1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - Vận dụng kiến thức xã hội để phân tích lý giải vấn đề Phụ nữ phải chi trả cho mọi thứ

23 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng kiến thức xã hội để phân tích lý giải vấn đề phụ nữ phải chi trả cho mọi thứ
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Khoa Học Xã Hội
Thể loại tiểu luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày đề tài và lý do chọn phân tích đề tàiTheo công bố báo cáo của ILO về khoảng cách trả tiền lương hiện nay,nam giới được trả lương cao hơn 20% so với nữ giới, đã đi ngược với ngu

Trang 1

CHƯƠNG I: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Trình bày đề tài và lý do chọn phân tích đề tài

Theo công bố báo cáo của ILO về khoảng cách trả tiền lương hiện nay,nam giới được trả lương cao hơn 20% so với nữ giới, đã đi ngược với nguyêntắc cơ bản trả lương bình đẳng cho công việc có giá trị như nhau, cụ thể là:Trong năm qua mức lương trung bình của lao động nam làm toàn thời gian là49.398 USD còn lao động nữ là 37.791 USD Ở nước ta vào năm 2016 thu nhậpcủa người làm công ăn lương cả nước là 5,066 triệu đồng/tháng, trong đó laođộng nam thu nhập 5,304 triệu đồng/tháng, cao hơn 11,6% so với lao động nữ là4,739 triệu đồng/tháng Hơn thế vào năm 2014 ở cùng trình độ học vấn, độ tuổi,

nữ giới vẫn nhận lương thấp hơn nam giới có cùng trình độ là 12,6% Nhữngnăm gần đây mặc cho thu nhập giữa lao động nam và nữ đã giảm, nhưng laođộng nam vẫn được nhận mức lương trung bình cao hơn lao động nữ Việc laođộng nam nữ được trả lương khác nhau chủ yếu là do định kiến xã hội vẫn còntồn tại

Ở nước ta tuy đang ở trong một xu thế mới, một thời đại mới thế nhưngvẫn còn khá nhiều những định kiến khắt khe với người phụ nữ khi họ gặp khókhăn cũng như trượt ngã, thậm chí người phụ nữ còn phải chịu sự bất công từtrong gia đình cho đến ngoài xã hội Vấn đề về bình đẳng giới cũng như giảithoát cho người phụ nữ đã và đang được xã hội và báo chí quan tâm một cáchkịch liệt và mạnh mẽ

Bình đẳng giới được nhận định là có tầm quan trọng trong quá trình pháttriển của đất nước Do đó bình đẳng giới được xem là trung tâm phát triển, làyếu tố đặc biệt tăng trưởng của quốc gia, hơn hết còn đóng góp trong việc xóađói giảm nghèo Bất bình đẳng gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cá nhânnói riêng và đất nước nói chung Nam và nữ bình đẳng với nhau không chỉ gópphần làm cho xã hội giàu mạnh, hiện đại mà trong gia đình còn là nguồn cơn của

Trang 2

hạnh phúc và nuôi dưỡng thế hệ trẻ tốt đẹp Bình đẳng nam nữ là nền tảng vănhóa của con người, của gia đình và cả xã hội.

Đây là vấn đề tuy mới nhưng cũ Nó vẫn đang ngày càng diễn ra trướcmắt ta thậm chí là nỗi ám ảnh với vô số người phụ nữ đang trong tình cảnh này

Do đó chúng em chọn đề tài: Vận dụng kiến thức xã hội để phân tích lý giải vấnđề: “Phụ nữ phải chi trả cho mọi thứ Đúng là họ nhận được ánh hào quang hơnđàn ông cho những thành tựu tương đương, nhưng họ cũng phải chịu nhiều taitiếng hơn khi trượt ngã” Khi đưa ra quyết định chọn đề tài này chúng em muốn

đi sâu vào nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam cụ thể là ở phụ

nữ và đưa ra một số biện pháp nhằm hạn chế tình trạng này

1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài

1.2.1 Mục đích chung

Tuy xã hội hiện nay đã bước vào thời đại mới, kỷ nguyên mới nhưng hiệntượng bất bình đẳng giới vẫn còn xuất hiện ở nhiều nơi Đây không phải là một

