1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị

96 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun đũa (toxocariosis) trên đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Tác giả Lê Văn Duy
Người hướng dẫn TS. Dương Thị Hồng Duyên
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI (16)
  • 2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI (17)
  • 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI (18)
  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (19)
    • 1.1. Cơ sở khoa học của đề tài (19)
      • 1.1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa chó (19)
      • 1.1.2. Bệnh giun đũa chó (Toxocariosis) (23)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (30)
      • 1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (30)
      • 1.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (34)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (36)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (36)
      • 2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (36)
      • 2.1.3. Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu (36)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (37)
      • 2.2.1. Đánh giá thực trạng chăn nuôi chó tại địa phương và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh ký sinh trùng cho chó (37)
      • 2.2.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở chó tại thành phố Sơn La (0)
      • 2.2.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun đũa ở chó tại thành phố Sơn La (0)
      • 2.2.4. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun đũa chó (38)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (38)
      • 2.3.1. Phương pháp điều tra thực trạng chăn nuôi chó tại địa phương và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh cho chó ở các xã, phường thành phố Sơn La (38)
      • 2.3.2. Phương pháp lấy mẫu, xét nghiệm và đánh giá tỷ lệ nhiễm giun đũa chó ............... 23 2.3.3. Phương pháp mổ khám, thu thập và định danh giun đũa chó tại thành phố Sơn La . 25 (38)
      • 2.3.5. Phương pháp nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của chó bị giun đũa (0)
      • 2.3.6. Phương pháp theo dõi hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun đũa chó (43)
    • 2.4. Xử lý số liệu (0)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (45)
    • 3.1. Thực trạng nuôi chó và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh cho chó (45)
    • 3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa chó tại thành phố Sơn La . 32 1. Xác định thành phần loài giun đũa ký sinh ở chó (qua mổ khám) (47)
      • 3.2.2. Tình hình nhiễm giun đũa chó ở thành phố Sơn La (49)
    • 3.3. Nghiên cứu khả năng phát triển và tồn tại của trứng giun đũa chó ở ngoại cảnh (61)
      • 3.3.1. Thời gian và tỷ lệ trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh (62)
      • 3.3.2. Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh ở ngoại cảnh (64)
    • 3.4. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa (0)
      • 3.4.1. Triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa (66)
      • 3.4.2. Tổn thương đại thể ở cơ quan tiêu hóa do giun đũa chó gây ra (67)
      • 3.4.3. Tổn thương vi thể ở cơ quan tiêu hóa do giun đũa chó gây ra (69)
      • 3.4.4. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó bị bệnh giun đũa và chó khỏe (70)
    • 3.5. Nghiên cứu biện pháp phòng và điều trị bệnh giun đũa chó (72)
      • 3.5.1. Hiệu lực của một số loại thuốc tẩy giun đũa cho chó (trên diện hẹp) (72)
      • 3.5.3. Hiệu lực của một số loại thuốc điều trị giun đũa trên chó (trên diện rộng) (74)
      • 3.5.4. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa chó (75)
    • 1. Kết luận (77)
      • 1.1. Về thực trạng chăn nuôi chó và áp dụng các biện pháp phòng bệnh giun đũa cho chó . 62 (77)
      • 1.2 Về một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa chó ở một số xã của Thành phố Sơn La . 62 1.3. Về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun đũa ở chó (77)
      • 1.4. Về hiệu lực và độ an toàn của thuốc điều trị giun đũa cho chó (78)
    • 2. Kiến nghị (78)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (79)

Nội dung

Phương pháp xác định thời gian phát triển thành trứng có ấu trùng có sức gây bệnh và số trứng còn sống của trứng giun đũa chó trong phân ở ngoại cảnh .... Xác định thời gian phát triển t

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Bệnh giun đũa ở chó, đặc biệt phổ biến ở chó con, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và thường ở thể mạn tính Bệnh này làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của chó, gây ra các vấn đề như còi cọc, viêm tắc ruột, tắc ống mật và phá hủy gan Hệ tiêu hóa bị rối loạn và sức đề kháng giảm, tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột phát triển, dẫn đến hội chứng tiêu chảy nặng và có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Chó là loài vật nhạy cảm, và khi số lượng chó nuôi tăng lên, các vấn đề dịch bệnh trở nên phổ biến và phức tạp hơn Điều này không chỉ gây thiệt hại kinh tế cho các hộ chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người chăm sóc Các nhà khoa học đã xác định 26 loài giun, sán ký sinh ở chó, trong đó bệnh giun đũa chó là một trong những bệnh phổ biến Đáng chú ý, đã có nhiều trường hợp ghi nhận sự lây truyền giun đũa từ chó sang người, với các triệu chứng như đau bụng, ho, rối loạn giấc ngủ, kém phát triển thể lực, kém ăn uống, sốt và viêm hạch cổ Do đó, bệnh giun đũa ở chó đang trở thành một vấn đề cần được quan tâm trong thời gian gần đây.

Bệnh giun đũa ở chó do hai loài giun Toxocara canis và Toxascaris leonina gây ra, với giun trưởng thành ký sinh trong ruột non và ấu trùng di chuyển qua gan, phổi, tim, gây tổn hại cho hệ tiêu hóa và hô hấp Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tử vong Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường miệng khi chó nuốt phải trứng có ấu trùng, và cũng có thể lây qua nhau thai trong thời kỳ mang thai Để điều trị hiệu quả, việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng, tuy nhiên, việc phòng ngừa bệnh gặp nhiều khó khăn do các con đường lây nhiễm đa dạng.

Số lượng chó tại thành phố Sơn La hiện nay khá lớn, với người dân nuôi chó không chỉ để giữ nhà và cung cấp thực phẩm, mà còn coi chúng như thành viên trong gia đình Tuy nhiên, công tác phòng chống bệnh, đặc biệt là bệnh do ký sinh trùng, vẫn chưa được chú trọng Bệnh do ký sinh trùng đang khiến đàn chó trở nên gầy gò, ốm yếu, thậm chí gây tử vong và ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của nhiều hộ chăn nuôi.

Nghiên cứu về ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở chó đã được nhiều tác giả thực hiện, bao gồm Ngô Huyền Thúy (1996), Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008), Võ Thị Hải Lê (2011), Thân Trọng Quang (2022), Nguyễn Thị Hoàng Yến (2022), và Dương Thị Hồng Duyên cùng cộng sự (2023) Tuy nhiên, các nghiên cứu về dịch tễ và đặc điểm bệnh do giun đũa gây ra ở chó tại Thành phố Sơn La vẫn còn thiếu hệ thống và chưa đầy đủ.

Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong việc kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe cho đàn chó cũng như sức khỏe con người, đặc biệt là những người nuôi thú cưng tại thành phố Sơn La, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về "Đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa (Toxocariosis) trên đàn chó tại thành phố Sơn La."

La và biện pháp phòng trị”.

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá tình trạng nhiễm, mức độ nhiễm giun đũa chó tại thành phố Sơn La

- Xác định các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa ở chó tại thành phố Sơn La

- Xác định đặc điểm dịch tể bệnh giun đũa chó tại thành phố Sơn La

- Xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa chó

- Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa có hiệu quả cho chó tại thành phố Sơn La

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện về đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa ở chó tại thành phố Sơn.

La, về khả năng tồn tại và phát triển của trứng giun đũa chó ở ngoại cảnh và biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở để đưa ra khuyến cáo hữu ích cho các hộ chăn nuôi chó tại thành phố Sơn La và các khu vực khác, nhằm kiểm soát bệnh tật và bảo vệ sức khỏe cho cả người và vật nuôi.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Chó ở các lứa tuổi nuôi tại các xã, phường của thành phố Sơn La

- Chó nhiễm và mắc bệnh giun đũa ở ngoài tự nhiên

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm lấy mẫu: 10 xã, phường thuộc thành phố Sơn La: Phường Quyết Tâm, Phường Chiềng Sinh, Phường Quyết Thắng, Phường Tô Hiệu, Phường Chiềng Lề, Phường Chiềng Cơi, Phường Chiềng An, xã Chiềng Cọ, xã Chiềng

Ngần và xã Hua La là địa điểm thực hiện xét nghiệm mẫu phân và bệnh tích vi thể tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Chăn nuôi Thú y, Khoa Nông Lâm, trường Đại học Tây Bắc Việc định loại loài giun tròn được thực hiện tại Viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Địa điểm xét nghiệm máu là Bệnh viện Thú y Sơn La.

Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2023 đến tháng 6/2024

2.1.3 Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu

- Mẫu phân tươi của chó các lứa tuổi

- Mẫu giun đũa chó qua mổ khám

- Trứng giun đũa chó ở các giai đoạn phát triển khác nhau

- Mẫu máu chó khỏe và chó bị bệnh giun đũa

- Mẫu bệnh phẩm chó bị bệnh giun đũa (ruột non)

- Các loại thuốc điều trị bênh giun đũa cho chó: Mebendazol 10%, Heartworm-Shield

- Kính hiển vi, lamen, lam kính

- Buồng đếm Mc Master, ống đong có mức chia độ 50ml, 100ml, 200ml

- Đũa thủy tinh, panh kẹp, kéo, lưới thép, vòng vớt

- Túi nilon, găng tay, dao mổ

- Hóa chất và một số dụng cụ thí nghiệm

- Dung dịch NaCl bão hòa

- Dung dịch Barbagallo bảo quản giun đũa và được pha chế theo công thức: Formol 30ml, NaCl tinh khiết 7,5 g, Nước cất 1000ml.

Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Đánh giá thực trạng chăn nuôi chó tại địa phương và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh ký sinh trùng cho chó

2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở chó tại thành phố Sơn

- Xác định loài giun đũa ký sinh ở chó (qua mổ khám)

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa chó

+ Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở chó tại một số xã, phường của thành phố Sơn La

+ Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi chó

+ Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở chó theo mùa trong năm

+ Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở chó theo phương thức nuôi

+ Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở chó theo loại chó

- Nghiên cứu khả năng phát triển và tồn tại của trứng giun đũa chó ở ngoại cảnh

+ Thời gian và tỷ lệ trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh

+ Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh ở ngoại cảnh

2.2.3 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun đũa ở chó tại thành phố Sơn La

- Triệu chứng lâm sàng chó bị nhiễm giun đũa

- Sự thay đổi chỉ số huyết học ở chó bị bệnh giun đũa

- Bệnh tích đại thể của chó bị bệnh giun đũa

- Bệnh tích vi thể của chó bị bệnh giun đũa

2.2.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun đũa chó

- Nghiên cứu hiệu quả của việc dùng một số hóa dược trong điều trị bệnh giun đũa ở chó

- Độ an toàn của thuốc tẩy giun đũa cho chó

- Đề xuất biện pháp phòng trị

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra thực trạng chăn nuôi chó tại địa phương và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh cho chó ở các xã, phường thành phố Sơn La là rất cần thiết Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình hình chăn nuôi chó, nhận diện các vấn đề sức khỏe phổ biến và đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả Việc áp dụng các biện pháp này không chỉ giúp nâng cao sức khỏe cho đàn chó mà còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Trực tiếp xuống các hộ gia đình chăn nuôi chó quan sát kết hợp với phỏng vấn chủ hộ và phiếu điều tra

2.3.2 Phương pháp lấy mẫu, xét nghiệm và đánh giá tỷ lệ nhiễm giun đũa chó

* Phương pháp thu thập mẫu phân: Mẫu phân được thu thập ngẫu nhiên tại các nông hộ và gia đình theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc

Mẫu phân mới thải của chó ở các lứa tuổi đã được thu thập ngẫu nhiên tại 10 xã, phường thuộc thành phố Sơn La vào buổi sáng Các mẫu phân được cho vào túi nilon buộc kín và chỉ những mẫu có thông tin chính xác được ghi nhãn, bao gồm loại chó, tuổi, tính biệt, trạng thái phân, biểu hiện lâm sàng, thời gian và địa chỉ.

Các loại mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản theo quy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng học

* Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa chó

Tất cả các mẫu phân được kiểm tra bằng phương pháp Fulleborn với dung dịch muối NaCl bão hòa, nhằm phát hiện trứng giun đũa chó dưới kính hiển vi với độ phóng đại 100 lần Các mẫu có sự hiện diện của trứng giun đũa chó được xác định là nhiễm, trong khi những mẫu không có trứng được coi là không nhiễm.

* Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun đũa chó

Sau khi xác định mẫu nhiễm bằng phương pháp Fulleborn, bước tiếp theo là xác định cường độ nhiễm của các mẫu bằng cách đếm số lượng trứng trong 1g phân thông qua buồng đếm Mc Master.

- Quy định 3 mức cường độ nhiễm căn cứ vào kết quả xác định cường độ nhiễm của toàn bộ số mẫu xét nghiệm:

< 1000 trứng/g phân là nhiễm nhẹ (ký hiệu +)

> 1000 - 2000 trứng/g phân là nhiễm trung bình (ký hiệu ++)

> 2000 trứng/g phân là nhiễm nặng (ký hiệu +++)

* Quy định một số yếu tố dịch tễ liên quan đến các chỉ tiêu nghiên cứu

Tuổi chó được phân ra theo 4 lứa tuổi:

Theo dõi tình trạng nhiễm giun đũa chó ở 4 mùa:

+ Mùa Xuân: tháng 2 - tháng 4 + Mùa Hè: tháng 5 - tháng 7 + Mùa Thu: tháng 8 - tháng 10 + Mùa Đông: tháng 11 - tháng 1 năm sau

+ Thả rông: Chó được nuôi thả hoàn toàn

+ Vừa thả vừa nhốt: Chó được nuôi trong cũi, chuồng và có thời gian nhất định trong ngày thả ra để chó đi vệ sinh

+ Chó nội + Chó lai + Chó ngoại

2.3.3 Phương pháp mổ khám, thu thập và định danh giun đũa chó tại thành phố Sơn La

* Phương pháp định hình tiêu bản

Mổ khám 100 con chó tại các lò giết mổ chó trên địa bàn thành phố Sơn

Phương pháp mổ khám không toàn diện cơ quan tiêu hóa cho phép thu thập toàn bộ giun đũa chó trong ruột non Mẫu giun thu được được định hình trong dung dịch Barbagallo, bao gồm 38% formol, 30ml NaCl tinh khiết và 1000ml nước cất.

100% chó mổ khám thu thập mẫu giun đũa đều được nuôi trên địa bàn thành phố Sơn La

Mẫu giun đũa chó được thu thập và bảo quản trong các lọ dung dịch, ghi rõ thông tin như nơi ký sinh, số lượng giun, và ngày tháng lấy mẫu Sau khi thu mẫu giun tròn từ ruột chó, chúng được làm trong bằng hỗn dịch acid axetic, glycerin, và nước cất theo tỷ lệ 1:1:1 Tiếp theo, kích thước của giun được đo và chụp ảnh dưới kính hiển vi điện tử để xác định loại giun đũa chó theo khóa định loại.

Nguyễn Thị Lê và cs (1996); Anderson và cs (2009)

Phương pháp xác định thời gian phát triển của trứng giun đũa chó trong môi trường ngoại cảnh là rất quan trọng để đánh giá sức gây bệnh của ấu trùng Nghiên cứu này cũng xem xét số lượng trứng còn sống trong phân, từ đó cung cấp thông tin cần thiết cho việc kiểm soát và phòng ngừa bệnh do giun đũa chó gây ra.

Thí nghiệm được bố trí vào 2 mùa: Hè và Thu

Lấy phân của những chó nhiễm giun đũa nặng vừa thải cho vào 10 chậu nhựa có đường kính 15 cm và chiều cao 10 cm (mỗi chậu được coi là 1 mẫu,

26 khoảng 400 - 500g phân), 10 mẫu được để trong phòng thí nghiệm trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ không khí bình thường của từng mùa

Để xác định thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh, hàng ngày cần lấy khoảng 3 - 5g phân/mẫu và thực hiện xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn Qua đó, đếm số trứng có khả năng gây bệnh trong tổng số trứng trên một vi trường, từ đó xác định thời gian bắt đầu và thời gian 100% trứng giun đũa phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh.

Thời gian tồn tại của trứng giun đũa có sức gây bệnh trong môi trường bên ngoài được xác định thông qua các mẫu thí nghiệm nuôi ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm không khí bình thường của từng mùa Để theo dõi, cứ 5 ngày một lần, trứng được kiểm tra bằng phương pháp Fulleborn nhằm đếm số lượng trứng có sức gây bệnh còn sống Quá trình này tiếp tục cho đến khi 100% trứng giun đũa có ấu trùng gây nhiễm trong phân chết.

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của chó bị giun đũa

* Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa:

Biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa được xác định qua phương pháp chẩn đoán lâm sàng, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngân và cộng sự (2016) Nghiên cứu này theo dõi các chó có nhiễm trứng giun đũa, đồng thời loại trừ sự hiện diện của các ký sinh trùng đường tiêu hóa khác và bệnh truyền nhiễm Các phương pháp quan sát thể trạng, lông, da, cũng như màu sắc và trạng thái phân được sử dụng để xác định các biểu hiện lâm sàng của bệnh.

