc điểm của trẻ nói chung

và của từng trẻ nói riêng Vd:

- Tạo điều kiện trẻ có những kiến thức từ gần đến xa, từ đơn giản đến phúc tạp.vd:

- Sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học, sử dụng những phương tiện, biện pháp thiết bị cho từng bài học, từng lứa tuổi trẻ.vd:

Như vậy , việc tuân theo nguyên tắc dạy học vừa sức trẻ là điều kiện dảm bảo cho quá trình hình thành các biểu tượng toán học sở đẳng cho trẻ mầm non đạt hiệu quả cao Liên hệ thực tiễn trong dạy học những gí làm được và chưa làm được.

Câu 4 kể tên các nhóm phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng toán học phân tích nhóm phương pháp dạy trẻ thực hành.

Phương pháp dạy học là phương pháp hướng dẫn của nhà giáo dục với trẻ mầm non nhằm mục đích lĩnh hội những kiến thức kỹ năng và kỹ xảo hình thành thế giới quan và phát triển các năng lực khác

phương pháp dạy trẻ mầm non làm quen với các biểu tượng toàn học thường sử dụng các nhóm phương pháp sau:

- Nhóm phương pháp dùng lời

- Nhóm phương pháp thực hành

- Nhóm phương pháp trực quan

Phương pháp không phải là phạm trù bất biến Nhưng nó phụ thuộc vào điều kiện đặc điểm của trẻ trong quá trình lĩnh hội Cho nên phương pháp phải thay đổi theo và phương pháp phụ thuộc vào môi trường của từng trường trường, địa phương Tuy nhiên trong tất cả các phương pháp thì phương pháp thực hành vẫn là phương pháp chủ đạo của trường mầm non

Vì vậy phương pháp thực hành có một ý nghĩa rất quan trọng đó là rất phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và trí tuệ của trường mầm non Ba nhóm phương pháp thực hành đóng vai trò chủ đạo trẻ sử những kỹ năng, kỹ xảo, tạo điều kiện cho trẻ sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực hành

Nhóm phương pháp thực hành gồm có: hoạt động thao tác với đồ vật, đồ chơi, trò chơi luyện tập

a hoạt động với đồ vật đồ chơi: giáo viên tổ chức cho trẻ thao tác trực tiếp với đồ vật, đồ

chơi cầm nắm chắc với việc đặt, xếp cạnh nhau, xếp tương ứng 1-1 xếp chồng lên nhau để

Trang 6

giúp trẻ tiếp nhận thông tin nhận thức và hình thành các kỹ năng cơ bản trong quá trình làm quen với các biểu tượng ban đầu về toán

b trò chơi: đặc điểm cơ bản trong việc học của trẻ mầm non là học bằng chơi chơi mà học,

việc sử dụng đa dạng các trò chơi khác nhằm tăng hứng thú của trẻ, làm chất lượng lĩnh hội các biểu tượng toán học trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả hơn Như vậy trò chơi chính là phương pháp phù hợp với tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen với toán Giáo viên tăng cường sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi đơn giản, phù hợp với nội dung hình thành và các biểu tượng về toán, giải thích các hoạt động củng cố mở rộng đối tượng về toán, do đó vừa duy trì phát triển thái độ tích cực của trẻ đối với việc học toán

Ví dụ: trò chơi tạo tình chuồng đối với trẻ Ở lứa tuổi nhà trẻ 24 đến 36 tháng giáo viên chuẩn bị chuồng thỏ có dạng hình tròn, hình vuông, màu xanh, đỏ, ở tuổi mẫu giáo yêu cầu của trò chơi được nâng cao hơn,Với các màu sắc khác nhau giữa cách đánh số các chú thỏ về về đúng chuồng theo yêu cầu của giáo viên

c phương pháp trò chơi luyện tập:

