những quyết định cho con cái đi học trong bao nhiêu năm tủy thuộc váo nhận thức của từng cha mẹ đối với thu nhập của cơn cái họ trong tương lai Các nhu cầu học tập của trẻ em có thể dược
Trang 12, Mue tiéu nghién ctru
3 _Déitwong và phạm vì nghiên cứu,
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Kếtcấu luận văn,
CHHƯỜNG I: CƠ SỐ LÝ THUYÖT VÀ THỨC TIỀN
1⁄2 Lý thuyết về lựa chọn tiêu ding
1.3 Lý thuyết vẻ sự tác động của thu nhập đến chỉ tiêu
2 Lý thuyết đầu tư giáo dục
<3 Hanh vi ra quyết định của hộ gia đình,
1.4 Các nghiên cứu liên quan
1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước,
1.4.2 Các nghiên cứu trong nước
1,5 Khung phân tích của nghiên cứu,
1.6 Téng quan về chí tiêu cho giáo dục của các hộ
CHƯƠNG 2: THƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH,
2.1 Các mô hỉnh nghiên cứu lý thuyết
2.2 Môhình và dữ liệu nghiên cứu,
2.2.1 Mô hình nghiên cứu
2.2.2 Dữ liệu nghiên cứu,
2.3 Cơ sở chọn lựa các yếu tổ có khả năng ảnh hưởng đến chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miễn Trung,
2.3.1 Chỉ tiêu giáo dục của các hộ
2.3.2 Chỉ tiêu bình quận của hộ gia đình,
23.9 Quy mô hộ gia đình
2.3.10 Noi sinh sống của hộ gia đình
Trang 2Mé ti dic diém hé gia dinh trong mau quan sat
Trình độ học vấn của chủ hộ,
Tuổi của chủ hộ
Quy mô hộ sia đình
Tổng quan về chỉ tiêu giáo đục của các hộ gia đình
Chỉ tiêu bình quân hộ gia đình
Chỉ tiêu thực phẩm binh quân
Chỉ tiều y tế
Chỉ tiêu giáo dục củu hộ cho 3
Chỉ tiêu giáo dục phân theo giới tỉnh của chủ hô
Chỉ tiêu giáo dục phân theo dân tộc của chủ hộ
Chỉ tiêu giáo dục phân theo nơi sinh sống cúa hộ gia đi
Chỉ tiêu giáo dục phân theo giới tính của trẻ
Kết quả định lượng các yếu tổ ánh hưởng đến chỉ tiêu giáo dục
Các bước kiềm định và hỗi quy,
Giải thích kết quả của mô hình hồi quy,
Chỉ tiêu bình quân hộ gia đình
Trang 3
19
Nam qua cdc nam (don vi tinh: 1.000déng)
Bang 1.3: Ty trọng chỉ tiêu cho giáo dục trong tổng chí tiêu ở các vùng kinh tế Việt
Bảng 3.1: Trinh độ học vấn của chủ hộ phân theo cấp học của trẻ (đơn vị tính:
Trang 5Hình 1.2: Đường cong Engel trong truờng hợp X là hàng thiết y:
Hình 1.3: Đường cong Engel trong trường hợp X là hàng hóa xa xỉ
wld
Tinh 1.4: Duéng cong Engel đối với X lả hàng hóa cấp thấp
Tình 1.5: Khung phân tích các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu giáo dục 18
Hình 1.6: Tỷ trọng chỉ tiêu cho giáo dục trong tổng chỉ tiêu ở các vùng kinh tế Việt
Nam nim 2010 (don vj tinh: %) 21 Hinh 1.7: Tỷ trọng chỉ tiêu cho giáo dục trong tổng chỉ tiêu ở các vùng kinh lề Việt
„22
Nam qua các năm (đơn vi tinh: %)
Trang 6đại giáo dục giữ vai trò quan trọng trong thúc đây phát triển xã hội, giảm nghèo đói, vả
là nhân lố quan trong góp phần lăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng như các quốc gia
khác đều xem giáo duc là quốc sách hàng đầu và luôn dành sự đầu tư đặc biệt cho sự
nghiệp phát triển giáo dục Beckcr (1993) cho rằng đối với cá nhân thì với nền tảng giáo dục tắt sẽ tạo ra lợi thế cho cá nhân ở nhiều
Khi mức sống của người dân tăng lên thì hộ gia đình không còn phải lo nhiều đến cái
ăn, cái mặc thông thường, họ hướng đến những lợi ích cao hơn là lo cho con cái Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy hộ gia đình càng quan tâm đến chất lượng giáo dục của con em thỉ họ cảng chí tiêu cho nó nhiều hơn, và xem đó như một khoản đầu or mang lại lợi ích trong tương lai Với nguồn thu nhập nhất định, hộ gia đình cũng phải cân
nhắc giữa chỉ tiêu như thế nào cho các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống, bên cạnh việc
chỉ liêu giáo dục cho con em học lại các bậc học khác nhau sao cho phủ hợp với diéu
kiện và đặc điểm kinh tế- xã hội của từng hộ gia đình
Trong những năm gần dây nước ta luôn chú trọng việc nâng cao mức sống của người dân Thể hiện qua việc cỗ gắng cải cách chính sách tiền lương nhằm đáp ứng, nhu cầu xã hội và phủ hợp với nên kinh tế đang phát triển nhanh Theo số liệu thắng kê
từ Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung cho người lao động,
Trang 7trong khu vực hảnh chính sự nghiệp đã điều chỉnh § lần từ 210.000 đồng “tháng lên đến 1.050.000 đồng/tháng, với mức lãng gần 5 lần Việc lăng lương này phần nào đáp ứng, mức chỉ tiêu của các hộ gia đình Nhưng liệu việc tăng lương, tăng chí tiêu này thì người dân có tăng chỉ tiêu cho giáo dục không vả tỷ lệ tăng này so với tăng chỉ tiêu là nhu thé nao?
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hơn 69,05% dân số sống ở nông thôn thường
có thu nhập thấp (Tổng Cục thống kê, 2010) Và trong những năm gần đây thì quá trình
đô thị hóa cảng nhanh làm cho đâu thảnh thị tăng nhanh chóng đẫn đến thu nhập của người đân thành thị tăng nhanh từ 24,12% (2000) tăng lên 30,50% (2010) (Tổng Cục thống kê, 2010) Sự khác nhau về thu nhập của các hộ gia đình nông thôn và thành thị đang là mỗi bận tâm của chính phủ Tuy nhiên, ở mức độ hộ gia đình thì tỷ trọng chỉ tiêu cho giáo dục của các bộ gia đình này cũng là một trong những vấn để cần được quan tâm để có những chính sách giáo đục cho phủ hợp với từng vủng, từng địa phường
Ving Bắc Trung Bộ và Duyên hải mmiễn Trung có điện tích tự nhiên 90.790 km”, chiếm 28% diện tích tự nhiên cả nước và chia lắm 2 tiêu vùng: Bắc Trung bệ gềm có 6
tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thửa Thiên-Huế và
Duyên hải miền Trung gồm 8 tỉnh: Dà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Dịnh,
Phú Yên, Khánh TTòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Dân số trung bình theo thống kê 2012
là 10,09 triệu người, chiếm 11,39% dân số cả nước (Tổng Cục Thông kê) Kinh tế vùng nảy những năm qua chủ yếu dựa vào khai thác lâm nghiệp, thủy sàn và nông ngh
hình là đãi đất hẹp nhất
nhưng điểu kiện tự nhiên lại không được thuận lợi Vị
Việt Nam được tạo bởi vùng núi cao phía tây, sườn bờ biển ở phía đông đã tạo nên
những con sông ngắn và déc Bên cạnh đó, hàu hết các cơn bão vào Việt Nam tập trung
ở vùng này đã tạo nên những cơn lũ vét không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động sản suất của người dân mà còn tàn phá cơ sở vật chất, hạ tầng làm cho cuộc sống người dân sat
những cơn bão trở nên khánh kiệt Vì nạn chặt phá rừng bửa bãi và đánh bắt hải sản
Trang 8
ệ chỉ tiêu cho giáo dục so với các chí tiêu khác như thực phẩm, y tế
vùng khác và tỷ
thi nhu thé nao?
