Thơ tượng trưng - Hình thức tư duy văn học mới Theo di lịch sử văn học phương Tây từ thời Phục hưng trở đi, dường như bat kì một xu hướng thâm mĩ nảo ra đời cũng có những hình thức “tuyê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG DAI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH
Lé Thi Nga
TINH AM GOI CUA THƠ TƯỢNG TRƯNG
TRONG THO MAI VAN PHAN
(Qua Nghỉ lễ nhận tên,
Và đột nhiên gió thối, Vừa sinh ra ở đó)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phó Hồ Chí Minh - 2024
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SU PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH
Lê Thị Nga
TÍNH ÁM GỢI CỦA THƠ TƯỢNG TRƯNG
TRONG THƠ MAI VĂN PHÁN
(Qua Nghỉ lễ nhận tên,
Và đột nhiên gió thối, Vừa sinh ra ở đó)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8220120
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HUONG DAN KHOA HOC
PGS TS NGUYEN HUU HIEU
Thành pho Hồ Chi Minh - 2024
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Mọi nguồn trích dẫn đều có chú thích cụ thể Các kết quả nghiên cứu được
trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bé trong bat kì côngtrình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Thị Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giảng viên trong khoa Ngữ Văn trường
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và quý thay cô giảng viên thỉnh giảng từ
các đơn vị đào tạo khác đã giúp tôi có nhiều kiến thức mới mẻ, sâu rộng và cách
thức nghiên cứu văn học hiệu quả trong suốt quá trình theo học tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu — người đãtận tình hướng dẫn và góp ý dé tôi hoàn thành luận van này Thay đã cung cap và
gợi ý nguồn tư liệu, hướng dẫn phương pháp trong suốt quá trình tôi hoàn thành
luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý nhân viên phòng thiết bị và phòng thư
viện của nhả trường đã hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình theo học.
Tác giả luận văn
Lê Thị Nga
Trang 51.1 Chủ nghĩa tượng trưng — chung quanh sự xuất hiện của thi phát 1§
1.1.1 Một hình thức thơ mới ra đời và được định danh - cess 15
1.1.2 Chủ nghĩa tượng trưng như một thái độ phản ứng thâm mĩ 17
1.2 Thơ tượng trưng — vị trí và đặc điểm thâm mĩ cơ bản -s-5555s55¿ 23
1.2.1 VỊ trí của thơ tượng trưng «TH HH HH HH HH HH Hi 23
1.2.2 Ám gợi - đặc điểm thâm mĩ cơ bản của thơ tượng Tưng ‹‹-‹ 24
1.3 Những dé tài ám ảnh trong nghệ thuật tượng trưng -ccc-cccscc 31
SB Daa Meh Nan ONR loa: 2c 60c 002210622000210127112219221)3039130232212218210162111271182101211431182031202125 32
CHUONG 2 TINH AM GOL TRONG THƠ MAI VAN PHAN XÉT TỪ
PHƯƠNG DIEN BIEU TƯỢNG - 52-222 222222112111 112122222222 re, 33
2.1 Biêu tượng và chức năng gợi 2 2-22 2+C2t££St2EtEEerrrerrrrrrcrrrcee 33
2.2 Thơ Mai Văn Phan — một thi giới chat đầy biểu tượng -: : 37
95t, (Bei ROTA OD cantiniii0i121612100100231114118330161662561233353833213836336318618634883385381823388ã4 38
32:2 (Bidets sv NRO SPAN cscs cscasccsncnsxensnssacscsnussnusstpactvastsaaasansviausiscsiaasssons 41 2:2.3 Biểu tượng mầu sắc, ánh SAG sasscssissssssssaesssssssvsssasissnsinessissiscssisassvasssssseasi 46 2.2.4 Biểu tượng người tinh **€0†” các cc cv Stcrvcrksrrrsrrrertersrreerxrrrrrsrrsrrerree 52
2.3 Âm nhạc - một đạng thức của biéu tượng thính giác -«- 55
"c0 /‹‹ :Ii 59
CHUONG 3 TINH AM GOL TRONG THO MAI VAN PHAN XÉT TỪ
EHUONG ĐEN NG ONT ocrcccsscesscccesccreeerccstoeeereesrtsserenrrcsercseiennerenceenneeencoes 60
3.1 Ngôn từ — cái biểu đạt trong thơ ca hiện đại 5c ©5sc55scccze- 60
3.2 Ngôn từ gợi cảm trong thơ Mai Văn Phắn -22522222222 cxscssrcscrccee 65
Trang 63.3 Từ lay mang chức năng gợi hình trong thơ - c Ssesseieeerreerrce 7]
3.4 Ngôn ngữ cam giác và những liên tưởng tự do bat định trong thơ Mai Văn Phắn 2 22 tt 0222112 112 11 11211011111 T11 11 E111 1 2 0 11 1e 76
"ch nh ra 81
TÀI LIEU THAM KHẢO 222222 2 2225222525225122211225107112721721127 112211211 e 85
Trang 7MỞ DAU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Chủ nghĩa tượng trưng (Symbolism) là hiện tượng thắm mĩ xuất hiện ở
phương Tây cuối thé ki XIX, trước hết là ở Pháp, sau đó lan rộng ra Âu châu và
nhiều nên van học khác nhau trên thé giới Thơ tượng trưng được xem là hiện tượng
thâm mĩ khởi dau của chủ nghĩa biện đại, bởi trong lịch sử văn học phương Tây,chủ nghĩa tượng trưng trước hết là trong thơ tượng trưng đã xuất hiện hình thức tư
duy văn học mới, vừa phản ánh được nhu cầu đổi mới văn học, vừa đáp ứng được
nhu cầu của công chúng đọc hiện đại Tuy hiện tượng thơ tượng trưng có sinh mệnh
không dai, xuất hiện vào cuối thé ki XIX (với tên gọi chính thức vào nam 1886),
nhưng sang dau thé ki XX hiện tượng thầm mi này đã bị thé chỗ bởi chủ nghĩa siêuthực nhưng nếu xét vẻ vị trí của nó trong lịch sử văn học thì không thê phủ nhận
được ring chủ nghĩa tượng trưng có ảnh hướng rộng rãi và sâu sắc đối với đời sống
văn học hiện đại thé giới, trong đó có Việt Nam Thâm mĩ tượng trưng mang đến
cho bức tranh văn học nhiều điều mới mẻ hơn, bởi nó không chỉ khước từ nhữnghình thức thơ ca thiên về sự kê, tả hay thông tin về phong tục, mà nó là hình thức
thơ thiên về “su gợi ra” những ý tưởng, suy tưởng xa xôi, có tính tinh than, thông
qua thé giới vật thẻ mang tính khá giác Với thơ tượng trưng, thé giới như nó được nhận ra, chứ không phải là thé giới như nó được nhìn thay thông qua hệ thống giác quan thông thường Và bởi thé, thi phái tượng trưng là hiện tượng thơ gắn liên với
“my học bẻ sâu”, “my học của cái vô tận”.
1.2 Nên thơ Việt Nam sau đổi mới hội tụ nhiều gương mặt tiêu biểu như
Nguyễn Quang Thiều, Đồng Đức Bốn Inrasara, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư,
Mỗi nghệ sĩ mang đến cho văn học Việt Nam một tiếng nói riêng nhưng tựu trung
lại đều rất mới, rất lạ ở cả nội dung và cách thức thé hiện Mai Văn Phấn cũng làmột trong những gương mặt trong bức tranh thơ ca có nhiều màu sắc ấy Hành trìnhthơ của Mai Văn Phan có sự đa dạng các dang thức thẩm mỹ, đồng thời ông cũngluôn luôn “vong than” dé tìm tdi, sáng tạo những điều mới mẻ trong bức tranh văn
học thời đôi mới sau năm 1986 “Tho Mai Văn Phan tràn ngập hình ảnh trữ tình,
những lá bùa thị giác và những thông điệp triết học - hiện sinh mạnh mẽ Đỏ la sự
Trang 8bùng nỗ cảm xúc tái tạo cuộc song, tâm hôn, sự bắt diét, trần thé và tat cả những
điều rất con người.” (Luz Maria Lopez, nhà tho, dich giả người Puerto Rico) Thơ của ông còn hội tụ trong đó nhiều khuynh hướng, đa diện và đa sắc, đồng thời đầy
sự sung mãn trong bối cảnh thơ và văn học nói chung đang tiếp tục có nhiều tìm tòi
đôi mới.
1.3 Trong hành trình thơ của Mai Văn Phan không có một hình thức thâm minào giữ vị trí độc tôn Ông dung hòa gần như mọi hình thức thâm mi (trong thơ) dé
từ đó tìm cho mình lỗi di riêng, không lặp lại Chính ông đã tự “đựng tuyên ngôn
nghệ thuật” cho con đường sáng tác của mình: “Thi sĩ đích thực là người phải biếtlàm ra những bài thơ biết phản bội mình Nghệ sĩ là người liên tục vượt qua nhữngcuộc "vong thân” để hoàn thiện minh” (Nguyễn Tham Thiện Kể, 2013) Tuy vậy,
ám gợi — một đặc tinh cơ bản của thơ tượng trưng đã có cuộc tương phung day ¥ vị
trong thơ ông trong nhiều tập thơ và chính đặc tính này đã là một trong những yếu
tô khiến cho thơ Mai Văn Phan trở nên độc dao, hap dan
Từ tat cả những lí do trên, chúng tôi chọn dé tài: Tinh ám gợi của thơ tượng trưng trong thơ Mai Van Phan (Qua Nghỉ lễ nhận tên, Va đột nhiên gio thổi, Vừa sinh ra ở đó) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình Ba tập thơ chúng tôi khảo sát cũng là những tập thơ có ý nghĩa đánh dấu sự chuyên mình trong “cẩu trúc
tư duy nghệ thuật cũng như hình thái the” của thơ Mai Văn Phan.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần giải đáp những câu hỏi khoa học:
(1) Đặc tính ám gợi của chủ nghĩa tượng trưng được thê hiện qua những
phương điện chính yếu nào? Tức là chúng tôi sẽ làm sáng rõ những khái niệm và
đặc điểm của chủ nghĩa tượng trưng trên một số phương diện có tính lý luận liên
quan đến đặc tính ám gợi
(2) Đặc tính ám gợi đó được thê hiện ra sao trong một số tập thơ tiêu biéu của
Mai Văn Phan, thông qua sự khảo sát cụ thé trên những phương diện chính yếu như
biêu tượng, âm thanh, nhạc tinh và ngôn từ; đông thời từ đó khang định đặc tính của
' Nguyên văn tiếng Anh là: “Mai Van Phản 's poetry is loaded with corporeal images, visual incantation and
powerfil philosophical - existentialist messages A burst of feelings recreating life, soul, eternity, terrenal,
and all that is so human.”
Trang 9thơ tượng trưng chính là một trong những sự lựa chọn thâm mĩ đây sáng tạo của tác giả dé tạo ra một thi giới riêng vả độc đáo của mình Đề giải đáp câu hỏi này, chúng
tôi tập trung khảo sát ba tập thơ Qua Neghi lễ nhận tên, Và đột nhiên giá thối, Vừa
sinh ra ở đó — những tập thơ ma, theo chúng tôi, thẻ hiện khá tập trung đặc tính ám gợi của thơ tượng trưng, những đặc trưng đã góp phan tạo nên những nét độc đáo,
mới lạ cho thơ Mai Văn Phan
(3) Những điều mới mẻ có được trong các sáng tác của Mai Văn Phần có đónggóp gi cho đời sống thơ ca đương đại và cho nhu cầu thưởng thức của người đọc ởViệt Nam cũng như khả năng “xuất khâu” và tìm được sự cộng cảm từ người đọc ở
các nên văn hóa khác?