đề tài mới nhưng cũng chẳng được gọi là một đề tài “lỗi thời” Với mong muốn

đi sâu vào nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay và được đưa ra một

số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng này diễn ra để góp phần làm rõ các vấn đề

lý luận và thực tiễn thi thành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam, thúc đẩy tình hìnhphát triển kinh tế xã hội của đất nước, gia tăng việc làm, tạo cơ hội để bình đẳngtrong các lĩnh vực cho cả nam và nữ

1.2.2 Mục đích cụ thể

Để hiểu rõ hơn về vấn đề trước hết nên nắm bắt một số khái niệm cơ bản

để hệ thống lại cơ sở lý luận, thực tiễn về bình đẳng giới Từ đó đi sâu vào phântích, đánh giá vấn đề để nghiên cứu, giải thích hiểu rõ tình trạng bình đẳng giới,bất bình đẳng giới đã và đang diễn ra trong xã hội Khi đó sẽ thấy được nguyênnhân gây ra hiện tượng bình đẳng giới, bất bình đẳng giới để kịp thời đưa ra các

Trang 3

biện pháp khắc phục nhằm hạn chế tối đa tình trạng bất bình đẳng giới trên địabàn nghiên cứu.

1.3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Làm rõ một số khái niệm liên quan như: giới, giới tính, bìnhđẳng giới, chỉ số HDI, GEI… Và phân tích bình đẳng giới trong các lĩnh vực:giáo dục, hoạt động kinh tế là chủ yếu

Về lãnh thổ: phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ lãnh thổ Thành phố

Hồ Chí Minh gồm 19 quận và 5 huyện

Về thời gian: đề tài tập trung vào giai đoạn tháng 4/2023 đến tháng5/2023

1.3.2 Đối tượng nghiên cứu

Hiện nay với sự phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới, kinh tế ViệtNam đã có những bước phát triển vượt bậc, đời sống an ninh xã hội từng bước

đi vào ổn định Nhưng vẫn không thể loại bỏ được tình trạng bất bình đẳng giớitrong xã hội Việt Nam

Có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề này, mặt khác nhưchúng ta cũng nhìn nhận thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài,báo, truyền hình… luôn truyền bá các nghiên cứu khảo sát với nhiều thông tin

về vấn đề bất bình đẳng giới Rất nhiều ý kiến khác nhau về thực trạng bất bìnhđẳng giới ở nước ta hiện nay, vì vậy tôi xin nghiên cứu về thực trạng bất bìnhđẳng giới của nước ta hiện nay một cách chi tiết nhất, từ đó làm rõ nguyên nhân

về hiện tượng bất bình đẳng giới và nêu một số giải pháp nhằm hạn chế hiệntượng này ở Việt Nam

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu, tài liệu

Trang 4

Đây là phương pháp truyền thống, có được tính logic cao trong đề tài.Một số số liệu đã được công bố liên quan đến đề tài như: Tổng Cục thống kê,Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng điều tra dân số… Ngoài ra, còn có

số kiệu từ sách, tạp chí, bài báo, những luận văn trước đây Tác giả xử lý hiệuquả hơn khi dựa trên số liệu được thu thập từ cơ sở đó

1.4.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Tài liệu được thu thập xong, công việc kế tiếp là xử lý bằng các phươngpháp như phân tích, tổng hợp, so sánh… Việc sử dụng phương pháp phân tích sosánh tổng hợp có ý nghĩa quyết định đối với kết quả nghiên cứu của đề tài Khinghiên cứu các vấn đề bình đẳng giới, một trong những nguồn số liệu không thểthiếu là số liệu thống kê về quy mô, cơ cấu, tỷ lệ

1.4.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và đồ thị

Tác giả đã sưu tầm được bản đồ hành chính ở Thành phố Hồ Chí Minh.Ngoài ra, với phương pháp này việc minh họa bằng các biểu đồ trong đề tài trởnên sinh động, dễ hiểu hơn Chúng còn giúp chúng ta dễ dàng nhận thấy các mốiquan hệ không gian, giữa các thành phần, đối tượng địa lí một cách trực quan vànhanh chóng Cụ thể với phương pháp này, chúng ta có thể sử dụng nhiều dạngbiểu đồ cơ bản như biểu đồ cột, tròn để thể hiện quy mô, tốc độ dân số tăngtrưởng ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về bất bình đẳng giới