Mức chỉ tiêu giáo dục cho con em trong hộ gia đình là một chỉ số có thể đại diện cho sự quan tâm của hộ về giáo dục cho trẻ Các yếu tố kinh tế-xã hội của hộ gia đình,
đặc điểm của trẻ ảnh hưởng đến quyết định chỉ liêu giáo dục là một vẫn đề cần quan tâm xem xét và dânh giá tir đó kỳ vọng sẽ cung cấp thông tin hữu ich cho nhũng nhả
hoạch dịnh chính sách giáo đục nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng giáo đục Để tài
nghiên cứu: "Các yếu đố ảnh hướng dến chỉ tiêu giáo dục của hộ gia đình BẮc Trung B6 và Duyên hải min Trung, Việt Nam” nhằm góp phần làm sáng tô vấn để trên
2 Mục tiêu nghiên cứn
Mục tiêu chính của đề tài là xác định các yếu tổ kinh tế - xã hội ánh hướng đến
chí tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình Bắc Trung bộ và Duyên bải miền Trung, Việt Nam dựa trên cơ sở phân tích thống kê và định lượng số liệu từ bộ dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHI.SS) năm 2010 của Tổng Cục Thống kê Để đat được
nrục tiêu này, để tải tập trung tìm câu trả lời cho các câu hỏi như sau:
-_ Các yếu tố kinh tế - xã hội nảo ảnh hưởng đến mức chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ gia dình Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Việt Nam?
~_ Khi chỉ tiêu của hộ gia đình tăng lên thì tý lệ tăng chỉ tiêu cho giáo đục như thé nảo và cấp học nào là bị tắc động mạnh nhất?
-_ Chí tiên lương thực thực phẩm và chí tiêu cho y tế có ảnh hưởng đến đến chỉ tiên cho giáo dục của hộ gia đình hay không?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các hộ gia đình miền Bắc Trung bộ và Duyên hải miền
Trung, Việt Nam.
Trang 9'Trong khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải miễn Trung, Việt Nam, từ nông thôn đến
thành thị,
4 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở đữ liệu: dễ tài sử dụng nguồn số liệu chính là dữ liệu sơ cấp từ cuộc khảo
sắt mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2010 của Tổng Cục Thếng kê và nguồn dữ
liệu dược thu thập từ Tông Cục Thống kệ
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chỉnh sau:
-_ Phương pháp thống kế nô tả: dùng để xử lý, so sánh, tổng hợp các số liệu và đưa ra những nhận xét cơ bản
-_ Phương pháp phân tích định lượng bằng mô hình hồi quy đa biến xác định các
nhân lỗ tác động đến mức chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ
5 Kết cầu luận văn
Tài luận này gồm có các chương như: Phần mở đâu sẽ giới thiệu về lý do chọn để tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
và kết cấu luận văn, Chương 1 — Cơ sở lý thuyết và thực tiên sẽ giới thiệu về cơ sở lý luận làm nền tảng cho bài nghiên cứu va tom tắt các nghiên cứu liên quan Chương 2 — Phương pháp và mô hình sẽ trình bảy các mô hình kính tế, sự lựa chọn mô hình của tác giá cho nghiên cứu này, trình bảy cơ sở đữ liệu và phân tích để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung Chương 3 Kết quả nghiên cứu sẽ trình bày kết quả của mô hình và phân tích kết quả Chương 4 Kết luận và khuyến nghị, Nội đung chương nảy sẽ tóm lược
lại những kết quả đáng chú ý của đễ tài và đặc biệt lả kết quả phân tích định lượng Từ
đó sẽ đưa ra những kiên nghị, hàm ý về chính sách về mức chỉ tiêu giáo dục của hộ gia
Trang 11bay và phân tích một số kết quả nghiên cửu trong và ngoài nước liên quan mà tác giả
đã tham khảo đề lựa chọn các biến đưa vào trong mô hình nghiên cứu
1.1 Lý thuyết về hành ví tiêu dùng
1.1.1 Dị
- Theo James F Engel và các cộng sự (2005): “Hành vì liêu đừng là loàn bộ
h nghĩa
những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình ủm kiếm, thụ thập, mua sắm, sở hữu,
sử dựng, loại bó sản phẩm/dịch vụ, Nó bao gồm cả những quả trình ra quyết dịnh diễn
ra trước, trong và sau hành động đỏ”
Qua định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu hành ví tiêu dùng là một quá trình ma
một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng sản phẩm¿dịch vụ nhằm
thöa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ Quá trình này bao gồm những suy nghĩ, cảm nhận, thải độ và các hành động mua sắm, sử dụng sân phẩm hay địch vụ
1.1.2 Lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng
Theo Mas-Colell và cộng sự (1995), lý thuyết tiêu đùng thể hiện những quyết định lựa chọn tiêu dùng mang tính chất duy lý của người tiêu dùng cho các loại hàng hóa Trong điều kiện ràng buộc về ngân sách hộ gia đình, người tiêu dùng sẽ lựa chọn
rổ hàng hóa đảm bảo tối đa hóa mức hữu đụng của mình,
Max u(x) với điểu kiện p*x< 1
Trang 12
nhận giá và giá của hàng hóa có dạng tuyến tính
1.13 Lý thuyết về sự tác động cúa thu nhập đến chỉ tiêu
Vào thế kỳ XIX, một nhà thống kê người Đức, Ernet Engel (1821-1896) đã thực
hiện một nghiên cứư thực nghiệm về ngân sách gia đỉnh dễ dưa ra kết luận về các mô
hình chỉ tiêu tiêu dùng, đó là chỉ phí cho các hàng hóa và địch vụ khác nhau của các hộ gia dình ở những mức thu nhập khác nhau
Theo nghiên cứu của Engel, khi thụ nhập tăng lên, tỷ trọng thu nhập chỉ cho các hàng hóa thiết yếu như thực phẩm thì giảm và chỉ cho các hàng hóa xa xỉ như các hằng, hóa và dịch vụ công nghiệp lại tăng, Hay nói cách khác, các gia đình nghèo thường dành tỷ trọng tương đối lớn trong thu nhập của họ cho các nhu cầu cần thiết, trong khi các gia đình giàu lại dành phần lớn thu nhập cho các nhu cầu xa xỉ Sự thay đồi nảy trong các mmô hình chi tiêu tiêu đùng với sự gia tăng thu nhập của các hộ gia đình được gọi là quy luật Engcl
Dé don gian, ta sé mô tả và giải thích mối quan hệ giữa thu nhận và số lượng hàng hóa thay cho chỉ tiêu và giá định là giá của hàng hóa là không thay đổi
Giả định ban đầu thu nhập là lị, giá các sản phẩm lần lượt lả P„ và P„ đường ngân
sách tương ứng là Iị và đường đẳng ích là Uị Điểm phối hợp tối ưu lả E(xy,y)) là tiếp
điểm của đường ngân sách va đường dang ich
Nếu thu nhập tăng lên là lạ, giá của các sản phẩm không đối là P„ và P„ thì đường ngân sách sẽ a Lb Điểm phối hợp tối ưu mới là F(xa,y›) là tiếp điểm của đường ngân
sách với đường đẳng ích U› Nỗi các điểm F, F ta sẽ được tiêu dùng theo thu nhập
ace)
Đường tiêu dùng theo thu nhập lả tập hợp các phối điểm tối ưu giữa bai sản phẩm
khi thu nhập thay dồi, giá của sản phẩm không dỏi.