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Thơ tượng trưng - Hình thức tư duy văn học mới
Theo di lịch sử văn học phương Tây từ thời Phục hưng trở đi, dường như bat
kì một xu hướng thâm mĩ nảo ra đời cũng có những hình thức “tuyên ngôn” khác
nhau, đù với hình thức phát ngôn thành tuyên ngôn nghệ thuật một cách bài bản và
hệ thông hay thông qua những tuyên bồ riêng rẽ, tức là đều có một sự định danh và
xác định một đường hướng thâm mĩ riêng biệt, từ đó hình thành một khuynh hướng
hoặc trảo lưu văn học quy tụ được một cộng đồng tác giả có cùng hoặc gần nhau trong quan diém và ý thức sáng tạo Thơ tượng trưng ra đời từ cuối thé ki XIX, và
từ đó đến nay đã có không ít những phát biếu, những công trình nghiên cứu, đánh
giá về hiện tượng thơ này ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam Tuy nhiên, vì điều
kiện có giới hạn, kê cả do thời gian và khuôn khô một luận văn, chúng tôi chỉ điểm
lại (một cách chưa đây đủ) những công trình nghiên cứu và nêu lên một số ý kiến cótính chất bô sung về thơ tượng trưng của giới nghiên cứu và của chính một số nhà
thơ, dé từ đó khái quát được những đặc trưng thẩm mĩ tiêu biểu của hiện tượng thơ
mới lạ và có nhiều đặc điểm thâm mĩ mới này
Ngày 18/9/1886, trên tờ Le Figaro của Pháp, cho đăng Tuyển ngôn tượng
trưng (Manifeste symboliste) của Moréas và ông đã nói rõ sự khác biệt của nghệ
thuật tượng trưng như sau:
“Tha địch với giáo dục, điển thuyết, những xúc cam sai lam, những mô ta
Trang 10khách quan, thơ tượng trưng muốn khoác lên Ý niệm một hình thức cảm giác, nhưng đây không phải là mục đích duy nhất, mà cao hơn, nó vừa biểu đạt chính Ý
niệm vừa vẫn mang tính chủ quan" Nghĩa là, chủ nghĩa tượng trưng cudi thế kiXIX khai thác các hình ảnh tượng trưng không phải chi đề trình bày các chủ dé tôngiáo hay triết lý, mà chủ yếu dé thông qua các hình ảnh tượng trưng đó, chạm đếnnhững ý niệm siêu hình, thế giới tâm linh huyền bí đẳng sau thé giới hữu hình theoquan điểm của triết học duy tâm Plato Vì vậy, thơ tượng trưng rất đề cao đặc tính
ám gợi, đó là ám gợi vẻ thế giới tâm linh huyền bí, tập trung vào trực giác và kết nồi
ý niệm.
Trước đó, ngay từ năm nửa dau thế ki XIX, tức khi thơ tượng trưng chưa trở
thành một hiện tượng thơ phô biến, nhà thơ Mỹ Edgar Allan Poe (1809 — 1849) đã
viết tiêu luận Nguyén lý thơ, một tiêu luận quan trọng về thơ Trong tiêu luận này
tuy ông chưa nói đến khái niệm “thơ tượng trưng” hay “chi nghĩa tượng trưng” nhưng với những gì đã được đề cập thì E.A Poe thực sự đã nói về một nên thơ trong tương lai, vì ở đó Poe đã dé cập đến những van đề cơ ban về thâm mĩ của chủ
nghĩa tượng trưng, những điều mà các nhả thơ Pháp, trong đó có Baudelaire vô
cùng thích thú Trong tiêu luận mang tên Neuyén lý thơ (The Poetic Principle) này,
qua việc lay dan chứng từ một số bai thơ tiêu biểu của một số tác giả như: Jean de Béranger (nhà tho, nhạc sĩ người Pháp) Percy Bysshe Shelley (nhà triết
Pierre-học, nhà thơ lớn của Anh), Henry Wadsworth Longfellow (nhà thơ Mỳ) , E.A.Poe
đã dé cập ba van dé nghệ thuật quan trọng liên quan đến những đặc trưng có tinh
ban chất của thơ tượng trưng Thứ nhất, Poe khước từ mạnh mẽ lối thơ dài dòng,
thiên vẻ kẻ ta, dé hướng tới một lối thơ “cẩn ngắn gọn nhưng khuấy dong tinhthần"? (Poe, 1850) Thơ là phải tác động đến những rung cảm bề sâu trong tâm hồncon người, những rung cảm hết sức mỏng manh, tế nhị nhưng lại có sức lay động,đánh thức sự suy tưởng thông qua năng lực liên tưởng, tưởng tượng Thứ hai, ông
đề cao cái dep: “mot ban năng hat từ sâu thắm trong tâm hôn con người rõ ràng là
Nguyễn văn tiếng Anh là: “A very short poem, while now and then producing a birillianht or vivid.
Trang 11ý thức về cái đẹp"? (Poe, 1850) Nghĩa là, cái đẹp là chân lí và mục đích tối hậu của
mọi sáng tạo thơ ca, cái đẹp có thê “cứu rỗi linh hồn” Với E.A Poe, van đề chính
yếu của thơ không phải truyền tải một thông điệp đạo đức hay phong tục, mà “cái
đẹp là địa hạt hợp pháp duy nhất của tho”, va “trong sự phát triển của nó, khi đạt
đến tận cùng nó (cái đẹp) khiến cho những tâm hôn đa cảm phải rơi lệ", bởi vì chính
cái đẹp và chỉ cái đẹp khơi nguồn cảm hứng vô tận cho người nghệ sĩ, dung hòa thếgiới tâm hồn nghệ sĩ và trở thành nhịp cau nói tâm hồn họ với đời sống Dé cao cáidep, Poe đồng thời cũng ý thức được cuộc sông hiện đại nặng tính duy lợi có nguy
cơ đây cái đẹp vào trạng thái bị đối xử bất công, nên người nghệ sĩ có trọng tráchphải tìm vé và bảo tôn cái dep, chỉ có thé thơ ca mới tham dự vào việc kiến tạo cái
đẹp hoàn thiện, toàn bích “Con người hoạt động theo quy luật của cái dep, đỏ cũng
là một quy luật mang tinh người, tạo nên ban chất con người” (Karl Marx) Thiên
vẻ mục đích sáng tạo cái dep, Poe chủ trương thơ ca thuần túy (pure poetry), cái đẹp mang tính vĩnh hằng không bị “x4m hại” bởi những tác động của những nhân tổ bên ngoài nó Thứ ba, từ chủ trương “tho thuần tay”, Poe đặc biệt nhắn mạnh và dé cao
nhạc tính trong thơ ca: “Có lẽ, trong âm nhạc tâm hôn gân như đạt đến cứu cánh
tryệt với nhất là khi được truyền cam hứng với cảm xtic thì ca, nó sẽ đầu tranh tao
ra vẻ đẹp siêu phamTM (Poe, 1850) Ông cho rằng mĩ cảm nơi con người thẻ hiện rõ nhất trong âm nhạc và với thơ ca thì nhịp điệu sự phối trí kiến trúc, cung bậc âm thanh có thé gợi lên nơi con người những giấc mơ xa xăm, những thế giới thuần
khiết và vĩnh hằng Với ông âm nhạc là yếu tố giúp cho thơ ca thoát ra khỏi sự lệ
thuộc và bắt chước sự vật, nó có thé gợi lên những thế giới tuy mơ hồ nhưng trọn
vẹn và không cân thông qua vai trò trung gian của tiếng nói Như vậy, những van dé
ma Edgar Allan Poe dé cập đến trong Nguyên lý thơ (chủ trương thơ không kể tả,tho ca thuần túy và cái đẹp vĩnh hăng, chú trọng yếu tổ âm nhạc) vừa được kế trên,đến cuối thé ki XIX đều có những liên hệ với những đặc tính của thơ tượng trưng và
E.A.Poe trở thành một trong những người có công đặt nền tảng thắm mi cho thơ
* Nguyễn văn tiếng Anh là: “An immortal instinet, deep within the spirit of man, is thuc, plainly, a sense of
the Beautiful”.
† Nguyễn van tiếng Anh là: “perhaps, that the soul most nearly attains the great end for which, when inspired
by the Poetic Sentiment, it struggles - the creation of supernal Beauty”.
Trang 12tượng trưng, tuy rằng thơ tượng trưng sau nay còn nhắn mạnh thêm nhiều yếu tổ
khác nữa, như van dé sáng tạo biéu tượng nghệ thuật hay cấp cho ngôn từ thơ pham
chat “sang kiến, phát minh” dé chính ngôn từ cũng là thé giới, có khả năng sáng tao
thé giới
Sau khi chủ nghĩa tượng trưng trở thành một hiện tượng thơ phô biến và có
sức chi phối mạnh mẽ đời sống thơ ca, những ảnh hưởng của hình thức thơ nàykhông còn giới han ở các nên thơ phương Tây nữa, mà ảnh hưởng tới nhiều nền thơ
trên thé giới, trong đó có nền thơ Việt Nam Học giới và một số nhà thơ Việt Nam
đã công khai những nhận thức về hình thức thơ này ở bình diện lý thuyết, tức là đềcập đến những đặc điểm của thơ tượng trưng như một hiện tượng thơ ca mới mẻ và
độc đáo.
Ở Việt Nam, tháng 12 năm 1917, trên Tạp chí Nam Phong số 6, Pham Quỳnh
chọn địch 3 bài thơ của Baudelaire (U uat/ Spleen; Chuộc mình/ La Ranc,on; Binh
tinh/ Recueillement) — như là một sự giới thiệu bước đầu về thơ tượng trưng ở Việt
Nam và coi đó là con đường mà thơ Việt Nam cần phải hướng tới Trong bài viết
của minh, Pham Quỳnh lên tiếng “Ta từ xưa đến nay thuần chịu ảnh hưởng của thơ
Tàu, ảnh hưởng ấy lâu ngày sâu quá làm mat cả đặc sắc của nhời thơ ta, nên quay về Au châu mà đón lấy cái luông tur tương, gió cảm hứng mới Cái cam himg của thơ Tây thực là có lắm vẻ li kỳ tuyệt thú, xưa nay ta chưa từng được biết bao
giờ” (Phạm Quỳnh, 1917) Nghia là trong bài viết này Phạm Quỳnh đã nhìn thấy
“cái chết lâm sàng” của thơ cũ và thơ Việt cần phải có “một cơn rùng mình mới lạ"
(un nouveau frisson) như cách nói cua Victor Hugo khi đánh giá về tập thơ Hoa của
noi dau của nhà thơ Pháp Charles Baudelaire Tuy Pham Quỳnh chưa nói rõ về thơtượng trưng như một số nhà nghiên cứu sau này như Phan Cự Đệ, Lê Đình Ky,Hoàng Ngọc Hiến , nhưng rõ ràng việc chọn ba bài thơ đăng trên mục Pháp vănthi thoại trong tạp chi Nam Phong thì ông đã đề cập tới thơ tượng trưng
Trong hành trình 13 năm (1932 — 1945), thơ Việt Nam đã đi hết một chặng
đường tương đương chặng đường 100 năm của thơ Pháp từ lãng mạn đến tượng
trưng, rồi từ tượng trưng đến thơ siêu thực Trong mười ba năm ấy, bước vào chặng
cuối của Thơ Mới (chặng từ 1939 đến 1945), sau nhiều sáng tác đậm màu sắc tượng
Trang 13trưng của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê những
nghệ sĩ tiếp nối là Dinh Hing, Tran Dan, Vũ Hoang Dich, Tran Mai Châu đã quyết
định vẫn tiếp tục đường hướng tham mĩ tượng trưng và thành lập nhóm Dạ Đài như
một cách đựng ngọn cở thơ tượng trưng tại Việt Nam Tuy chỉ ton tại một thời gian
rất ngắn nhưng Bản tuyên ngón tượng trưng (1946) của nhóm thơ này đã phản ánh
được những nhận thức về bản chất thơ tượng trưng của một số nhà thơ cũng như
ước vọng của họ trong việc định hướng trường thơ tượng trưng cho nên thơ hiện đại
Việt Nam Những nhà thơ của nhóm Dạ Đài tự nhận mình là “mdr đoàn thất thổ —
đã đâu thai nhằm lúc sao mở" nhưng mang tên “thi sĩ tượng trưng” đề “nồi lại:
-nghiệp di của mot Baudelaire — Tâm sự của một Nguyên Du — sự nồi loan và Ra-di
của một Rimbaud — nồi cô don của những nhà lãng man” (Nhiều tác giả, 2001)
[p.1234] Trong Bản tuyên ngôn tượng trưng, các “nha thơ tượng trưng” của Da Đài
cũng tập trung vào những quan niệm mang tính cốt lõi của thơ tượng trưng, như
hình tượng thơ, âm nhac của thơ và ngôn tử tiềm thức:
Mot câu thơ sẽ có một ý nghĩa — cái ý nghĩa rat thường — nhưng sẽ mang nặng biết bao nhiều ý nghĩa âm u và khác la Moi một thể giới sẽ nằm trong một tang lớp của ticong
hình: tất cả tran gian sẽ đổi thay trên bê mặt — những cảnh giới hoang vu sẽ năm giấu bên
trong Thực tại và w huyền đã gặp nhau và chỉ gặp nhau ở thể hình duy nhất do Chúng ta
đã cứu văn được: - cdi đất chúng ta, - cứu văn được — những céi đất ngoài kia — và cứu van được bằng sức gợi cảm âm thâm hình tượng.
Va những hình tượng còn tạo tác được những âm thanh huyền điệu nữa Âm nhạc
trong thơ không phải chi kết hợp hoàn toàn bởi những cú điều số học, niưững luật lệ trắc bằng Biết bao nhiêu câu thơ niêm luật rất chỉnh té mà vẫn tắt ngắm ở mang tai sau khi
chữ cuối cùng vừa đọc hết - Chỉ mot sự nhận thức do cũng đủ tỏ chứng rằng âm nhạc của
một bài thơ phân lớn là do ở sức rung động Tâm lý bài thơ ấy Noi đến âm nhạc trong thơ
là phải nói đến sức gợi khêu của chữ Vì những hình tượng mang nắng những ¥ tình nên
âm nhạc gây nên cũng mang day âm sắc Câu thơ đọc xong sẽ còn di di mãi trong từng ngõ vắng linh hồn và sẽ tắt nghỉ ở tan đáy sâu Tiểm thức (Nhiều tác giả, 2001) [p.1236].