* Phương pháp xét nghiệm máu để xác định các chỉ số huyết học của chó bị nhiễm giun đũa và chó khoẻ

- Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu máu ở tĩnh mạch khoeo của chó bị bệnh mắc giun đũa (không nhiễm các ký sinh trùng đường tiêu hoá khác, không mắc

Mỗi chó khỏe mạnh được lấy từ 1 - 1,5 ml máu vào ống nghiệm có tráng chất chống đông (Heparin) và phải đảm bảo vô trùng Các mẫu máu cần được bảo quản trong bình lạnh và đưa đi xét nghiệm trong ngày để đảm bảo độ chính xác của kết quả.

Số lượng mẫu: 15 mẫu chó khỏe và 15 mẫu chó bị bệnh giun đũa

Các chỉ số huyết học của chó, bao gồm số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố và công thức bạch cầu, được xác định bằng máy VH20 để phân biệt giữa chó bệnh và chó khỏe.

* Phương pháp xác định tổn thương đại thể

Chúng tôi đã tiến hành mổ khám 100 con chó để xác định các biến đổi đại thể ở các cơ quan do giun đũa gây ra Qua đó, chúng tôi quan sát các biến đổi và bệnh tích ở các cơ quan nội tạng của chó nhiễm giun đũa.

Quan sát bằng mắt thường và kính lúp niêm mạc ruột non của chó bị tổn thương, ghi lại các tổn thương và chụp ảnh vùng có bệnh tích điển hình.

Chụp ảnh vùng có tổn thương điển hình

* Phương pháp xác định các tổn thương vi thể

Chúng tôi đã tiến hành mổ khám 100 con chó để tìm giun đũa chó và chọn ra 10 con có tổn thương rõ rệt nhất để làm tiêu bản vi thể Nghiên cứu các tổn thương vi thể được thực hiện bằng phương pháp làm tiêu bản tổ chức học với quy trình tẩm đúc parafin, nhuộm hematoxylin - eosin, và kết quả được đọc dưới kính hiển vi quang học Các biến đổi vi thể cũng được chụp ảnh bằng máy ảnh kỹ thuật số.

Quy trình làm tiêu bản vi thể được tiến hành như sau:

Bước 1: Lấy mẫu bệnh phẩm (ruột non): cắt phần bệnh phẩm có nhiều tổn thương do giun đũa gây ra

Bước 2: Cố định bệnh phẩm bằng dung dịch formol 10%

Bước 3: Tẩy nước làm trong

Bước 6: Cắt và dán mảnh

Gắn lamen, dán nhãn và đọc kết quả dưới kính hiển vi quang học, độ phóng đại 10 x 10 và 10 x 40, chụp ảnh bệnh tích vi thể

Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số tiêu bản có bệnh tích trên tổng số tiêu bản nghiên cứu

2.3.6 Phương pháp theo dõi hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun đũa chó

* Phương pháp xác định hiệu lực của thuốc trên diện hẹp và diện rộng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thực trạng nuôi chó và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh cho chó

Để đánh giá thực trạng nuôi chó tại thành phố Sơn La, chúng tôi đã tiến hành quan sát trực tiếp tại các hộ nuôi chó và phỏng vấn chủ hộ về thông tin như số lượng chó nuôi, việc định kỳ tẩy giun và vệ sinh chuồng nuôi Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 3.1.

Bảng 3.1 Thực trạng chăn nuôi chó và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh cho chó tại thành phố Sơn La năm 2024 Địa điểm

Số hộ nuôi chó (hộ)

Bình quân chó/ hộ Áp dụng biện pháp phòng bệnh (hộ) Định kỳ tẩy giun sán

Chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Thường xuyên vệ sinh chuồng nuôi n % n % n %

Quyết Tâm 532 258 302 1,17 134 51,94 140 54,26 143 55,43 Chiềng An 445 305 314 1,03 98 32,13 85 27,87 86 28,20 Quyết Thắng 542 233 245 1,05 105 45,06 110 47,21 110 47,21

Tô Hiệu 534 202 222 1,10 98 48,51 89 44,06 90 44,55 Chiềng Lề 424 214 230 1,07 85 39,72 90 42,06 90 42,06 Chiềng Cơi 422 304 318 1,05 124 40,79 100 32,89 95 31,25 Chiềng Sinh 389 287 305 1,06 102 35.54 85 29,62 84 29,27 Chiềng Cọ 342 283 365 1,28 45 15,90 40 14,13 42 14,84 Hua La 345 267 303 1,13 56 20,97 40 14,98 41 15,36 Chiềng Ngần 345 234 284 1,21 32 13,68 30 12,82 29 12,39 Tính chung 4.320 2.587 2.888 1,12 879 33,98 809 31,27 810 31,31

Qua bảng 3.1 cho thấy, số lượng chó nuôi ở 10 xã, phường của thành phố Sơn La là tương đối nhiều, bình quân 1,12 chó/ hộ nuôi chó; trong đó xã Chiềng

Xã Chiềng Cọ có số lượng chó nuôi cao nhất với 365 chó trên 342 hộ, trong khi phường Tô Hiệu lại có số lượng chó nuôi thấp nhất, chỉ với 222 chó trên 534 hộ.

Trong số 31 xã, xã có tỷ lệ chó nuôi bình quân cao nhất là 1,28 chó/hộ, trong khi phường Chiềng An có tỷ lệ thấp nhất là 1,03 chó/hộ Điều này cho thấy rằng ở các phường nội thành, mặc dù mật độ dân số và số hộ dân đông, nhưng số hộ nuôi chó lại ít, chủ yếu nuôi chó, mèo cảnh Ngược lại, các xã ngoại thành như Chiềng Cọ, Chiềng Ngần và Hua La có diện tích rộng và số hộ dân ít, dẫn đến một số hộ nuôi chó nhiều hơn, với một số hộ như gia đình ông Cà Văn Cương ở Chiềng Cọ nuôi gần 100 con chó thịt.

Kết quả điều tra cho thấy chỉ có 33,98% hộ gia đình thực hiện tẩy giun sán định kỳ cho chó, trong khi 31,27% có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tốt và 31,31% thường xuyên vệ sinh chuồng nuôi Tỷ lệ này chủ yếu tập trung ở các hộ nuôi chó cảnh tại các phường nội thành phố Sơn La.

Người dân tại Thành phố Sơn La vẫn chưa chú trọng đến biện pháp phòng bệnh giun sán cho chó, với tỷ lệ hộ áp dụng biện pháp này chỉ dao động từ 13,68% đến 51,94% Phường Quyết Tâm có tỷ lệ cao nhất do vị trí địa lý thuận lợi, gần các phòng khám và bệnh viện thú y, trong khi xã Chiềng Ngần có tỷ lệ thấp hơn Sự khác biệt này phản ánh ý thức chăm sóc sức khỏe vật nuôi của người dân, đặc biệt ở các xã nông thôn như Chiềng Cọ và Hua La, nơi mà việc chăm sóc chó chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, chó thường được nuôi thả rông để trông nhà, dẫn đến tình trạng sức khỏe của chúng không được chú trọng, góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc giun sán tại một số địa phương trong thành phố.

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa chó tại thành phố Sơn La 32 1 Xác định thành phần loài giun đũa ký sinh ở chó (qua mổ khám)

3.2.1 Xác định thành phần loài giun đũa ký sinh ở chó (qua mổ khám) Để xác định được thành phần loài giun đũa ký sinh ở đường tiêu hoá của chó tại thành phố Sơn La, chúng tôi tiến hành thu thập mẫu giun đũa ở các cơ sở giết mổ chó trên địa bàn thành phố Sơn La như chợ Bản Dửn – Phường Quyết Tâm; chợ 7/11 – Phường Quyết Thắng; chợ Chiềng An – Phường Chiềng

An, chợ Trung tâm – Phường Tô Hiệu; chợ Noong Đúc – Phường Chiềng Sinh 100% chó mổ khám thu thập mẫu giun đều được nuôi trên địa bàn thành phố Sơn

Các mẫu giun đũa chó được bảo quản trong dung dịch Barbagallo (gồm formol 38%: 30ml và nước cất: 1000ml) và được định loài dựa vào khoá định loài của Anderson và cộng sự (2009) dựa trên hình thái cấu tạo của giun Kết quả thu thập và định loại được trình bày trong bảng 3.2.