Trang 13IVP,
1y/Py 1/P,
Hình 1.1: Đường tiêu dùng theo thu nhập
Đường tiêu dùng - thu nhập ICC (Income-Consumption Curve): Đường tiêu dùng
~ thu nhập đối với hàng hóa X cho biết lượng hàng hóa X được mua tương ứng với từng mức thu nhập khi giá cả các loại hàng hóa là không đổi
Hình 1.2: Đường cong Engel trong trường hợp X là hàng thiết yếu
Như vậy, đường cong tiêu thụ - thu nhập (ICC) có thể được sử dụng để giải thích
các mối quan hệ giữa mức độ thu nhập của người tiêu dùng với số lượng mua của một
mặt hàng và được gọi la đường cong Engel.
Trang 14hình 1.2 tăng lên khi thu nhập tăng lên Điều này cho thấy rằng với mỗi mức tăng bằng nhau trong thu nhập, thì số lượng hàng hóa mua sẽ giảm dần Như vậy, đường cong Engel trong trường hợp X là hàng hóa thiết yếu thì số lượng mua của hàng hóa tăng lên cùng với sự gia tăng thu nhập nhưng với tốc độ giảm dần
ICC
0 x; X
Hình 1.3: Đường cong Engel trong trường hợp X là hàng hóa xa xỉ
Các đường cong Engel rit ra trong hình 1.3 có hướng lên trên dốc nhưng là löm
Điều này cho thấy rằng độ đốc của đường cong Engel (AI / AX) đang giảm với sự gia tăng thu nhập Nghĩa là, với mỗi mức tăng bằng nhau trong thu nhập, thì số lượng hàng hóa mua sẽ tăng cao hơn Như vậy, trong trường hợp nảy, số lượng mua của hang hoa
tăng lên cùng với sự gia tăng thu nhập nhưng với tốc độ nhanh hơn Hàng hóa như vậy
được gọi là xa xỉ.
Trang 15
Hình 1.4: Đường cong Engel đối với X là hàng hóa cấp thấp
Đối với hàng hóa cấp thấp thi độ dốc của đường cong Engel có hệ số âm (hình
1.4) nghĩa là khi thu nhập tăng lên thì người ta sẽ giảm chỉ tiêu cho hang hoa nay Như vậy, dựa vào hình dạng của đường Engel của từng loại hàng hóa ta có thể
biết đó là sản phẩm thiết yếu, sản phẩm xa xỉ hay là sản phẩm cấp thấp
1.2 Lý thuyết đầu tư giáo dục
Lý thuyết vốn con người liên quan đến giáo dục như là một sự đầu tư đề tối đa hóa chất lượng cuộc séng (Schultz, 1961, Becker, 1993) Việc đầu tư thêm cho giáo dục sẽ tạo ra lợi ích về mặt nâng cao thu nhập trong tương lai đồng thời đòi hỏi chỉ phí
trực tiếp và chỉ phí cơ hội vì không lảm việc trong thời gian đi học Mỗi người sẽ so
sánh những chỉ phí trực tiếp và chỉ phí cơ hội với lợi ích trong tương lai của việc đầu tư
cho đi học Việc đầu tư sẽ tiếp tục miễn là tỷ lệ biên lợi nhuận cao hơn chỉ phí bây giờ
đã bỏ ra Việc đầu tư cho giáo dục sẽ tăng theo kỳ vọng lợi nhuận đạt được trong tương lai và giảm theo chỉ phí đi học
Becker (1993) va Schultz (1961) nhan dinh hai đối tượng có học vấn khác nhau thường có những thu nhập khác nhau Từ sự khác biệt trong thu nhập đó, cha mẹ sẽ có
Trang 16những quyết định cho con cái đi học trong bao nhiêu năm tủy thuộc váo nhận thức của từng cha mẹ đối với thu nhập của cơn cái họ trong tương lai
Các nhu cầu học tập của trẻ em có thể dược biểu diễn như là một hàm của tiễn lương của các thành viên hộ gia đình, chỉ phí cho giáo dục, thu nhập hộ gia đình chua được hưởng và một tập hợp các đặc điểm của trẻ em, gia đình và thị trưởng lao động địa phương
Các giá dịnh về sự quan tâm của cha mẹ và nguồn vốn có giới hạn tạo ra mối
c đầu tư giáo dục
quan hệ giữa trình độ học vẫn của chả mẹ và thu nhập của hộ đến việc
cho trẻ Cha mẹ có học vấu cao sẽ quan (âm nhiều đến phúc lợi của cou cái của họ
(Becker va Tomes, 1993), Gido dục của cha mẹ có thể đại diện cho hành vỉ của họ đổi
với việc học của trẻ và các yếu tố giáo dục của cha mẹ có thể phản ánh các khoản đầu
tư cho trẻ em học tiểu hợc, Giáo dục của người mẹ cũng có thể đại điện cho thu nhập
cố định, chỉ phí cơ hội của mẹ trong thị trường lao động và sản xuất của hộ gia đỉnh
1.3 Hành ví ra quyết định cúa hộ gia đình
Khi ra quyết định cho một vấn đề nào đó của hộ gia đình thì liệu đó là quyết định của người chủ hộ hay của tập thê các thành viên trong hộ gia đỉnh đó? Trong nghiên cứu của Douglas (1983) về quá trình ra quyết định của hộ gia đình thì quyết định này
được xem xét bởi các yễu tố sau:
-_ Quá trình náy dựa trên ý kiến của một số thành viên trong gia đỉnh chứ không
phải lả ý kiến riêng của chủ hộ và việc nảy đảm bảo tối đa lợi ích của các thành viên
trong gia đình cũng như hạn chế các quyết dịnh gây bất lợi
~_ Việc ra quyết định của hộ gia đình còn bị nh hưởng bởi các yấn tá như hr vẫn
của người bán hàng hay các điều kiện sống cũng như các môi trường kinh tế - xã
hội, các chính sách quy định quyền và nghĩa vụ mà hộ gia đình đó bị tác động,
Vi thế mà việc ra quyết định cho một vấn dé nào đó nói chung và cho việc chỉ
tiêu giáo dục hay thực phẩm nói riêng của hộ gìa đình cần xem xét nhiều nhân tố từ các yếu tổ bên trong hộ gia đình đến các yếu tổ từ bên ngoài xã hội
Trang 171.4 Các nghiên cứu liên quan
1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Meng Zhao va Paul Glewwe (2007), nghiên cửu các nhân tố tác động dén việc
nhập học của cả nhân trong hộ gia đình ở miễn nông thôn ở Trung Quốc Nghiên cứu