Tuy nhiên, nhóm Dạ Đài chỉ ra được một số duy nhất ngày 16.11.1946 rồi sau
đó vì điễn biến của bối cảnh lịch sử din tộc nên bị gián đoạn một quãng thời gianquá dài Nhung dù vậy màu sắc tượng trưng cũng không biến mat khỏi thi đàn Việt
Trang 14Nam Những nhà thơ như Hoàng Cam, Bùi Giáng, nhóm Sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền (trước 1975), hay các nha thơ như Đặng Dinh Hung, Hoang Hưng, Lê Đạt, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều suốt trong thời gian dài từ sau 1975 đến nay van là những nhà thơ tên tuổi gắn với đấu ấn tượng trưng, và bên cạnh thơ tượng
trưng thì thơ của họ van liên tục có những xen lẫn, pha trộn với những hình thức thơ
khác, có lãng mạn, có tượng trưng và có cả siêu thực Thậm chí, từ sau 1986 đếnnay, một khuynh hướng thơ hiện đại chủ nghĩa (chủ yếu và trước hết là thơ tượng
trưng va siêu thực) lai được định hình một cách khá rõ nét (tất nhiên đó không phải
toàn bộ nền thơ Việt Nam mà bên cạnh khuynh hướng thơ này còn có những khuynh hướng thơ khác).
Sách Hàn Mặc Tử của Trần Thanh Mại viết năm 1941 có lẽ là công trìnhnghiên cứu có qui mô đầu tiên nghiên cứu về thơ Mới cụ thê là tác giả Hàn Mặc
Tử Trong cuốn sách này Tran Thanh Mại khang định “Han Mặc Tứ là một thiên
tai” (Tran Thanh Mại 1942) [p 17] và cho rằng các thi phẩm của Hàn Mặc Tử có
"cái hay thẩm thía, cái âm nhạc réo rắt, cái lĩnh hon siêu Việt) (Trần Thanh Mại ,
1942) [p 18] Tran Thanh Mại cũng không tiếc lời ca ngợi Hàn Mặc Tử “la nhà thơ
Việt Nam đầu tiên biết nghe ngóng những lời âm thâm của tao vật" (Trần Thanh
Mại , 1942) [p 171] Tuy nhiên, khi đề cập đến thơ tượng trưng, chúng tôi nhận thấy Tran Thanh Mại đã có phan chủ quan khi ông cho rằng những nha thơ tượng trưng như Charles Baudelaire là kẻ “lừa gạt”, “mưu mô”, “rượu chè di thỏa”; hay
Edgar Allan Poe là một kẻ “lêu lồng”: còn đám môn đệ của Charles Baudelaire (tức những nhà thơ tượng trưng cuối the ki XIX) thi “bdr chước theo thay mà đâm dau vào truy lạc” (Tran Thanh Mại , 1942) [p.17] Rõ ràng, với những nhận xét như thẻ.
Trần Thanh Mại hoặc sa vào định kiến, hoặc chưa thật sự quan tâm đến những nét
đặc trưng của thơ tượng trưng — một hiện tượng thâm mỹ có tính bước ngoặt đánh
dau quá trình hiện đại hóa tho ca một cách mạnh mẽ
Sau Hàn Mặc Tw của Tran Thanh Mại, sách Thi nhân Việt Nam của Hoài
Thanh và Hoài Chân điểm danh 46 nhà thơ của phong trào thơ Mới và “tông kết” 10
năm phát triển của thơ ca Việt Nam (1932 — 1942) Trong cuốn sách nay, các tác giả
đã khăng định nhiều nhà thơ Mới “không nhiều thì ít, đều bị ám ảnh vì Baudelaire”
Trang 15(Hoài Thanh, Hoài Chân, 1988) [p.37], người được xem là có vai trò khơi nguồn
thơ tượng trưng Theo Hoài Thanh những nhà thơ trong phong trào thơ Mới không
ít thì nhiều, có chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng với mức độ đậm nhạt khác nhau.
“Moi nhà thơ Việt hình nhự mang nặng trên đâu năm bảy nhà thơ Pháp" (Hoài
Thanh, Hoài Chin, 1988) [p.37 — 38] Bằng lỗi phê bình trực cảm tinh tế và xác
quyết, Hoài Thanh đã khăng định Baudelaire là nghệ sỳ đã khơi mạch nguồn thơ catượng trưng, và những hậu duệ của ông như Paul Verlaine, Stéphane Mallarmé,
Paul Valéry cũng là những nhà thơ lớn được các nhà thơ Việt “am anh” và tạo nên
“cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sứ Việt Nam từ may mươi thé ký" (Hoài Thanh,
Hoài Chân, 1988) [p.17] Nhận định của tác giả Thi nhân Việt Nam “St gdp gỡ
phương Tây là cuộc biển thiên lớn nhất trong lịch sư Việt Nam từ may mươi thể ký" (Hoài Thanh, Hoài Chan, 1988) [p.17] đã trở thành một trong những gợi ¥ cho các
nhà lý luận, phê bình văn học sau này tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về sự gặp gỡ
thâm mĩ vô cùng thú vị này.
Một bộ sách qui mô khác, sách hà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan là một
công trình nghiên cứu khá tam cỡ với 4 quyền có độ day 1460 trang Ông đã viết về
rất nhiều các tác giả ở nhiều lĩnh vức khác nhau của văn chương nhằm phản ánh một cách day đủ bức tranh của văn học Việt Nam hiện đại Trong công trình này,
Vũ Ngoc Phan chi dé cập đến 10 tác giả thơ (theo thông kê ở quyền 3) gồm Nguyễn
Giang, Quách Tan, Lưu Trọng Lu, Vũ Hoàng Chương, Thể Lit, Hàn Mặc Tử, Xuân
Diệu Huy Cận, Tú MG, Bui Huy Cường Với mười tác giả ké trên, tuy Vũ Ngọc Phan chưa dé cập trực tiếp đến ảnh hưởng của thơ tượng trưng trong các thi phẩm
của họ nhưng thừa nhận thơ của những nhà thơ này là có “An tượng” rõ rệt
Trong chuyên luận Phong trào tho mới (1982), Phan Cự Dé đã nghiên cứu
nhiều phương điện khác nhau của thơ Mới như lịch sử hình thành, quan điểm thẩm
my, nghệ thuật thơ Ở công trình nghiên cứu này tác giả đã có cái nhìn tong thé vềphong trào thơ Mới chứ không phải là cách nghiên cứu phác họa chân dung tác giả
như một số nhà nghiên cứu trước đó từng làm Tác gia Phan Cự Dé đã có cái nhìn
tông quan về các chặng đường của thơ Mới Việt Nam và ông khăng định thơ Mới
Việt Nam có chịu ảnh hưởng của thơ Pháp Chính nhờ vậy, thơ Việt Nam đã có
Trang 16những sự thé nghiệm thâm mỹ qua nhiều hình thức thơ khác nhau: “Phong trào
“thơ moi” là một cuộc đánh giá lại các thể thơ cũ, tiếp thu những cái tốt đẹp của
truyền thông cũ, đồng thời học tập một cách sáng tạo thơ ca nước ngoài, nhất là
thơ Pháp” (Phan Cự Dé, 1982) [p 166].
Năm 2004 nhiêu van đề khác nhau của thơ tượng trưng được Nguyễn Hữu
Hiếu dé cập trong luận án tiền sĩ Những biếu hiện của khuynh hướng tượng trưngtrong Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 Sau này, Hồ Văn Quốc trong luận án của
mình đã đánh giá rất cao công trình nghiên cứu này, coi "Luận án của Nguyễn Hữu
Hiếu giải quyết được nhiều vấn dé mà trước đây các học giả chưa từng bàn đền
hoặc đã bàn đến nhưng ở mức độ sơ khởi" (Hồ Văn Quốc 2018) Thứ nhất, Nguyễn
Hữu Hiếu đã khang định sự ra đời của thảm mỹ tượng trưng là “Sự mở dau của xu
hướng thẩm mỹ mới trong van hoc hiện đạt) (Nguyễn Hữu Hiểu, 2004) [p.33] Sự
mở đầu hiện đại của tư duy tượng trưng được khởi hành bởi ba phương thức biểu
đạt “Tu duy tương hợp và liên tưởng bất ngờ”, “thơ biểu tượng và gợi cảm”, và
"hình thức ngôn ngữ gợi cam” và ở cả ba phương thức ấy déu có ý nghĩa như những
tiền dé cơ bản dé nhiêu nhà thơ của các thế hệ hậu bồi tiếp tục vận dụng trong sáng
tạo thơ Thứ hai tác giả luận án cũng khăng định thơ tượng trưng là một thi phái
hiện đại có nhiều nét thi pháp độc đáo, mới lạ và day sức quyền rũ: “Chư nghĩa tượng trưng trở thành một hiện tượng thơ day sức quyến rũ, có nhiều gợi ý bổ ích
cho sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật Do cũng là một hiện tượng thơ mà tiềmnăng thẩm mỹ dường như không bao giờ vơi cạn Trên nhiều khía cạnh, thơ tượng
trưng là tiệm cận gan nhất với những đặc trưng nghệ thuật mà hiện nay chúng ta
thường nói tới Không phải ngẫu nhiên, hau hết trào lưu văn học hiện đại phươngTay, với độ đậm nhạt khác nhau đều có thể tìm thấy soi dây liên hệ với những đặc
trưng nghệ thuật của thi phái này” (Nguyễn Hữu Hiểu, 2004) [p.76] Tóm lại, luận
án của Nguyễn Hữu Hiếu đã giúp chúng ta có cái nhìn tông quan về sự ra đời,những đặc trưng thí pháp của thơ tượng trưng trên các phương điện như ngôn từ,
biêu tượng và nhạc tính.
Chuyên luận May vấn đề về thơ Việt Nam 1975 — 2000 (2003) của Phạm
Quốc Ca cho rằng thơ Việt Nam giai đoạn này là “sự noi tiếp một nguồn mạch hiện
Trang 17đại hóa rat đáng quý trong thơ cách mang” (Phạm Quốc Ca, 2003) [p.27] Trong
chuyên luận, Phạm Quốc Ca đã khảo sát nhiều gương mặt thơ dé giải quyết gọn ghẽcho câu hỏi "Những trăn tro hién đại hóa của thơ Viet Nam giai đoạn 1975 —
2000” Tác giả chuyên luận, sau khi khảo sát đã đi đến một điểm chung lớn đó là các nha thơ giai đoạn này “tim kiếm những khả năng biểu đạt mới, nởi rộng dan những giới hạn của ngôn ngữ” (Phạm Quốc Ca, 2003) [p.124].
Trong bối cảnh chung ấy của thơ ca, Mai Van Phan nôi lên như một gương
mặt khá tiêu biểu với những sáng tác mang dau an tượng trưng, đặc biệt là những
sáng tác trong thời kì đầu và ông đã tự tạo cho mình một điện mạo thơ hiện đại kháriêng biệt, độc đáo.
3.2 Những nhận định, đánh giá về thơ Mai Văn PhanMai Văn Phan khi đến với thi đàn hiện đại Việt Nam sau Đôi mới đã luôn
chọn cho mình một tinh than mang tên “Phuong hoàng lửa" với ý nghĩa cốt lõi là
mạnh mẽ, quyết liệt với kỳ vọng vẻ sự tái sinh và làm mới mình không ngừng nghỉ.
Chính vì vậy mà ông là một trong những nhà thơ được giới chuyên môn đánh giá
cao, nhìn thấy ở thơ ông vô van những sắc màu nghệ thuật khác nhau, ở đó có đủ
thứ dau ấn kinh nghiệm thẩm mi mà lịch sử thơ từng có (như dau ấn hiện sinh, dấu
ấn hậu hiện đại, dau an siêu thực, cảm thức thiên ) và được thé hiện băng những cách thức rất độc đáo của riêng ông Trong các bài viết, phần lớn các tác giả đều
đánh giá cao và dành “những lời có cánh" cho hồn thơ họ Mai — một hồn thơ luôntìm cách vượt qua những giới hạn của tho và của chính ban thân trong bối cánh thơ
Việt đứng trước bao ngả đường của sự lựa chọn.
Nhật Lam, với Ngwéi mang thương hiệu thơ Việt ra thế giới, đã khang định:
"Vượt ra khỏi các rào cản của việc xây dung hình ảnh, nhịp điệu, van điệu câu thơ,
cả sự mượt mà, ngơ ngẵn của thơ lục bát những câu chữ trong thơ Mai Van
Phan chong lan, bê bén, đường như phá vỡ ranh giới giữa thơ và văn xuôi Có bài
không còn sự ton tại của dẫu câu, ngôn từ đường như phi logic, có cảm giác nh
những tiếng nói vang lên từ tâm linh, tạo sự huyền do, đa chiều trong thơ anh"(Nhật Lam, 2015).