Từ lâu, các câu chuyện xoay quanh vấn nạn về bất bình đẳng giới đãchẳng còn xa lại gì với chúng ta Hay ta đã từng tự hỏi rằng đấy là khái niệmmuốn nói về cái gì? Ý nghĩa ra sao…? Còn vô số những thắc mắc khác kéo theo,trước hết ta vẫn cần phải hiểu rõ những khái niệm cơ bản “Bất” nghĩa là không,thể hiện trạng thái phủ định, trái ngược, “bình đẳng giới” là sự cân bằng, có giátrị ngang nhau về vị trí, địa vị, không có bất kì sự phân biệt nào giữa các giớitính khác nhau Nếu ghép hai khái niệm riêng biệt này lại, ta có thể hiểu rằng

“Bất bình đẳng giới” là sự đối xử khác biệt hay phân chia phần nhiều đối vớinam nữ về cơ hội tiếp cận, các phúc lợi cho và nhận… Hay nó có nghĩa là phụ

nữ và nam giới không có sự công bằng về quyền lợi, trách nhiệm đi kèm rủi ro

và không bình đẳng về tiếp cận cơ hội và khi ra quyết định

2.2 Biểu hiện của bất bình đẳng giới

Mặc dù Luật Bình đẳng giới được ban hành vào năm 2005 đã có nhiềuquy định đối với các chính sách nhằm bảo về và đòi công bằng giới tính tronggia đình đồng thời tại các luật liên quan đến Luật Hôn nhân và Gia đình cũng đãquy định rất rõ quyền lợi song song với trách nhiệm của từng cá nhân Tuynhiên, thực trạng các vấn nạn về giới tính trong gia đình nói chung, định kiếncùng với tâm lý “trọng nam, khinh nữ” ấy còn xuất hiện trong rất nhiều các giađình và một bộ phận cư dân xã hội Mối nguy ấy đã tạo rào cản đối với việc triểnkhai đòi quyền lợi về giới tính Vấn đề định kiến giới trong xã hội nói chung vàtrong gia đình nói riêng còn hiện hữu rất nhiều tại đời sống thực tế qua các biểuhiện sau:

Thứ nhất, ta có thể thấy sự bất bình đẳng về giới tính thể hiện rõ nhất từcâu chuyện về việc cha mẹ vì thích con trai nên lựa chọn giới tính thai nhi Tậncùng cái lương tâm đáng lên án ấy là việc làm thật ghê tởm Họ sẵn sàng vứt bỏ,nhẫn tâm tước đi sinh mạng của những đứa trẻ vô tội Vì họ cho rằng nếu sinh

Trang 6

con gái, bỏ công nuôi nấng dạy dỗ đến cuối cùng, gả đi là hết, là trở thành concủa người ta vì thế mà mọi thứ đều trở nên không còn giá trị Điều này khiến chocân bằng giới tính nói riêng ở Việt Nam bị tác động theo chiều hướng đáng báođộng và tuột dốc Năm 2021, tỷ số khi phụ nữ mang thai ở quốc gia ta là 111.5giới tính nam/100 giới tính nữ Từ xa xưa theo những quan niệm Nho giáo,

“công dung ngôn hạnh” và “tam tòng tứ đức” là những tiêu chuẩn, chuẩn mực

hà khắc mà thời đại phong kiến cổ hủ ấy ghì nặng lên phận người phụ nữ Đấy lànhững quy luật khuôn khổ ép thân phận người phụ nữ không có tiếng nói.Không được quyết định bất cứ chuyện gì mà phải theo sự chỉ định của ngườicha, người chồng hay thậm chí là con trai mình Thứ hai, bất bình đẳng giới vẫnluôn biểu hiện rất rõ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Ở nước ta, tỷ lệ biếtnhận thức được mặt chữ của nữ (từ 15 tuổi trở đi) các năm vừa qua thường thấphơn nam khoảng 1-4% Tiêu biểu ở một số trường đại học và cao đẳng, giảngviên nữ còn có học hàm, học vị thấp hơn đáng kể so với giảng viên là nam giới.Năm 2019, trong tổng số 24.083 giảng viên thực hiện công tác giảng dạy tại cáctrường đại học và cao đẳng trên toàn quốc thì chỉ có 8.708 giảng viên là nữ giới,đạt tỷ lệ 0,36% tổng số giảng viên Hiện nay, ngay cả trong ngành giáo dục đạihọc, ngành được cho là quan trọng nhất giữa những ngành nghề còn lại thì cácvấn đề về bình đẳng giới cũng không được thực thi một cách toàn diện

