Nhà thờ được xây dựng từ năm 1875 đến năm 1899, “là một công trình kiến trúc nổi tiếng, quy mô lớn và giá trị nghệ thuật cao, kết hợp hài hòa giữa kiến trúc đình chùa truyền thống Việt N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
KHOA VĂN HỌC
TIỀU LUẬN CUỐI KÌ II NĂM HỌC 2024 – 2025
SỰ GIAO THOA VĂN HÓA ĐÔNG – TÂY TRONG NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC CỦA
NHÀ THỜ PHÁT DIỆM
Mã lớp: 24601 Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Hoàng Minh Phúc
Môn học: Đại cương Nghệ thuật học Sinh viên thực hiện: Lê Hoàng Yến Vy
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2025
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ THỜ PHÁT DIỆM TRONG BỐI CẢNH TIẾP XÚC VĂN HÓA ĐÔNG – TÂY Ở VIỆT NAM 3
1.1 Sự xuất hiện và quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam 3
1.1.1 Bối cảnh lịch sử ở Việt Nam cuối thế kỷ XVI 3
1.1.2 Sự can thiệp của phương Tây và quá trình hình thành Thiên Chúa giáo ở Việt Nam 3
1.2 Sự hình thành và phát triển của Nhà thờ Phát Diệm trong thời kỳ đạo Thiên Chúa phát triển mạnh mẽ 6
CHƯƠNG II: SỰ GIAO THOA VĂN HÓA ĐÔNG – TÂY TRONG KIẾN TRÚC NHÀ THỜ ĐÁ PHÁT DIỆM 6
2.1 Sơ lược kiến trúc Nhà thờ Phát Diệm 6
2.2 Sự kết hợp giữa đặc trưng Á Đông với phong cách phương Tây trong một số tòa kiến trúc của Nhà thờ Phát Diệm 7
2.2.1 Phương Đình 8
2.2.2 Nhà thờ Lớn kính Đức mẹ Mân Côi 10
2.2.3 Nhà thờ kính Trái tim Đức Mẹ 12
2.2.4 4 Nhà nguyện trong Nhà thờ Phát Diệm 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 15
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhà thờ đá Phát Diệm là một công trình kiến trúc đặc biệt tọa lạc tại Thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Đây là địa danh nổi bật trong hệ thống các công trình tôn giáo tại Việt Nam và được đánh giá là quần thể nhà thờ Công giáo đẹp nhất Việt Nam và cũng là nhà thờ Công giáo duy nhất ở Việt Nam được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích Lịch
sử Văn hóa cấp quốc gia năm 1988 Một minh chứng rõ ràng cho tầm vóc và giá trị của công trình này trong dòng chảy văn hóa dân tộc
Nhà thờ được xây dựng từ năm 1875 đến năm 1899, “là một công trình kiến trúc nổi tiếng, quy mô lớn và giá trị nghệ thuật cao, kết hợp hài hòa giữa kiến trúc đình chùa truyền thống Việt Nam với lối kiến trúc tôn giáo Phương Tây” (Nhà thờ Phát Diệm - Một công trình kiến trúc Công giáo phong cách Á Đông đặc sắc, 2014) Từng chi tiết, đường nét, hoa văn hay các tòa kiến trúc đồ sộ dưới bàn tay của Linh mục Trần Lục đều được điêu khắc tỉ mỉ, mỗi chi tiết đều mang đậm giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc, khiến cho kiến trúc nhà thờ trở thành biểu tượng Công giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Trải qua hơn 150 năm hình thành và phát triển, các công trình trong quần thể nhà thờ vẫn còn nguyên vẹn, những giá trị của nhà thờ đá Phát Diệm vẫn luôn là thành trì vững chắc, tồn tại và phát triển bền vững trong hơn một thế kỷ qua, bất chấp sự khốc liệt của không gian
và thời gian
Chính vì vậy, đề tài này không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu về nghệ thuật kiến trúc độc đáo trong lối xây dựng của Nhà thờ đá Phát Diệm, mà còn để khám phá những giá trị văn hóa, nghệ thuật, lịch sử ẩn chứa trong công trình Công giáo này Từ đó làm sáng tỏ những giá trị trong sự giao thoa giữa lối kiến trúc đậm nét Á Đông và sự kết hợp hài hòa của nghệ thuật phương Tây, góp phần khẳng định vai trò, vị thế của Nhà thờ Phát Diệm tạo nên một quần thể nhà thờ Công giáo mang đậm giá trị của thời đại