Vương Tâm, trong bài Mai Văn Phan — Khoi Rubic thơ huyền áo, đã gọi ông
Trang 18là “Ké giang hồ biết im lặng", kèm theo đó là nhận định, rằng ‘tho: Mai Văn Phan
có một giọng thơ tinh té với những cảm xúc rất sâu lắng, và về đẹp của ngôn từ ởnhững câu kết" và "một hành trình mới khám phá tự nơi mình, mà anh hay nói đến
sự “tong thân ”; Giang hồ trong chính bản ngã minh” (Vương Tâm, 2015).
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiêu đã viết về Mai Văn Phan: “Chi khi ta lùi sâu vào trong sự tĩnh lắng của tâm hon và sự suy tưởng ta moi nghe thay giong noi cua
anh Lúc đó, từng chữ từng câu của anh dan dan vong đến Lúc đó, ta mới quay lại
để nhìn kỹ gương mặt của thi sĩ Thời đại chúng ta dang song quá ôn ào và chúng ta
nhiều lúc quên đi những giọng nói tinh lặng của tâm hồn và sự suy tướng " (NguyễnQuang Thiéu, 2013) Như vay, mỗi nhà nghiên cứu đều đã có những nhận định về
sự đóng góp rất riêng của nha thơ Mai Văn Phan, nhưng tựu trung lại, họ đều nhậnthây ở ông một ngòi bút hiểu đời, biết mình và luôn tự đốt cháy chính mình, đốtcháy con người của ngày hôm qua để tái sinh trong con người mới, một phong cách
nghệ thuật mới luôn khát khao vươn tới một đời sống văn chương mà ở đó mỗi
người cảm thay mình thanh cao và sạch sẽ hơn.
Công phu nhất phải kẻ đến Chuyên luận “Mai Văn Phan và Hành trình thơvào cối khác" (2015), NXB Hội Nha Văn, Hà Nội, của Ngô Hương Giang và
Nguyễn Thanh Tâm Ở chuyên luận này, dù Ngô Hương Giang và Nguyễn Thanh Tâm đã có những đánh giá riêng của mỗi cá nhân vẻ hành trình sáng tác của Mai Văn Phan, nhưng họ đồng quy ở điểm chung, rằng thơ Mai Văn Phan có nhiều cách
tân nhưng ở đó người đọc vẫn nhận ra sự hòa hợp giữa cái mới lạ “rất Tây” và hồn
cốt văn hóa phương Đông và Việt Nam, giữa hiện đại tân kì và truyền thông:
“Chính vì cái can rễ Việt tính trong Phan như là sợi dây niu lai sự dam thắm củavăn hoá Việt Nam trong khi đối dau với trí thức văn mình phương Túy, cho nên đãcho Phan cái khả năng biết “gan đục khơi trong” các giá trị cia cả hai nên vănhoá, từ đó tạo ra những phẩm chất thơ mới phù hợp với “thể giới mở” dang vay goi
bên ngoài Thơ Phan đã biết dung hoà được hình thức tiểu tự sự của sáng tạo thơ
hậu hiện dai với phẩm chất văn hoá quen thuộc trong môi hình tong nghệ thuật,
trong loi mô tả không gian và thời gian thơ truyền thong” (Ngô Hương Giang
-Nguyễn Thanh Tâm, 2015) Thơ của Mai Văn Phan được sản sinh trong bối cảnh
Trang 19văn hóa số hóa toàn cầu nhưng căn tính dan tộc — cốt cách văn hóa Việt vẫn chảy
trản trong thơ của ông Ông lựa chọn thơ như một cách đắp bồi phù sa cho những
đổi thay của cơ chế thị trường Vật chất đó, hỗn độn vẫn đó, dong tiền vẫn ngang
nhiên xâm lan vào trong từng ngóc ngách đời sống thường nhật, nhưng những van
thơ vẫn là những tinh khôi ban mai với những biéu tượng cỏ biểu tượng sương.
biểu tượng mưa, lắp day sự hoang hoải của thé giới tran tục
Tuy nhiên, liên quan đến dấu ấn tượng trưng trong hành trình thơ Mai Văn
Phan thì chưa có những công trình nghiên cứu sâu, van dé mới chỉ được điểm xuyết
qua một só hình ảnh thơ có tính biểu tượng ma chưa có những nghiên cứu, đánh giátoàn diện về những vấn đề khác liên quan đến sức mạnh ám gợi - một đặc trưng cơban của thơ tượng trưng trong thơ ông, như yếu tố nhạc tính hay những điềm mới vàday tính sáng tạo trong lĩnh vực ngôn từ
Với hơn mười tập thơ đã trình làng và vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tác, Mai
Văn Phấn đã chứng minh hôn thơ của ông vẫn chứa đây trăn trở, nghĩ suy về nghệ
thuật và về cuộc đời Tuy nhiên trong khuôn khô một luận văn, chúng tôi chi lựa
chọn 3 tập thơ tiêu biéu trong 3 thập ki thuộc hai thé ki (20 và 21) đồng thời cũng
thuộc hai thiên niên kỉ (thiên niên ki thứ hai va thứ ba), đó là Nehi l đặt tên (1999),
Va đột nhiên gió thối (2009), Vừa sinh ra ở đó (2013) — những tập thơ có dau an
tượng trưng đậm nhất.
4 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đặc tinh ám gợi trong thơ Mai Van Phan với 3
tập thơ cụ thé, đánh dau “cu nhảy vor” trong quan điểm thâm mi và thi pháp nghệ
thuật của tác giả Từ đỏ, chúng tôi hướng đến khang định những kẻ thừa, cách tânnghệ thuật, đồng thời trong chừng mực nao đó xác định vị trí của thơ Mai Văn Phan
trong dong chảy văn học đương dai Việt Nam nói chung và thơ nói riêng.
5 Pham vi nghiên cứu
Để nghiên cứu và làm rõ một đặc trưng nồi bật và bao trùm của chủ nghĩa
tượng trưng 1a đặc tính ám gợi trong thơ Mai Văn Phan, chúng tôi chon 3 tập thơ cụ
thé dé khảo sát, đó là:
- Tập Nghi lễ nhận tên (1999),
Trang 20- Tập Va đột nhiên gió thối (2009)
- và tập Vira sinh ra ở đó (2013).
Mai Văn Phan sáng tác nhiều và có thé nói đó là một nhà thơ đương đại có sức
sáng tạo sung mãn với hơn mười tập thơ đã trình làng và ông vẫn tiếp tục sự nghiệpsáng tác Tuy nhiên trong thành tựu sáng tạo của nha thơ nay chúng tôi chi lựa chon
3 tập thơ như đã dẫn ra trên Sự lựa chọn của chúng tôi có nhiều lẽ: một là, mỗi tậpthơ có ý nghĩa đại diện cho một thập ki sáng tạo của Mai Văn Phan, điều đó cho
thay sức sáng tạo liên tục và bên bi nơi ông Hai là, trong chủ quan của mình, chúng
tôi cho rằng trong thi nghiệp của Mai Văn Phan cho đến lúc nay, đây 1a 3 tập có dau
ấn tượng trưng đậm nhất, phù hợp với định hướng nghiên cửu của chúng tôi Tất
nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi vẫn có những sự mở rộng đến những sáng tác của nhả thơ này ở những tập thơ khác khi cần thiết.
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh: Nhằm đối chiếu, so sánh những nét độc đáo riêng biệt
giữa thơ của Mai Văn Phan với thơ của các tác giả cùng thời hoặc trước đó Từ đó,
thấy sự kế thừa và sáng tạo của thơ ông trong mạch chảy cách tân thơ đương đại
Việt Nam về cả mặt nội dung và hình thức.
Phương pháp cấu trúc — hệ thống: Thi giới trong thơ ông la một chính thé Tuy nhiên luận văn chú trọng tìm hiéu biểu tượng, nhạc tinh, ngôn từ cảm giác trong cau trúc nghệ thuật độc đáo làm nên chỉnh thẻ ấy.
Phương pháp phân tích - tông hợp: Làm rõ những nét độc đảo của thơ Mai Văn Phan qua việc phân tích các tác phẩm tiêu biêu của ba tập thơ được khảo sát Sau đó tông hợp dé đưa ra kết luận về tính mới lạ, độc đáo trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ.
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo nội dung chính của luận
văn được trình bày trong 3 chương;
Chương |: Sự ra đời và đặc tính ám gợi của thơ tượng trưng
Chương 2: Tính ám gợi trong thơ Mai Văn Phần xét từ phương diện biêu tượng Chương 3: Tinh am gợi trong thơ Mai Văn Phan xét từ phương điện ngôn từ
Trang 21CHƯƠNG 1
SỰ RA ĐỜI VÀ ĐẶC TÍNH ÁM GỢI CỦA THƠ TƯỢNG TRƯNG
1.1 Chủ nghĩa tượng trưng - chung quanh sự xuất hiện của thi phái
Chủ nghĩa tượng trưng được xem là khởi đầu của trào lưu hiện đại chủ nghĩa ở Pháp và phương Tây, tính từ cuỗi thế ki XIX Tư duy thơ tượng trưng vừa là sự tiếp tục của tiến trình lịch sử văn học, vừa mang tính đột phá về thâm mĩ, không những
đối với thơ ca, mà còn có những liên hệ hoặc gợi ý cho văn xuôi và nhiều loại hình
nghệ thuật khác như hội họa, điều khắc, kién trúc,
1.1.1 Một hình thức thơ mới ra đời và được định danh
Ngày 18/9/1886, trên tờ Le Figaro của Pháp, Moréas - nhà thơ kiêm nhà phê
bình Pháp (1856 — 1916) cho đăng Tuyển ngôn tượng trưng (Manifeste symboliste)
như một sự định danh và định vị cho một hình thức thơ mới, khác biệt với thơ lãng
mạn và thơ phái Parnasse — những hiện tượng thơ quan trọng trong nửa cuối thé ki
XIX, đồng thời khăng định một nên thơ mới phải được xuất hiện thay thế cho nên
thơ mà theo ông không còn phù hợp nữa Dưới hình thức một bài thơ, Tuyên ngôn
tượng trưng “định nghĩa” một hình thức thơ mới, đó là thử thơ “chống sự day đời,
sự huénh hoang lớn tiếng, sự thương cảm giả doi, sự tả cảnh khách quan; thơ tượng trưng có đem bọc ¥ tưởng bằng một hình thức khả giác, nó ty không phải mục dich thơ nhưng dùng dé phơi bày ý tưởng mà van giữ được tính cách chủ yêu" (Nhiều tác
gia, 2004) [p.137] Đó phái là một thứ thơ mà tư duy thơ đường như chưa có trong
tiên lệ, tính từ thơ thời kì trung đại cho đến lúc này (cuỗi thé ki XIX) Tuy thơ
tượng trưng chỉ tôn tại trong một thời gian không lâu với tư cách một thi phái, vì
đến thập niên 20 của thé ki XX thơ tượng trưng đã nhường chỗ cho thơ siêu thực,
nhưng chính hình thức thơ này đã tạo nên bước ngoặt cho tư duy thơ, không những
cho nên thơ Pháp mà còn ảnh hưởng đến thơ châu Âu và nhiều nền thơ thuộc nhiềunên văn hoá khác nhau trên thé giới
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng tuy được chính thức định đanh muộn (với bài
Tuyên ngôn tượng trưng của J Moréas), nhưng thực ra nguồn thơ tượng trưng đã có
từ khá sớm, được đánh dau một cách cụ thé nhất là tir tập thơ Hoa của nổi dau (Les
fleurs du mal - 1857) của Charles Baudelaire Tập thơ gồm 6 phan, tác giả đi vào
Trang 22khám phá chiều sâu, cái bên trong của đời sống tỉnh thần sâu kín, phức tạp cũng như
dé diễn đạt cái căng thăng, bi kịch của tâm hôn con người hiện đại mả thơ trước đó
là lãng mạn còn nhiều hạn chế Như thế, nếu xét theo diễn tiến lịch sử của thơ thì
chủ nghĩa tượng trưng đã manh nha ngay trong long của chủ nghĩa lãng mạn, như là
dự báo cho một trao lưu thâm mĩ mới Với Charles Baudelaire, những dấu vết của
hình thức thơ lãng mạn trong tập thơ Hoa cứa noi dau van còn đậm trong nội dungtrữ tình cũng như sự nhắn mạnh nỗi cô đơn của một “nha thơ bị ruông bỏ”, nhưng
có điều, với cấu trúc dé cao ý niệm thì tập thơ đã có ý nghĩa báo hiệu cho thứ thơ
thiên về chiều sâu, thơ không chỉ cảm xúc mà là sự hòa trộn cảm xúc và trí tuệ, vượt
ra ngoài đặc trưng thâm mĩ của thơ lãng mạn quá thiên về cảm xúc và sự truyềncam So sánh tap thơ của Baudelaire với tập thơ của Victor Hugo được cho là sang
tác cùng thời (chi sớm hơn tập thơ của Baudelaire một nam) là Mac trong
(Contemplations — 1856), chúng ta sẽ thấy rõ sự khác biệt này Hai tập thơ được
nhân danh cùng cái nôi thơ lãng mạn nhưng đường hướng thâm mi lại có nhiêu
điểm rất khác nhau Nếu Mde tưởng của Huygo là lịch sử tâm hồn của nhà thơ đượctrình bày theo trình tự thời gian có tính biên niên một cách rất logic và rõ ràng thì
tập thơ Hoa cua noi dau của Baudelaire lại thiên về diễn đạt cau trúc tinh than
phong phú và phức tạp của nhà thơ.
