phù hợp với bất kỳ mục đích sử dụng cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết một cách rõ ràng hoặc ngầm định vào thời điểm giao kết hợp đồng, trừ trường hợp hoàn cảnh chỉ ra rằng bên mu
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-*** -
TRÌNH BÀY KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH VỀ VẤN ĐỀ BÊN BÁN VI PHẠM NGHĨA VỤ GIAO HÀNG THEO ĐIỀU 35 CISG PHÂN TÍCH MỘT ÁN LỆ
ĐIỂN HÌNH ĐỂ MINH HOẠ
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thanh Hằng
Học phần: Pháp luật kinh doanh quốc tế
Sinh viên thực hiện: Nhóm 6 lớp PLKDQT-KDQT50.2_LT
Hà Nội, ngày 19 tháng 04 năm 2025
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6
2 Trương Thị Thuỳ Trang KDQT50B10369
Trang 3MỤC LỤC
NỘI DUNG 1
I Cơ sở pháp lý và khái quát quy định về vấn đề bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo điều 35 CISG 1
1.1 Cơ sở pháp lý 1
1.2 Khái quát về quy định về vấn đề bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo Điều 35 CISG 2
II Phân tích án lệ: Shanghai Anlili International Trading Co Ltd v J & P Golden Wings Corp (CISG-Online 2059 [CHINA, 2004]) 4
2.1 Các bên tham gia 4
2.2 Sự kiện pháp lý - Tóm tắt vụ tranh chấp 4
III Lập luận của các bên và tòa án 5
3.1 Bị đơn (bên bán) 5
3.2 Nguyên đơn (bên mua) 7
3.3 Phân tích và phán quyết của Tòa án 7
IV Đánh giá, bình luận của nhóm 9
V Phụ lục 10
Trang 4NỘI DUNG
I Cơ sở pháp lý và khái quát quy định về vấn đề bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo điều 35 CISG
1.1 Cơ sở pháp lý
Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (gọi tắt là Công ước Viên 1980) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Điểm a khoản 1 Điều 1 CISG 1980 quy định: “Công ước này áp dụng đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau khi các quốc gia này là các Quốc gia thành viên của Công ước này.”
Điều 35 CISG 1980 quy định:
1 Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng và miêu tả theo quy định trong hợp đồng và được đóng gói bằng cách thức theo quy định trong hợp đồng
2 Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, trừ khi chúng:
a phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng loại;
b phù hợp với bất kỳ mục đích sử dụng cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết một cách rõ ràng hoặc ngầm định vào thời điểm giao kết hợp đồng, trừ trường hợp hoàn cảnh chỉ ra rằng bên mua không hành động dựa trên sự tin tưởng đối với năng lực và đánh giá của bên bán hoặc đối với bên mua thì hành động như vậy là không hợp lý;
c có chất lượng giống như mẫu hàng hóa mà bên bán giao cho bên mua;
d được đóng gói bằng cách thức thông thường cho loại hàng hóa đó hoặc, nếu không
có cách thức đó, bằng cách thức phù hợp để bảo quản và bảo vệ hàng hóa
3 Bên bán không chịu trách nhiệm theo quy định tại các điểm từ a đến d của khoản trên về bất kỳ sự không phù hợp nào của hàng hóa nếu, vào thời điểm giao kết hợp đồng, bên mua biết hoặc không thể không biết về sự không phù hợp đó
Trang 5Khoản 1 Điều 38 CISG 1980 quy định: “Bên mua phải kiểm tra hoặc đảm bảo hàng
hóa được kiểm tra trong thời hạn ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép.”
Khoản 1 Điều 39 CISG 1980 quy định: “Bên mua bị mất quyền viện dẫn sự không phù hợp của hàng hóa nếu họ không thông báo cho bên bán về nội dung không phù hợp đó trong thời hạn hợp lý sau khi bên mua phát hiện hoặc phải phát hiện ra sự không phù hợp đó.”
Điều 40 CISG 1980 quy định: “Bên bán không có quyền viện dẫn các quy định tại Điều 38 và Điều 39 nếu sự không phù hợp của hàng hóa liên quan đến các sự kiện mà
họ biết hoặc không thể không biết nhưng không thông báo cho bên mua.”
Điểm a khoản 1 Điều 49 CISG 1980 quy định: “Bên mua có quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng nếu hành vi vi phạm của bên bán, theo quy định trong hợp đồng hoặc các quy định trong Công ước này, cấu thành vi phạm cơ bản.”
