Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam và cóng tác khai quật khảo cổ học đưới nước ở Việt Nam 1.1 Vải nét về sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam Để phục
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘT
KIIOA BAO TANG
Perererrerrs
DANG THI HAI LE
CONG TAC BAO QUAN VA PHUC DUNG
T GOM SU KIIAI QUAT TU CAC CON TAU DAM TAI
BAO TANG LICII st’ VIET NAM
KHOA LUAN TOT NGHIEP
NGANH BAO TON-BAO TANG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC: TH.S NGUYEN SY TOAN
HÀ NỘI — 2008
Trang 23 Đối lượng và phạm vĩ nghiên cữu s- ccnstieerrieeeoce
4.Phương pháp nghiên cứu
5 Đồng góp của để tàu
Chương 1: Khải quát về Bảo tang Lich Sử Việt Nam và công tác khai
quật khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam
1.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của Bảo tầng Lịch Sử Việt
Nam
1.2 Công tác khai quật khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam
1.2.1 Quan niệm về di sản văn hoá dưới
Chương 2: Công tác bảo quản vã phục dựng hiện vật gốm sử khai
quật được từ các con tàu đắm tại Bảo tàng Lịch 8ữ Việt Nam
2.4 'hận trạng hiện vật gốm sứ khai quật từ cắc con tàu đấm
3.2 Công tắc báo quản hiện vật gốm xử khai quật từ các can tàu đấm
Trang 3
3.3 Công tác phục dựng hiện vật gốm sứ khai quật dược tit cdc con
tần dâm tại Bảo tang Lich Sử Việt Nam
3.2 Một sổ giái pháp để xuất nhằm nàng cao công tác bảo quản phát
huy giá trị hiện vật gốm sử từ khai quật các con tau đấm tại Bảo tàng
Trang 4MỞĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
‘rong khoảng mười năm cuối của thế ký XX - đầu thế kỷ XXI, ngành khảo
cổ học nước ta bất dầu di vào một lĩnh vực mới dó là khảo cổ học dưới nước Dưới
su giúp dỡ của các chuyên gia nước ngoài chúng ta đã phát hiện và khai quật thành
công năm con tâu cổ bị đắm ở vũng biển phía Nam của tổ quốc Việc Khai quật
thành công năm con tàu cổ đưa lại cho chủng ta nhiều kinh nghiệm về khai quật khảo cổ học dưới nước Song kết quả quan trọng hơn đó là việc dưa lên bờ hàng trâm ngàn hiện vật trong đó chủ yếu là gốm sứ
Thực chất đồ gốm cổ truyền hm lại tới ngày nay đã vượt qua giá trị sử dụng,
Trước hết, đồ gốm vừa là sản phẩm của thời đại, vừa là một phần bóng dáng
của mỗi tộc người, nhưng nó cồn là sản phẩm mang day đủ cá tỉnh của một con
người cụ thể Cho nên mỗi đổ gốm thực chất là một tác phẩm “cõng trên lưng”
những giá trị nhất định và giả trị của lịch sử xã hội Từ đố, người ta dễ đăng tìm
thấy được “hơi thở” của một quá khứ để thấy được vẻ đẹp truy:
tỉnh thẩn dân tộc mà cồn là bản sắc vău hồa được giữ gìu từ thế hệ này sang thế hệ
Hiện nay, gốm Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Song các
đợt khai quật khảo cổ học tại các trung lâm gốm cổ cững chỉ giúp các nhà nghiên
cứu tìm thấy chủ yếu hiện vật là dấu vết của lò nung (bao nung, con kẽ .), các mảnh vỡ Còn các sản phẩm nguyên lành, cao cấp dùng chơ trao đổi buôn bán thì
rất íL Điều nầy làm cho việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam gập rất nhiều khó
Trang 5vật này, cùng với sự yêu thích của mình em mạnh dạn chọu dễ tài “Bước đầu tìm hiểu công tác bảo quản và phục dựng hiện vật gốm sử khai quật Uf ede con tu đắm tại Hảo tàng Lịch Sử Việt Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình Do đây
là vấn để mới và hiểu biết của em còn có hạn nên bài viết không tránh khôi những,
thiếu sói và nông hẹp Vậy em rất mong nhận được sự góp § của các thẩy cô và
những ai quan tâm tới vấn để này,
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu công tác bảo quản và phục dựng hiện vật gốm sứ từ các con tàu cổ
đã khai quật Từ đó đưa ra kiến nghị và để xuất những giải pháp nhằm làm cho công Lắc bảo quân và phục dựng hiện vật tại Bảo Làng Lịch Sử Việt Nam dược tối
hon
3.Bối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận là hiện vật gốm sứ khai quật
từ các cơn tầu cổ đang lưu giữ tại kho của Bảo tầng Tịch Sử Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
ĐỂ hoàn thành khoá luận này những phương pháp nghiên cứu chủ yếu mà em:
xử tụng bao gồm
- Phương pháp của bảo tăng học, phương pháp của chú nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phân loại, phổng vấn, phân tích tổng hợp các nguồn
tài Hệu để giải quyết những vấn đề mà khoá luận để cập đến
- Ngoài ra khoá luận còn sử dụng phương pháp vật lý, hoá học, sinh học,
phương pháp khảo cổ học
5 Đóng góp của đẻ tài
Khoá luận hoàn thành sẽ cung cấp nguồn lài hiệu tham khảo cho sinh viên,
các nhã nghiên cứu vã có những dóng gốp thực tiễn cho hoạt dộng của bảo tăng
6 Bố cục của khoá luận
Trang 6Ngoài phần mở dâu, mục lục, tài liệu tran khảo, ảnh, Khoá luận được chủa làm 3 phần như sau:
Chương I: Khai quất về Hảo tang Lịch Sử Việt Nam và công tác Khai quật
khảo cổ họ dưới nước ở Việt Nam:
hương 2: Công tác bảo quân và phục đựng hiện vật gốm sứ khai quật được
từ các con tàu đắm tại Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Chương 3: Đánh giá, nhận xét và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tấp bảo quần và phục dựng hiện vật gốm sứ từ năm con tàu đắm ở Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Ngoài sự cố gắng của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ tận lũnh của
nhiều tận thể và cá nhân để cố thể hoàn thành tốt khoá luận của minh Qua đây em
xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa, T.S Nguyễn Dinh Chiến Trưởng phòng kiểm kẻ - bảo quản và các cán bộ Bảo tầng Lịch Sử Việt Nam, các bạn đồng môn Và đạc biệt gửi lời cắm ơn tới Th.S Nguyễn Sỹ Toắn — người trực trếp hướng dẫn em trong quá trình lâm khoá luận
Xin chan thanh cam ơn!