Trong lĩnh vực kinh tế, bất bình đẳng giới tính không còn gì là quá xa lạ.Thời phong kiến xưa, không biết từ bao giờ lại xuất hiện luồng tư tưởng chorằng việc đi làm không phải dành cho phụ nữ, họ không có đủ năng lực bằngnhững người nam mà chỉ nên ở nhà để lo chuyện sinh con và bếp núc Ngày nay,còn ý kiến cho rằng công việc mà những người phụ nữ làm thường được đánhgiá thấp hơn, đó thường rơi vào những công việc lao động chân tay Chẳng phải

họ không làm được những công việc trí óc mà một phần cũng là do các nhàtuyển dụng lại ưu ái hơn nhiều đối với phái nam Theo thống kê vào năm 2021,thu nhập bình quân tháng của lao động nam là 7,7 triệu đồng; thu nhập bìnhquân tháng của lao động nữ là 5,7 triệu đồng Như vậy, tiền lương bình quân

Trang 7

trong một tháng của lao động nam cao hơn nữ trung bình là khoảng 2,0 triệuđồng.

2.3 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về bất bình đẳng giới

Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, ngay từ thế kỉ XIX, các nhà tưtưởng vĩ đại, các lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản toàn thế giới đã khẳngđịnh: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thànhhiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khicông việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”.Hay C.Mác và Ph.Ăng Ghen đã từng tố cáo chế độ bóc lột kiểu tư bản chủ nghĩađối với lao động nữ, sau khi họ được các nhà tư bản mua về, họ bị bóc lột laođộng đến kiệt sức trong điều kiện không đảm bảo vệ sinh, bệnh tật, tử vong…Ngày xưa, phụ nữ phải sống và làm việc gần như không lương trong nhữngcông xưởng của tư bản chủ nghĩa Ngay cả khi họ đang mang thai và nuôi con

bú thì họ cũng buộc phải làm việc quần quật và không được phép nghỉ khi con

ốm đau Người phụ nữ phải vào công xưởng làm việc trong điều kiện vô cùngkhó khăn với đồng lương rẻ mạt và không đủ nuôi sống gia đình họ C.Mác cũngchỉ ra rằng tỷ lệ bị lao phổi của các phụ nữ lúc nào cũng cao hơn so với nam giới(643/1000 người bị bệnh lao phổi là phụ nữ) Theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen là dochế độ làm việc trong công xưởng tư sản đã không chú ý đến các đặc tính củaphụ nữ hơn nam giới, do đó giới chủ không nhận ra có những khác biệt giữa phụ

nữ và nam giới, khiến phụ nữ làm việc lẫn lộn với nam giới và làm phụ nữ mắcbệnh do môi trường không đảm bảo vệ sinh

Trong hôn nhân và gia đình, C.Mác cũng đã phơi bày những vấn nạn suyđồi và đạo đức giả tạo của xã hội và các gia đình tư bản, qua việc biến cơ thểngười phụ nữ thành những món hàng hóa rẻ mạt, họ coi người đàn bà trở thànhcông cụ sản xuất cũng trở thành công cụ của con người Theo ông thấy, nhữngngười tư bản chỉ xem vợ mình như một công cụ sản xuất, đây là lý do nhữngngười phụ nữ bị biến thành những thứ vô cùng rẻ mạt vì được đem ra dùng

Trang 8

chung Những kẻ tư bản ấy tự mặc định cho mình tư tưởng phụ nữ đều phải gắnvới cái mác số phận vị xã hội hóa và chà đạp Các “ngài” tư bản chưa thỏa mãnbản thân là đã có sẵn vợ hay con gái của tầng lớp vô sản để dùng Chưa kể để cáitính thú mại dâm công khai đấy mà các kẻ tư sản kia còn mang việc cắm sừnglẫn nhau ra và xem đấy như một chiến tích hay một thú vui đặc biệt.