Khoản 2 Điều 52 CISG 1980 quy định: “Nếu bên bán giao hàng vượt quá số lượng theo quy định trong hợp đồng, bên mua có quyền nhận hàng hoặc từ chối nhận hàng đối với phần hàng hóa vượt quá số lượng Nếu bên mua nhận toàn bộ hoặc một phần hàng hóa vượt quá số lượng, họ phải thanh toán tiền mua hàng với mức giá theo quy định trong hợp đồng.”
1.2 Khái quát về quy định về vấn đề bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo Điều 35 CISG
Điều 35 của Công ước CISG 1980 quy định rõ ràng nghĩa vụ của bên bán trong việc giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng Khoản 1 Điều 35 CISG 1980 quy định:
“Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng và miêu tả theo quy định
trong hợp đồng và được đóng gói bằng cách thức theo quy định trong hợp đồng” Bên
bán phải giao đúng số lượng, chất lượng và miêu tả của hàng hóa mà các bên đã quy định tại hợp đồng
Về yếu tố số lượng, bên bán phải giao đúng số lượng hàng hóa mà các bên đã
thống nhất Việc bên bán giao hàng thiếu hoặc thừa số lượng so với hợp đồng sẽ được coi là vi phạm Trường hợp giao thiếu hàng hóa có thể giải quyết theo Điều 46 CISG Trường hợp giao thừa hàng hóa, bên mua có thể từ chối nhận hàng theo Điều 52 CISG
Trang 6Về chất lượng, chất lượng của hàng hóa phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng
đã được yêu cầu rõ trong hợp đồng Nếu hàng hóa không đáp ứng những tiêu chuẩn này, bên mua có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, thay thế hàng hóa hoặc yêu cầu giảm giá theo Điều 46 và Điều 50 CISG Sự không phù hợp về chất lượng có thể được giải quyết thông qua yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu sửa chữa hàng hóa, nếu
có điều khoản cho phép trong hợp đồng
Ngoài ra, hàng hóa cần phải có các đặc điểm như đã được miêu tả trong hợp đồng hoặc trong các tài liệu tham chiếu Miêu tả có thể bao gồm các đặc điểm về chủng loại, hình dáng, màu sắc, kích thước, nhãn hiệu, nguồn gốc, hoặc bất kỳ đặc tính nào khác mà bên bán đã cam kết cung cấp
Trong trường hợp không thể thương lượng, các bên không có thỏa thuận rõ ràng
về tiêu chuẩn hàng hóa, khoản 2 Điều 35 sẽ được áp dụng Theo đó, hàng hóa sẽ chỉ được coi là phù hợp với hợp đồng nếu thỏa mãn các điều kiện đã nêu tại điểm a - d khoản 2 điều 35 CISG :
Hàng hóa phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng loại Hàng hóa phù hợp với mục đích sử dụng cụ thể mà bên mua đã thông báo rõ ràng hoặc ngầm định vào thời điểm giao kết hợp đồng
Hàng hóa có chất lượng giống như mẫu hàng hóa mà bên bán giao cho bên mua Hàng hóa được đóng gói bằng cách thức thông thường cho loại hàng hóa đó, hoặc, nếu không có cách thức đó, bằng cách thức phù hợp để bảo quản và bảo vệ hàng hóa
Khoản 3 Điều 35 CISG 1980 quy định giới hạn trách nhiệm của bên bán, theo
đó, bên bán không phải chịu trách nhiệm về sự không phù hợp của hàng hóa nếu bên mua biết hoặc không thể không biết về sự không phù hợp đó tại thời điểm ký kết hợp đồng Quy định này nhằm bảo vệ bên bán khỏi các yêu cầu không hợp lý từ bên mua, đồng thời ngăn chặn việc bên mua lợi dụng sai sót đã biết để yêu cầu bồi thường sau này
Trong trường hợp các bên không thể giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, luật áp dụng sẽ được xác định theo các quy định của Công ước CISG, nếu cả
Trang 7hai bên đều tại các quốc gia là thành viên của Công ước, hoặc nếu luật áp dụng đối với hợp đồng được xác định là luật của một quốc gia thành viên theo quy tắc xung đột pháp luật Trong trường hợp các bên không thuộc các quốc gia thành viên CISG hoặc không có thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng, thì luật áp dụng sẽ được xác định thông qua các quy phạm xung đột pháp luật của quốc gia có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Đối với các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, việc xác định luật áp dụng