Trang 7MỞĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
‘rong khoảng mười năm cuối của thế ký XX - đầu thế kỷ XXI, ngành khảo
cổ học nước ta bất dầu di vào một lĩnh vực mới dó là khảo cổ học dưới nước Dưới
su giúp dỡ của các chuyên gia nước ngoài chúng ta đã phát hiện và khai quật thành
công năm con tâu cổ bị đắm ở vũng biển phía Nam của tổ quốc Việc Khai quật
thành công năm con tàu cổ đưa lại cho chủng ta nhiều kinh nghiệm về khai quật khảo cổ học dưới nước Song kết quả quan trọng hơn đó là việc dưa lên bờ hàng trâm ngàn hiện vật trong đó chủ yếu là gốm sứ
Thực chất đồ gốm cổ truyền hm lại tới ngày nay đã vượt qua giá trị sử dụng,
Trước hết, đồ gốm vừa là sản phẩm của thời đại, vừa là một phần bóng dáng
của mỗi tộc người, nhưng nó cồn là sản phẩm mang day đủ cá tỉnh của một con
người cụ thể Cho nên mỗi đổ gốm thực chất là một tác phẩm “cõng trên lưng”
những giá trị nhất định và giả trị của lịch sử xã hội Từ đố, người ta dễ đăng tìm
thấy được “hơi thở” của một quá khứ để thấy được vẻ đẹp truy:
tỉnh thẩn dân tộc mà cồn là bản sắc vău hồa được giữ gìu từ thế hệ này sang thế hệ
Hiện nay, gốm Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Song các
đợt khai quật khảo cổ học tại các trung lâm gốm cổ cững chỉ giúp các nhà nghiên
cứu tìm thấy chủ yếu hiện vật là dấu vết của lò nung (bao nung, con kẽ .), các mảnh vỡ Còn các sản phẩm nguyên lành, cao cấp dùng chơ trao đổi buôn bán thì
rất íL Điều nầy làm cho việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam gập rất nhiều khó
Trang 8dựng do Emest He brand và Clarlcs Battcur chủ trì thiết kế với sự cộng Lắc của kỹ
suf MaxBepi va đến ngày 17/03/1932 thĩ hoàn thành trang lên Bảo tang Loui FimeL
(Musee Loui linot) trực thuộc Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện (HHEO) Đây được coi là một trong những tác phẩm kiến trúc đặc sắc và độc đáo của Đông,
Dung, vita hién dai lai vita mang bar ắc phương Đông
“Trong thời kỳ Pháp thuộc, Bảo tàng trưng bày nội dung tương đối tổng hợp, chủ yếu là bộ sưu tập hiện vật vùng Viễn Đông, đặc biệt là di sản văn hoá của các nước Đông Dương thuộc Pháp, trong đồ có Việt Nam.Tuy nhiên nội dung va tinh chất của Bảo tàng chủ yếu phục vụ cho công việc nghiên cứu về Đông Dương và
nhu cầu cổ ngoạn của giới nghiên cứu
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh dã ký sắc lệnh số 6Š ngày 23/11/1945 giao nhiệm vụ bảo Lồn di tích toàn côi Việt Nam:
cho Đông Dương Bác Cổ học viện (Việt Nam Orlental Instttut) — một cơ quan
mới làm nhiệm vụ thay thé cho Viễn Đông Bác Cổ đã bị bãi bỏ trong điểu 2 của
sắc lệnh, đồng thời đổi tên Bảo làng Loui Fimol thành Quốc gia Bảo làng viện
‘Thang 12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bảo tầng lại trở vẻ thủa ban đầu thuộc Pháp
Sau chiến thẳng Điện Bí
Phủ (07/05/1954) cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, miễn Hắc được hoàn toàn giải phóng, nhưng dến tận ngày 22/04/1958 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới tiếp nhận được
cơ sở bảo tầng từ tay chính phủ Pháp và dặt tên là Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt _Nam, trực thuộc Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch) Từ đó đến
nay, Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh các hoạt động
nghiệp vụ, mang lại cho Bảo từng một sắc thái mới phù hợp với loại hình và chức
nang cua minh
Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở bảo tàng từ tay chính phủ Pháp, Viên Bảo tàng
Lịch Sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toàn và ngày 03/09/1958 Bảo tầng đã
chính thức mỡ cửa với hệ thống trưng bày mới, giới thiệu cho khách tham quan về lịch sứ văn hóa Việt Nam từ thời tối cổ cho tới thời đạt kim khí, thời ¿ỳ phong
Trang 9Bảng mã chữ cái viết tất
AgNO¿: Hạc niorat
BaCl;: Bari clorit
CH;_ COOH: AxiLaxelic
(COOH);: Axrt Oxalic
EDTA: Axit ethylene diamine tetra acetic
EPEO: Phap quốc Viễn Đóng Bác Cổ học viện
HCI: AxH elohidric
LINQ, Axtt nitoric,
H;§O¿: AxiL sun[uric
TIF: Axit flohilrie,
ICOM: International Council Of Museum
ICOMOS: The International Council On Monuments and Sites PVA: Polyviny| axetal
ROV: May khao sat Remotely Operated Veniele
Th.S: Thae s¥.
Trang 10MỞĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
‘rong khoảng mười năm cuối của thế ký XX - đầu thế kỷ XXI, ngành khảo
cổ học nước ta bất dầu di vào một lĩnh vực mới dó là khảo cổ học dưới nước Dưới
su giúp dỡ của các chuyên gia nước ngoài chúng ta đã phát hiện và khai quật thành
công năm con tâu cổ bị đắm ở vũng biển phía Nam của tổ quốc Việc Khai quật
thành công năm con tàu cổ đưa lại cho chủng ta nhiều kinh nghiệm về khai quật khảo cổ học dưới nước Song kết quả quan trọng hơn đó là việc dưa lên bờ hàng trâm ngàn hiện vật trong đó chủ yếu là gốm sứ
Thực chất đồ gốm cổ truyền hm lại tới ngày nay đã vượt qua giá trị sử dụng,
Trước hết, đồ gốm vừa là sản phẩm của thời đại, vừa là một phần bóng dáng
của mỗi tộc người, nhưng nó cồn là sản phẩm mang day đủ cá tỉnh của một con
người cụ thể Cho nên mỗi đổ gốm thực chất là một tác phẩm “cõng trên lưng”
những giá trị nhất định và giả trị của lịch sử xã hội Từ đố, người ta dễ đăng tìm
thấy được “hơi thở” của một quá khứ để thấy được vẻ đẹp truy:
tỉnh thẩn dân tộc mà cồn là bản sắc vău hồa được giữ gìu từ thế hệ này sang thế hệ
Hiện nay, gốm Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Song các
đợt khai quật khảo cổ học tại các trung lâm gốm cổ cững chỉ giúp các nhà nghiên
cứu tìm thấy chủ yếu hiện vật là dấu vết của lò nung (bao nung, con kẽ .), các mảnh vỡ Còn các sản phẩm nguyên lành, cao cấp dùng chơ trao đổi buôn bán thì
rất íL Điều nầy làm cho việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam gập rất nhiều khó
Trang 11Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam và cóng tác khai
quật khảo cổ học đưới nước ở Việt Nam
1.1 Vải nét về sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Để phục vụ cho những mục tiêu về kinh tế, chính trị, nhằm xác lập sự thống trị và khai thác các nước thuộc địa ở Đông Dương, ngày 25/12/1889 Đội khảo cổ liọc Đông Dương (Mission Archeologique dIndochine) dã dược thành lập nhằm: tiến hãnh các công trình nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ và các công trình văn hoá trên bán đáo Đông Dương
Năm 1889 sau các cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu xuyên Việt từ Nam ra Bắc, các nước Täo và Campuchia, Lousi Finot đã kiến nghị với chính quyền thuộc địa thành lập những co quan cần thiết ở Đông Dương đặc biệt là những cơ quan khoa học
Theo nghị dịnh ngày 20/10/1900 của toàn quyển Đông Dương phấp quốc
Viễn Đông Bác Cổ học viện (Birâncalsed Extrême Orlent) đã chính thức được thành lập tại Sài Giồn trên cơ sở là Đội khảo cổ học lĐông Dương tiến ngày 26/02/1901, Viễn Đông Bác Cổ học viện dã dời trụ sở tại Sài Gòn ra Hà Nội nhằm đấp ứng nhụ cầu trên
“Trong thời gian này, Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện đã tiến hành
những công trình nghiên cứu vẻ khoa học xã hội, đặc biệt là những công trình
nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ hợc, các kết quả kiểm kế, xếp hạng di tích
và việc xây dựng một số Bảo tàng đầu tiên trên đất Việt Nam
Năm 1910 phòng trưng bày Bảo tầng đầu tiên ra đời tại Hà Nội trực thuộc
Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đặt tại một ngôi nhà kiến trúc kiểu Phấp,
xây dựng năm I874 Ngôi nhà nay vốn là tư dinh của toàn quyền Đông Dương,