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm giới thiệu về đặc điểm của nghệ thuật kiến trúc phương Đông và phương Tây được áp dụng trong lối xây dựng Nhà thờ Phát Diệm, đồng thời nêu lên giá trị của công trình Công giáo nơi đây qua sự tồn tại của thời đại lịch sử, đồng thời khẳng định tiến bộ trong nghệ thuật kiến trúc thông qua việc tiếp nhận nghệ thuật phương Tây và kết hợp nó với truyền thống Á Đông đem lại một kiệt tác có giá trị lớn
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ THỜ PHÁT DIỆM TRONG BỐI CẢNH TIẾP XÚC VĂN HÓA ĐÔNG – TÂY Ở VIỆT NAM
1.1 Sự xuất hiện và quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam
1.1.1 Bối cảnh lịch sử ở Việt Nam cuối thế kỷ XVI
Từ cuối thế kỷ XVI, đất nước ta trải qua sự tranh giành quyền lực giữa hai dòng họ Trịnh
và Nguyễn trong triều đình nhà Lê Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê giao cai quản vùng đất Thuận Hóa (phía Nam), từ đó hình thành sự phân chia quyền lực giữa hai dòng họ, đồng thời tạo cơ sở cho sự hình thành của Đàng Trong sau này Trong khi nhà Lê còn đang tồn tại, cuộc tranh chấp Trịnh – Nguyễn vẫn diễn ra ngày càng gay gắt, không thể giải quyết dứt điểm dẫn đến tình trạng đất nước bị chia cắt và các thế lực giữa hai dòng họ bắt đầu đối đầu nhau Sau sự kiện vua Lê Thế Tông qua đời năm 1548, triều đình nhà Lê đã suy yếu từ lâu nay chỉ còn tồn tại dưới dạng hình thức, quyền lực thực tế nằm trong tay Chúa Trịnh (Đàng Ngoài) và Chúa Nguyễn (Đàng Trong) Chính sự mâu thuẫn, tranh giành quyền lực giữa hai thế lực đã tạo điều kiện cho các cuộc đối đầu nhằm giành lấy quyền lực và mở rộng lãnh thổ Đến cuối thế kỷ XVI, trước mâu thuẫn ngày càng lớn, cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn chính thức bùng nổ và kéo dài cho đến thế kỷ XVIII nhằm tranh giành lãnh thổ, quyền lực và sức ảnh hưởng Các trận đánh lớn bắt đầu hình thành, đặc biệt là cuộc chiến giữa Trịnh Tùng
và Nguyễn Hoàng, đã khiến cho sự chia rẽ ngày càng trở nên sâu sắc hơn Cuối cùng cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn đã dẫn đến sự chia cắt đất nước thành hai phần: Đàng Ngoài (do Chúa Trịnh cai quản) ở miền Bắc và Đàng Trong (do Chúa Nguyễn cai quản) ở miền Nam, lấy sông Gianh làm giới tuyến chia cắt hai miền đất nước
1.1.2 Sự can thiệp của phương Tây và quá trình hình thành Thiên Chúa giáo ở Việt
Nam
Trước sự suy yếu của chính quyền nhà nước trung ương cùng với đó là sự xuống cấp của giáo dục, Nho giáo ở Việt Nam ngày càng suy thoái Ngoài ra, các chùa chiền Phật giáo được tu sửa và xây dựng thêm ở các làng, xã nhưng lại không có điều kiện để phát triển thịnh vượng như thời Lý – Trần Sự suy thoái của Nho giáo và sự phát triển không mấy tích cực của đạo Phật trở thành điều kiện, cơ sở vững chắc cho đạo Thiên Chúa sau này trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam Hơn nữa, “từ giữa thế kỷ XVI, các nhà hàng hải Châu Âu đặt chân lên Đại Việt ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là vùng đất Đàng Trong” (Quan hệ thương mại của các nước phương Tây với Đàng Trong của Đại Việt ở các thế kỷ XVII - XVIII: Một số đặc điểm