sẽ tuân theo Quy định Rome I, theo đó luật của quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng sẽ được ưu tiên áp dụng
II Phân tích án lệ: Shanghai Anlili International Trading Co Ltd v J & P Golden Wings Corp (CISG-Online 2059 [CHINA, 2004])
2.1 Các bên tham gia
Về nguyên đơn, Công ty TNHH Thương mại Quốc tế Thượng Hải Anlily, có trụ
sở tại Trung Quốc, do Anli Zhang giữ chức vụ Tổng giám đốc, làm người đại diện pháp luật Người đại diện theo ủy quyền gồm Luật sư Yuan Ying và Luật sư Xu Guojian thuộc Công ty luật Bang Xin Yang Thượng Hải
Về bị đơn, Tập đoàn J&P Golden Wings Corp, có trụ sở tại Pháp, do ông
Jean-Marc Henry, giữ chức vụ Giám đốc công ty, làm người đại diện pháp luật Người đại diện được ủy thác là Luật sư Shen Changyi thuộc Công ty luật Shanghai Hexin
Vụ việc được Tòa án nhân dân trung cấp thứ nhất Thượng Hải thụ lý, giải quyết xét xử
2.2 Sự kiện pháp lý - Tóm tắt vụ tranh chấp
Vào ngày 13 tháng 8 năm 2005, một hợp đồng thương mại đã được ký giữa nguyên đơn và bị đơn, quy định rằng bị đơn sẽ cung cấp 6 loại rượu vang ngoại có nguồn gốc từ Pháp và Scotland với số lượng 13.000 chai, được giao thành 2 đợt Hàng được giao theo điều kiện CIF Thượng Hải, với tổng giá trị hợp đồng là 237.960 Euro Sau khi ký kết hợp đồng, nguyên đơn đã thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng và trả 50% giá mua theo hợp đồng cho bị đơn làm tiền cọc, tương đương với 118.980 Euro Sau đó, nguyên đơn đã thanh toán phần tiền phải thanh toán còn lại của
Trang 8đợt hàng này trị giá 784.000 NDT, bao gồm thuế nhập khẩu và chi phí dịch vụ vào ngày 16 tháng 8 năm 2005
Sau vài tháng chậm trễ, bị đơn đã giao một trong số 6 loại rượu đã quy định trong hợp đồng vào cuối tháng 4 năm 2006, với số lượng là 1.000 chai Tuy nhiên, sau khi nhận đợt hàng đầu tiên, nguyên đơn phát hiện hàng hóa bị lỗi nghiêm trọng và không đáp ứng được chất lượng hàng hoá đã thoả thuận trong hợp đồng Sau nhiều lần đàm phán không thành công về vấn đề chất lượng đơn hàng qua fax, nguyên đơn từ chối thanh toán phần còn lại của đơn hàng vì bị đơn không đưa ra giải pháp nào Bị đơn không giao phần còn lại của hàng hóa vì không nhận được số tiền phải thanh toán còn lại và đã tự xử lý phần hàng hoá này Xét thấy hành vi của bị đơn cấu thành vi phạm cơ bản của hợp đồng, nguyên đơn đã đệ đơn kiện lên Tòa án nhân dân trung cấp thứ nhất Thượng Hải, yêu cầu Tòa án:
1 Chấm dứt hợp đồng thương mại JW0500812 được ký kết giữa hai bên vào ngày
13 tháng 8 năm 2005;
2 Yêu cầu bị đơn hoàn lại số tiền cọc hợp đồng 118.980 Euro và số tiền 784.000 NDT nguyên đơn đã thanh toán khi nhận đợt hàng đầu tiên;
3 Yêu cầu bị đơn bồi thường tổn thất phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của
bị đơn;
4 Yêu cầu bị đơn thanh toán chi phí tố tụng
III Lập luận của các bên và tòa án
3.1 Bị đơn (bên bán)
Về phía bên bán cho rằng hợp đồng giữa các bên là hợp lệ Bên bán không
phản đối tính xác thực của bằng chứng 1, 2 mà bên mua đã đưa ra Tuy nhiên, bên bán cho rằng họ không vi phạm Hợp đồng và hàng hóa được cung cấp không bị lỗi Cụ thể, bên bán cho rằng bên mua đã không phản đối đợt hàng đầu tiên đã được giao cho đến khi bên bán giao đợt thứ hai và yêu cầu bên mua thanh toán phần còn lại Sự phản đối của bên mua không được nêu ra trong khoảng thời gian mà hợp đồng quy định đối với các khiếu nại về chất lượng Do đó, bên mua cần được coi là đã chấp nhận hàng hóa
Trang 9Hơn nữa, hàng hóa được cung cấp bởi bên bán phù hợp với tiêu chuẩn quy định trong Hợp đồng