nay cho rằng nhụ cầu cho số nấm đi học của hộ gia đình là một bàm các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ phí vả lợi ích của việc học thêm gồm bốn nhóm: Đặc tỉnh cá nhân của trẻ (giới tính, tuổi, tỉnh trạng đỉnh dưỡng), đặc diễm hộ gìa dình (trinh độ học van của cha và mẹ, nhận thức về giáo dục giới tính của cha vả mẹ, mong muốn của cha mẹ về
trình độ đạt được của rẻ, chỉ tiêu bình quân), đặc diểm công cộng (khoảng cach (ie nha đến trường) và đặc điểm của trường học, giáo viên (học phí, số phòng thí nghiệm khoa học, thư viện, kinh nghiệm, lương của giáo viên) Bài nghiên cứu đã sử dụng hồi quy probit để ước lượng số năm đi học của trẻ
Kết qua của nghiên cứu náy cho thấy tỉnh trạng dình dưỡng của trẻ và thu nhập
của hộ gia đình có tác động tích cực đến số năm hoản thành đi học của trẻ em Trình độ
giáo dye va thái độ đối với giáo dục của trẻ của các bà mẹ cũng có tác động mạnh mẽ Các phòng thí nghiệm khoa học và kinh nghiệm của giáo viên cũng tác động tích cực
đối với việc học của trẻ
Aysit Tansel (1999), nghiên cứu này xem xét các yếu tô tác động đến việc nhật
học của các bé trai và gái ở Thổ Nhĩ Kỳ Mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra các
chữ thì nhận giá trị 0, biết chữ mả không tốt nghiệp ở bất cứ trường nào thỉ có giá t
2, tốt nghiệp cấp tiểu học, trung học, phổ thông thì nhận giá trị 5, 8, 11 năm học còn tốt
nghiệp đại học hoặc cao hơn thì có 15 hoặc nhiều năm đi học hơn Trong nghiên cứu
Trang 18
thích thêm những yếu tổ trên tác động tới bé trai và gái như thể nảo
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy ở bậc tiêu học thỉ tỷ lệ nhập học cao ở cả bé trai và bé gái Tuy nhiên ở vùng Đông Nam thì tỷ lệ bỏ học của bé gái nhiều hơn Và
chỉ một nữa học sinh tốt nghiệp tiểu học ding ky hoc trưng học Biến thu nhập của hộ
gia đình có tác động tích cực dến việc đi học của trẻ và hệ số nảy ở bé gai lén hon
mô hình của bé trai, Điều nay cho thấy giáo dục là hang hóa thông thường, Biến số
năm đi học của cha mẹ cũng như nghề nghiệp của cha mẹ có liên quan mạnh mẽ đến thành tựu học tập của trẻ và các biển này cũng tảc động đến các bẻ gái mạnh hơn các
bé trai Sự tác động của giáo dục cha mẹ đối với các bé gái thì tăng dần ở các cấp học
cao hơn còn ở các bé trai thì hầu như lả không có thay đổi Bên cạnh đó các hộ gia đình
ở thành thị thường cho con mình di học cao hơn các hộ gia dình ở nông thôn
Tilak, Jandhyala B.G (2002), nghiên cửu các yếu tố tác động đến chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình nông thôn ở Ấn Đô, Thco đó, Tilak đã ước lượng chỉ tiêu
cho giáo dục cho đứa trẻ của các bộ gia đình nông thôn ở Ấn Dộ phụ thuộc vào các yếu
tố như thu nhập của hộ, trình độ giáo dì nghề nghiệp của chủ hộ, giới tính của trẻ,
tưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kê đến chỉ tiêu cho giáo dục của hộ
Ngoài ra còn nhiều nghiên cửu khác nh Mauldin và cộng sự (2001), nghiên cứu
chỉ tiêu của cha mẹ đối với giáo dục của con cái với kết quả số tiền mà bố mẹ chỉ cho
việc học của con cái phụ thuộc vào thu nhập sau thuế của cha mẹ, trình dộ học vẫn của
cha mẹ, tuổi của cha mẹ, nơi sinh sống của gia đỉnh (nông thôn hay thành thị) Hay
Trang 19nghién citu cia Qian va Smyth (2008) 48 sir dung hdi quy Tobit để đánh già tác động,
của thu nhập va các đặc điểm hộ gia đình đến nhu cầu giáo dục Kết quả của nghiên cứu này là thu nhập của hộ gìa đình vẫn là nhân tố có ảnh hướng lớn đến chí tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình Bên cạnh đỏ, trình độ học vấn của cha mẹ và tính chuyên nghiệp của nghé nghiệp của cha mẹ cũng có tác động tích cực Hộ gia đỉnh có nhiều trẻ đến trường thì chỉ tiêu cho giáo dục càng nhiều Hộ gia đình sống ở ven biển có xu hướng chỉ tiêu cho giáo dục Khác với các hộ ở các ving con lại
1.4.2 Các nghiên cứu trang nước
Nghiên cứu của Trần Thanh Sơn (2012), nghiên cứu vác nhân tố ảnh hướng đến
chỉ tiêu của hộ gia đình cho giáo dục: nghiên cứu ở vùng Đông Nam bộ, Việt Nam Nghiên cứu này đã sử dụng bộ dữ liệu VHLSS năm 2008 của Tổng Cục thống kế với phương pháp hồi quy OLS để xem xét các yếu tô tổng chỉ tiêu, quy mô hộ, nơi sinh
sống của hộ, đân tộc, giới tính, trình độ học vấn, tuổi của chủ hộ và các trợ cấp cho
giáo dục đến chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ gìu đình ving nay
Kết quá cho thấy tổng chỉ tiêu của hộ gia đình, nơi sinh sống của hộ gia đình, trình độ học vấn của chủ hộ, các khoản trợ cấp cho giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình,
Nghiên cứu của Đảo Thị Yến Nhi (2013), đánh giá tác động của đặc điểm hộ gia
đình đến chí tiêu giáo dục trưng học của các hộ gía đình Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng bộ dữ liệu VHLSS (2010) và
giáo đục trung học, Kết quả cho thấy chí tiêu bình quân có tác động tích cực đến chí
hồi quy OLS ước lượng các yếu tố tác động đến
tiên cho giáo dục nhưng chỉ tiên thực phẩm bình qmân lại có tác động tiên cực Ngoài