Trang 5chính, 2016) nhờ vào chính sách đối ngoại của Chúa Nguyễn, cũng vì thế mà các giáo sĩ phương Tây có cơ hội truyền đạo ở nước ta lúc bấy giờ
Tuy nhiên, có nhiều nhà sử học chọn năm 1533 là cột mốc khởi đầu cho đạo Thiên Chúa tại Việt Nam vì “tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, có người Tây dương tên I-Nê-Khu, lén đến truyền đạo Giatô ở làng Ninh Cường, xã Quần Anh, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy” (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập
2, 1884, trang 301) Trên cơ sở đó, Giáo hội Công giáo Việt Nam ghi nhận đây là cột mốc đầu tiên Công giáo du nhập vào Việt Nam và là sự khởi đầu cho giao lưu văn hóa và tư tưởng Đông – Tây ở nước ta Những năm sau đó, các linh mục, giáo sĩ phương Tây đã bắt đầu hành trình truyền đạo tại một số vùng ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài
Giai đoạn mở đạo chính thức (1615 – 1659) hay còn gọi là thời kỳ các giáo sĩ dòng Jésuites (dòng Tên) là lúc công cuộc truyền giáo bắt đầu được mở rộng và thực sự đạt hiệu quả “Từ năm 1615 trở đi khi trung tâm truyền giáo của Bồ Đào Nha cử hai giáo sĩ Francois Bujomi và Diego Carvalho sang Hải Phố, Quảng Nam thì việc truyền bá Công giáo ở Việt Nam mới thực sự bắt đầu” (Dấu ấn lịch sử thời Pháp thuộc trong kiến trúc các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945), 2008) Ở Đàng Trong, công cuộc truyền giáo bắt đầu từ năm 1615, các giáo sĩ phương Tây bắt đầu học tiếng Việt và bắt tay vào việc La tinh hóa chữ Việt nhằm truyền đạo dễ dàng hơn
“Các giáo sĩ còn xây dựng một nhà nguyện và nhờ các thông ngôn người Việt và Nhật để giảng đạo bằng tiếng Việt, điều đó đã đem lại kết quả khả quan khi một năm sau đó, số người theo đạo Thiên Chúa đã lên đến 300 người” (Dấu ấn lịch sử thời Pháp thuộc trong kiến trúc các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945), 2008) Việc sử dụng tiếng Việt để truyền đạo đã giúp các thừa sai dòng Tên thích ứng giáo lý của đạo vào phong tục người Việt, dùng tiếng Việt để dễ truyền đạt những khái niệm Công giáo còn rất mới với người Việt Đây là những cử chỉ hội nhập văn hóa đầu tiên “Các thừa sai biên soạn giáo lý, sáng tác kinh nguyện thơ văn bằng chữ Nôm, chữ Quốc ngữ với sự trợ giúp của các thầy giảng có học thức như cụ Gioakim, sư cụ chùa Phao, sư cụ Manuel, cụ Nghè Giuse… Đáng kể nhất là các thừa sai Gaspar d’Amaral, António Barbosa, Girolamo Majorica (người Ý), đặc biệt là cha Đắc Lộ với những tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ
đầu tiên ấn hành ở Rôma năm 1651: Phép Giảng Tám Ngày, Từ điển Việt-Bồ-La và Ngữ pháp
tiếng An Nam” (Cuộc hội nhập văn hóa của Giáo hội Công Giáo Việt Nam (1533-2019)) Dù
chỉ là giai đoạn mở đầu Công giáo du nhập vào Việt Nam nhưng việc truyền đạo diễn ra khá thuận lợi và các giáo sĩ dòng Tên đã đạt được những thành tựu nhất định như: hình thành chữ
Trang 6Quốc ngữ trên cơ sở tiếng Việt, tác phẩm Từ điển Việt-Bồ-La, giáo lý “Phép Giảng Tám Ngày”,
Với những thành tựu đó, Công giáo đã có cơ hội phát triển tại Việt Nam và bắt đầu thâm nhập sâu vào các tầng lớp cao hơn trong giới cầm quyền “Bằng những cách thức khôn khéo
và sự thông thạo tiếng Việt của mình, A.De Rhodes đã tìm cách mua chuộc, kết thân và tạo mối quan hệ gần gũi với các quan lại, vua chúa trong triều đình” (Quan hệ thương mại của các nước phương Tây với Đàng Trong của Đại Việt ở các thế kỷ XVII - XVIII: Một số đặc điểm chính, 2016) Tuy nhiên, đến thời Chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648) “bắt đầu tỏ ra bất bình trước công cuộc truyền bá đạo Giatô và những người Bồ Đào Nha đã đưa cha De Rhodes sang thúc giục cha lên tàu trở về cùng với họ khi đã xong việc” (B.Maybon, 2006), và cũng