Gần và cùng thời với các hình thức thơ khác như thơ lãng mạn và thơ phái
Thi sơn, nhưng thơ tượng trưng như có một lối đi riêng, không tập trung vào mục
đích cao nhất là tạo ra ngôn từ trau chuốt, đẹp lộng lẫy và giàu tính tạo hình (của
Thi sơn) hay dâng trào cảm xúc và dai dòng kẻ tả (của lãng mạn) mà chú ý vào năng lực ám gợi của thơ Thơ tượng trưng hướng tới khám phá thé giới không phải
bề mặt mà bề sâu bằng những cảm tưởng và liên tưởng sâu xa tinh vi và tế nhị
thông qua những hình ánh kha giác “Tho tượng trưng hướng vào nội giới sâu thắm
và coi việc khám phá và làm hé lộ sự bí dn sâu xa của thé giới là mục dich và là banchất của thơ ca” (Nguyễn Hữu Hiếu, 2021) Chủ nghĩa tượng trưng nhắn mạnhnhững cái sâu xa, tinh tế và bí an thông qua các biêu tượng, ngôn từ cảm giác và
nhạc tính Đó là những biểu tượng - những tín hiệu thâm mi đặc biệt có thê diễn đạt
những ý nghĩa phức tạp, sâu xa và rộng lớn hơn rất nhiều so với phạm vi vật chất
Trang 23của sự vật được nói tới Chủ nghĩa tượng trưng là khơi gợi sự tưởng tượng va khám
phá thế giới trong tính tinh thần của nó tức là ý nghĩa tinh thần dang sau những gì
hiện ra có thẻ quan sát được Những sự khác biệt đó khiến cho thơ tượng trưng tuy
có đời sống không đài nhưng nó đã tạo ra cho đời sống thơ ca nhiều đóng góp mới
mẻ vẻ nghệ thuật cụ thé là về tư duy thơ, trong đó có cả thơ hiện đại Việt Nam.
Tóm lại, với sự xuất hiện của thơ tượng trưng, hình thức thơ mới này đã nhanhchóng thé chỗ cho các hình thức thơ trước đó với những đường hướng va quan điểm
mới trong sáng tạo Đó cũng là một sự thé chỗ có tính tat yếu trong quá trình tiễn
hóa của văn học nói chung và thơ nói riêng Bởi lẽ thơ tượng trưng có ý nghĩa như
là sự tự ý thức về những giới hạn của thơ đương thời và tiên báo về một thời kì mới
của thơ, Thơ ca tượng trưng đã tạo ra những thay đôi lớn vẻ mặt quan niệm thắm mi
và về tư duy thơ Vượt qua thơ lãng man va thơ Thi sơn, thơ tượng trưng khám phá
thế giới không phải bằng sự mô tả khách quan mà bằng gợi và ám thị Hướng về
khám phá và diễn đạt những điêu chưa biết, thơ tượng trưng trở thành một một hiện tượng thơ có tính chat mỹ — triết vì nó gợi ra một cái nhìn mới về thế giới không chi với những gì nhìn thay, quan sát được mà còn là thé giới của những điều bí ân, sâu kín, nó nói được những điều mà ngôn ngữ logic và tường minh không dé dàng diễn
đạt được.
1.1.2 Chủ nghĩa tượng trưng như một thái độ phản ứng thâm mĩ
Chủ nghĩa tượng trưng ra đời là phản ứng có tính thâm mĩ trên nhiều phươngdiện khác nhau:
1.1.2.1 Chủ nghĩa tượng trưng là khám phá thể giới ý niệm Thơ không phải triết học nhưng thơ tượng trưng có thé, trong chừng mực nào
đó, được xem như một hiện tượng mĩ - triết bởi ở đó nó chứa đựng cảm quan của
nhà thơ về thế giới Về phương điện này, chủ nghĩa tượng trưng có liên hệ sâu xavới nhiều nguồn tư tưởng triết học trong suốt hơn 2000 năm, cả trước và sau nó (thơ
tượng trưng), với tư tưởng triết học của Platon (427 — 347 TCN) vẻ sự tôn tại đích
thực của thé giới ý niệm, với Kant (1724 — 1860) là việc coi trọng tính chu quan vatính vô vị lợi của cái Dep; với Arthur Schopenhauer (1788 — 1860) là coi trong nhạc
tính, xem nhạc tinh như sự biểu hiện của ý chí vũ trụ siêu hình và là thứ nghệ thuật
Trang 24không bắt chước sự vật; với E Nietzshe (1844 — 1900) là quan niệm nghệ thuật
không chi phán ánh thé giới mà phải thúc day thé giới sáng tao; hay với HenriBergson (1859 — 1941) là vai trò của trực giác Những nguồn tư tưởng sâu xa ấykhi được thẩm thấu trong cảm quan về thé giới của các nhà thơ tượng trưng sẽ là cơ
sở triết học dé các nhà thơ của thi phái này chủ trương một thứ mĩ học đôi trọng với
tư duy đựa trên trí năng thuần túy, và từ đó trong lĩnh vực thâm mĩ sẽ dan đến quanđiểm đối lập với quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, coi chủ nghĩa hiện thực là
nghệ thuật quá đẻ cao yêu cầu sự quan sát thế giới ngoại hiện; đồng thời các nhà thơ tượng trưng cũng không ung hộ lập trường của chủ nghĩa tự nhiên, một hiện tượng
thâm mĩ chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chủ nghĩa thực chứng của Auguste Comte cudi
thế ki XIX và kém theo đó là thái độ sùng bái đối với tư duy khoa học, nhất là khoahọc thực nghiệm lúc này đang có nhiều thành tựu Các nhà thơ tượng trưng nhấn
mạnh thực tại tinh than, đối lập với thực tại vật thé, tức những gì có thé dé dang
quan sát và lĩnh hội được Họ “dé cao tu duy, coi thường kinh nghiệm và chứng
minh sự ton tại của con người thông qua tư duy, ton tại phụ thuộc vào tư duy”
(Nguyễn Ngọc Khá, Nguyễn Huỳnh Bích Phương, 2017) Đến lúc này tư tưởng
thuần lí trong xây dựng tri thức từng được cô đúc trong tư tưởng hoài nghi của Descartes từ thé ki XVII (khăng định *'7öi tr duy vậy là tôi tồn tai” [Cogito, ergo sum], nghĩa là ta chỉ có thê tin là thực khi chúng ta biết chắc chắn là sự thực) đã tỏ
ra không đủ đề giúp cho sự nhận thức thé giới ở bè sâu và sự linh điệu bí an của nó Nhận ra sự bất cập của trí năng, người nghệ sĩ bằng sự nhạy cảm của mình họ đã chuyên địch ngòi bút từ quan sát và thé hiện thé giới từ bề mặt với những gì có thé
quan sát được sang thé giới ở bẻ sâu với tất cả sự linh động và huyền diệu của nó
Chính vì điều nay mà thơ tượng trưng có thé được xem là một hiện tượng mĩ — triết,
nó gắn với cảm quan mới của người nghệ sĩ về thế giới như đã nói bên trên
Từ cảm quan mới về thế giới và đời sống thơ tượng trưng đặt trọng tâm vào
sự khám phá các khía cạnh tâm linh, tiềm an bên trong của sự vật mà nếu chỉ bằngtri giác thông thường ta sẽ không nhìn thay, hoặc chỉ nhìn thấy bề mặt của chúng
trong trạng thái rời rạc và tách bạch (như âm thanh, màu sắc, mùi vị, hình dang,
kích thước ) Nhưng bang cái nhìn thấu thị, các nhà tượng trưng luôn nhìn sự vật
Trang 25trong sự kết nói, liên hệ, cái này gợi cái khác và trong cái khác, trong những liên hệ
thầm kín và sâu xa bat tận Và đó chính 1a cái nhìn thế giới trong tính thống nhất,tương hợp ở bê sâu như Charles Baudelaire đã dé cập đến trong bai thơ nỗi tiếng và
có ý nghĩa tuyên ngôn — bài tho Trang hợp:
Thiên nhiên là một ngôi dén mà những trụ cột sống động
Đôi khi thốt ra những ngôn từ lộn xôn
Con người đi ngang, xuyên qua những khu rừng biểu tượng
Vấn quan sát mình bằng cặp mắt thân quen
Như những tiếng vọng dài từ rất xa hòa lẫn
Giữa cảnh bao trùm tăm tôi thắm sâu,
Mệnh mông như đêm den và như ảnh sáng
Hương thơm, sắc màu và âm thanh tương hợp với nhau
(Tương hợp — Lê Trọng Bong dịch)
Với các nhà thơ tượng trưng, thế giới không thê chỉ được lĩnh hội bằng những quan năng tách bạch, nếu như thế người làm thơ sẽ tự hạn chế mình trong những
điều có sẵn và nhìn thấy Với họ sự “phát minh” thể giới, mở rộng tầm nhìn của
người nghệ sĩ là quan trọng Đây chính là một trong những chìa khóa khuyến khích
sự tự đo sáng tạo cá nhân và không bị ràng buộc bởi bất kì quy tắc và giới hạn nào của thế giới hiện thực “Tho khong gion 2 voi khoa hoc và dao đức, néu không thi sẽ
suy thoái và chết di Nó không lay chân thực làm doi tượng, nó chỉ lấy tự thân làmmục tiêu ( ) Chan thực không có quan hệ gì với thơ Ma lực làm nên một bài thơ,
tat củ những wu nhã và không thể chong cự đêu có thể tước hết mọi quyền uy và sức
mạnh của chân thực Ngoài việc làm thơ thuần tuý chỉ vì khoan khoái, không có loại thơ nào vĩ đại không hỗ then với cái danh hiệu đó" (A.E.Poe) Đặc biệt, chủ nghĩa
tượng trưng không nhắn mạnh sự rõ ràng, chi tiết, mà khuyến khích khám phánhững khía cạnh mơ hồ bí an của thé giới và đời sống “Tho tượng trưng là một
hình thức mĩ — triết, ở đó, thơ được nâng lên nhự một bình điện của tri thức, nó
không chỉ nhận thức và diễn đạt, mà quan trọng hơn, con nêu lên cách nhìn mới về
thé giới và đời song” (Nguyễn Hữu Hiểu, 2021).
Chủ nghĩa tượng trưng ra đời khi trước đó trên thi đản tôn tại hai hình thức thơ
Trang 26quan trọng: thơ của phái lãng mạn (với những bậc thi bá như Alphonse de
Lamartine, Alfred de Musset, Victor Hugo, Shelley, John Keats ) và thơ của phái
Thi sơn (với những tác giả tiêu biêu như Théophine Gautier, Leconte de Lisle ).