Khái niệm: Luyện tập là sự lặp đi lặp lại nhiều lần các thao tác trí tuệ với thực hành

của nội dung học tập

Ý nghĩa: Sự lặp đi lặp lại có mục đích giúp trẻ cũng có kiến thức trở nên vững chắc và

có ý thức hơn giúp trẻ hình thành kỹ năng trí tuệ kỹ năng thực hành trở thành kỹ xảo Thông qua quá trình cho trẻ luyện tập giáo viên kiểm tra mức độ nhận biết thức của trẻ để điều chỉnh lại cách thức của mình Vì vậy giáo viên cần tổ chức cho trẻ được tham gia luyện tập

cả về nội dung và cách thực hành

Công cụ để thực hiện phương pháp luyện tập là sử dụng các bài tập sao chép,bài tập tái tạo và bài tập sáng tạo

Bài tập sao chép: là loại bài tập trẻ bắt chước các hoạt động của giáo viên

Giáo viên và trẻ cùng thực hiện từng thao tác hết thao tác này mới chuyển sang thao tác khác Mẫu của giáo viên giúp trẻ biết cách làm Loại bài tập này chỉ sử dụng khi dạy kiến thức mới

Bài tập tái tạo: là bài bài tập được giáo viên mô tả rõ kỹ năng hoặc biện pháp giải quyết vấn đề đặt ra Giáo viên chỉ hướng dẫn trẻ cách làm bằng lời Trẻ phải nhớ lại cách làm trong bài tập sao chép để hoàn thành bài tập Mẫu của giáo viên đưa ra sau khi trẻ thực hiện xong hoạt động nhằm giúp trẻ kiểm tra kết quả

Ví dụ :về việc cho trẻ nhận biết nhóm các những đồ vật xung quanh

Bài tập sáng tạo: là loại bài tập trong đó giáo viên chị nêu vấn đề cần giải quyết không quan lời hướng dẫn và không qua hành động mẫu của giáo viên Trẻ vốn kiến thức và kĩ năng đã có lựa chọn biện pháp hoặc kỹ năng thích hợp để hoàn thành bài tập giáo (viên có thể gợi ý để trẻ làm thử)

Trong loại bài tập sáng tạo, kết quả của trẻ sẽ không giống nhau, vì vậy để đánh giá kết quả của trẻ, giáo viên cần dựa vào các tiêu chí sau:

- Yêu cầu của bài tập

- Sản phầm của trẻ

Trang 7

- Ý tưởng của trẻ

Ví dụ: dạy trẻ tạo nhóm: tái tạo nhận biết nhóm ở đồ vật xung quanh

Sáng tạo: trẻ chia nhiều nhóm khác nhau

Lắp ghép: sáng tạo trẻ lắp ghép theo cách của trẻ

Câu 5: Phân tích đặc điểm phát triển biểu tượng về số lượng con số và phép đếm của trẻ mẫu giáo và rút ra những kết luận sư phạm cần thiết.

Trẻ sinh ra và lớn lên giữa thế giới của những sự vật và hiện tượng đa dạng ngay từ nhỏ

đã được tiếp xúc và làm quen với những nhóm vật có màu sắc kích thước và số lượng phân phối với các âm thanh chuyển động cơ sở xung quanh trẻ Trẻ lĩnh hội số lượng của chúng bằng các giác quan khác nhau như thị giác thính giác giác quan vận động…

Trẻ em ở lứa tuổi nhà trẻ đã bắt đầu có những nhận biết về số lượng, đó là nấc thang đầu tiên và cần thiết giúp trẻ nhận biết hiện thực xung quanh Những biểu tượng đầu tiên về những nhóm vật giống nhau như: nhiều con ốc, những cái lá, nhiều con búp bê…

Trẻ độ tuổi nhà trẻ trẻ bắt đầu sử dụng các từ số để phản ánh số lượng của nhóm đồ vật

Ví dụ: hỏi trẻ con có mấy cái kẹo trẻ kể con có ba cái kẹo tuy nhiên biểu tượng về số lượng của trẻ ở độ tuổi này còn chưa cụ thể về thiếu sự chính xác Trẻ chưa nhận biết được số lượng của nhóm đối tượng, chưa hiểu ý nghĩa của con số chữ, vì vậy chưa biết rằng chữ số tương ứng với số lượng của nhóm đối tượng