sau đó là trụ sở của hội đồng tư vấn người bản xứ, từ năm 1908 dược dùng làm nơi
tổ chức Đại học Đông Dương Sau Đại học Đông Dương chuyển đến trụ sở mới
ngôi nhã này dành cho [háp quốc Viễn Đông Hắc Cổ học viện làm trụ sở bảo tàng, 'Trụ sở mới của bảo tàng, nay là Hảo tăng Lịch Sử Việt Nam được toàn quyển
Đông Dương Mongai Lot thong qua Tháng 01/1926 toà nhà dược khởi công xây
Trang 12Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam và cóng tác khai
quật khảo cổ học đưới nước ở Việt Nam
1.1 Vải nét về sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Để phục vụ cho những mục tiêu về kinh tế, chính trị, nhằm xác lập sự thống trị và khai thác các nước thuộc địa ở Đông Dương, ngày 25/12/1889 Đội khảo cổ liọc Đông Dương (Mission Archeologique dIndochine) dã dược thành lập nhằm: tiến hãnh các công trình nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ và các công trình văn hoá trên bán đáo Đông Dương
Năm 1889 sau các cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu xuyên Việt từ Nam ra Bắc, các nước Täo và Campuchia, Lousi Finot đã kiến nghị với chính quyền thuộc địa thành lập những co quan cần thiết ở Đông Dương đặc biệt là những cơ quan khoa học
Theo nghị dịnh ngày 20/10/1900 của toàn quyển Đông Dương phấp quốc
Viễn Đông Bác Cổ học viện (Birâncalsed Extrême Orlent) đã chính thức được thành lập tại Sài Giồn trên cơ sở là Đội khảo cổ học lĐông Dương tiến ngày 26/02/1901, Viễn Đông Bác Cổ học viện dã dời trụ sở tại Sài Gòn ra Hà Nội nhằm đấp ứng nhụ cầu trên
“Trong thời gian này, Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện đã tiến hành
những công trình nghiên cứu vẻ khoa học xã hội, đặc biệt là những công trình
nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ hợc, các kết quả kiểm kế, xếp hạng di tích
và việc xây dựng một số Bảo tàng đầu tiên trên đất Việt Nam
Năm 1910 phòng trưng bày Bảo tầng đầu tiên ra đời tại Hà Nội trực thuộc
Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đặt tại một ngôi nhà kiến trúc kiểu Phấp,
xây dựng năm I874 Ngôi nhà nay vốn là tư dinh của toàn quyền Đông Dương,
sau đó là trụ sở của hội đồng tư vấn người bản xứ, từ năm 1908 dược dùng làm nơi
tổ chức Đại học Đông Dương Sau Đại học Đông Dương chuyển đến trụ sở mới
ngôi nhã này dành cho [háp quốc Viễn Đông Hắc Cổ học viện làm trụ sở bảo tàng, 'Trụ sở mới của bảo tàng, nay là Hảo tăng Lịch Sử Việt Nam được toàn quyển
Đông Dương Mongai Lot thong qua Tháng 01/1926 toà nhà dược khởi công xây
Trang 13Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam và cóng tác khai
quật khảo cổ học đưới nước ở Việt Nam
1.1 Vải nét về sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Để phục vụ cho những mục tiêu về kinh tế, chính trị, nhằm xác lập sự thống trị và khai thác các nước thuộc địa ở Đông Dương, ngày 25/12/1889 Đội khảo cổ liọc Đông Dương (Mission Archeologique dIndochine) dã dược thành lập nhằm: tiến hãnh các công trình nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ và các công trình văn hoá trên bán đáo Đông Dương
Năm 1889 sau các cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu xuyên Việt từ Nam ra Bắc, các nước Täo và Campuchia, Lousi Finot đã kiến nghị với chính quyền thuộc địa thành lập những co quan cần thiết ở Đông Dương đặc biệt là những cơ quan khoa học
Theo nghị dịnh ngày 20/10/1900 của toàn quyển Đông Dương phấp quốc
Viễn Đông Bác Cổ học viện (Birâncalsed Extrême Orlent) đã chính thức được thành lập tại Sài Giồn trên cơ sở là Đội khảo cổ học lĐông Dương tiến ngày 26/02/1901, Viễn Đông Bác Cổ học viện dã dời trụ sở tại Sài Gòn ra Hà Nội nhằm đấp ứng nhụ cầu trên
“Trong thời gian này, Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện đã tiến hành
những công trình nghiên cứu vẻ khoa học xã hội, đặc biệt là những công trình
nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ hợc, các kết quả kiểm kế, xếp hạng di tích
và việc xây dựng một số Bảo tàng đầu tiên trên đất Việt Nam
Năm 1910 phòng trưng bày Bảo tầng đầu tiên ra đời tại Hà Nội trực thuộc
Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đặt tại một ngôi nhà kiến trúc kiểu Phấp,
xây dựng năm I874 Ngôi nhà nay vốn là tư dinh của toàn quyền Đông Dương,
sau đó là trụ sở của hội đồng tư vấn người bản xứ, từ năm 1908 dược dùng làm nơi
tổ chức Đại học Đông Dương Sau Đại học Đông Dương chuyển đến trụ sở mới
ngôi nhã này dành cho [háp quốc Viễn Đông Hắc Cổ học viện làm trụ sở bảo tàng, 'Trụ sở mới của bảo tàng, nay là Hảo tăng Lịch Sử Việt Nam được toàn quyển
Đông Dương Mongai Lot thong qua Tháng 01/1926 toà nhà dược khởi công xây
Trang 14dựng do Emest He brand và Clarlcs Battcur chủ trì thiết kế với sự cộng Lắc của kỹ
suf MaxBepi va đến ngày 17/03/1932 thĩ hoàn thành trang lên Bảo tang Loui FimeL
(Musee Loui linot) trực thuộc Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện (HHEO) Đây được coi là một trong những tác phẩm kiến trúc đặc sắc và độc đáo của Đông,
Dung, vita hién dai lai vita mang bar ắc phương Đông
“Trong thời kỳ Pháp thuộc, Bảo tàng trưng bày nội dung tương đối tổng hợp, chủ yếu là bộ sưu tập hiện vật vùng Viễn Đông, đặc biệt là di sản văn hoá của các nước Đông Dương thuộc Pháp, trong đồ có Việt Nam.Tuy nhiên nội dung va tinh chất của Bảo tàng chủ yếu phục vụ cho công việc nghiên cứu về Đông Dương và
nhu cầu cổ ngoạn của giới nghiên cứu
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh dã ký sắc lệnh số 6Š ngày 23/11/1945 giao nhiệm vụ bảo Lồn di tích toàn côi Việt Nam:
cho Đông Dương Bác Cổ học viện (Việt Nam Orlental Instttut) — một cơ quan
mới làm nhiệm vụ thay thé cho Viễn Đông Bác Cổ đã bị bãi bỏ trong điểu 2 của
sắc lệnh, đồng thời đổi tên Bảo làng Loui Fimol thành Quốc gia Bảo làng viện
‘Thang 12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bảo tầng lại trở vẻ thủa ban đầu thuộc Pháp
Sau chiến thẳng Điện Bí
Phủ (07/05/1954) cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, miễn Hắc được hoàn toàn giải phóng, nhưng dến tận ngày 22/04/1958 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới tiếp nhận được
cơ sở bảo tầng từ tay chính phủ Pháp và dặt tên là Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt _Nam, trực thuộc Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch) Từ đó đến
nay, Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh các hoạt động
nghiệp vụ, mang lại cho Bảo từng một sắc thái mới phù hợp với loại hình và chức
nang cua minh
Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở bảo tàng từ tay chính phủ Pháp, Viên Bảo tàng
Lịch Sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toàn và ngày 03/09/1958 Bảo tầng đã
chính thức mỡ cửa với hệ thống trưng bày mới, giới thiệu cho khách tham quan về lịch sứ văn hóa Việt Nam từ thời tối cổ cho tới thời đạt kim khí, thời ¿ỳ phong
Trang 15dựng do Emest He brand và Clarlcs Battcur chủ trì thiết kế với sự cộng Lắc của kỹ
suf MaxBepi va đến ngày 17/03/1932 thĩ hoàn thành trang lên Bảo tang Loui FimeL
(Musee Loui linot) trực thuộc Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện (HHEO) Đây được coi là một trong những tác phẩm kiến trúc đặc sắc và độc đáo của Đông,
Dung, vita hién dai lai vita mang bar ắc phương Đông
“Trong thời kỳ Pháp thuộc, Bảo tàng trưng bày nội dung tương đối tổng hợp, chủ yếu là bộ sưu tập hiện vật vùng Viễn Đông, đặc biệt là di sản văn hoá của các nước Đông Dương thuộc Pháp, trong đồ có Việt Nam.Tuy nhiên nội dung va tinh chất của Bảo tàng chủ yếu phục vụ cho công việc nghiên cứu về Đông Dương và