Bảng 3.2 Kết quả thu thập và định danh loài giun đũa ký sinh ở chó tại thành phố Sơn La

Số chó nhiễm giun đũa

Tổng số giun thu thập (con)

Cường độ nhiễm (giun/ chó) (min – max)

Kết quả định danh Tên loài

Số mẫu định danh được (mẫu)

Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy trong số 100 chó mổ, có 46 chó nhiễm giun đũa, chiếm tỷ lệ 46% Tổng cộng đã thu thập được 117 giun đũa ký sinh từ 46 chó, với cường độ nhiễm trung bình là 2,54 giun mỗi chó, dao động từ 1 đến 16 giun mỗi chó.

Trong 117 mẫu giun đũa định danh, xác định được có 117/117 mẫu là loài Toxocara canis (chiếm tỷ lệ 100%), không có mẫu giun nào thu thập được

Chó nuôi tại các xã, phường của thành phố Sơn La chỉ nhiễm giun đũa Toxocara canis Loài giun tròn này có đặc điểm hình thái là màu trắng đục, dài và có 3 môi.

Bờ trong của môi có răng nhỏ Trên môi lưng có 2 nhú lớn xếp đối xứng nhau, ở môi bên bụng có các nhú đơn

Con đực có kích thước cơ thể dài từ 92 đến 110 mm và rộng nhất từ 1,6 đến 2,2 mm Thực quản dài từ 2,8 đến 3,6 mm, trong khi dạ dày có chiều dài từ 0,42 đến 0,54 mm và chiều rộng từ 0,46 đến 0,50 mm Vòng thần kinh cách mút đầu từ 0,68 đến 0,72 mm, và lỗ bài tiết cách mút đầu từ 0,80 đến 0,87 mm Hậu môn nằm cách mút đuôi từ 0,32 đến 0,34 mm Hai gai sinh dục có chiều dài gần bằng nhau, từ 0,90 đến 0,92 mm, và có cánh gai Phần phụ đuôi có hình dạng hình nón, dài từ 0,15 đến 0,16 mm và không có cánh đuôi.

Con cái có kích thước cơ thể dài từ 112 đến 164 mm và rộng nhất từ 2,6 đến 3,2 mm Thực quản dài từ 4,0 đến 4,4 mm, trong khi dạ dày có chiều dài từ 0,48 đến 0,64 mm và chiều rộng từ 0,42 đến 0,58 mm Vòng thần kinh cách mút đầu khoảng 1 đến 1,2 mm, và lỗ bài tiết nằm sau vòng thần kinh Lỗ sinh dục cách mút đầu khoảng 1/5 đến 1/4 chiều dài cơ thể Trứng có vỏ dạng tổ ong với kích thước từ 0,066 đến 0,082 mm x 0,064 đến 0,076 mm.

Loài giun đũa Toxocara canis ký sinh ở chó tại thành phố Sơn La đã được xác định có đặc điểm tương đồng với mô tả của Anderson và cộng sự (2009).

Nghiên cứu của Võ Thị Hải Lê và Nguyễn Văn Thọ (2011) cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở chó nuôi tại Hà Nội là 31,7% đối với T canis và 24,13% đối với T leonina Tương tự, Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008) báo cáo tỷ lệ nhiễm giun đũa T canis là 20% và T leonina là 24,26% Ngoài ra, khảo sát của Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (1993) trên 364 chó cảnh tại vườn thú Thủ Lệ, Hà Nội đã phát hiện 5 loài giun tròn ký sinh trong đường tiêu hóa.

Toxocara canis là 20,4%, Toxascaris leonina là 29,4% Tuy nhiên, kết quả định

34 loài giun thu thập được trên địa bàn thành phố Sơn La chỉ thấy xuất hiện 01 loài giun đũa chó là Toxocara canis

3.2.2 Tình hình nhiễm giun đũa chó ở thành phố Sơn La

3.2.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa chó tại thành phố Sơn La

Chúng tôi đã thu thập 500 mẫu phân chó từ 10 xã, phường tại thành phố Sơn La, bao gồm phường Quyết Tâm, phường Chiềng An, phường Quyết Thắng, phường Tô Hiệu, phường Chiềng Lê, phường Chiềng Cơi, phường Chiềng Sinh, xã Chiềng Cọ, xã Hua La và xã Chiềng Ngần Sử dụng phương pháp xét nghiệm phù nổi Fulleborn, chúng tôi đã phát hiện các mẫu nhiễm trứng giun đũa, với tỷ lệ và cường độ nhiễm được trình bày trong bảng 3.3.

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở chó tại thành phố Sơn La qua xét nghiệm phân Địa phương

Cường độ nhiễm (trứng/g phân)

Quyết Tâm 50 18 36,0 14 77,78 2 11,11 2 11,11 Chiềng An 50 22 44,0 17 77,27 3 13,64 2 9,09 Quyết Thắng 50 17 34,0 13 76,47 3 17,65 1 5,88

Tô Hiệu 50 16 32,0 14 87,50 1 6,25 1 6,25 Chiềng Lề 50 18 36,0 14 77,78 3 16,67 1 5,56 Chiềng Cơi 50 24 48,0 16 66,67 6 25,00 2 8,33 Chiềng Sinh 50 19 38,0 17 89,48 1 5,26 1 5,26 Chiềng Cọ 50 25 50,0 13 52,00 7 28,00 5 20,00 Hua La 50 26 52,0 15 57,69 5 19,23 6 23,08 Chiềng Ngần 50 26 52,0 16 61,54 6 23,08 4 15,38

Theo bảng 3.3, trong tổng số 500 mẫu phân chó được xét nghiệm, có 211 mẫu nhiễm giun đũa chó, chiếm tỷ lệ 42,2% với biến động từ 32,0% đến 52,0% Xã Chiềng Ngần và xã Hua La có tỷ lệ nhiễm cao nhất, đạt 52,0%, tiếp theo là xã Chiềng Cọ với 50,0% và Phường Chiềng Cơi.

Tỷ lệ chó nuôi tại các phường khác nhau có sự chênh lệch rõ rệt, với Phường Quyết Thắng thấp nhất chỉ đạt 32,0%, trong khi phường cao nhất lên tới 48,0% Sự khác biệt này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện chăm sóc, số lượng chó nuôi, ý thức phòng và chữa bệnh, cũng như tình trạng vệ sinh thú y.

Sự khác biệt trong tỷ lệ nhiễm giun đũa chó giữa các xã phường phản ánh mức độ quan tâm đến sức khỏe vật nuôi của từng hộ dân Xã Chiềng Ngần và Chiềng là những ví dụ điển hình cho sự khác biệt này.

Cọ và Hua La có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn các khu vực khác do chó thường được thả rông, dẫn đến việc tiếp xúc nhiều hơn với mầm bệnh Hơn nữa, sự quan tâm đến vệ sinh và phòng bệnh tại đây cũng chưa được chú trọng đúng mức.

Phường Quyết Thắng và Phường Quyết Tâm có tỷ lệ nhiễm giun đũa thấp nhờ ý thức cao của người dân, sự phát triển của dịch vụ thú y, và điều kiện chăm sóc vật nuôi tốt hơn Các hộ dân chú trọng vệ sinh chuồng trại, định kỳ tẩy giun sán, và hạn chế thả rông chó, từ đó đảm bảo sức khỏe cho vật nuôi và giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh Sự khác biệt về điều kiện sống đã góp phần quan trọng vào việc giảm tỷ lệ nhiễm giun đũa ở hai phường này.

Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở các xã được minh họa qua biểu đồ hình 3.1

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm giun đũa chó tại các xã, phường thuộc thành phố

Qua bảng 3.3 và Biểu đồ 3.1 cho thấy: Tính chung, trong tổng số 211 mẫu chó bị nhiễm giun đũa thì 149 mẫu nhiễm nhẹ chiếm 70,61%, 37 mẫu nhiễm ở

36 cường độ trung bình, chiếm 17,54%, 25 mẫu nhiễm ở cường độ nặng, chiếm 11,85%

So sánh giữa các xã về cường độ nhiễm cho thấy:

Tỷ lệ nhiễm ở cường độ nhẹ giữa các xã phường trong nội và ngoại thành phố có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, phường Chiềng Sinh ghi nhận tỷ lệ nhiễm nhẹ cao nhất với 89,48%, trong khi xã Chiềng Cọ có tỷ lệ thấp nhất là 52,0%.

Nghiên cứu khả năng phát triển và tồn tại của trứng giun đũa chó ở ngoại cảnh

Để đánh giá khả năng phát triển và tồn tại của trứng giun đũa chó trong môi trường tự nhiên, chúng tôi đã thu thập phân chó chứa trứng giun đũa mới thải và theo dõi trong phòng thí nghiệm vào mùa hè và mùa thu Nghiên cứu được thực hiện từ giai đoạn trứng đến khi trứng chứa ấu trùng có khả năng gây nhiễm, cho đến khi trứng giun đũa chết Kết quả được trình bày trong bảng 3.8 và 3.9.