Quan điểm và tư tưởng của C.Mác về giải thoát cho số phận bi thươngcủa người phụ nữ đâu đó vẫn còn nguyên giá trị hiện hữu trong cuộc sống ngàynay, đặc biệt là về việc nâng cao vị thế cũng như địa vị của người phụ nữ trongcác lĩnh vực như: xã hội, gia đình, trong một môi trường có điều kiện làm việcthuận lợi và được trả lương xứng đáng

Trang 9

CHƯƠNG 3: PHẦN NỘI DUNG 3.1 Thực trạng bất bình đẳng giới trong xã hội Việt Nam

Tính đến hiện tại thì người phụ nữ dần có tiếng nói hơn trong xã hội, từcông việc cho đến cuộc sống cũng thay đổi hơn đáng kể Mặc dù việc đảm bảoquyền bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có tiến bộ vượt bậchơn so với trước, phụ nữ và nam giới đều có sự bình đẳng về các lĩnh vực trongcuộc sống như gia đình, chính trị - xã hội, giáo dục, lao động – việc làm Songsong, việc thực hiện quyền bình đẳng này vẫn còn nhiều hạn chế nhất định

3.1.1 Về chính trị - xã hội

Khoảng cách giữa người phụ nữ và đàn ông vẫn còn quá lớn Việc thamgia vào chính trị của phụ nữ còn rất là ít Trong lĩnh vực công tác cán bộ, tỷ lệ nữlàm trong công việc này vẫn còn rất thấp Các chính sách và cơ chế công tác cán

bộ nữ chưa được triển khai một cách cụ thể Ở lĩnh vực kinh tế, nam giới luônluôn có nguồn thu nhập cao hơn so với nữ giới khi tiếp cận những việc làm cónguồn thu nhập cao Các chiến lược quốc gia bình đẳng giới về lao động, đàotạo… có đặt ra một số chỉ tiêu nhưng vẫn chưa có thể đạt được Vào năm 2013,Tổng cục Thống kê đã đưa ra số liệu về lao động nữ ở nông thôn dưới 45 tuổi đãđạt 11,8% đã được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật, chiếm gần bằng mộtnửa so với chỉ tiêu đã đặt ra Người phụ nữ luôn luôn kiếm được ít thu nhập vàkhông được bảo vệ từ xã hội

3.1.2 Về lao động – việc làm

Trong giai đoạn ngày nay, bình đẳng giới về lao động và việc làm chính làmột trong những vấn đề này vô cùng quan trọng và cần thiết Điều này đượcthấy rõ trong việc phân biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế

Thị trường lao động của Việt Nam trong các năm qua đã có sự thay đổiliên tục về quy mô dân số và cung cấp được một nguồn nhân lực vô cùng lớnnhớ tỷ lệ cơ cấu dân số vàng Trong khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam có tỷ lệ

Trang 10

tham gia vào lao động cao nhất lên đến 76,8% và lực lượng tham gia vào laođộng trong độ tuổi từ 25-49 chiếm tỷ lệ rất là cao với 95,2%-96,7% Tỷ lệ thamgia lao động ở nữ giới là 76,8% và nam giới là 81,9% (chênh lệch nhau 5,1%),đây được xem là một tỷ lệ khá cao ở nữ giới trong thời đại ngày nay Dù thế thìngười phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều bất bình đẳng về việc làm bởi vẫn còn

sự phân biệt không tương đối giữa nam và nữ Vào năm 2019, vùng Đồng BằngSông Cửu Long có tỷ lệ tham gia lao động ở nam và nữ rất cao, trong đó namchiếm 83,3% và nữ chiếm 66,1% (chênh lệch nhau 17,7%), vùng Đông Nam Bộ