từ đây công cuộc truyền đạo của các giáo sĩ phương Tây trở nên khó khăn hơn Năm 1639, Công Thượng Vương (Chúa Nguyễn Phúc Lan) ra lệnh buộc các giáo sĩ phương Tây phải rời khỏi Đàng Trong ngay lập tức, nếu “không tuân sẽ phải án tử hình” (Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, quyển I, 2009, trang 245) Sau đó chính quyền Chúa Nguyễn còn một số lần trục xuất các giáo sĩ dòng Tên khỏi lãnh thổ trong những năm 1641, 1645, “thậm chí trong năm
1644, một thầy giảng có tên Andrea còn bị hành quyết” (Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, quyển I, 2009, trang 165 - 168), năm 1645, giáo sĩ A.De Rhodes cũng bị trục xuất khỏi Đàng Trong Kể từ đó, các lệnh cấm đạo bắt đầu hình thành Ngoài ra, sự mâu thuẫn, bất hòa giữa các giáo sĩ dòng Tên với các giáo sĩ thuộc Hội Thừa sai Paris trong việc cạnh tranh phạm vi ảnh hưởng cũng là một trong những khó khăn của công cuộc truyền đạo Đến năm 1774, Hội Dòng Tên bị giải tán, Hội Thừa sai nắm ưu thế truyền đạo ở Đàng Trong và bắt đầu thiết lập phạm vi ảnh hưởng của hội
Mãi đến năm 1802 khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, hiệu Gia Long, Công giáo mới được cho phép truyền bá một cách tự do Đạo Thiên Chúa trong thời kì này đã chuyển mình sang một giai đoạn mới, việc truyền giáo tuy không có nhiều thành tựu nhưng chất lượng giảng đạo được nâng cao Tuy nhiên đến các triều đại tiếp theo, Triều Minh Mạng (1820 – 1840), Triều Thiệu Trị (1841 – 1847), Triều Tự Đức (1848 – 1883), lại tiếp tục ban hành các chính sách cấm đạo gay gắt Chỉ đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta năm 1858, vua Tự Đức
do muốn chuộc lại ba tỉnh Đông Nam kỳ và ba tỉnh Tây Nam kì nên đã ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và Hiệp ước Giáp Tuất (1874), công khai thừa nhận Thiên Chúa giáo theo yêu cầu của thực dân Pháp Dưới sự bảo hộ của Pháp, đạo Thiên Chúa có điều kiện phát triển mạnh mẽ và lan rộng phạm vi ảnh hưởng sau này
Trang 71.2 Sự hình thành và phát triển của Nhà thờ Phát Diệm trong thời kỳ đạo Thiên Chúa
phát triển mạnh mẽ
Nhà thờ Phát Diệm thuộc thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Nhà thờ
đá Phát Diệm được bắt đầu xây dựng từ năm 1875 đến năm 1899 bởi Cha Phêrô Trần Lục, hay còn gọi là Cụ Sáu Trong suốt 34 năm làm chính xứ Phát Diệm, bên cạnh việc làm tròn bổn phận của một vị linh mục, cụ đã tự thiết kế, tổ chức xây dựng nên quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm độc đáo với nhiều công trình đồ sộ, vững chắc với lối kiến trúc đậm nét Á Đông vẫn còn tồn tại đến ngày nay
Trải qua quá trình xây dựng và phát triển lâu dài, nhà thờ Phát Diệm thuộc giáo phận Phát Diệm là một trong những giáo phận sớm nhất và có số lượng các tín đồ Công giáo lớn của Việt Nam “Đến cuối thế kỷ XIX, có 50.000 giáo dân, năm 2006 đã có 152.039 giáo hữu, bên cạnh đó cũng có nhiều làng toàn tòng, nghĩa là cả làng đều theo đạo” (Dấu ấn lịch sử thời Pháp thuộc trong kiến trúc các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945), 2008) Tại địa phận Phát Diệm, đạo đã du nhập vào đời sống của nhân dân Việt Nam thành công cũng như thiết lập phạm vi ảnh hưởng nhất định, góp phần vào cuộc giao lưu văn hóa Đông – Tây ở đất nước ta Đặc biệt hơn, sự giao thoa văn hóa Đông – Tây được họa lại rõ nét trong đặc điểm kiến trúc của Nhà thờ đá Phát Diệm, phản ánh những dấu ấn lịch sử của đất nước trong giai đoạn Pháp thuộc