3.3.1 Thời gian và tỷ lệ trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh Để đánh giá thời gian và tỷ lệ giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh ở ngoài môi trường, chúng tôi tiến hành lấy mẫu phân của chó nhiễm giun đũa rồi cho vào các chậu nhựa rồi để ra môi trường tự nhiên theo mùa Hè và mùa Thu để đánh giá theo các ngày xét nghiệm phân và đếm số trứng có thể gây bệnh Kết quả được trình bày ở bảng 3.8

Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy rằng trong mùa Hè, với điều kiện nhiệt độ từ 28 đến 34 độ C và độ ẩm từ 70 đến 80%, trứng giun đũa chó bắt đầu phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh sau 18 ngày Đến ngày thứ 22, 100% số trứng đã phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh Trong khi đó, ở mùa Thu, với nhiệt độ từ 18 đến 28 độ C và độ ẩm từ 60 đến 70%, thời gian để trứng bắt đầu phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh là 21 ngày, và 100% trứng giun đũa chó phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh sau 25 ngày.

Trong quá trình phát triển của trứng giun đũa, từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 18, không có trứng nào phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh Tuy nhiên, vào ngày thứ 19 (mùa Hè) và ngày thứ 21 (mùa Thu), đã có 31,67 – 34,9% trứng nuôi cấy phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh, với số trứng bình quân/vi trường là 3,2 – 3,5 Tỷ lệ trứng phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh tăng dần trong các ngày theo dõi tiếp theo, đạt 100% vào ngày thứ 22 trong mùa Hè và ngày thứ 25 trong mùa Thu.

Bảng 3.8 Thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh

Tổng số trứng/vi trường

Số trứng có sức gây bệnh/vi trường

Thời gian phát triển của trứng giun đũa chó từ giai đoạn trứng đến khi chứa ấu trùng có khả năng gây bệnh vào mùa hè nhanh hơn so với mùa thu, với số liệu cụ thể là 25 13,45  0,29 và 13,45  0,29.

+ Mùa Hè trứng giun đũa chó phát triển trong 22 ngày, tỷ lệ trứng chứa ấu trùng có sức gây bệnh đạt 100%

+ Mùa Thu trứng giun đũa chó phát triển đến giai đoạn trứng chứa ấu trùng có sức gây bệnh đạt tỷ lệ 100% trong 25 ngày

Theo Lê Thị Hải (2011), nhiệt độ từ 28 – 34 0 C, thời gian từ khi nuôi trứng đến khi trở thành trứng có sức gây bệnh trong phòng thí nghiệm là 11 –

23 ngày Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đối phù hợp và tương đồng với kết quả ghiên cứu của tác giả

Theo nghiên cứu của Theo Brown và cộng sự (2014), sự lây nhiễm giun đũa ở chó diễn ra quanh năm, đặc biệt tại các quốc gia nhiệt đới Trong điều kiện nóng ẩm, nhiệt độ môi trường từ 20 đến 30 độ C rất thuận lợi cho sự phát triển của trứng thành ấu trùng gây bệnh.

Nghiên cứu cho thấy rằng khi nhiệt độ môi trường tăng, sự phát triển của trứng giun đũa đến giai đoạn cảm nhiễm diễn ra nhanh chóng Để phòng ngừa hiệu quả bệnh giun đũa, cần can thiệp sớm vào giai đoạn trứng trước khi chúng phát tán và phát triển thành trứng có ấu trùng gây bệnh, đặc biệt trong mùa hè và mùa thu, khi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trứng giun đũa.

3.3.2 Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh ở ngoại cảnh Để theo dõi thời gian tồn tại của trứng giun đũa ngoài ngoại cảnh, chúng tôi tiếp tục theo dõi sau khi trứng đã phát triển hoàn toàn thành trứng chứa ấu trùng có sức gây bệnh

Thí nghiệm được bố trí vào mùa Hè và mùa Thu với nhiệt độ khác nhau với

10 mẫu thí nghiệm, tiến hành 5 ngày xét nghiệm một lần và lấy kết quả trung bình

Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.9

Theo bảng 3.9, ở nhiệt độ mùa hè (t 0 : 28 - 35 0 C, A 0 : 70 - 80%), ấu trùng trứng giun đũa chó bắt đầu chết từ ngày thứ 25 sau khi theo phân ra ngoài môi trường và kéo dài đến ngày thứ 50.

Số lượng trứng giun đũa chó chứa ấu trùng gây bệnh giảm dần theo thời gian, từ 11,5 trứng/vi trường vào ngày thứ 25 xuống còn 9,25 trứng/vi trường vào ngày thứ 50.

Số lượng trứng giun đũa chó chết tăng dần từ 0,5 trứng/vi trường vào ngày thứ 25 lên 9,25 trứng/vi trường vào ngày thứ 50 Đặc biệt, 100% trứng giun đũa chó chết được phát hiện vào ngày thứ 50 sau khi theo phân ra ngoài môi trường trong mùa hè.

Bảng 3.9 Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh

Tổng số trứng có sức gây bệnh/vi trường

Số trứng chết/vi trường

Vào mùa thu, với nhiệt độ dao động từ 18 – 28 độ C và độ ẩm từ 60 – 70%, trứng giun đũa chó bắt đầu chết sau 30 ngày với tỷ lệ 20,34%, và hoàn toàn chết 100% sau 55 ngày khi theo phân ra ngoài.

Số lượng trứng giun đũa chó chứa ấu trùng gây bệnh giảm dần theo thời gian, từ 13,45 trứng/vi trường vào ngày thứ 25 xuống còn 9,35 trứng/vi trường vào ngày thứ 55.

Số lượng trứng giun đũa chó chết ngoài ngoại cảnh tăng dần theo thời gian từ ngày thứ 30 (2,34 trứng/vi trường) tới ngày thứ 55 (9,35 trứng/vi trường)

Như vậy, thời gian trứng giun đũa chó tồn tại ngoài ngoại cảnh ở mùa hè ngắn hơn so với mùa thu, cụ thể:

Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa

+ Mùa hè trứng giun đũa chó tồn tại cho tới ngày thứ 50, tỷ lệ trứng chết đạt 100%

Mùa thu, trứng giun đũa chó có thể tồn tại đến 55 ngày, với tỷ lệ chết đạt 100% Sự khác biệt về nhiệt độ và độ ẩm giữa mùa hè và mùa thu ảnh hưởng đến thời gian phát triển và sự sống sót của trứng Trong mùa hè, trứng phát triển nhanh chóng và chết sớm hơn, trong khi mùa thu, trứng phát triển chậm hơn, dẫn đến thời gian chết kéo dài Điều này chứng minh rằng điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của trứng giun đũa chó.

3.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa

3.4.1 Triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa Để có cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán bệnh giun đũa ở chó, chúng tôi đã theo dõi biểu hiện lâm sàng của 211 chó nhiễm giun đũa trên 10 xã, phường nghiên cứu thuộc thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La Kết quả được trình bày ở bảng 3.10

Bảng 3.10 Triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa

Số chó có triệu chứng lâm sàng (con)

Những biểu hiện chủ yếu

Kém ăn hoặc bỏ ăn 89 98,89 Gầy yếu, suy nhược 70 77,78

Phân lỏng, mùi thối khắm 45 50,00

Bồn chồn, run rẩy, đi lại xiêu vẹo 10 11,11

Kết quả từ bảng 3.10 cho thấy trong số 211 chó nhiễm giun đũa, có 90 con biểu hiện lâm sàng, chiếm 42,40% Trong số này, tỷ lệ chó có biểu hiện kém ăn hoặc bỏ ăn cao nhất với 98,89%, tiếp theo là gầy yếu suy nhược (77,78%), chướng bụng (27,78%), rối loạn tiêu hóa với phân lỏng và mùi thối (50,0%), nôn mửa (27,78%), và thấp nhất là triệu chứng run rẩy và đi lại xiêu vẹo, chiếm 11,11%.

Các biểu hiện lâm sàng ở chó là hệ quả của tác động cơ giới, sự chiếm đoạt chất dinh dưỡng và độc tố từ giun Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến cái chết của chó Nguyên nhân chủ yếu là do rối loạn tiêu hóa, mất nước, và rối loạn điện giải, gây hạ huyết áp và truỵ tim mạch khi chó nôn nhiều và tiêu chảy.

Giun đũa tiết ra độc tố, gây hủy hoại hồng cầu và mạch máu ngoại biên, dẫn đến rối loạn tiêu hóa và ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất của chó, gây viêm đường tiêu hóa, ỉa chảy và suy nhược cơ thể Bên cạnh đó, độc tố của giun còn gây ra các triệu chứng thần kinh như co giật và sùi bọt mép.