nhu cầu cổ ngoạn của giới nghiên cứu
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh dã ký sắc lệnh số 6Š ngày 23/11/1945 giao nhiệm vụ bảo Lồn di tích toàn côi Việt Nam:
cho Đông Dương Bác Cổ học viện (Việt Nam Orlental Instttut) — một cơ quan
mới làm nhiệm vụ thay thé cho Viễn Đông Bác Cổ đã bị bãi bỏ trong điểu 2 của
sắc lệnh, đồng thời đổi tên Bảo làng Loui Fimol thành Quốc gia Bảo làng viện
‘Thang 12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bảo tầng lại trở vẻ thủa ban đầu thuộc Pháp
Sau chiến thẳng Điện Bí
Phủ (07/05/1954) cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, miễn Hắc được hoàn toàn giải phóng, nhưng dến tận ngày 22/04/1958 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới tiếp nhận được
cơ sở bảo tầng từ tay chính phủ Pháp và dặt tên là Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt _Nam, trực thuộc Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch) Từ đó đến
nay, Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh các hoạt động
nghiệp vụ, mang lại cho Bảo từng một sắc thái mới phù hợp với loại hình và chức
nang cua minh
Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở bảo tàng từ tay chính phủ Pháp, Viên Bảo tàng
Lịch Sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toàn và ngày 03/09/1958 Bảo tầng đã
chính thức mỡ cửa với hệ thống trưng bày mới, giới thiệu cho khách tham quan về lịch sứ văn hóa Việt Nam từ thời tối cổ cho tới thời đạt kim khí, thời ¿ỳ phong
Trang 16khẩn Chính vì vậy mũ việc khai quật thành công năm con tâu đấm ở vùng biểu nứa Nam có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam
Và đây cũng là một bằng chứng vô cùng smh động cho việc nghiên cứu giao thương, quốc tế, bởi hiện vật tim thay khong chỉ là gốm sứ Việt Nam mà cồn có cả gốm sử Trung Quốc,Thái Tan và những hiện vật khác
Như chúng ta đã biết Việt Nam nằm ỡ vị trí thuận tiện vẻ giao thông cả
dường bộ lẫn dường biển Việc buôn bản với nước ngoài đã phát triển từ thế kỷ thứ
X ở phía Bắc, thư tịch cổ đã ghi thuyển buôn của nước ngoài cập bến dến quốc dỗ
Hoa Làr của Đại Cổ Việt dưới thời Đình Lê Sang thời Lý việc buôn bán với Trung Quốc và các nước Đông Nam á của Đại Việt phát triển mạnh hơn, đặc biệt là ở
thương cảng Vân Đồn Mặt khác ta cũng biết rằng bất đầu tif he ky XV “cou
đường tơ lựa trên biển” vốn đã hình thành trước đồ và ngay cũng giữ vai Irồ quan trọng Nắm trên con đường biển từ Đông sang Tây, trong thế kỷ XV, thương cảng quốc tế Vân Đền đón nhận tàu Trung Quốc xuống, tàu ở các nước Đông Nam á
lên Như vậy có thể nói rằng trong thé ky XV, Viel Nam liếp lục tham gia miộL
cách tích cực vào con đường tơ lụa trên biển, trong đó mặt hàng quan trọng nhất là
đồ gốm
Hién vật thu được tữ năm cơn lầu đấm là rất quï nhưng do lâu ngầy bị ngâm
ở dưới biển nên hầu hết các hiện vật gốm sứ đều có dấu hiệu bị hư hồng Nhiều hiện vật bị sứt, mẻ, bị vỡ, có hiện vật bị nhiễm muối nặng làm hỏng men Chính
bởi vậy mà công tác bảo quản được đặt ra kha cấp thiết chơ những đơn vị lưu giữ
hiện vật này Không những phải loại bỗ những tic nhân gây hại mà còn phải tiến hành phục dựng lại những hiện vật đã bị sứt mê tạo điểu kiện thuận lợi cho công
tấu nghiên cứu sau này Mặc dù thấy rằng đây là một vấn để khá quan trọng, song
Trang 17vật này, cùng với sự yêu thích của mình em mạnh dạn chọu dễ tài “Bước đầu tìm hiểu công tác bảo quản và phục dựng hiện vật gốm sử khai quật Uf ede con tu đắm tại Hảo tàng Lịch Sử Việt Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình Do đây
là vấn để mới và hiểu biết của em còn có hạn nên bài viết không tránh khôi những,
thiếu sói và nông hẹp Vậy em rất mong nhận được sự góp § của các thẩy cô và
những ai quan tâm tới vấn để này,
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu công tác bảo quản và phục dựng hiện vật gốm sứ từ các con tàu cổ
đã khai quật Từ đó đưa ra kiến nghị và để xuất những giải pháp nhằm làm cho công Lắc bảo quân và phục dựng hiện vật tại Bảo Làng Lịch Sử Việt Nam dược tối
hon
3.Bối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận là hiện vật gốm sứ khai quật
từ các cơn tầu cổ đang lưu giữ tại kho của Bảo tầng Tịch Sử Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
ĐỂ hoàn thành khoá luận này những phương pháp nghiên cứu chủ yếu mà em:
xử tụng bao gồm
- Phương pháp của bảo tăng học, phương pháp của chú nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phân loại, phổng vấn, phân tích tổng hợp các nguồn
tài Hệu để giải quyết những vấn đề mà khoá luận để cập đến
- Ngoài ra khoá luận còn sử dụng phương pháp vật lý, hoá học, sinh học,
phương pháp khảo cổ học
5 Đóng góp của đẻ tài
Khoá luận hoàn thành sẽ cung cấp nguồn lài hiệu tham khảo cho sinh viên,
các nhã nghiên cứu vã có những dóng gốp thực tiễn cho hoạt dộng của bảo tăng
6 Bố cục của khoá luận
Trang 18Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam và cóng tác khai
quật khảo cổ học đưới nước ở Việt Nam
1.1 Vải nét về sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Để phục vụ cho những mục tiêu về kinh tế, chính trị, nhằm xác lập sự thống trị và khai thác các nước thuộc địa ở Đông Dương, ngày 25/12/1889 Đội khảo cổ liọc Đông Dương (Mission Archeologique dIndochine) dã dược thành lập nhằm: tiến hãnh các công trình nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ và các công trình văn hoá trên bán đáo Đông Dương
Năm 1889 sau các cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu xuyên Việt từ Nam ra Bắc, các nước Täo và Campuchia, Lousi Finot đã kiến nghị với chính quyền thuộc địa thành lập những co quan cần thiết ở Đông Dương đặc biệt là những cơ quan khoa học
Theo nghị dịnh ngày 20/10/1900 của toàn quyển Đông Dương phấp quốc
Viễn Đông Bác Cổ học viện (Birâncalsed Extrême Orlent) đã chính thức được thành lập tại Sài Giồn trên cơ sở là Đội khảo cổ học lĐông Dương tiến ngày 26/02/1901, Viễn Đông Bác Cổ học viện dã dời trụ sở tại Sài Gòn ra Hà Nội nhằm đấp ứng nhụ cầu trên
“Trong thời gian này, Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện đã tiến hành
những công trình nghiên cứu vẻ khoa học xã hội, đặc biệt là những công trình
nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ hợc, các kết quả kiểm kế, xếp hạng di tích
và việc xây dựng một số Bảo tàng đầu tiên trên đất Việt Nam
Năm 1910 phòng trưng bày Bảo tầng đầu tiên ra đời tại Hà Nội trực thuộc
Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đặt tại một ngôi nhà kiến trúc kiểu Phấp,
xây dựng năm I874 Ngôi nhà nay vốn là tư dinh của toàn quyền Đông Dương,
sau đó là trụ sở của hội đồng tư vấn người bản xứ, từ năm 1908 dược dùng làm nơi
tổ chức Đại học Đông Dương Sau Đại học Đông Dương chuyển đến trụ sở mới
ngôi nhã này dành cho [háp quốc Viễn Đông Hắc Cổ học viện làm trụ sở bảo tàng, 'Trụ sở mới của bảo tàng, nay là Hảo tăng Lịch Sử Việt Nam được toàn quyển
Đông Dương Mongai Lot thong qua Tháng 01/1926 toà nhà dược khởi công xây
Trang 19Bảng mã chữ cái viết tất
AgNO¿: Hạc niorat
BaCl;: Bari clorit
CH;_ COOH: AxiLaxelic
(COOH);: Axrt Oxalic
EDTA: Axit ethylene diamine tetra acetic
EPEO: Phap quốc Viễn Đóng Bác Cổ học viện
HCI: AxH elohidric
LINQ, Axtt nitoric,
H;§O¿: AxiL sun[uric
TIF: Axit flohilrie,
ICOM: International Council Of Museum
ICOMOS: The International Council On Monuments and Sites PVA: Polyviny| axetal
ROV: May khao sat Remotely Operated Veniele
Th.S: Thae s¥.