Lên 3 tuổi trẻ có thể hiểu và phân biệt được các từ: nhiều hơn, ít hơn, trẻ không chỉ tạo

ra các nhóm đối tượng mà còn so sánh số lượng giữa các nhóm đối tượng đó thông qua việc xếp chồng, xếp cạnh từng đối tượng của nhóm này với từng đối tượng của nhóm kia Tuy nhiên, trong quá trình nhận biết số lượng của nhóm đối tượng, trẻ 3 tuổi vẫn bị chi phối bởi các yếu tố như màu sắc hay kích thước của đối tượng ví dụ: cụ thể hai nhóm có 3 quả bóng trước mặt trời nghiêng một bên là 3 quả bóng to một bên là 3 quả bóng nhỏ thì trẻ sẽ nói bên

có 3 quả bóng nhỏ nhiều hơn

Trẻ 4 - 5 tuổi đã nắm được thành tạo kỹ năng thiết lập tương ứng 1 - 1 cũng như nắm được phép đếm, kết quả đếm với các tập hợp mà phân tử của chúng có những dấu hiệu khác nhau ví dụ:trẻ đếm những hình vuông bao giờ gồm cả hình vuông màu xanh và hình vuông màu đỏ Trẻ hiểu ý nghĩa của con số Tuy nhiên, khả năng đếm của trẻ còn bị ảnh hưởng bởi

sự sắp đặt của các phần tử trong tập hợp Thường thì trẻ sẽ thấy dễ dàng hơn khi đếm các phần tử được sắp đặt lần lượt theo hàng ngang

với trẻ 5 - 6 tuổi kỹ năng đếm ngày càng trở nên thuần thục trẻ không chỉ đếm các sự vật

cụ thể hiện hữu trước mắt mà còn đếm được cả các âm thanh, tiếng vỗ trong phạm vi 10 trẻ hiểu Ý nghĩa của kết quả đếm ý nghĩa của con số và biết gắn con số tương ứng với số lượng của nhóm đối tượng

Trẻ 5 đến 6 tuổi bắt đầu hiểu mối quan hệ thuận nghịch giữa các con số liền kề của dãy số tự nhiên mỗi số đứng trước nhỏ hơn số đứng sau một đơn vị và bổ sung sau đơn vị

Như vậy cần tiếp tục các biểu tượng về tập hợp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi bước đầu cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp điều đó tạo cơ sở cho trẻ học các phép

Trang 8

tính dãy số sau này ở trường phổ thông Tiếp tục dạy trẻ phép đếm trong phạm vi 10 tiến tới không chỉ đếm từng vấn đề liên hệ mà tư duy của trẻ tiếp tục được phát triển giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn khái niệm đơn vị và tiền đề cho trẻ học tiếp các phép tính giải đố mà trẻ sẽ học trong trường phổ thông

Câu 6; Phân tích những đặc điểm phát triển sự định hướng về thời gian của trẻ mầm non và rút ra những kết luận sư phạm cần thiết.

Biểu tượng thời gian xuất hiện ở trẻ tương đối muộn, sự hình thành sự sống là một quá trình lâu dài và phức tạp, điều này xuất phát từ tính liên tục của thời gian

Thời gian luôn gắn liền với sự chuyển động quá khứ, hiện tại, tương lai, không đổi chỗ cho nhau và thời gian không có hình dạng, không thể ngắm nhìn một cách trực quan cho nên chỉ có thể tri giác thời gian một cách gián tiếp thông qua chuyển động nào đó Vd: hôm qua, hôm nay, ngày mai

Ban đầu biểu tượng thời gian được hình thành trên cơ sở cảm nhận và gắn liền với tính chu kì của quá trình sống diễn ra trong cơ thể trẻ Nhờ sự giúp đỡ của hỗn hợp các giác quan khác nhau như: thị giác, thính giác, giác quan vận động, sau đó những biểu tượng thời gian này dần được tái tạo lại và ngày càng mang lại khái quát cao, bởi trong thành phần của nó có các thành phần ligic , các kiến thức về các chuẩn đo thời gian

Vd: tối đi ngủ, sáng thức dậy ăn sáng đến trường

Những biểu tượng về thời gian ở trẻ mẫu giáo thường mang tính cụ thể, chúng thường được gắn với những hiện tượng, sự kiện cụ thể nào đó: đó là các dấu hiệu về thiên nhiên, về cuộc sống của trẻ, về những người xung quanh