ra các nhân tố khác nhự đân tộc, trình độ học vẫn, tuổi của chủ hộ, nơi sinh sống của
hộ gia đình đến có ý nghĩa
Bảng 1.1: Tóm tắt các nghiên cứu có liên quan
| Nghiên cứu | 'Mô tả nghiên cứu | Két quả nghiên cứn
| Nghiên cứu các | - Dữ liệu nghiên cứu là từ điều tral ~ Thu nhập của hộ gia đình
Trang 20và mẹ, chỉ tiêu bình quân đầu nguời, khoảng cách đến trường, học phí,
phòng khoa học, thư viện, kinh
nghiện, lương của giáo viên
cảng tăng thì số năm đi học
-Phòng thí nghiệm khoa học và số năm kinh nghiệm của giáo viên có
c biến trong nghiên cứu: thu
nhập của hộ pía đình, giáo dục của
cha mẹ, nghề nghiệp của cha mẹ,
khu vực nông thôn — thành thị,
khoảng cách đến các trung lâm tu
điện ngầm, thành phần lao động địa
phương, sự đi dân,
- Thu nhập của hộ gia đình
có tác động tích cực đến thành tựu học tập nhưng
Trang 21- Các biến trong mô hình: Thu nhập
của hộ, quy mô hộ, trình độ học vấn
và nghề nghiệp của chủ hộ, giới tính cúa trẻ, đẳng cấp và tôn giáo của hộ, các chỉ số phát triển nơi sinh sống
của hộ, các khoản trợ cấp
trọng có tác dộng mạnh mẽ đến chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình,
- Trinh độ học vấn của chủ
hộ, giới tính trẻ có tác
động tích đến chỉ tiêu giáo dục
-Nghễ nghiệp cúa chủ hộ thì không có tác động rõ
rệt
Nghiên cứu chỉ
tiêu của cha mẹ
đối với giáo dục
của con cái
Mauldin va
sự (2001)
-Dữ liệu của nghiên cứu từ cuộc
diều tra chỉ tiêu tiêu dùng nam 1996
- Các nhân tế trong mô hình gầm thu nhập sau thuế, số trẻ em trong hộ,
ấn của bố mẹ, tuổi của
bố mẹ, màu đa, tình trạng hôn nhân
của cha mẹ, khu vực địa lý và đặc
điểm của địa bản sinh sống
Số tiễn cha mẹ chỉ tiêu cho giáo dục của con mình phụ thuộc vào thu nhập sau
(2008) - Dữ liệu nghiên cứu từ cuộc điêu tra
của Công ty nghiên cứu marketing
China Mainland ở Trung Quốc năm
2003
- Các nhân tố dự đoán có tác động như thu nhập hộ gia đình, nghề
nghiệp và trình độ học vấn của cha
mẹ, số trễ trong hộ gia đình, nới sinh
sống của hộ gìa dinh, Kết quá nghiên cứu cho
thấy thu nhập của hộ gia đình, nghề nghiệp và trình
độ học vấn của cha mẹ nơi
sinh sống của hộ gia đình
có tác động đến nhụ cầu
giáo dục
Trang 22
Các nhân tố ảnh | - Dữ liệu nghiên cứu từ bộ dữ liệu | Kết quả nghiên cứu cho
hướng đến chỉ | Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt | thấy tổng chỉ tiêu nơi sinh
tiêu của hệ gia | Nam năm 2008, trích chơ vùng Dông | sống của hộ gia đình, trình
dục: nghiên cứu | - Phương pháp nghiên cứu: Hồi quy | cũng như các khoản trợ cấp
bộ Việt Nam - | - Các nhân tổ kỳ vọng tổng chỉ tiếu, | đến chỉ tiêu cho giáo dục
Trần Thanh Sơn | quy mô hộ, nơi sinh sống của hộ, | của các hộ gia đình vùng
(2012) dân tộc, giới tính, trình độ học vấn, | Dông Nam bộ
tuổi của chủ hộ và các trợ cấp cho
giáo dục
Nghiên — cứu | - Dữ liệu nghiền cứu từ bộ VHLSS | Riêng chỉ tiêu bình quân đánh giá tác | năm 2010 thực phẩm có tác động tiêu
động của đặc | -Phương pháp nghiên cứu: Hồi quy | cực đến chỉ tiêu cho giáo
— Dào Thị Yến | thành phế trực thuộc Trung ương của các hộ gia đình
Nhi (2013)
1.5 Khung phân tích cúa nghiên cứu
Theo Aysit Tansc! (1999) thì giáo dục là một loại hàng hóa thông thuờng nên khi
chỉ tiêu cho giáo dục sẽ chịu tác động của chính hộ gia đỉnh và các yếu tố khách quan
từ bên ngoài Hay các nghiên cứu đến chỉ tiêu cho giáo dục của Meng Zhao, Paul
Trang 23Glewwe (2007), Tilak (2002) đều xem xét các nhóm các nhân tố như đặc điểm của trẻ, đặc điểm của hộ gia đình, đặc điểm nơi sình sống và đặc điểm về trường lớp
Sau khi sơ lược lý (huyết và tham khảo các nghiền cứu có liên quan, tác giả dựa
1.6 Tổng quan về chỉ tiêu cho giáo dục của các hệ gia đình Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có truyền thông hiểu học, nén bên cạnh các chính sách khuyến khích giáo dục của nhà nước, các hộ gia đình Việt Nam cững rất chú trọng đến
nền tảng giáo dục của con cháu mình Nếu như tỷ lệ học sinh đến trường là chỉ số thể
hiện nhu cầu của hộ gia đỉnh về mặt lượng của giáo đục thỉ chỉ tiêu cho việc đi học thể hiện nhu cầu về chất (Decolalikar,1997).
Trang 24Bang 1.2: Chi tiêu bình quân giáo dục cña các hộ gia đình ở các vùng kinh tế qua các năm (đơn vị tính: 1.000đằng)
Trung du và miền núi phía Bắc 886 1.020 1.220 1.950
Bắc Trung bộ và Duyên hải miễn
(Nguon: Tong Cục Thông kê năm 2010)
Theo số liệu thống kẻ của Tổng Cục Thống kê ở trên, ta có thé thấy chỉ tiêu bình quân cho giáo dục của các hộ gia đình Việt Nam có sự khác nhau rõ rệt giữa các vùng
kinh tế Thấp nhất là các vùng Trung du và miền núi phía Bac, Dang bằng sông Cửu
Long và cao nhất là vùng Đồng Nam bộ Nhưng nhìn chung thì chỉ tiêu cho
tên cạnh đó, tỷ trọng giữa chí tiêu cho giáo dục trong tổng chỉ tiêu của của các
hộ gia đỉnh có sự biến động Từ nấm 2004 đến 2008 thì có xu hướng tăng, nhưng những năm gần đây lại giảm một đáng kể Đây là một trong những tiêu chỉ quan trọng
để dánh giá chất lượng cuộc sống cũng như sự quan tâm của cha mẹ đối với tương lai
của con cháu minh.