Trang 20vật này, cùng với sự yêu thích của mình em mạnh dạn chọu dễ tài “Bước đầu tìm hiểu công tác bảo quản và phục dựng hiện vật gốm sử khai quật Uf ede con tu đắm tại Hảo tàng Lịch Sử Việt Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình Do đây
là vấn để mới và hiểu biết của em còn có hạn nên bài viết không tránh khôi những,
thiếu sói và nông hẹp Vậy em rất mong nhận được sự góp § của các thẩy cô và
những ai quan tâm tới vấn để này,
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu công tác bảo quản và phục dựng hiện vật gốm sứ từ các con tàu cổ
đã khai quật Từ đó đưa ra kiến nghị và để xuất những giải pháp nhằm làm cho công Lắc bảo quân và phục dựng hiện vật tại Bảo Làng Lịch Sử Việt Nam dược tối
hon
3.Bối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận là hiện vật gốm sứ khai quật
từ các cơn tầu cổ đang lưu giữ tại kho của Bảo tầng Tịch Sử Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
ĐỂ hoàn thành khoá luận này những phương pháp nghiên cứu chủ yếu mà em:
xử tụng bao gồm
- Phương pháp của bảo tăng học, phương pháp của chú nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phân loại, phổng vấn, phân tích tổng hợp các nguồn
tài Hệu để giải quyết những vấn đề mà khoá luận để cập đến
- Ngoài ra khoá luận còn sử dụng phương pháp vật lý, hoá học, sinh học,
phương pháp khảo cổ học
5 Đóng góp của đẻ tài
Khoá luận hoàn thành sẽ cung cấp nguồn lài hiệu tham khảo cho sinh viên,
các nhã nghiên cứu vã có những dóng gốp thực tiễn cho hoạt dộng của bảo tăng
6 Bố cục của khoá luận
Trang 21khẩn Chính vì vậy mũ việc khai quật thành công năm con tâu đấm ở vùng biểu nứa Nam có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam
Và đây cũng là một bằng chứng vô cùng smh động cho việc nghiên cứu giao thương, quốc tế, bởi hiện vật tim thay khong chỉ là gốm sứ Việt Nam mà cồn có cả gốm sử Trung Quốc,Thái Tan và những hiện vật khác
Như chúng ta đã biết Việt Nam nằm ỡ vị trí thuận tiện vẻ giao thông cả
dường bộ lẫn dường biển Việc buôn bản với nước ngoài đã phát triển từ thế kỷ thứ
X ở phía Bắc, thư tịch cổ đã ghi thuyển buôn của nước ngoài cập bến dến quốc dỗ
Hoa Làr của Đại Cổ Việt dưới thời Đình Lê Sang thời Lý việc buôn bán với Trung Quốc và các nước Đông Nam á của Đại Việt phát triển mạnh hơn, đặc biệt là ở
thương cảng Vân Đồn Mặt khác ta cũng biết rằng bất đầu tif he ky XV “cou
đường tơ lựa trên biển” vốn đã hình thành trước đồ và ngay cũng giữ vai Irồ quan trọng Nắm trên con đường biển từ Đông sang Tây, trong thế kỷ XV, thương cảng quốc tế Vân Đền đón nhận tàu Trung Quốc xuống, tàu ở các nước Đông Nam á
lên Như vậy có thể nói rằng trong thé ky XV, Viel Nam liếp lục tham gia miộL
cách tích cực vào con đường tơ lụa trên biển, trong đó mặt hàng quan trọng nhất là
đồ gốm
Hién vật thu được tữ năm cơn lầu đấm là rất quï nhưng do lâu ngầy bị ngâm
ở dưới biển nên hầu hết các hiện vật gốm sứ đều có dấu hiệu bị hư hồng Nhiều hiện vật bị sứt, mẻ, bị vỡ, có hiện vật bị nhiễm muối nặng làm hỏng men Chính
bởi vậy mà công tác bảo quản được đặt ra kha cấp thiết chơ những đơn vị lưu giữ
hiện vật này Không những phải loại bỗ những tic nhân gây hại mà còn phải tiến hành phục dựng lại những hiện vật đã bị sứt mê tạo điểu kiện thuận lợi cho công
tấu nghiên cứu sau này Mặc dù thấy rằng đây là một vấn để khá quan trọng, song
Trang 22MỞĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
‘rong khoảng mười năm cuối của thế ký XX - đầu thế kỷ XXI, ngành khảo
cổ học nước ta bất dầu di vào một lĩnh vực mới dó là khảo cổ học dưới nước Dưới
su giúp dỡ của các chuyên gia nước ngoài chúng ta đã phát hiện và khai quật thành
công năm con tâu cổ bị đắm ở vũng biển phía Nam của tổ quốc Việc Khai quật
thành công năm con tàu cổ đưa lại cho chủng ta nhiều kinh nghiệm về khai quật khảo cổ học dưới nước Song kết quả quan trọng hơn đó là việc dưa lên bờ hàng trâm ngàn hiện vật trong đó chủ yếu là gốm sứ
Thực chất đồ gốm cổ truyền hm lại tới ngày nay đã vượt qua giá trị sử dụng,
Trước hết, đồ gốm vừa là sản phẩm của thời đại, vừa là một phần bóng dáng
của mỗi tộc người, nhưng nó cồn là sản phẩm mang day đủ cá tỉnh của một con
người cụ thể Cho nên mỗi đổ gốm thực chất là một tác phẩm “cõng trên lưng”
những giá trị nhất định và giả trị của lịch sử xã hội Từ đố, người ta dễ đăng tìm
thấy được “hơi thở” của một quá khứ để thấy được vẻ đẹp truy:
tỉnh thẩn dân tộc mà cồn là bản sắc vău hồa được giữ gìu từ thế hệ này sang thế hệ
Hiện nay, gốm Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Song các
đợt khai quật khảo cổ học tại các trung lâm gốm cổ cững chỉ giúp các nhà nghiên
cứu tìm thấy chủ yếu hiện vật là dấu vết của lò nung (bao nung, con kẽ .), các mảnh vỡ Còn các sản phẩm nguyên lành, cao cấp dùng chơ trao đổi buôn bán thì
rất íL Điều nầy làm cho việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam gập rất nhiều khó
Trang 23Bảng mã chữ cái viết tất
AgNO¿: Hạc niorat
BaCl;: Bari clorit
CH;_ COOH: AxiLaxelic
(COOH);: Axrt Oxalic
EDTA: Axit ethylene diamine tetra acetic
EPEO: Phap quốc Viễn Đóng Bác Cổ học viện
HCI: AxH elohidric
LINQ, Axtt nitoric,
H;§O¿: AxiL sun[uric
TIF: Axit flohilrie,
ICOM: International Council Of Museum
ICOMOS: The International Council On Monuments and Sites PVA: Polyviny| axetal
ROV: May khao sat Remotely Operated Veniele
Th.S: Thae s¥.