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999), ấu trùng giun còn mang vi khuẩn đến các cơ quan tổ chức gây viêm

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan về các biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa chó tự nhiên.

Theo dõi triệu chứng lâm sàng ở chó nhiễm giun đũa cho thấy các triệu chứng này dễ nhận biết Tuy nhiên, nhiều bệnh ký sinh trùng khác ở chó cũng có triệu chứng tương tự Do đó, để đưa ra kết luận chính xác về bệnh, cần kết hợp theo dõi triệu chứng lâm sàng với việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ và kiểm tra trứng giun đũa trong phân.

3.4.2 Tổn thương đại thể ở cơ quan tiêu hóa do giun đũa chó gây ra

Để xác định tổn thương đại thể ở các cơ quan của chó nhiễm giun đũa, chúng tôi đã tiến hành mổ khám 100 chó tại các xã, phường thuộc TP Sơn La Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.11.

Bảng 3.11 Các tổn thương đại thể chủ yếu ở cơ quan tiêu hóa của chó bị nhiễm giun đũa

Số chó có tổn thương

Tổn thương đại thể chủ yếu

Dạ dày chứa nhiều thức ăn không tiêu 70 70,0

Xuất huyết niêm mạc ruột 40 40,0

Kết quả từ bảng 3.11 cho thấy, trong số 10 chó được mổ khám, tất cả đều có bệnh tích, đạt tỷ lệ 100% Cụ thể, 80% chó chết gầy, 70% có dạ dày chứa nhiều thức ăn không tiêu, 10% niêm mạc ruột bị viêm và sưng, và 40% chó có biểu hiện xuất huyết niêm mạc ruột.

Kết quả cho thấy bệnh tích rõ ràng nhất ở ruột và dạ dày, với nhiều giun trưởng thành trong ruột non Những con chó nhiễm giun đũa ít có độ đàn hồi ở ruột, trong khi những con nhiễm nặng thì ruột bị sưng, xuất huyết nặng và có điểm hoại tử màu trắng trên bề mặt.

Lê Thị Hải và cộng sự (2011) đã phát hiện rằng chó bị nhiễm giun đũa thường có các triệu chứng như chậm lớn, thiếu máu, ăn kém, bụng chướng to và lông xù Các dấu hiệu bệnh lý thường gặp bao gồm xác chết gầy, lông quanh hậu môn dính phân bẩn Qua mổ khám, trong lòng ruột non và ruột già có nhiều giun trưởng thành, đồng thời có hiện tượng tích nước trong khoang bụng Giun có thể tập trung thành búi, gây tắc ruột, viêm ruột non cata và xuất huyết nhiều điểm.

Những chó mắc giun đũa tại thành phố Sơn La được mổ khám cũng xuất hiện những bệnh tích tương tự

3.4.3 Tổn thương vi thể ở cơ quan tiêu hóa do giun đũa chó gây ra

Chúng tôi đã thu thập mẫu ruột non từ 10 chó mắc bệnh giun đũa để xác định bệnh tích vi thể Kết quả về tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích và các tổn thương xuất hiện được trình bày trong bảng 3.12.

Bảng 3.12: Tổn thương vi thể ở cơ quan tiêu hóa của chó bị bệnh giun đũa

Số tiêu bản nghiên cứu

Số tiêu bản có bệnh tích

Số tiêu bản có tổn thương vi thể Tỷ lệ

- Thành ruột non dày lên

- Thâm nhiễm tế bào viêm

- Tăng sinh các biểu mô ruột và xuất hiện giun trưởng thành

Kết quả từ bảng 3.12 cho thấy, trong 10 mẫu ruột non thu được, có 80% mẫu cho thấy tổn thương vi thể, với các biểu hiện như nhu mô ruột bị thâm nhiễm tế bào viêm, thành ruột dày lên và sự tăng sinh của các tế bào biểu mô ruột.

Quan sát tiêu bản nhuộm hematoxylin-eosin cho thấy những thay đổi rõ rệt ở lòng ruột non bị viêm cata, bao gồm sự giãn nở của thành ruột, tăng sinh biểu mô, thâm nhiễm tế bào viêm và xơ niêm mạc ruột.

Khi cắt và nhuộm các tiêu bản vi thể của ruột non chó, tỷ lệ xuất hiện bệnh tích vi thể ở ruột non cao hơn so với ruột già Nguyên nhân có thể là do chất dinh dưỡng trong cơ thể tập trung nhiều ở ruột non, dẫn đến sự gia tăng số lượng giun đũa.

55 trưởng thành tập trung ở khu vực ruột non và gây ra các bệnh tích viêm, xuất huyết ruột non nhiều hơn ruột già

Nghiên cứu biện pháp phòng và điều trị bệnh giun đũa chó

3.5.1 Hiệu lực của một số loại thuốc tẩy giun đũa cho chó (trên diện hẹp)

Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thuốc tẩy giun sán, trong đó chúng tôi đã sử dụng hai loại: Mebendazol 10% (0,6 g/kg TT) và Heartworm-Shield (1 viên/chó từ 5,7 – 11 kg) để tẩy giun đũa cho chó Nghiên cứu được thực hiện tại 10 xã phường của thành phố Sơn La cho thấy tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở chó Chúng tôi đã điều trị cho 20 chó nhiễm với cường độ từ nhẹ đến nặng bằng hai loại thuốc trên Sau 15 ngày sử dụng thuốc, chúng tôi tiến hành xét nghiệm lại phân của từng chó, và kết quả được trình bày trong bảng 3.14.

Kết quả ở bảng cho thấy:

Thuốc Mebendazol 10% với liều 0,6 g/kg đã cho thấy hiệu quả tẩy giun đũa cao ở 20 chó nhiễm giun đũa với cường độ nhiễm từ nhẹ đến nặng, đạt 90% chó được tẩy sạch trứng giun đũa Tổng thể, hiệu quả tẩy giun đũa của Mebendazol đạt tới 90% chó sạch trứng giun.

Sử dụng thuốc Heartworm-Shield với liều 1 viên cho chó có trọng lượng từ 5,7 đến 11 kg đã cho kết quả tích cực khi tẩy giun cho 20 chó nhiễm bệnh ở mức độ từ nhẹ đến nặng Tất cả 20 chó đều sạch trứng, đạt hiệu lực 100%.

Bảng 3.14 Hiệu lực của một số loại thuốc tẩy giun đũa cho chó

Thuốc sử dụng và liều lượng

Trước khi dùng thuốc Sau khi dùng thuốc 15 ngày

Hiệu lực triệt để Độ an toàn

Cường độ nhiễm (trứng/g phân)

Cường độ nhiễm (trứng/g phân)

Số chó sạch trứng (con)

Mebendazol 10% và Heartworm-Shield đều có hiệu lực điều trị cao, đạt từ 90% - 100%, cho thấy thuốc có tác dụng rất tốt và triệt để với mầm bệnh ký sinh trùng Cả hai loại thuốc này đều có thể được sử dụng để điều trị bệnh giun đũa cho chó Để đánh giá độ an toàn của các thuốc này, chúng tôi tiến hành xác định các chỉ tiêu lâm sàng như thân nhiệt, nhịp tim, tần số hô hấp và quan sát trạng thái của con vật trước và sau khi tẩy 6 giờ.

Sau khi sử dụng thuốc, các chỉ tiêu sinh lý như thân nhiệt, tần số hô hấp và nhịp tim đều có sự thay đổi nhẹ, nhưng vẫn nằm trong giới hạn sinh lý bình thường của cơ thể.

Mebendazol 10% (0,6 g/ kg TT): trung bình trước khi tẩy (38,4 0 ; 78,7 lần/phút; 28,7 lần/phút), sau khi tẩy (38,4 0 ; 78,8 lần/phút; 28,8 lần/phút)

Heartworm-Shield (1 viên /chó từ 5,7 – 11 kg): trước khi tẩy (38,3 0 ; 87,5 lần/phút; 29,3 lần/phút), sau khi tẩy (39,4 0 ; 87,6 lần/phút; 29,3 lần/phút)

Theo Hoàng Toàn Thắng (2006), chỉ tiêu sinh lý của chó như sau: thân nhiệt: 37,5 0 C - 39 0 C; nhịp tim: 70 - 120 lần/phút; tần số hô hấp: 10 - 30 lần/phút

Sự thay đổi chỉ tiêu sinh lý của chó sau khi sử dụng thuốc vẫn nằm trong giới hạn bình thường, cho thấy thuốc này an toàn cho chó.