Đối với đợt hàng thứ hai, bên bán lập luận rằng việc không thể giao hàng đợt thứ hai xuất phát từ việc bên mua không thanh toán tiền còn lại Vì vậy, bên bán đã từ chối yêu cầu của bên mua Tuy nhiên, do bên bán đã tự từ bỏ đợt giao hàng thứ hai để giảm thiểu tổn thất của mình trong trường hợp bên mua không thanh toán phần tiền còn lại, bên bán sẽ chấp nhận quyết định của Tòa án về cách giải quyết đối với đợt hàng chưa được giao đã nói ở trên
Bên bán phản đối tính xác thực của bằng chứng thứ 3 của Người mua với lập luận rằng họ không nhận được bức thư đó
Bên bán phản đối tính xác thực của bằng chứng thứ 4 của Người mua với cáo buộc rằng bên mua không thể chứng minh rằng chai Henry V này là một trong những chai được cung cấp bởi bên bán
Một số bằng chứng được cung cấp bởi bên bán để củng cố cho các lập luận của mình bao gồm:
Một là, bản fax ngày 21 tháng 6 năm 2006 gửi cho đại diện pháp luật của bên
mua Anli Zhang từ Xiangcong Wu của Golden Wine & Spirits
Hai là bản fax ngày 8 tháng 1 năm 2006 được gửi cho bên mua từ Xiangcong
Wu của Golden Wings & Spirits
Ba là, bản fax ngày 12 tháng 1 năm 2006 được gửi cho bên mua từ Xiangcong
Wu của Golden Wings & Spirits
Bốn là, đơn xin Ngân hàng Truyền thông (Chi nhánh Sán Đầu, Chi nhánh
Longhu)
Năm là, bản fax ngày 27 tháng 12 năm 2005 được gửi cho bên mua từ
Xiangcong Wu của Golden Wings & Spirits
Các bằng chứng nêu trên đã được gửi để chứng minh rằng bên mua chỉ thanh toán phần còn lại của đợt đầu tiên và phản hồi của bên mua về việc hàng hóa do bên bán cung cấp không bị lỗi như khẳng định của bên mua Ngoài ra, mặc dù bên bán đã thúc giục bên mua trả phần còn lại cho đợt hàng thứ hai, bên mua đã không thanh toán
Trang 10Sáu là, bản sao Đơn xác lập giao dịch kinh doanh bởi Ngân hàng Truyền thông
(Chi nhánh Sán Đầu, Chi nhánh Longhu) ngày 23/02/2016, chứng minh rằng bên mua
đã chỉ định Mint Co., Ltd làm đại lý khai báo thủ tục hải quan
Bảy là, thư đại diện và phiếu giao hàng do Công ty TNHH Ganxing Logistics
Thượng Hải phát hành (sau đây gọi là "Công ty TNHH Ganxing"), chứng minh rằng bên bán đã thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng một cách thích hợp và giao 1.000 chai Henry V đến kho của bên mua ở Sán Đầu
3.2 Nguyên đơn (bên mua)
Đầu tiên, bên mua đã đưa ra những bằng chứng để củng cố cho các lập luận
Thứ nhất là hợp đồng (số JW0500812), chứng minh mối quan hệ hợp đồng giữa
các bên để bán sáu loại rượu
Thứ hai là chứng từ thanh toán do Công ty TNHH Ngân hàng Hồng Kông và
Thượng Hải phát hành (sau đây gọi là "HSBC"), chứng minh rằng bên mua đã thanh toán một nửa giá hợp đồng theo thỏa thuận trong Hợp đồng
Thứ ba là thư từ đại diện hợp pháp của bên mua gửi cho bên bán, chứng minh
rằng hàng hóa do bên bán giao bị lỗi nghiêm trọng và không phù hợp với hợp đồng
Cuối cùng là một chai Henry V, Grande Champagne Cognac X.O (sau đây,
“Henry V”), chứng minh rằng hàng hóa do bên bán cung cấp bị lỗi nghiêm trọng và
không phù hợp với Hợp đồng và rượu giao không được niêm phong và bị rò rỉ không khí nghiêm trọng
Đối với các bằng chứng mà bên bán đưa ra, bên mua không phản đối tính xác thực của các bằng chứng số 1-7 Tuy nhiên, bên mua lập luận rằng các bằng chứng không thể chứng minh rằng hàng hóa do bên bán cung cấp phù hợp với Hợp đồng, và cũng không thể chứng minh rằng chính bên bán đã khai báo hàng hóa tại hải quan Nó thậm chí không thể chứng minh rằng hàng hóa được giao đã đi qua hải quan một cách hợp pháp
Bên mua đã thực hiện đúng quyền lợi của mình theo quy định của CISG, bao gồm việc thông báo cho bên bán về tình trạng chất lượng không đạt yêu cầu trong thời
gian quy định để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Ngoài ra, bên mua đã thanh