Trang 24dựng do Emest He brand và Clarlcs Battcur chủ trì thiết kế với sự cộng Lắc của kỹ
suf MaxBepi va đến ngày 17/03/1932 thĩ hoàn thành trang lên Bảo tang Loui FimeL
(Musee Loui linot) trực thuộc Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện (HHEO) Đây được coi là một trong những tác phẩm kiến trúc đặc sắc và độc đáo của Đông,
Dung, vita hién dai lai vita mang bar ắc phương Đông
“Trong thời kỳ Pháp thuộc, Bảo tàng trưng bày nội dung tương đối tổng hợp, chủ yếu là bộ sưu tập hiện vật vùng Viễn Đông, đặc biệt là di sản văn hoá của các nước Đông Dương thuộc Pháp, trong đồ có Việt Nam.Tuy nhiên nội dung va tinh chất của Bảo tàng chủ yếu phục vụ cho công việc nghiên cứu về Đông Dương và
nhu cầu cổ ngoạn của giới nghiên cứu
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh dã ký sắc lệnh số 6Š ngày 23/11/1945 giao nhiệm vụ bảo Lồn di tích toàn côi Việt Nam:
cho Đông Dương Bác Cổ học viện (Việt Nam Orlental Instttut) — một cơ quan
mới làm nhiệm vụ thay thé cho Viễn Đông Bác Cổ đã bị bãi bỏ trong điểu 2 của
sắc lệnh, đồng thời đổi tên Bảo làng Loui Fimol thành Quốc gia Bảo làng viện
‘Thang 12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bảo tầng lại trở vẻ thủa ban đầu thuộc Pháp
Sau chiến thẳng Điện Bí
Phủ (07/05/1954) cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, miễn Hắc được hoàn toàn giải phóng, nhưng dến tận ngày 22/04/1958 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới tiếp nhận được
cơ sở bảo tầng từ tay chính phủ Pháp và dặt tên là Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt _Nam, trực thuộc Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch) Từ đó đến
nay, Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh các hoạt động
nghiệp vụ, mang lại cho Bảo từng một sắc thái mới phù hợp với loại hình và chức
nang cua minh
Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở bảo tàng từ tay chính phủ Pháp, Viên Bảo tàng
Lịch Sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toàn và ngày 03/09/1958 Bảo tầng đã
chính thức mỡ cửa với hệ thống trưng bày mới, giới thiệu cho khách tham quan về lịch sứ văn hóa Việt Nam từ thời tối cổ cho tới thời đạt kim khí, thời ¿ỳ phong
Trang 25MỞĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
‘rong khoảng mười năm cuối của thế ký XX - đầu thế kỷ XXI, ngành khảo
cổ học nước ta bất dầu di vào một lĩnh vực mới dó là khảo cổ học dưới nước Dưới
su giúp dỡ của các chuyên gia nước ngoài chúng ta đã phát hiện và khai quật thành
công năm con tâu cổ bị đắm ở vũng biển phía Nam của tổ quốc Việc Khai quật
thành công năm con tàu cổ đưa lại cho chủng ta nhiều kinh nghiệm về khai quật khảo cổ học dưới nước Song kết quả quan trọng hơn đó là việc dưa lên bờ hàng trâm ngàn hiện vật trong đó chủ yếu là gốm sứ
Thực chất đồ gốm cổ truyền hm lại tới ngày nay đã vượt qua giá trị sử dụng,
Trước hết, đồ gốm vừa là sản phẩm của thời đại, vừa là một phần bóng dáng
của mỗi tộc người, nhưng nó cồn là sản phẩm mang day đủ cá tỉnh của một con
người cụ thể Cho nên mỗi đổ gốm thực chất là một tác phẩm “cõng trên lưng”
những giá trị nhất định và giả trị của lịch sử xã hội Từ đố, người ta dễ đăng tìm
thấy được “hơi thở” của một quá khứ để thấy được vẻ đẹp truy:
tỉnh thẩn dân tộc mà cồn là bản sắc vău hồa được giữ gìu từ thế hệ này sang thế hệ
Hiện nay, gốm Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Song các
đợt khai quật khảo cổ học tại các trung lâm gốm cổ cững chỉ giúp các nhà nghiên
cứu tìm thấy chủ yếu hiện vật là dấu vết của lò nung (bao nung, con kẽ .), các mảnh vỡ Còn các sản phẩm nguyên lành, cao cấp dùng chơ trao đổi buôn bán thì
rất íL Điều nầy làm cho việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam gập rất nhiều khó
Trang 26Ngoài phần mở dâu, mục lục, tài liệu tran khảo, ảnh, Khoá luận được chủa làm 3 phần như sau:
Chương I: Khai quất về Hảo tang Lịch Sử Việt Nam và công tác Khai quật
khảo cổ họ dưới nước ở Việt Nam:
hương 2: Công tác bảo quân và phục đựng hiện vật gốm sứ khai quật được
từ các con tàu đắm tại Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Chương 3: Đánh giá, nhận xét và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tấp bảo quần và phục dựng hiện vật gốm sứ từ năm con tàu đắm ở Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Ngoài sự cố gắng của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ tận lũnh của
nhiều tận thể và cá nhân để cố thể hoàn thành tốt khoá luận của minh Qua đây em
xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa, T.S Nguyễn Dinh Chiến Trưởng phòng kiểm kẻ - bảo quản và các cán bộ Bảo tầng Lịch Sử Việt Nam, các bạn đồng môn Và đạc biệt gửi lời cắm ơn tới Th.S Nguyễn Sỹ Toắn — người trực trếp hướng dẫn em trong quá trình lâm khoá luận
Xin chan thanh cam ơn!