Ví dụ: để phân biệt các buổi trong ngày gắn với những hoạt động luôn diễn ra trong các buổi đó: buổi chiều mẹ đi đòn vê, buổi sáng là khi ông mặt trời thức dậy,buổi tối là khi mọi người đi ngủ

Thời gian của trẻ còn được hình thành dựa trên một sự kiện quen thuộc tạo cho trẻ những ấn tượng và những cảm xúc với sự kiên: đi tắm biển mùa hè, mùa đông mặc áo ấm

Chính vì vậy sự phân biệt các buổi trong ngày, các ngày trong tuần, các mùa trong năm diễn ra không đồng đều ví dụ: để phân biệt buổi sáng, tối, chính xác hơn so với buổi trưa và buổi chiều sự phản của dấu hiệu thiên nhiên như ánh sáng và bóng tối sự mọc và lặn của Mặt Trời, hay những biểu tượng về mùa đông và mùa hè của trẻ thường cụ thể phong phú và chính xác hơn hai mùa thu và Xuân

Trong quá trình trẻ tham gia vào các hoạt động khác nhau các biểu tượng về giờ, ngày, tuần, tháng, những biểu tượng về các khoảng thời gian ngắn, nhiêu phút thì vẫn rất mơ hồ và triều tượng

Đặc biệt trẻ nhỏ thường rất khó khăn trong việc hiểu ý nghĩa của các từ diễn tả thời gian và các mối quan hệ thời gian Do tính tương đối của chúng các từ như: bây giờ, lúc này, hôm nay, hôm qua, ngày mai, luôn thay đổi phụ thuộc vào từng thời điểm cụ thể của trực tuyến Vì vậy sẽ rất khó khăn để nắm được ý nghĩa và sự khác nhau của chúng

Trang 9

Để có thể hiểu được các mối quan hệ thời gian hoạt động tư duy của trẻ phải phát triển

ở mức độ cao, trẻ càng lớn thì vốn từ chỉ thời gian của chuyển càng tăng nhanh Lúc đầu là một số từ chỉ thời điểm, sau đó là một số từ trạng từ, chỉ tính, từ thời gian, như:bây giờ, lúc nãy Việt Nam các trạng từ chỉ thời gian đóng vai trò quan trọng trong việc nhóm trình tự thời gian

TRẺ càng lớn thì càng hứng thú tìm hiểu thời gian với sự hỗ trợ cách tìm hiểu về đồng

hồ kim dài ở số này là mấy giờ kim khi nào là ngày mai

Sự nhận biết thời gian của trẻ được phát triển theo từng độ tổi:

Nhà trẻ: ưu điểm: nhận biết thời gian nhưng chưa thấy rõ

3-4 tuổi: đã phân biệt được ngày và đêm nhưng chưa phân biệt được các buổi trong ngày 4-5 tuổi: trẻ nhận biết đước các buổi trong ngày: sáng, trưa, chiều , tối, các ngày trong tuần nhưng chưa biết tên gọi các thứ trong tuần, hay hôm qua, ngày mai

5-6 tuổi: trẻ có thể nhân biết hôm qua, hôm nay và ngày mai, gọi tên các thứ trong tuần và nhận biết các mùa trong nhưng trẻ chưa nhận biết các ngày trong tháng

Kết luận sư phạm:

Ở tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu nắm được các chuẩn đo thời gian Vì vậy, trong quá trình dạy trẻ cần cụ thể hóa chúng bằng những thời gian cảm tính

Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỹ phát triển mạnh, trẻ khả năng diễn đạt bằng lời các khái niệm thời gian

Trẻ mẫu giáo có khả năng xác định chính xác thời điểm và thời lượng: có thể hình thành ở trẻ cảm giác về thời gian trên cơ sở hình thành ở trẻ những phản xạ có điều kiện vời thời gian Vì vậy có thể dạy trẻ đo thời gian, phát triển ở trẻ khả năng ước lượng độ dài, khoảng thời gian

Giáo án:

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG HỌC Chủ đề: Gia đình

Để tài: Nhận biết hôm qua, hôm nay, ngày mai

Độ tuổi: 5 - 6 tuổi Thời gian: 30p

Số lượng: 24 trẻ.