có tỷ lệ tham gia lao động lần lượt là 79,1% và 64,2% (chênh lệch 14,9%), vùngBắc Trung Bộ và Duyên Hải có tỷ lệ lần lượt là 83,3% và 75,2% (chênh lệch8,1%), Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ 76,8% và 70,8% (chênh lệch 6%), Trung

du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ thấp nhất cả nước (chênh lệch 3,5%) với 84,5%

và 88%

Quy mô lao động có việc làm trong nền kinh tế cũng liên tục tăng từ năm2017-2019, chỉ số tăng từ 53,7 – 54,6 triệu người, trong đó lao động nam tăng từ27,9 đến 28,8 triệu người, lao động nữ tăng từ 25,8 đến 25,9 triệu người Việctăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp – dịch vụ và giảm tỷ trọng laođộng trong khu vực nông lâm thủy sản nhờ sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế luônthay đổi qua từng thời gian Có thể thấy, lao động tự làm ở nam giới và ở nữ giớicủa Việt Nam đang có sự tương đương nhau Đã có sự thay đổi nền kinh tếnhưng phụ nữ vẫn có nguy cơ trở thành lao động gia đình cao gấp đôi hơn so vớinam giới Điều đó được chứng minh rằng trong năm 2019, có đến 2/3 lao độnggia đình là phụ nữ (khoảng 5 triệu người) và 1/4 phụ nữ nông thôn có việc làm(khoảng 17,6 triệu lao động) so với 2,7 triệu lao động gia đình là nam giới, đãchiếm 13% của tổng số việc làm của nam giới ở nông thôn (19,5 triệu người)

Tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận việc làm ở nam giới có công việc ổn định luôncao hơn so với nữ giới và đa phần nữ giới luôn gặp những bất lợi hơn Tỷ lệ cơcấu trong lao động kinh tế có việc làm ở phụ nữ chiếm 43% làm công ăn lương

Trang 11

so với 51,4% nam giới có việc làm Trong khi lao động gia đình không được trảcông ở nam giới là 9,2% cao hơn nữ giới gấp 2 lần Năm 2017-2019 tỷ lệ làmcông ăn lương tăng liên tục từ 37,9%-43%, những số liệu này đã đạt tính khả thivới những mục tiêu của “Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trong giai đoạn2021-2030” với mục tiêu thứ 1 là “Tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởnglương vào khoảng năm 2015 đạt đến 50% và khoảng năm 2030 đạt 60%” Mụctiêu thứ 2 của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới cũng đề ra “Giảm tỷ trọnglao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ cóviệc làm xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030” Năm

2019, lĩnh vực nông nghiệp đang có xu hướng giảm dần, tuy nhiên vẫn chiếm tỷ

lệ tương đối với 35,9% ở nữ giới và 33,2% ở nam giới

3.1.3 Trong gia đình

Trong gia đình, vẫn còn nhiều người có lối suy nghĩ tư tưởng gia trưởngcùng với sự thay đổi chậm chạp của ý thức xã hội và hầu như nam giới chưa thayđổi quan niệm về trụ cột của mình với gia đình, chính họ tự đặt mình vào trọngtrách lớn hơn Điều đó đã làm cho người phụ nữ không thể tự quyết định mìnhmuốn gì và làm cái gì Với lối suy nghĩ rằng công việc của người phụ nữ chỉ cóthể quanh quẩn như nội trợ, sinh đẻ và chăm sóc con cái, còn người phụ nữ thìluôn cảm thấy tự ti, luôn nghĩ mình là người hỗ trợ cho vai trò trụ cột của chồng.Cũng nhờ vậy mà người phụ nữ luôn bó mình trong một khuôn và để ngườichồng quyết định hết tất cả

3.1.4 Trong giáo dục

Trong xã hội phong kiến

Chế độ phong kiến đã đối xử bất công với nữ giới và khiến họ đã bị ràngbuộc trong nhiều thứ do quan niệm “Trọng nam khinh nữ” Giáo dục cũngkhông ngoại lệ, người phụ nữ sẽ không được phép đến trường, đi học và tấtnhiên là trong các cuộc thi cử sẽ không được tham gia “Trí dục”, “Đức dục”gắn liền với tư tưởng của “Nho giáo” trong thời đại phong kiến về việc học và

Ngày đăng: 17/06/2025, 22:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w