Trang 27Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam và cóng tác khai
quật khảo cổ học đưới nước ở Việt Nam
1.1 Vải nét về sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Để phục vụ cho những mục tiêu về kinh tế, chính trị, nhằm xác lập sự thống trị và khai thác các nước thuộc địa ở Đông Dương, ngày 25/12/1889 Đội khảo cổ liọc Đông Dương (Mission Archeologique dIndochine) dã dược thành lập nhằm: tiến hãnh các công trình nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ và các công trình văn hoá trên bán đáo Đông Dương
Năm 1889 sau các cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu xuyên Việt từ Nam ra Bắc, các nước Täo và Campuchia, Lousi Finot đã kiến nghị với chính quyền thuộc địa thành lập những co quan cần thiết ở Đông Dương đặc biệt là những cơ quan khoa học
Theo nghị dịnh ngày 20/10/1900 của toàn quyển Đông Dương phấp quốc
Viễn Đông Bác Cổ học viện (Birâncalsed Extrême Orlent) đã chính thức được thành lập tại Sài Giồn trên cơ sở là Đội khảo cổ học lĐông Dương tiến ngày 26/02/1901, Viễn Đông Bác Cổ học viện dã dời trụ sở tại Sài Gòn ra Hà Nội nhằm đấp ứng nhụ cầu trên
“Trong thời gian này, Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện đã tiến hành
những công trình nghiên cứu vẻ khoa học xã hội, đặc biệt là những công trình
nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ hợc, các kết quả kiểm kế, xếp hạng di tích
và việc xây dựng một số Bảo tàng đầu tiên trên đất Việt Nam
Năm 1910 phòng trưng bày Bảo tầng đầu tiên ra đời tại Hà Nội trực thuộc
Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đặt tại một ngôi nhà kiến trúc kiểu Phấp,
xây dựng năm I874 Ngôi nhà nay vốn là tư dinh của toàn quyền Đông Dương,
sau đó là trụ sở của hội đồng tư vấn người bản xứ, từ năm 1908 dược dùng làm nơi
tổ chức Đại học Đông Dương Sau Đại học Đông Dương chuyển đến trụ sở mới
ngôi nhã này dành cho [háp quốc Viễn Đông Hắc Cổ học viện làm trụ sở bảo tàng, 'Trụ sở mới của bảo tàng, nay là Hảo tăng Lịch Sử Việt Nam được toàn quyển
Đông Dương Mongai Lot thong qua Tháng 01/1926 toà nhà dược khởi công xây
Trang 28vật này, cùng với sự yêu thích của mình em mạnh dạn chọu dễ tài “Bước đầu tìm hiểu công tác bảo quản và phục dựng hiện vật gốm sử khai quật Uf ede con tu đắm tại Hảo tàng Lịch Sử Việt Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình Do đây
là vấn để mới và hiểu biết của em còn có hạn nên bài viết không tránh khôi những,
thiếu sói và nông hẹp Vậy em rất mong nhận được sự góp § của các thẩy cô và
những ai quan tâm tới vấn để này,
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu công tác bảo quản và phục dựng hiện vật gốm sứ từ các con tàu cổ
đã khai quật Từ đó đưa ra kiến nghị và để xuất những giải pháp nhằm làm cho công Lắc bảo quân và phục dựng hiện vật tại Bảo Làng Lịch Sử Việt Nam dược tối
hon
3.Bối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận là hiện vật gốm sứ khai quật
từ các cơn tầu cổ đang lưu giữ tại kho của Bảo tầng Tịch Sử Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
ĐỂ hoàn thành khoá luận này những phương pháp nghiên cứu chủ yếu mà em:
xử tụng bao gồm
- Phương pháp của bảo tăng học, phương pháp của chú nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phân loại, phổng vấn, phân tích tổng hợp các nguồn
tài Hệu để giải quyết những vấn đề mà khoá luận để cập đến
- Ngoài ra khoá luận còn sử dụng phương pháp vật lý, hoá học, sinh học,
phương pháp khảo cổ học
5 Đóng góp của đẻ tài
Khoá luận hoàn thành sẽ cung cấp nguồn lài hiệu tham khảo cho sinh viên,
các nhã nghiên cứu vã có những dóng gốp thực tiễn cho hoạt dộng của bảo tăng
6 Bố cục của khoá luận
Trang 29Bảng mã chữ cái viết tất
AgNO¿: Hạc niorat
BaCl;: Bari clorit
CH;_ COOH: AxiLaxelic
(COOH);: Axrt Oxalic
EDTA: Axit ethylene diamine tetra acetic
EPEO: Phap quốc Viễn Đóng Bác Cổ học viện
HCI: AxH elohidric
LINQ, Axtt nitoric,
H;§O¿: AxiL sun[uric
TIF: Axit flohilrie,
ICOM: International Council Of Museum
ICOMOS: The International Council On Monuments and Sites PVA: Polyviny| axetal
ROV: May khao sat Remotely Operated Veniele
Th.S: Thae s¥.
Trang 30Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam và cóng tác khai
quật khảo cổ học đưới nước ở Việt Nam
1.1 Vải nét về sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Để phục vụ cho những mục tiêu về kinh tế, chính trị, nhằm xác lập sự thống trị và khai thác các nước thuộc địa ở Đông Dương, ngày 25/12/1889 Đội khảo cổ liọc Đông Dương (Mission Archeologique dIndochine) dã dược thành lập nhằm: tiến hãnh các công trình nghiên cứu về lịch sử, ngôn ngữ và các công trình văn hoá trên bán đáo Đông Dương
Năm 1889 sau các cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu xuyên Việt từ Nam ra Bắc, các nước Täo và Campuchia, Lousi Finot đã kiến nghị với chính quyền thuộc địa thành lập những co quan cần thiết ở Đông Dương đặc biệt là những cơ quan khoa học
Theo nghị dịnh ngày 20/10/1900 của toàn quyển Đông Dương phấp quốc
Viễn Đông Bác Cổ học viện (Birâncalsed Extrême Orlent) đã chính thức được thành lập tại Sài Giồn trên cơ sở là Đội khảo cổ học lĐông Dương tiến ngày 26/02/1901, Viễn Đông Bác Cổ học viện dã dời trụ sở tại Sài Gòn ra Hà Nội nhằm đấp ứng nhụ cầu trên
“Trong thời gian này, Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện đã tiến hành
những công trình nghiên cứu vẻ khoa học xã hội, đặc biệt là những công trình
nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ hợc, các kết quả kiểm kế, xếp hạng di tích
và việc xây dựng một số Bảo tàng đầu tiên trên đất Việt Nam
Năm 1910 phòng trưng bày Bảo tầng đầu tiên ra đời tại Hà Nội trực thuộc
Pháp quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện, đặt tại một ngôi nhà kiến trúc kiểu Phấp,
xây dựng năm I874 Ngôi nhà nay vốn là tư dinh của toàn quyền Đông Dương,
sau đó là trụ sở của hội đồng tư vấn người bản xứ, từ năm 1908 dược dùng làm nơi
tổ chức Đại học Đông Dương Sau Đại học Đông Dương chuyển đến trụ sở mới
ngôi nhã này dành cho [háp quốc Viễn Đông Hắc Cổ học viện làm trụ sở bảo tàng, 'Trụ sở mới của bảo tàng, nay là Hảo tăng Lịch Sử Việt Nam được toàn quyển
Đông Dương Mongai Lot thong qua Tháng 01/1926 toà nhà dược khởi công xây
Trang 31Ngoài phần mở dâu, mục lục, tài liệu tran khảo, ảnh, Khoá luận được chủa làm 3 phần như sau:
Chương I: Khai quất về Hảo tang Lịch Sử Việt Nam và công tác Khai quật
khảo cổ họ dưới nước ở Việt Nam:
hương 2: Công tác bảo quân và phục đựng hiện vật gốm sứ khai quật được
từ các con tàu đắm tại Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Chương 3: Đánh giá, nhận xét và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tấp bảo quần và phục dựng hiện vật gốm sứ từ năm con tàu đắm ở Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam
Ngoài sự cố gắng của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ tận lũnh của
nhiều tận thể và cá nhân để cố thể hoàn thành tốt khoá luận của minh Qua đây em
xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa, T.S Nguyễn Dinh Chiến Trưởng phòng kiểm kẻ - bảo quản và các cán bộ Bảo tầng Lịch Sử Việt Nam, các bạn đồng môn Và đạc biệt gửi lời cắm ơn tới Th.S Nguyễn Sỹ Toắn — người trực trếp hướng dẫn em trong quá trình lâm khoá luận
Xin chan thanh cam ơn!