Các nha thơ tượng trưng nhận ra thơ lãng mạn đã đi qua thời kì hoàng kim của nó,
đông thời thơ của thi phái này tuy có sức mạnh ở cảm xúc nhưng cũng bộc lộ những
giới hạn như thiên về kẻ tả và cảm xúc quá dang trào sẽ dé rơi vào sự bông bột vàthiếu chiều sâu Đối với thơ của phái Thi sơn, các nhà thơ tượng trưng cũng một
mặt nhìn thay triển vọng của nó ở chủ trương sáng tạo ngôn từ đẹp, mĩ lệ và có tính
tạo hình, nhưng mặt khác cũng thấy chủ trương “vô cảm hóa” đối với thơ ca cũng
khiến cho thơ của thi phái này không có nhiều triên vọng Không thê tiếp tục bước
đi của thơ lãng mạn, nhưng cũng khó đồng hành lâu dài cùng thơ Thi sơn, các nhà thơ tượng trưng như Arthur Rimbaud, Paul Verlaine, Stephane Mallarmé đã lựa
chọn hướng đi thứ ba, tức là vừa khước từ những điểm được cho là không hợp lí củathơ của cả hai phái nhưng đông thời cũng tiếp thu vào mình những điểm khả thủ
của thơ của chính hai thi phái ấy Thơ tượng trưng vẫn tiếp tục tôn trọng yếu tố cảm
xúc của thơ lãng mạn khi nói về những trạng thái buôn và cô đơn nhưng tìm kiếm
những cách thức biéu đạt khác, với việc sử dụng nhiều hình ảnh tượng trưng và ngôn từ mang đặc tính ám gợi Song song với đó, các nhà thơ tượng trưng cũng ủng
hộ quan điểm *nghệ thuật vị nghệ thuật” quan điểm về cái đẹp vô vị lợi và khuynh hướng dé cao vẻ đẹp ngôn từ của các nhà thơ Thi sơn (như Théophile Gautier,
Leconte de Lisle ), coi đó như một cách khôi phục quyền lực cho thơ đồng thời
cũng có ý nghĩa như một thái độ phản ứng với lỗi sống duy lợi lúc này đã trở thành phô biến và có nguy cơ hủy hoại những giá trị tỉnh thần thanh cao của con người
trong hoàn cảnh hiện đại có nhiều thay đi
Ding như sự xác định danh xưng cho chủ nghĩa tượng trưng mà Moréas đã
"lập thuyết”, sứ mệnh cao cả của nhà thơ tượng trưng là tôn thờ cái đẹp là chạm tới
những vùng đất mới dé lắng nghe khúc hoan ca huyền diệu Mỗi nghệ sĩ tượng
trưng giống như triết gia siêu hình từ chối lối tư duy của các nhà hiện thực và tự
nhiên chủ nghĩa, họ mở rộng năng lực suy tưởng về phía bên kia thế giới vật thẻ với
sự tưởng tượng dường như vô hạn Với các nhà thơ tượng trưng chất thơ phải được
Trang 27tìm kiếm từ một hệ thong biểu tượng có sức ám ảnh, gợi cam; ngôn ngữ bay bong
du dương như một khúc nhạc Jazz có khả năng gợi ra những bí mật sâu kín Các
nhà thơ tượng trưng không thích lối viết kể, tả thuần túy, mà muốn cấp cho thơ ca
một khả năng kết nói với những sự huyền diệu của thé giới thông qua những nghệ
thuật rất riêng của mình:
Hoi lời ca man dại,
Điệu nhạc the hơi rừng
- Đêm nay xuân đã lại
Thuần ty và tượng trưng —
(Xuân tượng trưng — Bích Khê) (Nhiều tác giả, 2001)Chính vì lẽ đó, chủ nghĩa tượng trưng đã góp phần quan trọng vào việc mởđường cho thơ hiện đại tiếp tục có những bước đi mới Những trưởng phái cách tân
tiếp theo như chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa tượng trưng mới (néo-symbolisme) hay
một vài khuynh hướng văn học khác của chủ nghĩa hiện đại vẫn sẽ ít nhiều có liên
hệ với những quan điềm nghệ thuật của các nhà thơ tượng trưng Một số thi sĩ tượng
trưng nỗi tiếng phải kê đến: Charles Baudelaire, Stéphane Mallarmé, Paul Verlaine,A.E Poe, Mặc dù sinh mệnh của chủ nghĩa tượng trưng không dai nhưng đó là
một trong những biện tượng thầm mĩ có ảnh hưởng lâu dai trong đời sống văn học
và có ảnh hưởng đến nhiều nha thơ của nhiều nên thơ khác nhau.
1.1.2.2 Thơ tượng trưng cũng là thái độ của nhà thơ đối với cuộc đời
Nam 1789, sự thành công của Cách mạng tư sản Pháp như một bước đà cho
phương Tây, trước hết là nước Pháp, đạt được nhiều thành tựu về khoa học kĩ thuật
và kinh tế, và chính những thành tựu này đã tham dự vào quá trình kiến trúc nên
một nước Pháp và phương Tây hiện đại, giàu có về phương diện vật chất Về mặttiền hóa lịch sử thì như vậy, nhưng chính hiện thực mới đó, đặc biệt vào nửa sau thé
ki XIX, cũng đưa lại nhiều hệ lụy, trước hết là nguy co suy kiệt những giá trị tinh
than cao quý bởi sự thống trị của lỗi sông duy lợi, tầm thường và vị ki Thời kì này
mi học tự nhiên cũng xuất hiện với cơ sở tư tưởng là thực chứng luận, kéo theo đó
thái độ sùng bái đối với tư duy khoa học, mọi năng lực suy luận của con người được
quy vào tiêu chuân về tính chân xác của mọi miều tả và diền giải.
Trang 28nw tN
Lich sử văn học không phải lúc nao cũng có những bước song hành sit sao với
lich sử xã hội, nhưng văn học cũng không cô lập mình ra khỏi tong thé đời sông nóichung, vì vậy nhìn vào sự ra đời của chủ nghĩa tượng trưng ta thấy ở đó bao hàm cả
ý nghĩa phản ánh thái độ của nghệ sĩ đối với lỗi sống tam thường vả tư tưởng duy
lợi đang có nguy cơ lam xói mòn những “quang sáng tâm linh” trong đời sông tinh
thần của con người Khác với các sáng tác hiện thực hay tự nhiên chủ nghĩa đươngthời, các nhả thơ tượng trưng không đẻ cập trong những tác phẩm của mình những
vấn đề nhân sinh rộng lớn, nhưng như thế không có nghĩa là họ lãnh đạm và thờ ơ
trước cuộc đời Họ vẫn là những “người biên dich tinh thần” của thời đại mình theo cách riêng của họ, hay nói như Arthur Rimbaud, "trách nhiệm công dan” của họ là
tìm tòi và sáng tạo ra những câu thơ mới, ngôn từ mới dep và giàu ý nghĩa: “Vghệ
thuật muôn thuở phái có chức năng của nó, bởi các nhà thơ đều là công dân Thơ
ca sẽ không nhịp theo hành động nữa; nó sẽ tiễn lên phía trước Trong khi chờ
doi, chúng ta hãy doi hoi cái mới nơi các nha thơ [do là] ý tưởng và hình thức”
(Thư gửi Paul Démény ngày 15/5/1871) (Nguyễn Hữu Hiếu, 2021) Việc các nhà
thơ tượng trưng ung hộ quan điểm vị nghệ thuật và nghệ thuật vô vị lợi ở góc độ
này cũng có thé xem như một thái độ phan ứng của các nghệ sĩ khi họ cảm thay that
vọng trước lối sông duy lợi nhằm chán Charles Baudelaire đã viết bài thơ Lên cao,
một bai thơ hết sức tiêu biểu cho quan niệm nghệ thuật của ông:
Hãy bay thật xa khỏi những chưởng khí bệnh hoạn nơi day
Hãy tự thanh khiết mình trên chin tang máy
Và hãy uống, như uống thứ rượu thần nguyên chất
Lita sáng chất đây các khoảng không trong vất
Bài thơ thê hiện cái nhìn phô biến của các nhà thơ tượng trưng, xem chủ nghĩa
vị lợi như kẻ thù không đội trời chung của thơ ca và cái Đẹp nói chung Thơ ca phải
là cái gì đó hết sức thiêng liêng và lúc nảy nó đang có nguy cơ bị xâm lan bởi cái
tam thường, cân phải cứu vin nó, chỉ có như thé thì cái Đẹp mới thoát ra khỏi mọi
sự đối xử bất công Không đặt niềm tin vào triển vọng của đời sống (đời sống mà
văn xuôi hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên đã miêu tả sâu sắc với tỉnh thần phê phán
mạnh mẽ), các nhà thơ hướng vào sự tìm tòi những sắng tạo mới và tin vào sức
Trang 29sống vĩnh cửu của cải Đẹp.
Như vậy, chủ nghĩa tượng trưng ra đời trước hết có ý nghĩa như là sự phản ứng lại đối với quyền uy của tư đuy thuần lí và thực chứng Chủ nghĩa tượng trưng
khăng định con người không chỉ lĩnh hội đời sông bằng tri giác thông thường mà
con lĩnh hội thé giới ở những bình diện khác nằm ngoài phạm vi trí nang của con
người Thứ hai, từ chối tư duy thuần lí và nặng tính thực chứng, chủ nghĩa tượngtrưng hướng đến những hình thức tư duy mới, tư duy về những bí an và sâu kín,
những điều sẽ giúp cho chủ nghĩa tượng trưng khác biệt sâu sắc với mĩ học lãng
mạn, mĩ học hiện thực và tự nhiên chủ nghĩa để nắm bắt và diễn đạt thé gidi Ở bề
sâu, phía sau thé giới vật thé Và cuối cùng, như chủ nghĩa lãng mạn từng phan ứng với những bất như ý của đời sống, chủ nghĩa tượng trưng đặc biệt đề cao quan điểm
vị nghệ thuật và cái đẹp vô vị lợi như một thái độ phản ứng với những sự tam
thường, nhạt nhéo nặng tính duy lợi của hiện thực cuối thé ki XIX
1.2 Thơ tượng trưng - vị tri và đặc điểm thẩm mi cơ ban
1.2.1 Vị trí của thơ tượng trưng
Lich sử tiền hóa của tién trình văn học đã chứng minh rang: bat cứ một trào
lưu hay một hiện tượng thâm mĩ nào khi phát triển đến cực điểm thì nó sẽ có những
ngã rẻ Trước chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa lãng mạn đã đạt thành tựu rực rỡ
qua nhiêu thập ki, và bây giờ trong cái nhìn của thé hệ những nha thơ trẻ trào lưu văn học đó bắt đầu bộc lộ sự thiểu khuyết vẻ bề sâu, chúng rất cần phải được bỏ
sung, cần phải có thêm những năng lượng mới Vì thể, chủ nghĩa tượng trưng khởi
sinh ngay trong lòng của chủ nghĩa lãng mạn và được coi là khởi đầu của chủ nghĩa hiện đại Trong lịch sử thơ ca nhân loại, các nhà thơ tượng trưng lả những người
quyết liệt nêu ra những quan niệm mới về phương thức biểu đạt của thơ ca, đặc biệt
là hình ảnh tượng trưng, ngôn từ và nhạc tính Với các nhà thơ tượng trưng, sang
tạo thơ không phải việc đi tìm kiếm cái có thé nhìn thay mà là thế giới được nhận ra
day bất ngờ, Thơ phải là cái gì đó huyền hồ, sương khói, còn nếu thơ chỉ có sự
chính xác, rõ ràng thì tự nó đã tước mất “3/4 niềm vui thi vị của sáng tạo”, như cách
nói của Stéphane Mallarmé khi ông nhận xét vẻ thơ của phái Thi son.
Trang 30Thơ tượng trưng là hiện tượng văn học mở đầu cho chủ nghĩa hiện đại (modernism) trong văn học phương Tay, nó vừa là hiện tượng thâm mi có tính lịch
sử nhưng đồng thời cũng là thái độ phản ứng thẩm mi của người nghệ sĩ đối với
những giới hạn của những thành tựu văn học có trước (như văn học cô điền, lãng man và hiện thực) hoặc song hành với nó (như thơ của phái Thi sơn va văn xuôi của
chủ nghĩa tự nhiên) Xác định được vị trí mở đầu cho chủ nghĩa hiện đại trong tiễntrình lịch sử văn học ta sẽ thấy rõ rằng hơn rằng chủ nghĩa tượng trưng là hình thức
nghệ thuật mà người nghệ sĩ có tham vọng vượt qua ranh giới của cái đã biết đề đi
vào chiều sâu, hướng tới cái bí ân, tới những vùng đất chưa ai đặt chân tới Họ từchối lối thơ ca tả chân, từ chối cách cảm nhận, nhìn nhận và diễn đạt thế giới bằnggiác quan thông thường, từ chéi tri thức thường nghiệm mà thám hiểm vùng đấtmới tức thé giới bê sâu được nhận ra Chính vì những điều này, chủ nghĩa tượng
trưng đã mở ra một viễn cảnh thắm mi day triển vọng mà văn học thé ki XX, trước
hết là thơ ca, sẽ tiếp tục triển khai từ những gợi ý mới mẻ và độc đáo từ chính nó Nhiều nhà thơ của nhiều nền thơ trên thể giới rồi sẽ tiếp thu trong những mức độ
khác nhau những đặc điểm nghệ thuật có được từ hiện tượng văn học này
1.2.2 Am gợi - đặc điểm thầm mĩ cơ bản của thơ tượng trưng
Ám gợi được xem là năng lực, đồng thời cũng là một trong những đặc điểm cơ
bản và bao trùm của chủ nghĩa tượng trưng.
1.2.2.1 Thơ tượng trưng là thơ ám gợi
Nguồn gốc ra đời của cụm từ Nghệ thuật khơi gợi, theo Thụy Khuê: “Nam ấy
(1885) Dujardin đang điều hành Tạp chí Wagner (Revue Wagnérienne), bèn kéo Mallarmé vào quỹ đạo xây lý thuyết: thơ có tương quan với âm nhạc (Wagner) Từ
đó nảy sinh ý tưởng: Thơ phải hướng về âm nhạc Cụm từ Nghệ thuật khơi gợi (Art
suggestif) ra doi và thi ca thuộc lãnh vực khơi gov” (Thụy Khuê, 2019) [p 177].