Trang 25Bang 1.3: Tỷ trọng chí tiêu cho giáo dục trong tổng chỉ tiêu ở các vùng kinh
(Nguồn: Tổng Cục Thông kế năm 2012)
Theo Todaro và Smith (2009) trong nghiên cứu về kinh tế học cho rằng ở các
vùng và quốc gia dang phát triển khi thu nhập tăng (hay khà năng chỉ tiêu của hộ gia
đình tăng) thì tỷ trọng chỉ tiêu cho giảo dục trong tổng chỉ tiêu lại giảm Trong những năm pẦn đây, do chính sách tiền lương thay đồi, thu nhập của người đản được nâng cao làm chơ khả năng chủ tiêu của họ cũng tăng đáng kể Khi tông chỉ tiêu cảng tăng cao thì
tỷ trọng giữa chỉ tiêu cho giáo dục trong tổng chỉ tiêu cảng giảm mạnh Điễu này có thể được lý giải như sau:
- Việt Nam là một nước nông nghiệp Hầu hết các hộ gia đình có thu nhập thấp nên phần lớn thu nhập là dành cho ăn uống Tỷ trọng chí tiêu cho thực phẩm của các hộ gia đỉnh Việt Nam ở mức khá cao, khoảng 52,9% năm 2010 (Tổng Cục thống kê) Vì thế mả khí thu nhập tăng lên hay khả năng chỉ tiêu tăng lên thì ty trọng nảy tăng nhanh nhất làm cho tÿ trọng các chỉ tiêu khác tăng chậm hoặc có thẻ giảm
Trang 26~ Giáo dục nước ta chịu sự quản lý chặc chẽ của Bộ Giáo dục và Đảo tạo nên tất
cả các khoảng thu chỉ của các trường đều bị chỉ phối của cơ quan này Việc thu học phí
cũng như các nguồn thu khác sẽ được quy định nên các mức học phí là gần như cố
định Vì vậy mà khi thu nhập của hộ gia đình có tăng cao thì các khoản đóng cho
trường học là gần như không đôi Cha mẹ chỉ có thê đầu tư cho con mình học thêm các
môn kỹ năng khác như ngoại ngữ, nhạc và các phương tiện học tập hiện đại hơn
Đồng bằng Trung duvà Bắc trung bộ Tây nguyên ĐôngNam dng bing
sông Hồng miền núi và Duyên hải bộ sông Cửu
Hình 1.6: Tỷ trọng chỉ tiêu cho giáo dục trong tổng chỉ tiêu ở các vùng kinh
tế Việt Nam năm 2010 (đơn vị tính: %).
Trang 27—2— Ding bing song Hong
——Trung dụ và miền núi
Hình 1.7: Tỷ trọng chỉ tiêu cho giáo dục trong tổng chỉ tiêu ở các vùng kinh
tế Việt Nam qua các năm (đơn vị tính: %)
Qua hình 1.7, ta có thể thấy vùng nghiên cứu, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải
miễn Trung có tỷ trọng chỉ tiêu cho giáo dục trong tổng chỉ tiêu của các hộ gia đình luôn ở mức cao hơn các vùng khác, Tuy từ năm 2008 đến 2012 tỷ trọng này cỏ giảm ở hầu hết các vùng nhưng vủng nghiên cứu lại giảm rất mạnh tử 8,5 (năm 2008) xuống còn 6,7 (năm 2010) và 4,9 (năm 2012)
Tóm tắt chương 1:
Nội dung chương 1 trình bày các cơ sở lý thuyết mà nghiên cứu ứng dụng như lý
thuyết về hành vi tiêu dùng, lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng và lý thuyết về đầu tư cho
giáo dục cũng như hành vi ra quyết định của hộ gia đình
Chương này cũng tóm tắt các nghiên cứu có liên quan đẻ từ đó tông hợp và lựa
chọn các biến cho mô hình Ngoải ra, chương này còn trình bảy các thực trạng tiêu cho
giáo dục ở Việt Nam và vùng nghiên cứu.
Trang 28kế các nhân tổ kỳ vọng có tác động đến chỉ tiêu giáo dục của các hộ gia đình
2.1 Các mô hình nghiên cứu lý thuyết
Houthakker (1957) da xem xét ba dạng hàm để nghiên cứu các mô hình (oán kinh
tế giữa chỉ tiêu cho một loại hàng hóa cy thé va lễng chỉ tiêu của hộ gia đình là tuyển
tính, bán logarit và logarit kép Ông nhận định rằng dang hàm tuyến tính không phù hợp để phản ánh các mối quan hệ trong chỉ tiêu và đã sử dụng dang ham logarit kép được phát triển từ lý thuyết đường cong Engel Mô hình toán có đạng cụ thể như s
log ¥
=a, 1 Blog X , | y log X | 8
Trong đó Y; là chỉ tiêu cho nhóm hàng hóa thứ ¡, Xụ là tổng chỉ tiêu, X; là số lượng thành viên trong hộ gia đình, e; là sai số, ø ; , B; và v, là các hệ số được ước hượng
từ mô hình hồi quy OI.S Và J và vị chính là hệ số co giãn của tổng chỉ tiêu và quy môi
hộ gia đình khi xem xét trong mỗi quan hệ với chỉ tiêu cho nhóm hàng thử ¡
Trong nghiên cứu năm 1998, Ndanshau đã xây dựng mô hình tước lượng tổng quát cho chí tiêu hộ gia đình như sau:
Cy =f (TEX;, Aj 18), Ed; ) Trong đó C¡ là phần chỉ tiêu của hộ gia dimh thit j dinh cho hang hoa i; TEX; 12 tông chỉ tiêu của hộ gia đình thứ j; A;, Ed; lẫn lượt là tuối và tình độ giáo dục của chủ
hệ gia đình thứ j, HS; là quy mô (số thành viên trong hộ) của hộ gia đình thứ j Tờ mô hình tổng quát trên, Ndanshau (1998) cững đã để xuất triển khai thành hai đạng mô hình gỗm: tuyến tính và lin-log
Dạng luyến tính cụ thể như sau:
C¡= g¡ + BITEX + yA + SH tự Bđ + uy
Trang 29Dang lin — log cụ thể như
Ci=a; + BilogTEX + yjlog A + §,HS — yiEd + uy;
Trong nghiên cứu các yếu tố tác động đến chí tiêu cho giáo đục của các hộ gia
đình nông thôn ở Án Độ, Tilak (2002) nhận định rằng mối quan
khả năng tác động đến chỉ tiêu hộ gia đình cho giáo dục với biển tổng chỉ tiêu hộ gia
ệ giữa các nhân tổ cỏ
đình cho giáo dục có thể được diễn đạt bằng dạng hàm tổng quát như sau:
InHHEX = «+ BX, — &
Trong đó la HHEX là giả trị logarit của chỉ tiêu hàng năm của hộ gia đỉnh cho
giáo dục, X; lá các yếu tô ảnh hướng đến chỉ tiêu hộ gia đình cho giáo dục, B¡ là các hệ
số hỗi quy lương ứng ø; là sai số ước lượng
Với dạng hảm này cho phép người nghiên cứu có thế đưa vào mô hình nhiều biến độc lập trên cơ sở xây đựng giả thiết nghiên cứu các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu hộ gia đỉnh cho giáo dục và có thể dựa vào đó tính được độ co giãn chỉ tiêu cho giảo dục cho các bậc học khác nhau
3.2 Mô hình và dữ liện nghiên cứu
3.2.1 Mô hình nghiên cứu
Với những mô hình kinh tế được trình bày ở trên, hầu hết đều sử dụng dạng ham logarit kép cho việc xác định mỗi quan hệ giữa chỉ tiên của một loại hàng hóa với tổng
chỉ tiểu của hộ gia đình Mối quan hệ này được thể hiện qua việc lấy logarit cho giả trị của biến giải thích tổng chỉ tiêu hộ gia đình và biến phụ thuộc
hàng hóa Ngoài ra, bên cạnh tá
đưa thêm nhiều biến khác như chỉ tiêu cho thực phẩm, y lế của hộ gia đình, quy mô hộ