Chúng tôi không chỉ theo dõi các chỉ tiêu sinh lý mà còn chú ý đến phản ứng phụ do thuốc gây ra, bao gồm kém ăn, mệt mỏi, nôn mửa, ỉa chảy, run rẩy và chảy nước bọt Sau khi sử dụng hai loại thuốc Mebendazol và Heartworm-Shield cho chó, không có chó nào xuất hiện biểu hiện phản ứng, cho thấy tỷ lệ an toàn đạt 100%.

Từ kết quả ở bảng 3.14, chúng tôi có nhận xét:

Thuốc Mebendazol, với liều 0,6 g/kgTT, có hiệu lực tẩy đạt 90%, an toàn đối với chó

- Thuốc Heartworm-Shield, với liều 1 viên /chó từ 5,7 – 11 kg, có hiệu lực tẩy giun đũa đạt 100%, và an toàn đối với chó

Một loại thuốc được xem là tốt khi đáp ứng hai tiêu chí: có tác dụng hiệu quả và an toàn cho người sử dụng Hơn nữa, hai loại thuốc này còn có giá thành hợp lý, phù hợp với khả năng tài chính của người dân.

3.5.3 Hiệu lực của một số loại thuốc điều trị giun đũa trên chó (trên diện rộng)

Sau khi thử nghiệm tẩy giun đũa chó với hai loại thuốc Mebendazol 10% và Heartworm-Shield, chúng tôi nhận thấy Heartworm-Shield có tỷ lệ tẩy trừ cao và độ an toàn tuyệt đối Do đó, chúng tôi quyết định sử dụng thuốc Heartworm-Shield để tẩy giun đũa cho chó trên diện rộng tại các xã phường của thành phố Sơn La Sau 15 ngày tẩy, chúng tôi tiến hành xét nghiệm phân ở các chó đã được tẩy giun để kiểm tra kết quả, được trình bày trong bảng 3.15.

Theo bảng 3.15, hiệu quả điều trị thuốc tẩy giun ở các phường trong nội thành đạt tỷ lệ khỏi bệnh cao từ 86,67% đến 100% Tuy nhiên, xã Chiềng Cọ và Chiềng Ngần có tỷ lệ khỏi bệnh thấp nhất, chỉ đạt 73,33%.

Chúng tôi khuyến cáo người dân sử dụng thuốc Heartworm-Shield, với tỷ lệ hiệu quả đạt trên 86% Để nâng cao hiệu quả, sau khi tẩy giun cho chó, nên nhốt chó để quản lý và theo dõi Đồng thời, cần định kỳ tẩy giun tròn cho chó để đảm bảo chó không bị nhiễm ký sinh trùng.

Bảng 3.15 Hiệu lực của một số loại thuốc điều trị giun đũa trên chó

3.5.4 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa chó Đặc điểm khí hậu miền bắc nước ta là khí hậu nóng ẩm mưa nhiều kéo dài là điều kiện thuận lợi để cho mầm bệnh trong đó có trứng giun sán tồn tại và phát triển quanh năm, từ đó làm cho chó nuôi ở nước ta nhiễm ký sinh trùng một cách dễ dàng Từ kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và kết quả thử nghiệm một số thuốc điều trị Chúng tôi đề xuất một số biện pháp phòng bệnh giun đũa chó như sau:

Để phòng ngừa giun cho chó, cần tẩy giun từ khi chúng chưa trưởng thành và thực hiện định kỳ Chó con nên được tẩy giun lần đầu khi 25 – 30 ngày tuổi và lần thứ hai khi 3 tháng tuổi Sau đó, tẩy giun cho chó mỗi 3 – 4 tháng một lần bằng thuốc Mebendazol 10% hoặc Heartworm-Shield.

Số chó điều trị (con)

Số chó khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%)

Để bảo vệ sức khỏe cho chó con, chó mẹ cần được tẩy giun trước khi mang thai nhằm ngăn ngừa lây nhiễm mầm bệnh Sau khi sinh, chó mẹ nên được tẩy giun lại sau 20 ngày.

+ Phân chó nên dọn sạch, nên đốt bỏ, đào lỗ chôn hay đem ủ theo phương pháp nhiệt sinh học nhằm diệt mầm bệnh giun đũa có trong phân chó

+ Hạn chế thả rông chó, tăng cường công tác quản lý, chuồng trại vệ sinh sạch sẽ

Tăng cường chăm sóc và nuôi dưỡng chó là cách hiệu quả để nâng cao sức đề kháng của chúng, đặc biệt là đối với bệnh giun đũa và các bệnh giun tròn đường tiêu hóa khác.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

Căn cứ vào các kết quả thu được khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:

1.1 Về thực trạng chăn nuôi chó và áp dụng các biện pháp phòng bệnh giun sán cho chó

- Số lượng chó nuôi ở các xã nghiên cứu thuộc thành phố Sơn La là tương đối nhiều (4.320 con, bình quân là 1,12 con/hộ)

Tỷ lệ hộ gia đình thực hiện các biện pháp phòng bệnh giun sán cho chó vẫn còn thấp, với chỉ 33,98% hộ định kỳ tẩy giun sán, 31,27% hộ chăm sóc và nuôi dưỡng chó tốt, và 31,31% hộ thường xuyên vệ sinh chuồng nuôi.

1.2 Về một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa chó ở một số xã của Thành phố Sơn La

- Chó nuôi ở thành phố Sơn La chỉ thấy nhiễm loài giun đũa Toxocara canis, không thấy nhiễm loài Toxascaris leonina

- Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở các xã, phường của thành phố Sơn La tương đối cao (42,20%)

Chó dưới 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, đạt 63,92%, trong khi chó trên 12 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất, chỉ 27,27% Cả chó ở độ tuổi dưới 2 tháng và từ 2 đến 6 tháng đều bị nhiễm giun đũa với cường độ từ nhẹ đến nặng.

- Tỷ lệ chó nhiễm giun đũa theo các mùa có sự chênh lệch khá lớn Mùa

Hè có tỷ lệ cao nhất (52,31%) và Mùa Đông có tỷ lệ thấp nhất (30,83%)

- Chó nuôi theo các phương thức khác nhau có tỷ lệ nhiễm giun đũa là khác nhau Chó nuôi thả rông nhiễm giun đũa nhiều nhất (49,15%)

- Chó nội nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao và cường độ nặng hơn so với chó lai và chó ngoại

Trứng giun đũa, sau khi được thải ra ngoài qua phân, có khả năng phát triển thành trứng chứa ấu trùng gây nhiễm Quá trình này bắt đầu từ ngày thứ 18.

63 mùa hè và ngày thứ 22 ở mùa thu Trứng có thể tồn tại đến ngày 50 ở mùa hè và đến ngày thứ 55 ở mùa thu

1.3 Về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun đũa ở chó

Chó nhiễm giun đũa thường có các triệu chứng như kém ăn, ủ rũ, mệt mỏi, và rối loạn tiêu hóa Chúng có thể gặp phải tình trạng phân lỏng có mùi thối khắm, nôn mửa, bồn chồn, và đi lại xiêu vẹo.

- Số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố của chó bệnh giảm, ngược lại số lượng bạch cầu tăng cao, đặc biệt là bạch cầu ái toan

- Tổn thương đại thể chủ yếu thấy ở ruột non và ruột già với biểu hiện chủ yếu: ruột bị viêm, xuất huyết, trong ruột có chứa giun trưởng thành

- Tổn thương vi thể chủ yếu thấy: thâm nhiễm tế bào viêm, tăng sinh các tế bào biểu mô ruột

1.4 Về hiệu lực và độ an toàn của thuốc điều trị giun đũa cho chó

Thuốc Mebendazol 10% (liều 0,6 g/ kg TT) và Heartworm-Shield (liều

1 viên/ chó 5,7 – 11 kg) đều có tác dụng trong điều trị giun đũa và an toàn với chó.