Người soạn: Đào Thị Mai ( Lớp ĐHMN4.K5)

I/ Mục đích yêu cầu:

1/ Kiến thức:

- Trẻ biết và gọi tên các ngày trong tuần

- Trẻ biết một tuần lễ có 7 ngày, 2 ngày cuối tuần của tờ lịch có màu sắc khác các ngày trong tuần

- Trẻ phân biệt được hôm qua – hôm nay – ngày mai ( Trẻ biết ngày hôm qua là do trẻ nhớ lại, ngày hôm nay là công việc đang diễn ra, ngày mai là những dự định.)

- Trẻ gọi đúng tên “thứ 4” là ngày hôm qua, “thứ 5” là ngày hôm nay, “ thứ 6” là ngày mai

Trang 10

2/ Kỹ năng:

- Trẻ biết sắp xếp thứ tự các tờ lịch về các ngày trong tuần

- Trẻ sắp xếp theo đúng trình tự ngày hôm qua – hôm nay – ngày mai

- Trẻ sắp xếp công việc tương ứng trong các ngày hôm qua – hôm nay – ngày mai

3/ Thái độ:

- Trẻ hứng thú, tích cực tham gia vào các hoạt động trong giờ học

- Trẻ biết quý trọng thời gian, không để thời gian trôi đi một cách lãng phí và vô ích

II/ Chuẩn bị:

1 Đồ dùng của cô:

- Hình ảnh lịch các thứ trong tuần trình chiếu trên powerpoint

- Tranh các hoạt động trong ngày thứ 4, thứ 5, thứ 6

- Bảng gắn

- Máy tính, tivi, que chỉ, bảng từ

2 Đồ dùng của trẻ:

- Mỗi trẻ có 1 rổ đồ dùng có 7 tờ lịch trong một tuần

- 3 bộ lịch tương tự với kích thước lớn hơn

- Thẻ số từ 1 -7 để chơi trò chơi

III/ Cách tổ chức thực hiện:

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

* HĐ1 Gây hứng thú.

- Cô giới thiệu hôm nay có tổ chức chương trình “

cánh cửa thời gian”

- Cô cùng trẻ hát bài hát “ cả tuần đều ngoan” và về

chỗ ngồi

- Cô trò chuyện cùng trẻ về nội dung bài hát:

+ Trong bài hát có những thứ nào?

+ Một tuần lễ có mấy ngày?

+ Bắt đầu bằng thứ mấy?

- Trẻ gieo hạt nảy mầm, gió thổi cây nghiêng sang

* HĐ2 Ôn thứ tự các ngày trong tuần.

* Phần thứ nhất của chương trình “ cánh cửa thời

gian” đó là phần khởi động:

- Cách chơi: Cô chia lớp thành 3 đội Nhiệm vụ của

mỗi đội là sắp xếp thứ tự các ngày trong tuần từ thứ

2 đến chủ nhật với số thứ tự tương ứng từ 1 – 7

Mỗi bản chỉ tìm và xếp 1 thứ tương ứng

- Luật chơi: thời gian chơi là một bản nhạc Đội nào

sắp xếp sai thì sẽ không được tính ( cô chú ý bao

quát trẻ chơi)

- Cô cùng trẻ kiểm tra kết quả của 3 đội chơi

*HĐ3: Nhận biết hôm qua, hôm nay, ngày mai.

* Phần thứ 2 của chương trình là: Nhà thông thái:

- Các con có biết ngày hôm nay là thứ mấy trong

tuần không?

- trẻ hát và trò chuyện cùng cô

- Trẻ lắng nghe và chơi theo hưỡng dẫn của cô

Ngày đăng: 18/06/2025, 04:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tam giác màu gì? - Đề Cương - Môn  - Toán (giáo dục mầm non  -  full đáp án 6 câu )
Hình tam giác màu gì? (Trang 15)
Hình tam giác có lăn được không các con? - Đề Cương - Môn  - Toán (giáo dục mầm non  -  full đáp án 6 câu )
Hình tam giác có lăn được không các con? (Trang 16)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w