Ig của tổng chỉ tiêu, các tác giả cũng nhận thấy
gia đình, trình độ học vấn của chủ hộ, môi của chủ hộ để tăng tính giải thích cho mô
hình, Các biển được đưa thêm váo mô hình có thể được thể hiện dưới dạng logarit tùy
vào
thud điểm cia dit ligu va ¥ nghia giải thích của các biến đó,
Với mục tiêu nghiên cứu và đữ liệu, tác giả chọn vả phát triên mô hình của Tilak
(2002) để làm nền tàng phân tích các yếu tổ ảnh hưởng đền chí tiêu giáo dục,
Trang 302.2.2 Dữ liệu nghiên cứu
ông hộ
gia đình Việt Nam năm 2010 (VHLSS 2010) do Tổng Cục Thống kể thực hiện Dữ liệu
chỉ trích vùng Hắc Trung bộ và Duyên hãi miễn Trung (vùng 3) với các mục sau:
Dữ liệu của nghiên cứu này được trích xuất từ bộ số liệu khảo sát mức
Mục 1: Một số đặc điểm nhân khâu học cơ bản liên quan đến mức sống
Mục Ì
Mlac2 CGender Giới tính của trẻ
Mục 2 ——
2ct tEExpc Chỉ tiêu giáo đục
Trang 31
Mục 3
Mục 5 | M5a2cL FExpe Chí tiêu thực phẩm bình
quân mSalctmSblet, | Expc Chỉ tiêu bình quân hộ gia
Hol4
2.3 Cơ số chọn lựa các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến chỉ tiêu cho giáo
dục của các hộ gia đình vùng Bắc Trung bộ va Duyên hãi mién ‘Trung,
2.3.1 Chỉ tiêu giáo dục của các bộ
Chỉ phí cho giáo dục của các hộ gia đình cho từng thánh viên trong 12 tháng gồm:
~_ Các khoản đóng cho nhà trường như học phí theo quy định, học phí học trái tuyến, các khoản đóng góp cho nhà trường, các quỷ phụ huynh, quỷ học sinh
-_ Các khoản mua sắm vật dung hợc tập như quần áo đồng phục và trang phục,
dụng cụ học tập như sách, vở, viết
Chi phí học thêm các môn thuộc chương trình quy định
Chỉ phí dio tạo giáo dục khác như học chứng chỉ nghề, học chứng chỉ ngoại
Cac chi phí khác như đi lại, nhà trợ, bảo hiêm
2.3.2 Chỉ tiêu bình quân của ia đình
du hết các nhà nghiên cứu khi để cập đến nhân tố ảnh hướng đến chỉ tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình thì luôn cho rằng thu nhập của
hộ gia đình nên xem xét đầu tiên Khư Meng Zhao, Paul Glewwe (2007), Aysit Tansel
(1999) hay Tilak (2002) cho rằng thu nhập của hộ gia đình có ảnh hưởng tích cực đến
chí tiêu giáo dục của hộ Tuy nhiên, ở Việt Nam nói chung và vùng Bắc Trung bộ và
Trong các nghiên cứu trên,
Duyên hải miền Trang nói riêng, việc sử dụng biến tùu nhập đề khảo sát ảnh hưởng đến chỉ tiêu cho giáo dục thường không thật sự khách quan Việc thống kê số liệu liên
Trang 32quan đến thu nhập thưởng không chính xác do tinh minh bạch trong vấn đề kê khai, người ta thường kê khai không đúng về thu nhập của mình
Vì vậy mà hẳu hết các nghiên cứu liên quan đến thu nhập ở Việt Nam thường sử
2.3.3 Chỉ tiêu thực phẩm bình quân
Ty trọng chỉ tiêu thực phẩm trong tổng chỉ tiêu của hộ gia đình là một chỉ số dùng
để đánh giá mức sống cao hay thấp Tỷ trọng này càng cao thi mức sống càng thấp và
ngược lại Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển nên tỷ trọng nảy có xu
hướng giảm đần trong những năm gần đây nhưng vẫn còn ở mức khá cao Theo Tổng Cục thông kê (2010), tỷ trọng này giảm từ 56,7% năm 2002 xuống còn 52,9% năm
2010
Thực phẩm và giáo dục là hai yếu tố hình thành nên nguồn nhân lực, Thực phẩm
là nền tản của thể lực, lầm tăng khả năng hấp thu kiến thức và các kỹ năng còn giao dục là nền tảng của trí thức, truyền đị kiến thức, hình thành nên ic k¥ nding cho con người Nếu ta xem giáo dục và thực phẩm là bai loại hàng hóa mã hộ gia đình sử
dụng thì theo lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng cúa Mas-collet và cộng sự (1995), trong,
giới hạn về thu nhập của hộ gia đình và nhụ cầu được sử dụng nhiều hàng hóa khác
nhau nên nhiều khả năng sẽ dẫn đến tình trạng chỉ tiêu cho hàng hóa này nhiễu thì sẽ
giảm chỉ tiêu cho hàng hóa khác Mức tăng hay giảm các loại hàng hóa tùy thuộc vào
sự lựa chọn, cân nhắc của từng hộ gia đình sao cho tấi ru hóa độ hữu dụng cho hộ của
Trang 332.3.4 Chỉ tiêu y tế
Chi tiêu cho y tế là một loại chỉ tiêu đặc biệt Ngoài chỉ cho các loại bảo hiểm thì
các chỉ tiêu cho y tế khác đều không do mong muốn của hộ gia đình Chỉ phí để khám, chữa bệnh thường rất cao, đôi khi làm khánh kiệt kinh tế của hộ gia đỉnh Xem xét ảnh hưởng của chỉ tiêu y tế đến chí tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình nhằm làm sắng tò liệu một trẻ mà có chỉ phí cho y tế cao thì chỉ tiêu cho giáo đục có giám hay không? Ngoài ra, biến bảo hiểm y tế cũng được đưa vào mô hình dé xem xét khi hộ gia đình mua bão hiểm cho trẻ thì chỉ tiêu cho y tế có tăng hay giảm va Ur dé anh hưởng
đến chỉ tiêu cho giáo dục như thể nào
2.3.5 Giới tính của chủ hộ
Người chủ hộ trong gia đình Việt Nam thường là trụ cột, chủ lực trong gia đình
về mặt kinh tế và thường được nễ trọng Ngoài việc là đại diện cho các thành viên trong gia đình về mặt pháp lý, thì đôi khi họ cũng là người ra quyết định cuối càng về
một vấn để nào đó của hộ gia đình,
Bắc Trung bộ và Duyên hải miễn Trung là một vùng đất tương đối nghèo của đất nước, hang nim hứng chịu gần như toàn bộ các cơn bão vảo Việt Nam Ở vùng này, kinh tế chủ yếu dựa vào nông, lâm, ngư nghiệp nên hầu hết đàn ông làm trụ cột và là chủ hộ
Theo truyền thống phương Đông, người đàn ông thường xem trọng sự nghiệp, có
tư tưởng cầu tiền, tiếp xúc nhiều với văn hóa tiên tiến nên hợ nhận thức được việc chỉ
có học lập mới có thể nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống trong tường lai, Khi họ đóng vai trò chú hộ thì họ cũng mong muốn con họ đạt được những thành công, tạo thụ nhập tắt nên hộ sẽ đầu tư nhiều vào giáo dục của con em
Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ chỉ tiêu giáo dục của hộ gia đình ở vùng Đồng bằng song Cửu Long của Diệp Năng Quang (2008) cho thấy chủ hộ là nữ giới có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ chỉ tiêu cho giáo dục trưng
học của các hộ vùng nảy hơn chủ hộ là nam giới.