Trang 32khẩn Chính vì vậy mũ việc khai quật thành công năm con tâu đấm ở vùng biểu nứa Nam có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam
Và đây cũng là một bằng chứng vô cùng smh động cho việc nghiên cứu giao thương, quốc tế, bởi hiện vật tim thay khong chỉ là gốm sứ Việt Nam mà cồn có cả gốm sử Trung Quốc,Thái Tan và những hiện vật khác
Như chúng ta đã biết Việt Nam nằm ỡ vị trí thuận tiện vẻ giao thông cả
dường bộ lẫn dường biển Việc buôn bản với nước ngoài đã phát triển từ thế kỷ thứ
X ở phía Bắc, thư tịch cổ đã ghi thuyển buôn của nước ngoài cập bến dến quốc dỗ
Hoa Làr của Đại Cổ Việt dưới thời Đình Lê Sang thời Lý việc buôn bán với Trung Quốc và các nước Đông Nam á của Đại Việt phát triển mạnh hơn, đặc biệt là ở
thương cảng Vân Đồn Mặt khác ta cũng biết rằng bất đầu tif he ky XV “cou
đường tơ lựa trên biển” vốn đã hình thành trước đồ và ngay cũng giữ vai Irồ quan trọng Nắm trên con đường biển từ Đông sang Tây, trong thế kỷ XV, thương cảng quốc tế Vân Đền đón nhận tàu Trung Quốc xuống, tàu ở các nước Đông Nam á
lên Như vậy có thể nói rằng trong thé ky XV, Viel Nam liếp lục tham gia miộL
cách tích cực vào con đường tơ lụa trên biển, trong đó mặt hàng quan trọng nhất là
đồ gốm
Hién vật thu được tữ năm cơn lầu đấm là rất quï nhưng do lâu ngầy bị ngâm
ở dưới biển nên hầu hết các hiện vật gốm sứ đều có dấu hiệu bị hư hồng Nhiều hiện vật bị sứt, mẻ, bị vỡ, có hiện vật bị nhiễm muối nặng làm hỏng men Chính
bởi vậy mà công tác bảo quản được đặt ra kha cấp thiết chơ những đơn vị lưu giữ
hiện vật này Không những phải loại bỗ những tic nhân gây hại mà còn phải tiến hành phục dựng lại những hiện vật đã bị sứt mê tạo điểu kiện thuận lợi cho công
tấu nghiên cứu sau này Mặc dù thấy rằng đây là một vấn để khá quan trọng, song
Trang 33dựng do Emest He brand và Clarlcs Battcur chủ trì thiết kế với sự cộng Lắc của kỹ
suf MaxBepi va đến ngày 17/03/1932 thĩ hoàn thành trang lên Bảo tang Loui FimeL
(Musee Loui linot) trực thuộc Pháp quốc Viễn Đông Hác Cổ học viện (HHEO) Đây được coi là một trong những tác phẩm kiến trúc đặc sắc và độc đáo của Đông,
Dung, vita hién dai lai vita mang bar ắc phương Đông
“Trong thời kỳ Pháp thuộc, Bảo tàng trưng bày nội dung tương đối tổng hợp, chủ yếu là bộ sưu tập hiện vật vùng Viễn Đông, đặc biệt là di sản văn hoá của các nước Đông Dương thuộc Pháp, trong đồ có Việt Nam.Tuy nhiên nội dung va tinh chất của Bảo tàng chủ yếu phục vụ cho công việc nghiên cứu về Đông Dương và
nhu cầu cổ ngoạn của giới nghiên cứu
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh dã ký sắc lệnh số 6Š ngày 23/11/1945 giao nhiệm vụ bảo Lồn di tích toàn côi Việt Nam:
cho Đông Dương Bác Cổ học viện (Việt Nam Orlental Instttut) — một cơ quan
mới làm nhiệm vụ thay thé cho Viễn Đông Bác Cổ đã bị bãi bỏ trong điểu 2 của
sắc lệnh, đồng thời đổi tên Bảo làng Loui Fimol thành Quốc gia Bảo làng viện
‘Thang 12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bảo tầng lại trở vẻ thủa ban đầu thuộc Pháp
Sau chiến thẳng Điện Bí
Phủ (07/05/1954) cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, miễn Hắc được hoàn toàn giải phóng, nhưng dến tận ngày 22/04/1958 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới tiếp nhận được
cơ sở bảo tầng từ tay chính phủ Pháp và dặt tên là Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt _Nam, trực thuộc Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch) Từ đó đến
nay, Viện Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh các hoạt động
nghiệp vụ, mang lại cho Bảo từng một sắc thái mới phù hợp với loại hình và chức
nang cua minh
Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở bảo tàng từ tay chính phủ Pháp, Viên Bảo tàng
Lịch Sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toàn và ngày 03/09/1958 Bảo tầng đã
chính thức mỡ cửa với hệ thống trưng bày mới, giới thiệu cho khách tham quan về lịch sứ văn hóa Việt Nam từ thời tối cổ cho tới thời đạt kim khí, thời ¿ỳ phong
Trang 34khẩn Chính vì vậy mũ việc khai quật thành công năm con tâu đấm ở vùng biểu nứa Nam có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử gốm Việt Nam
Và đây cũng là một bằng chứng vô cùng smh động cho việc nghiên cứu giao thương, quốc tế, bởi hiện vật tim thay khong chỉ là gốm sứ Việt Nam mà cồn có cả gốm sử Trung Quốc,Thái Tan và những hiện vật khác
Như chúng ta đã biết Việt Nam nằm ỡ vị trí thuận tiện vẻ giao thông cả
dường bộ lẫn dường biển Việc buôn bản với nước ngoài đã phát triển từ thế kỷ thứ
X ở phía Bắc, thư tịch cổ đã ghi thuyển buôn của nước ngoài cập bến dến quốc dỗ
Hoa Làr của Đại Cổ Việt dưới thời Đình Lê Sang thời Lý việc buôn bán với Trung Quốc và các nước Đông Nam á của Đại Việt phát triển mạnh hơn, đặc biệt là ở
thương cảng Vân Đồn Mặt khác ta cũng biết rằng bất đầu tif he ky XV “cou
đường tơ lựa trên biển” vốn đã hình thành trước đồ và ngay cũng giữ vai Irồ quan trọng Nắm trên con đường biển từ Đông sang Tây, trong thế kỷ XV, thương cảng quốc tế Vân Đền đón nhận tàu Trung Quốc xuống, tàu ở các nước Đông Nam á
lên Như vậy có thể nói rằng trong thé ky XV, Viel Nam liếp lục tham gia miộL
cách tích cực vào con đường tơ lụa trên biển, trong đó mặt hàng quan trọng nhất là
đồ gốm
Hién vật thu được tữ năm cơn lầu đấm là rất quï nhưng do lâu ngầy bị ngâm
ở dưới biển nên hầu hết các hiện vật gốm sứ đều có dấu hiệu bị hư hồng Nhiều hiện vật bị sứt, mẻ, bị vỡ, có hiện vật bị nhiễm muối nặng làm hỏng men Chính
bởi vậy mà công tác bảo quản được đặt ra kha cấp thiết chơ những đơn vị lưu giữ
hiện vật này Không những phải loại bỗ những tic nhân gây hại mà còn phải tiến hành phục dựng lại những hiện vật đã bị sứt mê tạo điểu kiện thuận lợi cho công
tấu nghiên cứu sau này Mặc dù thấy rằng đây là một vấn để khá quan trọng, song
Trang 35Bảng mã chữ cái viết tất
AgNO¿: Hạc niorat
BaCl;: Bari clorit
CH;_ COOH: AxiLaxelic
(COOH);: Axrt Oxalic
EDTA: Axit ethylene diamine tetra acetic
EPEO: Phap quốc Viễn Đóng Bác Cổ học viện
HCI: AxH elohidric
LINQ, Axtt nitoric,
H;§O¿: AxiL sun[uric
TIF: Axit flohilrie,
ICOM: International Council Of Museum
ICOMOS: The International Council On Monuments and Sites PVA: Polyviny| axetal
ROV: May khao sat Remotely Operated Veniele
Th.S: Thae s¥.
Trang 36Bảng mã chữ cái viết tất
AgNO¿: Hạc niorat
BaCl;: Bari clorit
CH;_ COOH: AxiLaxelic
(COOH);: Axrt Oxalic
EDTA: Axit ethylene diamine tetra acetic
EPEO: Phap quốc Viễn Đóng Bác Cổ học viện
HCI: AxH elohidric
LINQ, Axtt nitoric,
H;§O¿: AxiL sun[uric
TIF: Axit flohilrie,
ICOM: International Council Of Museum
ICOMOS: The International Council On Monuments and Sites PVA: Polyviny| axetal
ROV: May khao sat Remotely Operated Veniele
Th.S: Thae s¥.
Trang 37Bảng mã chữ cái viết tất
AgNO¿: Hạc niorat
BaCl;: Bari clorit
CH;_ COOH: AxiLaxelic
(COOH);: Axrt Oxalic
EDTA: Axit ethylene diamine tetra acetic
EPEO: Phap quốc Viễn Đóng Bác Cổ học viện
HCI: AxH elohidric
LINQ, Axtt nitoric,
H;§O¿: AxiL sun[uric
TIF: Axit flohilrie,
ICOM: International Council Of Museum
ICOMOS: The International Council On Monuments and Sites PVA: Polyviny| axetal
ROV: May khao sat Remotely Operated Veniele
Th.S: Thae s¥.