CHƯƠNG II: SỰ GIAO THOA VĂN HÓA ĐÔNG – TÂY TRONG KIẾN TRÚC NHÀ
THỜ ĐÁ PHÁT DIỆM 2.1 Sơ lược kiến trúc Nhà thờ Phát Diệm
Các công trình kiến trúc của Nhà thờ Phát Diệm mang nhiều dấu ấn của kiến trúc phương Tây Vì được khởi công xây dựng vào thời kì Pháp thuộc, lúc bấy giờ, các giáo sĩ truyền đạo vào nước ta chủ yếu là các giáo sĩ người phương Tây, cũng nhờ đó mà “làn sóng” nghệ thuật phương Tây như: Romanesque, Gothique, Baroque, ảnh hưởng rất nhiều đến kiến trúc của các nhà thờ Thiên Chúa giáo trong thời kì này, bao gồm cả Nhà thờ Phát Diệm Tuy nhiên, kiến trúc của Nhà thờ Phát Diệm đặc biệt ở chỗ vẫn giữ được nét Á Đông đặc trưng và không làm mất đi giá trị truyền thống của người Việt Đó là sự tiếp nhận văn hóa bên ngoài một cách linh hoạt của người Việt, là sự giao thoa văn hóa Đông – Tây khéo léo mà tinh tế, nhuần nhị tạo nên tinh hoa của quần thể nhà thờ ở vùng đất Ninh Bình này
Quần thể Nhà thờ Phát Diệm bao gồm các công trình: Nhà thờ Trái tim Đức mẹ (Nhà thờ đá), Nhà thờ Trái tim Chúa Giê-su, Nhà thờ Lớn (Nhà thờ Đức mẹ Mân Côi), Nhà nguyện
Trang 8Thánh Rô-cô, Nhà nguyện Thánh Phê-rô, Nhà nguyện Thánh Giu-se, Phương Đình, tất cả những công trình trên tọa lạc trên vùng đất rộng khoảng 22 ha Nhà thờ Phát Diệm vừa là sự kết hợp hài hòa, đặc sắc giữa nghệ thuật kiến trúc phương Đông và phương Tây, vừa là di sản đắt giá của thế hệ cha ông để lại
Hi ̀nh 1 Khuôn viên quần thể Nhà thờ Phát Diệm (Nguồn: maivantran.com)
2.2 Sự kết hợp giữa đặc trưng Á Đông với phong cách phương Tây trong một số
tòa kiến trúc của Nhà thờ Phát Diệm
Hi ̀nh 2 Sơ đồ cấu trúc Nhà thờ Phát Diệm (Nguồn: Vietnamese Missionaries in Asia Home Page)
Các kiến trúc trong Nhà thờ Phát Diệm được bố trí tuần tự, từ ngoài vào là một ao nước rộng lớn với tượng Chúa giang tay ở giữa hồ, tiếp theo là khoảng sân rộng rồi đến Phương Đình và Nhà thờ Lớn ở chính giữa, ba công trình trên được xây dựng theo một đường thẳng tạo thành trục đối xứng cho các Nhà nguyện ở hai bên Bên trái là Nhà nguyện Thánh Giu-se
và Nhà nguyện Thánh Phê-rô, bên phải là Nhà nguyện Thánh Rô-cô và Nhà nguyện Trái tim Chúa Giê-su Dựa vào sơ đồ trên, theo kiến trúc sư Nguyễn Hữu Xuân, nếu nối liền vạch ngang thứ nhất qua hai cổng Nhà thờ, vạch ngang thứ hai qua Nhà nguyện Thánh Rô-cô và Nhà nguyện Thánh Giu-se, vạch ngang thứ ba qua Nhà thờ Trái tim Chúa Gie-su và Nhà nguyện Thánh Phê-rô, hợp với vạch sổ từ Phương Đình đến Nhà thờ Lớn sẽ tạo nên mô hình
Trang 9chữ 王 (Vương) theo Hán tự, thể hiện niềm tin của Cụ Sáu vào “Chúa Giê-su Ki-tô là Con Một Thiên Chúa, là vua của muôn dân” (Dấu ấn lịch sử thời Pháp thuộc trong kiến trúc các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945), 2008), đồng thời cũng thể hiện nét văn hóa phương Đông một cách rõ nét của Nhà thờ này Bên cạnh đó, lối vào và lối ra của Nhà thờ dựa theo sơ đồ trên được bố trí theo hướng Bắc – Nam, khác với lối xây dựng theo hướng Đông – Tây ở phương Tây Dưới góc nhìn của nền văn hóa Á Đông, các công trình được bố trí theo hướng Bắc – Nam theo quan niệm cổ truyền “Gia sự đại an có nhà hướng Nam”, “Vào Nam ra Bắc”, hướng Nam còn là hướng Đế Vương theo quan niệm xưa: “Thánh nhân nam diện, nhi thính thiên hạ” (Nghĩa là: Bậc Thánh nhân nhìn về hướng Nam để nghe thiên hạ giãi bày) Phía trước Nhà thờ Phát Diệm có hồ nước lớn, phía sau nhà thờ có Núi Sọ thể hiện quan niệm phong thủy phương Đông “tiền thủy, hậu sơn” Có thể thấy, chính Cụ Sáu đã thổi hồn nét đặc sắc của văn hóa phương Đông vào lối xây dựng và cách bố trí các tòa kiến trúc nơi đây