Kiến nghị

- Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về bệnh giun đũa chó, từ đó có cơ sở khoa học cho việc phòng chống bệnh có hiệu quả

- Sử dụng thuốc Mebendazol 10% và Heartworm-Shield tẩy giun đũa cho chó

Ngày đăng: 17/06/2025, 17:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Khả Ái, Nguyễn Thị Thanh Hà (2012). “Khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó và các yếu tố liên quan ở cộng đồng xã Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh”. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học Viện SR - KST - CT TP. Hồ Chí Minh 2012, tr. 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó và các yếu tố liên quan ở cộng đồng xã Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Khả Ái, Nguyễn Thị Thanh Hà
Nhà XB: Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học Viện SR - KST - CT TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2012
2. Nguyễn Thị Vân Anh và Nguyễn Ngọc Đỉnh (2021). Tỷ lệ nhiễm giun đũa Toxocara canis ở chó nuôi và ở người nuôi chó tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y. Tập XXVIII, số 8.Tr. 50 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm giun đũa Toxocara canis ở chó nuôi và ở người nuôi chó tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Ngọc Đỉnh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Năm: 2021
3. Trần Minh Châu, Hồ Đình Chúc, Phạm Sĩ Lăng, Dương Công Thuận (1988). “Bệnh thường thấy ở chó và biện pháp phòng trị”. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 125- 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường thấy ở chó và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần Minh Châu, Hồ Đình Chúc, Phạm Sĩ Lăng, Dương Công Thuận
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1988
4. Phan Văn Chinh (2003). Giáo trình Dược liệu thú y. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr.56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược liệu thú y
Tác giả: Phan Văn Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2003
5. Nguyễn Mạnh Cường, Đỗ Thị Lan Phương, Nguyễn Hữu Hoà, Nguyễn Thị Minh Thuận (2022). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa ở chó nuôi trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên. Số 227 (10) tr 205 – 211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa ở chó nuôi trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Đỗ Thị Lan Phương, Nguyễn Hữu Hoà, Nguyễn Thị Minh Thuận
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Năm: 2022
6. Dương Thị Hồng Duyên, Phạm Diệu Thùy, Trần Nhật Thắng (2023). Một số đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của bệnh giun đũa ở chó tại tỉnh Thái Nguyên.Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y. Tập XXX, số 8. Tr. 27 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của bệnh giun đũa ở chó tại tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Dương Thị Hồng Duyên, Phạm Diệu Thùy, Trần Nhật Thắng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Năm: 2023
7. Hoàng Minh Đức, Nguyễn Thị Kim Lan (2008). “Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội và biện pháp phòng trị”. Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội và biện pháp phòng trị
Tác giả: Hoàng Minh Đức, Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2008
8. Đỗ Hài (1972). ‘‘Nhận xét về giun tròn (Nematoda) trên chó săn nuôi ở Việt Nam’’. Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông Nghiệp, (số 6) tr.438 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về giun tròn (Nematoda) trên chó săn nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hài
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông Nghiệp
Năm: 1972
9. Lê Thị Hải (2011). “Khảo sát tình hình nhiễm giun tròn ký sinh đường tiêu hóa chó ở huyện Gia lâm – Hà Nội. Một số đặc điểm sinh học, bệnh lý học của bệnh giun đũa chó Toxocara canis và biện pháp phòng trừ”. Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm giun tròn ký sinh đường tiêu hóa chó ở huyện Gia lâm – Hà Nội. Một số đặc điểm sinh học, bệnh lý học của bệnh giun đũa chó Toxocara canis và biện pháp phòng trừ
Tác giả: Lê Thị Hải
Nhà XB: Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2011
10. Vũ Ngọc Hoài (2021). Tình hình nhiễm giun đũa ở chó tại một số địa phương của tỉnh An Giang. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Chăn nuôi số 226/tháng 6/2021. Tr. 72 - 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun đũa ở chó tại một số địa phương của tỉnh An Giang
Tác giả: Vũ Ngọc Hoài
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật Chăn nuôi
Năm: 2021
11. Nguyễn Thị Kim Lan (2012). Giáo trình Ký sinh trùng thú y. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. tr18, tr. 136 – tr.139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2012
12. Phạm Sỹ Lăng (1985). “Bệnh giun móc ở chó Việt Nam”. Công trình nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật Thú y (1985 - 1989). Viện Thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun móc ở chó Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Viện Thú y
Năm: 1985
13. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Bùi Văn Đoan (1993). Chó cảnh – kỹ thuật nuôi dạy và phòng trị, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chó cảnh – kỹ thuật nuôi dạy và phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Bùi Văn Đoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1993
14. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001). Bệnh Ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp điều trị, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp điều trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
15. Phan Địch Lân (2005). Bệnh giun tròn ở động vật nuôi ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr.115-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun tròn ở động vật nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
16. Võ Thị Hải Lê (2007). Thực trạng nhiễm giun tròn đường tiêu hóa chó nuôi tại thành phố Vinh (Nghệ An), một số đặc điểm sinh học A. caninum và bệnh do chúng gây ra ở chó, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm giun tròn đường tiêu hóa chó nuôi tại thành phố Vinh (Nghệ An), một số đặc điểm sinh học A. caninum và bệnh do chúng gây ra ở chó
Tác giả: Võ Thị Hải Lê
Nhà XB: Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
17. Võ Thị Hải Lê, Nguyễn Văn Thọ (2011). “Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó tại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa”. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 7, số 5, tr. 637 - 642 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó tại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Võ Thị Hải Lê, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 2011
18. Phan Lục (1997). Giáo trình ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
19. Hồ Đăng Minh Nhật, Nguyễn Thị Kê, Võ Doãn Trung, Phan Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Hữu Hùng (2019). Thiết lập qui trình nuôi ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Thái Nguyên. Số 5 trang 46 – 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập qui trình nuôi ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis
Tác giả: Hồ Đăng Minh Nhật, Nguyễn Thị Kê, Võ Doãn Trung, Phan Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Hữu Hùng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Thái Nguyên
Năm: 2019
20. Lương Trường Sơn, Đặng Thị Nga, Nguyễn Ngọc Ánh, Đỗ Thị Phượng Linh, Phạm Thị Thu Giang, Trần Thị Ngân, Mai Anh Lợi (2013). “Tìm hiểu các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị đối với những bệnh nhân nhiễm giun sán đến khám tại Viện SR-KST-CT TP. HCM”. Báo cáo tại Hội nghị Ký sinh trùng toàn quốc năm 2013 tại TP. HCM, tr. 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị đối với những bệnh nhân nhiễm giun sán đến khám tại Viện SR-KST-CT TP. HCM
Tác giả: Lương Trường Sơn, Đặng Thị Nga, Nguyễn Ngọc Ánh, Đỗ Thị Phượng Linh, Phạm Thị Thu Giang, Trần Thị Ngân, Mai Anh Lợi
Nhà XB: Báo cáo tại Hội nghị Ký sinh trùng toàn quốc năm 2013 tại TP. HCM
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Trứng giun Toxocara canis   Hình 2.2. Giun đũa Toxocara canis - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Hình 2.1. Trứng giun Toxocara canis Hình 2.2. Giun đũa Toxocara canis (Trang 20)
Hình 2.3. Trứng giun T. leonina             Hình 2.4. Phần đầu T. leonina - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Hình 2.3. Trứng giun T. leonina Hình 2.4. Phần đầu T. leonina (Trang 21)
Bảng 3.1. Thực trạng chăn nuôi chó và việc áp dụng các biện pháp phòng - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.1. Thực trạng chăn nuôi chó và việc áp dụng các biện pháp phòng (Trang 45)
Bảng 3.2. Kết quả thu thập và định danh loài giun đũa ký sinh ở chó tại - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.2. Kết quả thu thập và định danh loài giun đũa ký sinh ở chó tại (Trang 47)
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi chó - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi chó (Trang 52)
Đồ thị  3.2. - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
th ị 3.2 (Trang 54)
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa chó theo mùa - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa chó theo mùa (Trang 55)
Bảng 3.8. Thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.8. Thời gian trứng giun đũa phát triển thành trứng có sức gây (Trang 63)
Bảng 3.9. Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.9. Thời gian sống của trứng giun đũa có sức gây bệnh (Trang 65)
Bảng 3.10. Triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.10. Triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh giun đũa (Trang 66)
Bảng 3.11. Các tổn thương đại thể chủ yếu ở cơ quan tiêu hóa của chó bị - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.11. Các tổn thương đại thể chủ yếu ở cơ quan tiêu hóa của chó bị (Trang 68)
Bảng 3.12: Tổn thương vi thể ở cơ quan tiêu hóa của chó bị bệnh - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.12 Tổn thương vi thể ở cơ quan tiêu hóa của chó bị bệnh (Trang 69)
Bảng 3.14. Hiệu lực của một số loại thuốc tẩy giun đũa cho chó - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.14. Hiệu lực của một số loại thuốc tẩy giun đũa cho chó (Trang 73)
Bảng 3.15. Hiệu lực của một số loại thuốc điều trị giun đũa trên chó - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Bảng 3.15. Hiệu lực của một số loại thuốc điều trị giun đũa trên chó (Trang 75)
Hình 19 và 20.  Đuôi của giun Toxocara canis đực. - Đặc Điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh giun Đũa (toxocariosis) trên Đàn chó tại thành phố sơn la và biện pháp phòng trị
Hình 19 và 20. Đuôi của giun Toxocara canis đực (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w