Am gợi (Suggestive) thực ra là một từ ghép từ hai từ “ám anh” và *gợi tả/ gợi cảm”, gắn với thé giới huyền bí sau các sự vật hữu hình Theo Từ điển Tiếng Việt
“am anh là hiện ra luôn trong trí 6c” (Hoàng Phê, 2003) [p.4] và “gợi ta là gợi lên
bằng hình tượng cho có thể hình dung được” (Hoàng Phê, 2003) [p.441] Như vậy,
đặc tính ám gợi chính là chìa khóa trả thơ về đúng nghĩa sự quyền rũ thuở ban đầu,
Trang 31nghĩa là thơ không phải chỉ để thực hiện chức năng truyền tải những thông tin phong tục hay những bai học dao đức mà thơ còn phải đạt đến cảnh giới đưa độc giả tới tận cùng của vẻ đẹp hoàn nguyên, thuần khiết - đó là mạch ngầm chảy dưới lớp
vỏ âm thanh Và chính tư duy tượng trưng ma Charles Baudelaire là người khởi đầu
đã khiến đặc tính ám gợi trở nên phô biến hoá và chúng ta có thé tìm thấy đặc tính
này trong thơ của nhiều nhà thơ ở các nền thơ khác nhau trên thế giới Tính ám gợinhư là nguồn ánh sáng soi roi đến từng thi ảnh trong các sáng tác thuộc về chủ
nghĩa tượng trưng A E Poe cho rằng ám gợi sẽ giúp cho thơ trở vẻ đúng nghĩa với
giá trị gốc Mallarmé thì đứt khoát “Gọi han tên sự vật là hủy bó ba phan tư sức
cam thụ của bài thơ" (Phạm Quốc Ca, 2003) [p.109] Vậy, ám gợi chính là kha
năng mang đến sự kích thích và gợi mở trí tưởng tượng, suy ngam của nghệ sĩ về
thé giới Người nghệ sĩ phải “không ngừng tìm kiếm những kha năng biểu đạt mới,nới rộng dan những giới han của ngôn ngữ" (Phạm Quốc Ca, 2003) [p.124] thì họmới có một chân đứng trong xu hướng hiện đại chủ nghĩa Điều đó như là minh
chứng làm sáng tỏ: thơ vốn không phải là lí thuyết dé truyền tai đạo đức một cách lộ
liễu hay phan ánh bức tranh của xã hội, nhà thơ hoàn toan không phải là người sao
chép nguyên si hiện thực Thơ phải là những xúc cảm thực sự của nha thơ, mà ở đó
nhà thơ được đánh thức bởi các giấc mơ đẹp dé, hoàn nguyên.
Tính ám gợi của thơ tượng trưng còn làm cho thơ có được đặc tính tính đa
nghĩa, nói một cách chính xác là thơ có khả năng đồn nén ý nghĩa, mời gọi sự tìm
kiếm của người đọc thông qua những cách thức hay phương tiện nghệ thuật mà nhà
thơ sử dung một cách độc đáo Trong lịch sử thơ, thơ tượng trưng xuất hiện khi thơ
thiên về lối ké tả dường như đã bộc lộ những giới hạn và bat cập của nó lỗi viết dàidong và thiên về kẻ tả và bộc lộ cảm xúc một cách tuôn trào của thơ lãng mạn cũng
đã đi qua thời ky đỉnh cao và có những thành công rực rở Những nhà thơ tượng
trưng ý thức được một cách sâu sắc hạn chế này của thơ lãng mạn cho nên từ trong
lòng của chủ nghĩa lăng mạn đã manh nha sự khước từ lỗi làm thơ “đối cảnh sinh
tinh”, một thứ ngôn từ mài giữa long lánh nhưng thơ thiểu đi sự “dồn nén và bùng
vỡ" ý nghĩa, khó có the đi sâu diễn tả những rung động tế vi, huyền nhiệm của tim
hồn, hay khó diễn tả được những kịch tinh, sự căng thăng trong thế giới tinh thần
Trang 32của con người hiện đại Vượt qua những giới han của thơ lãng mạn hay thơ Thi sơn,
các nhà thơ mới hơn như Baudelaire, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine luôn tìm
kiếm lỗi đi riêng của mình, ở đó thơ không phải trình bày sự vật mà sự vật sẽ là dẫn
liệu dé gợi ra những liên tưởng, suy tưởng sâu xa và bất tận Dé khám phá những thi
phẩm tượng trưng người đọc không thê chi dùng tư duy luận lí tường minh mà lĩnh
hội được, bởi vì nhà thơ ching bao giờ lấy miêu tả sự vật làm mục đích sáng tạo,
mà họ muôn khi thì đưa ta vào tâm thé của một người thưởng thức thơ như thưởng
thức một họa phẩm ấn tượng như bài thơ Mguyên âm của Rimbaud chăng hạn, hay
có những thi pham chúng ta khám phá nó bằng âm nhạc với các âm vực cao thấp,tram bông bởi cách hiệp vần hoặc phối thanh như Thu ca của Verlaine:
(Tran Mai Châu dịch)
và ở đó, hiệu ứng âm nhạc đứt quãng trong bài thơ khiến ta phân vân liệu đây
là tiếng nức nở của mùa thu hay chính là tiếng nắc trong lòng của người nghệ sĩ!
1.2.2.2 Một số phương diện khác nhau của đặc tính ám gợi
* Hình ảnh biểu tượng
Trang 33trực tiếp Tuy nhiên, chính vì mang tính gián tiếp nên ngôn ngữ lại có khả năng
khuấy động mọi giác quan, miêu tả được tất cả các hiện tượng vô hình và hữu hình,
trừu tượng và cụ thể Đặc biệt hơn nữa, thơ ca lại sử dụng biện pháp nghệ thuật an
du như một thủ pháp chính yêu dé tao lap mot thé giới biêu tượng trùng phức
Biêu tượng trong thơ tượng trưng được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật
dé mở rộng biên độ của ngôn ngữ, là công cụ đắc dụng thực biện hiệu quả chức
năng gợi Biêu tượng trong thi giới tượng trưng vượt thoát duy lí thường nghiệm dé
đưa độc giả khám phá thế giới trực cảm có tính chất siêu nghiệm Bắt đầu từ đời
sông hiện thực, nhà thơ tượng trưng dùng biéu tượng đề đi đến thé giới tinh thần vô cùng vô tận Tính biểu tượng trong thơ tượng trưng còn tạo ra một cấu trúc an rất
độc đáo, không phải là sự mô tả thông thường mà luôn chứa đựng nhiều lớp ý
nghĩa An đưới chất liệu ngôn từ, chúng ta thấy hiện ra trong thơ tượng trưng một thé giới vừa mơ hé bí ân vừa rạng ngời và tròn vẹn — một thé giới được tạo ra bởi sự thông hội day tính chất thấu thi của tâm hôn nhạy cảm với cõi đời, cõi người Biéu tượng trong thơ tượng trưng còn là sự kết nối giữa thé giới vật chat và thé giới tinh
than, giữa đời sóng hiện đại với đời sống truyền thống, giữa thé giới hiện hữu và thé
giới ước mơ Biéu tượng xuất hiện trong thi giới của tượng trưng với tần suất dày
đặc an chứa nhiều thông điệp, nhiều tầng ý nghĩa được mã hóa, từ đó người đọc
thích thú giải mã và tìm ra thông điệp nhân sinh an dấu sâu kín trong ấy
Sáng tạo thơ ca là sáng tạo hình ảnh và biểu tượng Biéu tượng sẽ gắn với cảmquan về thế giới — thế giới của những tương quan của các giác quan theo tinh thần
"nhất thể giác quan” (unité des sens) có giá trị gợi những liên hệ mang tính tinh
than ở bên trong Biêu tượng còn là phương tiện thâm mi có tinh chất cô đọng, dồn
nén nhiều tang bậc ý nghĩa Chang han hình ảnh con tàu là tượng trưng cho sự vượt
thoát, gợi một sự hảnh trình đi tìm kiếm thé giới mới Tuy nhiên biểu tượng con
Trang 34thuyền trong Con tau say của Rimbaud lại vượt thoát khỏi qui ước thông thường để
sáng tạo những biêu tượng mới “ẩn dụ về cuộc phiêu lưu thi ca mỹ lệ vào bậc nhất
của thơ Pháp và phương Tay” (Nguyễn Hữu Hiếu, 2015) Bai thơ “Con thiên nga” (Le Cygne) của Baudelaire viết tặng cho V Huygo khi ông này bị lưu day 19 năm thời ki Napoleon Tiêu dé, cũng giỗng như ông viết cho chính tinh than đang bị lưu
đày của mình trong lòng Paris hoa lệ:
Con thiên nga xổ lồng cọ sát
Bàn chân to, trên mặt hè khô
Và trên mặt dat nhấp nhô
Lê bộ lông trắng trên bờ rãnh con
Lòng ránh con chẳng còn hột nước
Con thiên nga há hoe mỏ khô
(Vũ Dinh Liên dịch) (Thi ca thé giới chọn lọc, 2004).[p.60]
Rõ rang Baudelaire song giữa Paris nhưng Paris lại hoàn toàn xa lạ với ông
Người nghệ sĩ thực sự cô đơn cô độc đến tận cùng nên ông dùng biểu tượng con
thiên nga như một tìm kiếm sự hòa hợp với cuộc đời và với tha nhân
* Ngôn ngữ cảm giác
Ngôn ngữ cảm giác là sự kết hợp với nhau giữa các từ loại, phần nhiều là kết hợp giữa một danh từ và một tính từ chỉ cảm giác Sự kết hợp đặc biệt giữa các từ
loại như vậy đã tạo ra những hiệu ứng nghệ thuật đặc biệt mà ở đó người đọc luôn
có cảm giác bị cuén hút, mê hoặc Hình thức ngôn ngữ này có khả năng tác động một cách trực tiếp vào giác quan (khứu giác, thính giác, thị giác ), đưa người sáng tạo cũng như người thưởng thức vào sự trải nghiệm kinh nghiệm cảm giác, từ đó có
thể gợi một sự liên tưởng tức khắc, đầy bất ngờ Cái hay của ngôn từ thơ tượng
trưng, như vậy, không nim ở sự sắp xếp hay lựa chọn, mà ở “tính phát minh” của
nó, tức là tự nó đã có sức mạnh sáng tạo thé giới — sức mạnh gợi liên tưởng xa xăm
và vô tận Chính thơ tượng trưng đã vượt qua cái miêu tả để tạo ra những hiệu quả
nghệ thuật mới đáng kinh ngạc, và vì thé, thé giới được cảm nhận trong sự trọn vẹn,
với chiêu sâu thăm thăm.
Trang 35Ngôn ngữ cảm giác cũng giúp cho thơ ca có thẻ hữu hình hóa cái vô hình, vô
ảnh “Chủ nghĩa tượng trưng ngược lai, đặt thơ vào cái vô hình, và xuất phát từ
cảm giác Thơ Tượng trưng, vi thế, không còn là truyền cảm mà đã là gợi cảm, gợiý" (Đỗ Lai Thúy, 2012) Ngôn ngữ cảm giác trong thơ tượng trưng mang đến cái
dep thị giác, thính giác, khứu giác từ chất liệu ngôn từ và các thi sĩ đóng vai trò như một nghệ sĩ sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật có tính tổng hợp để tạo ra
những hiệu quả nghệ thuật rất đặc biệt Trong những bài thơ đầy ngôn từ cảm giác
ấy luôn luôn có sự va đập về âm thanh, rực rỡ sắc màu, mênh mang hải hà, quyến rũ
cõi thực bàng bạc chất trữ tình và gây lâng lâng khoái cảm Sức mạnh của ngôn từ
cảm giác (hay ngôn từ giác quan) cũng dẫn đường cho mỗi bạn đọc bước vào thơ
của thi sĩ bang lỗi cửa cảm nhận Đọc thơ của các nhà thơ tượng trưng vì vậy khôngthé dựa vào tư duy luận lí thuần tuý, không nên cố hiểu, mà phải cảm dé rồi từ từ
nhận thấy một thế giới thoát tục, thanh thuần bởi những phát minh ngôn từ rất lạ
lam, những liên tưởng có tính than cảm của người nghệ sĩ— những người đi tìm “vẻ đẹp câm” mà từ đó tinh thần bên trong của sự vật, một thé giới trinh nguyên, sáng
chói được gợi ra Bằng năng lực biệt tài, trong bai thơ Vguyên âm Arthur Rimbaud
đã "thấu thị", “phát minh ra màu sắc của những nguyên âm”: “tôi nghĩ mình phát
mình một ngôn từ thơ ca một ngày nảo đó có thé đạt tới mọi ý nghĩa" Hãy nhìn nguyên âm, chứ đừng nghe nguyên âm (Nguyễn Hữu Hiếu, 2015) đó là thơ có ngôn từ đậm cảm giác, và đây là vẻ đẹp thị giác:
A đen, E trắng I đỏ, U lục
O xanh: nguyên âm nảy sinh tiềm tang
* Nhạc tính
Các nhà thơ tượng trưng, trong đó có Paul Verlaine đã từng coi “dm nhạc là
trên hết", Dé Lai Thay cũng đã có những nhận định: "âm nhạc đã thức tinh được
những bam tính cé sơ và gõ vào cánh cửa tâm linh của mỗi người? Nhung âm nhạc
mà thơ tượng trưng tìm kiếm không phái là thứ âm nhạc hùng hồn, sôi nối, mà êm
dịu, nhưng có sức rung động sâu xa ƒ j Đó là thứ âm nhạc làm cho độc gia đi vào
cõi mộng Thơ phát ra thứ âm nhạc này có giá trị như những câu than chú (Đỗ Lai
Š Nguyễn văn tiếng Pháp: “De la musique avant toute chose”
Trang 36Thúy, 2012) Như vậy, âm nhạc trong thơ tượng trưng không dé trình diễn, mà âm
nhạc dé đọc lên.