2.2.1 Phương Đình
Hi ̀nh 3 Phương Đình Nhà thờ Phát Diệm (Nguồn: vietworld.world)
Phương Đình của Nhà thờ Phát Diệm là một tháp chuông hình vuông, nên được gọi là Phương Đình Được xây dựng năm 1897, là tòa tháp chuông có kiến trúc độc đáo và khác biệt với kiểu dáng hình vuông, trong khi hầu hết các nhà thờ Công giáo Việt Nam lại có tháp chuông cao vút Đây là nét độc đáo mang đậm phong cách Á Đông của tòa kiến trúc Phương Đình, hình vuông theo truyền thống dân gian Việt Nam là biểu tượng tượng trưng cho “đất”, cũng như theo phong thủy trong xây dựng, các tòa nhà được xây trên mảnh đất vuông hoặc hình chữ nhật, không khuyết góc có thể sinh ra năng lượng được phân bổ cân bằng, tránh tai họa cho người ở Mặt bằng Phương Đình có dạng hình vuông, với 4 tháp đặt tại 4 góc trên mặt bằng hình vuông, mỗi góc đặt tượng của bốn vị Thánh Sử: Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và
Trang 10Gio-an, có 3 lối vào chính và 2 lối phụ ở hai bên Trước mặt Phương Đình có khắc dòng chữ Hán
“Thánh Cung Bảo Tòa” có nghĩa là “Tòa quý của Chúa” và một hàng chữ La-tinh “Capella Inccena Domini” nghĩa là “Nhà nguyện bữa Tiệc ly của Chúa” (Dấu ấn lịch sử thời Pháp thuộc trong kiến trúc các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945), 2008), hai dòng chữ trên đã thể hiện sự kết hợp linh hoạt văn hóa Đông – Tây, đồng thời cũng thể hiện sự du nhập văn hóa phương Tây mà không làm mất
đi giá trị truyền thống của dân tộc ta Tầng trên của Phương Đình xây dựng 5 khối tháp, mỗi khối có 3 tầng Bên cạnh đó, kiến trúc lầu trống đặc trưng trong các ngôi đền và đình ở Việt Nam cũng xuất hiện trong kiến trúc của Phương Đình, vì đây là nơi giáo dân dừng chân để tâm hồn lắng đọng trước khi bước vào nơi tôn thờ Chúa (Nhà thờ Phát Diệm - Một công trình kiến trúc Công giáo phong cách Á Đông đặc sắc, 2014) Lầu chuông cũng được đặt ở Tam Quan giống như các ngôi đền ở Việt Nam
Mái của Phương Đình cũng được dựng nên với đường nét cong thường thấy của mái đao, hình ảnh quen thuộc trong các mái ngói của các ngôi chùa, ngôi đền Á Đông Mái của Phương Đình cong vút, đường nét thanh thoát, mềm mại, đối lập với sự cứng cáp, vững chãi của chất liệu đá và gỗ, đem đến sự hài hòa, cân bằng trong thị giác cũng như tạo nên vẻ đẹp đặc sắc của tòa kiến trúc này Trên đỉnh của mái là hình ảnh Thánh Giá – biểu trưng của Thánh đường Công giáo
Hi ̀nh 4 Hình chụp cận mái của Phương Đình (Nguồn: Báo Thanh Niên)
Tại Phương Đình, những hình ảnh chạm khác đá hay các bức phù điêu đá là đặc điểm
ấn tượng của nhà thờ Các chi tiết đá được chạm khắc tỉ mỉ, mang đậm tính ước lệ phương Đông để diễn tả những câu chuyện tôn giáo Các bức phù điêu đá ở Phương Đình đã ghi lại câu chuyện về cuộc đời của Chúa Giê-su khi trải qua Cuộc Thương Khó1 cho đến khi thăng
1 Cuộc Thương Khó: là giai đoạn khổ hạnh mà Chúa Giê-su phải gánh chịu khi trở thành Giêrusalem vào những ngày