Trong lich sử thơ ca, thông thường nhạc tính gắn với hai chức năng cơ bản:
một là, làm cho thơ có van có điệu du đương dé dé đọc, dé nhớ (khi chưa có thi luật
và thơ ca được truyền bá trong bối cảnh văn hoá tiền văn bản); và hai là, âm nhạc
gắn với chức năng mô phỏng những động tĩnh của thé giới khách quan hay môphỏng các cung bậc khác nhau trong đời sống tình cảm của con người Với những
chức năng đó, âm nhạc hay nhạc tính là những yếu tô phụ thuộc, góp phan thực hiện
chức năng tu từ học Đến thơ tượng trưng, âm nhạc có những khác biệt nhất định,
nó gắn liền với chức năng gợi và tạo ra sức mê hoặc, cuốn hút của thơ và tự bản thân nó đã trở thành như một biểu tượng — biểu tượng thính giác, có giá trị mang tính tự thân Với thơ tượng trưng, người ta nói nhạc là thơ và thơ là nhạc là vì vậy.
Tao khả năng ám gợi là một đặc điểm trong tạo tác âm thanh của thơ tượngtrưng Sự dụng công cau kì trong cách sắp xếp từ ngữ, van, nhịp kiến trúc cung bậc
âm thanh sẽ giúp người nghệ sĩ hé lộ ban chất uyên nguyên của vạn vật Các nhà
thơ tượng trưng còn có tham vọng coi mỗi từ trong thơ là một nốt nhạc mang kí
hiệu riêng biệt, thơ và nhạc cùng nâng đỡ nhau, cùng cất tiếng từ trong thăm sâu hồn người hoặc gợi sự hoà điệu giữa tâm hồn con người và vũ trụ Như thé, nhạc tính có ý nghĩa làm cho thơ trở thành như một “bữa tiệc giác quan” (mà đây là thính
giác), tác động trực tiếp vào giác quan và gợi những sự tưởng tượng xa xăm về
những không gian tuy mơ hồ nhưng trọn ven The bells của Poe là một minh chứng
như thể - nhạc tính diễn đạt sự tương hợp xúc cảm giữa con người và ngoại giới:
Hear the sledges with the bell
Silver bells
What a world of meriment their melody foretells!
How they tinkle, tinkle, tinkle,
In the icy air of night!
While the star that oversprinkle
All the heavens seem to twinkle
With a crystalline delight
Trang 371.3 Những dé tài ám ảnh trong nghệ thuật tượng trưng
Đề tài gây ám ảnh các thi sĩ tượng trưng thường là những van dé nằm sâu kín
trong tâm hon như cai dep, cai chết, nỗi buôn, sự cô đơn, ám ảnh lưu day, những kiniệm , và nguồn thi liệu cho thơ được khai thác trở di trở lại cũng kha lạ lắm như
hài cốt, độc được, máu, rượu, Trong thơ Baudelaire có vô số bai thơ liên quan
đến những đè tài trên, như: “Say đi anh”, Đêm tối”, “Ta là dao phú của lòng ta”
` 4“
“Cái chết của những người nghệ sĩ", “Tiêu dé một cuốn sách bị kết án”, “ Tôi yêu
những kỉ niệm của những thời trần truông xưa cũ”, “ Kẻ thù”, “Nỗi buén của
những mặt trăng”, “Bộ xương cày ruộng”, “Hồn rượu”, “Rượu của những người
nhặt giẻ”, “Rượu của những người tình nhân”, “Cái chết của những người tình nhân” “Cúi chết của người nghèo”, “Hai cốt”, “Bai thơ tình buồn”, “Thuốc độc” (Thi ca thé giới chọn lọc, 2004) [Thống kê theo mục lục] Trong lòng của Paris giàu
có vẫn còn đó sự cô độc đến tận cùng, người nghệ sĩ không có bat cứ sợi dây kết nỗi nào với đời sống và với tha nhân Vì thế, chính họ phải bọc cho mình một cái kén
lạ nhiều sắc màu và họ tìm đến với sáng tạo nghệ thuật trong tinh thân tận hiến dé
kết nồi với thé giới và thé hiện những cảm giác, cảm xúc tế nhị từ sâu thăm trong kinh nghiệm tâm linh của chính họ Thơ tượng trưng không tả, không kê mà thông qua đề tài và thi liệu khá lạ lẫm (như đã nói) cùng với những cách diễn đạt độc đáo
các nha thơ làm hé lộ tinh thần bên trong và uyên nguyên của thế giới, con người vàcủa tạo vật.
Trang 38Tiểu kết chương 1
Thơ tượng trưng là hiện tượng thâm mĩ mở đầu cho chủ nghĩa hiện đại với rấtnhiều những yếu tô mới lạ và hấp dẫn Các nhà thơ tượng trưng bằng sự say mê cáiđẹp tinh thần sâu kín, với những quan điểm nghệ thuật độc đáo, đã thực sự làm nên
một cú bật làm thay đôi tư duy thơ va thói quen tiếp nhận của người đọc “Tho
tượng trưng đã tự giải thoát mình ra khỏi những quy định và ước lệ để tuân theo
những doi hỏi mãnh liệt của nhu cầu sáng tạo của nghệ sĩ chứ không tuân theo
những chuẩn mực tiền lệ và quán tink” (Nguyễn Hữu Hiểu, 2021) Những tên tuôi
vang danh của chủ nghĩa tượng trưng như Baudelaire, Rimbaud, Mallarmé, Verlaine
mãi là những thủ lĩnh dẫn đoàn tàu thơ ca vượt qua cái ranh giới tả chân và truyền
cam dé đến với một thé giới độc đáo, sáng tạo — những vùng đất nội tâm, linh cảm,giấc mơ đẹp đẽ mà chưa ai từng thám hiểm tới Ngày nay, tiếp tục đi theo những
gợi ý cho sáng tạo đã có từ các nhà thơ tượng trưng, nhiều nghệ sĩ vẫn tiếp tục sáng
tạo theo đường hướng thâm mĩ tượng trưng trong hoàn cảnh lịch sử và văn hoá mới
dé những van dé như biểu tượng, ngôn từ cảm giác và âm nhạc tiếp tục phát huyhiệu quả nghệ thuật của nó trong khả năng khám phá và diễn đạt thế giới vả đời
sống theo những cách thức độc đáo, riêng biệt.
Thơ tượng trưng đã từng rực rỡ ở thế ki XIX và có ý nghĩa khai mở cho chiều hướng thâm mĩ mới là khám phá và diễn đạt thế giới ở bề sâu thông qua liên tưởng tưởng tượng day tính trực giác và than cảm Tuy nhiên, việc quá đề cao trực giác và những sự liên tưởng xa xôi, thơ tượng trưng cũng đã từng bị cho là hình thức thơ
khó biểu, thậm chí là “thơ hũ nút", gây thách đỗ đối với người đọc Nhung, dù tượng trưng không còn hiện diện với tư cách một chủ nghĩa thi nhiều đặc điểm và
yếu tố nghệ thuật của thơ tượng trưng vẫn tiếp tục trong đời sống thơ ca theo nhữnghình thức và mức độ khác nhau Trong điều kiện “mĩ học của bề sâu” — mĩ học thiên
về khám phá và diễn đạt nội giới vẫn còn là khuynh hướng chủ đạo thì những yếu tô
nghệ thuật của chủ nghĩa tượng trưng vẫn còn tiếp tục đời sông của nó trong lịch sử
thơ nói riêng và của lịch sử văn học nói chung.
Trang 39CHƯƠNG 2
TÍNH ÁM GỢI TRONG THƠ MAI VĂN PHÁN XÉT TỪ
PHƯƠNG ĐIỆN BIEU TƯỢNG 2.1 Biểu tượng và chức năng gợi
Biêu tượng (the Symbolic) xuất hiện từ thời hồng hoang trong tư duy sơ khai của nhân loại Nó vốn là thuật ngữ được sử dụng rat phd biến trong đời sống, đặc
biệt trong tôn giáo và các ngành nghệ thuật Nguyên gốc biêu tượng bắt đầu từ tiếng
Hi Lạp “symblon” có nghĩa là một vật được cắt làm hai dùng để nhận biết nhau.
Còn theo tiếng Hán thì biéu tượng có nghĩa lả biéu hiện ra, lộ ra trở thành một dauhiệu một kí hiệu tượng trưng nhằm hướng đến một ý nghĩa nào đó Các nhà ngônngữ học đều thống nhất biểu tượng mang bản chất ký hiệu, và điều kiện cần cho
một kí hiệu ton tại là (1) nó phải cảm nhận được (khách quan vật chất) và (2) được
cảm nhận (chủ thé tiếp nhận) Cha đẻ của lý thuyết ngôn ngữ học hiện dai the ki XX
là F de Saussure, ông cho rằng ngôn ngữ là một kí hiệu đặc biệt gắn bó với nhau
bằng qui ước theo mô hình nhị phân: kí hiệu (sign) = cái biểu dat (signifier) + cái
được biêu đạt (signified) Tức là một ký hiệu luôn luôn được tri nhận bởi hai bình
diện là cái biểu đạt (hình anh âm thanh) và cái được biéu đạt (khái niệm) (Ferdinand
de Sausure (Cao Xuân Hạo dich), 2017) [p.116] Sau này, Carl Gustav Jung (1875 —
1961) — nha phân tâm học người Thụy Si lại đứng ở một góc nhìn khác, coi biéu tượng có gốc gác từ mẫu gốc gắn với kí ức nguyên thủy của con người Trong Từ
điện Tiếng Việt, biêu tượng lại được định nghĩa là “Hình thức của nhận thức, cao
hon cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động
của sự vật vào giác quan đã cham dứt" (Hoàng Phê, 2003) [p.67] Còn với Từ điển
thuật ngữ văn học thi các tác giả lại cho rằng: “Theo nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bang hình tượng của văn học nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là mot phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất
của một hiện tượng nao đây, vừa thé hiện một quan HIỆM, mot tu tong, mot triét lý
sdu xa về con người và cuộc đời” (Lê Bá Hán, Tran Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
đồng chủ biên, 2010) Như vậy, có nhiều cách dé định nghĩa vẻ biểu tượng nhưng
Trang 40theo chúng tôi, biểu tượng vừa là cách nhìn thế giới, vừa là phương tiện nghệ thuật mang bản chat kí hiệu dé thực hiện chức năng gợi của thi ca (xét trong thơ tượng
trưng).
Với các nha tượng trưng chủ nghĩa, biểu tượng gắn với cảm quan của nha thơ
về môi quan hệ giữa đời sông xung quanh và bản thân con người giữa con người và
ngoại giới có một sợi dây liên hệ mật thiết, điệu kì Trong bài thơ Những tương ứng,Charles Baudelaire đã viết:
Con người đi ngang, xuyên qua những khu rừng biểu tượng
Van quan sát mình bằng cặp mat thân quen.
Thế giới là huyền diệu bí an, có tính thống nhất giữa bề mặt và bề sâu, cónhững điều tri giác được nhưng cũng có những điều không tri giác được, có cái cụthé và cái vô hình, có cái vật thê và cái tinh than Điều nảy có nghĩa là qua tượngtrưng (hay biểu tượng) hay hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng — một tín hiệu thâm mi
đặc biệt, chứa đựng trong đó tương quan giữa cái cụ tượng và trừu tượng, vat thé và tinh than, cụ thé và khái quát - thơ tượng trưng đã vượt qua thé giới vật thé và be
mặt dé tìm kiếm giá trị tinh thần ở bên trong và bề sâu Thể giới trong đôi mắt của
những nhà tượng trưng là một thé giới vượt khỏi phạm vi có thé lĩnh hội được bởi
giác quan thông thường, những điều không còn nằm trong tầm kiểm soát của gong kìm trí năng hay của lí trí tình táo Đó sẽ là thé giới được nhận ra chứ không phải thế giới trông thấy, nó vượt qua mọi giới hạn của thời gian và không gian A.
Rimbaud đã từng lên tiếng chứng minh cho điều này: “76i lam quen với hoang
tưởng giản di, tôi không ngân ngại trông thấy một đến thờ nơi nhà máy, mot trường
dạy đánh trồng do thiên than dựng lên, những cỗ xe ngựa trên các néo đường trời,một phòng khách dưới đáy một cái hồ Cudi cùng tôi thấy sự xáo trộn trong tinh
thân tôi là điều linh thiêng Tôi thèm muốn hạnh phúc của loài vật, những con sâu
biểu thị sự ngây thơ của những vòng ria, những con chuột chũi, giác ngủ của sự
trình bach” (Nguyễn Hữu Hiểu, 2004) Bang cái nhìn và suy tư có tính thường
nghiệm dé nhìn vào thi giới của Rimbaud thì bạn đọc sẽ bất lực, không thẻ gọi tên
hay lí giải một cách rõ ràng, mà chúng ta chỉ có thê lí giải cõi đời ấy bằng cái nhìn