Trang 34Biến giới tính của chủ hộ trong mô hình được thể hiện dưới dạng biến giả, với
quy ước nam giới là 1 và nữ giới là 0
Tà dân tộc Kinh và 0 nếu chủ hộ là các dân tộc khác
'Việt Nam lả nước có nhiều đân tộc, với mỗi dân tộc có nhiều tập quán, quan điểm ông va nhận thức khác nhau Dân tộc Kinh lập trung nhiều ở vùng dồng bằng nên dễ
đảng tiếp thu những văn hóa thế giới nên nhận thức của họ thường cao hơn các đản tộc
khác, Ngoài ra, thụ nhập của đân tộc Kinh cũng cao hơn vì thế rnả họ thường dẫu tư
cho giáo dục nhiễu hơn cáo đân tộc khác
2.3.7 Trình độ học vấn cúa chú hộ
Trinh độ học vấn của chủ hộ thể hiện đã học hết lớp mẫy theo hệ 12 năm Số liệu học vẫn của chủ hộ sẽ có giá trị từ 0 đến 12 Nếu chù hộ chưa từng đi học hoặc học chưa hết lớp 1 thì có số liệu lả Ø
Theo các nghiên cứu trước đều cho thấy trình độ học vấn của cha mẹ cỏ ảnh hưởng đến chỉ tiêu cho giáo dục như: Mcng Zhao, Paul Glewwe (2007) cho thấy trình
độ học vấn của người mẹ cỏ tác dộng tích cực dễn học vấn của trẻ cũng như kỳ vọng con mình sẽ học cao hơn Con Aysit Tansel (1999) thì cho thấy só nấm đi học cúa người mẹ có tác động tích cực đến thành tựu học tập của trẻ
Khí trình độ họ cửa bố mẹ càng cao thì họ cảng nhận thức được tằm quan
trọng của giáo dục đối với vốn nhân lực trong tường lại, Nên Tilak (2002), nhận định
lọc vấn của chú hộ là nhân tổ quan trọng ảnh hưởng đến chỉ tiên cho giáo
ring trinh
dục của các hộ gia đình Nghiên cứu của Trần Thanh Sơn (2012), cũng cho thấy trình
độ học vẫn của chủ hộ càng cao thỉ chỉ tiêu cho giáo dục cảng nhiễu,
2.3.8 Tuối của chủ hộ
Đây là nhân tố ện tudi doi của chủ hộ tại thời điểm khảo sái Theo
Mauldin va cộng sự (2001) trong nghiên cửu của mình đã cho thấy rằng các chủ hộ mà
Trang 35có tuổi cảng cao thì sẽ chỉ tiêu cho giáo dục nhiều hơn các hộ gia đỉnh ít tuổi hơn Còn trong nghiên cứu của Hustơn (1995) đã sử dụng biến tuổi, tuổi bình phương và tuổi lũy thừa 3 để xem xét ảnh hưởng của tuỗi của chủ hộ đối với tý lệ chỉ tiêu cho giáo dục của
hộ gia đình Kết quả của nghiên cứu nảy cho thấy biến tuổi ánh hưởng đến tỷ lê chỉ tiêu cho giáo dục theo từng giai đoạn Chủ hộ dưới 40 tuổi thì cô chí tiêu cho giáo dục thấp hơn nhóm chú hộ có tuổi từ 40 đến 70, còn chủ hộ trên 70 tuổi thì chỉ tiêu cho giáo dục lại giảm
Ngảy nay, khi cuộc sống được nâng cao, người dân thường tập trung vào phát triển sự nghiệp vững vàng nên thường lập gìa đỉnh muộn hơn nhưng người không có di học cao và vỉ thế nhận thức của họ cũng cao hơn, Nếu một người đã đi học xong, công việc Ổn định rồi mới lập gia đình thi thu nhập lại thường cao hơn những người khác nên càng chí tiêu cho giáo dục cao hơn
2.3.9 Quy mô hệ gia đình
Quy mô hộ gia dình là tổng số người trong một hộ Quy mô hộ gia dình cũng có thế ảnh hưởng đến chỉ tiêu giáo dục của hộ gia đình Khi hộ gia đình có cảng nhiều thành viên thì chí phí cho giáo dục của hộ càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu học của các thánh viên Diễu náy đã được chứng minh qua nghiên cửu của Tilak (2002) Tuy nhiên, chỉ phi cho giáo đục của hộ gia đỉnh tăng vi quy mô hộ gia đình lớn lại gánh nặng nhân khẩu khi làm chí phí cho giáo dục tăng theo hướng tiêu cực Cùng với khi quy mô hộ gia đỉnh tấng không những làm phát sinh các chỉ phí cho nhu cầu lương
thực, thực phẩm đề duy trì cuộc sống vật chất
'Trong nghiên cứu này, chỉ phí cho giáo đục được tính cho từng trẻ nên kỳ vạng
biến quy mô hộ gia đình sẽ làm chơ chỉ phí giáo dục giảm
2.3.10 Noi sinh sống của hộ gia đình
Nơi sinh ống của hộ gia đỉnh thể hiện ở địa chỉ đăng ký thường trú của hộ và địa
chỉ nảy nằm ở khu vực nông thôn hay thành thị Đây cũng là một kiểu biến giả được
Trang 36quy ước là I nếu hộ gia đỉnh đó đăng ký thường trú tại thành thị và 0 nếu hộ gia đỉnh
đó đăng ký thường trú ở nông thôn
Qian va Smyth (2010) cho rằng các hộ gia dinh sống ở vùng thành thị sẵn lòng
chỉ cho giáo dục nhiều hơn các hệ sống ở nông thôn IDo sự khác biệt
Trong nghiên cứu về các yêu tố ành hưởng đến việc nhập học của các bê trai và
gái ở Thỏ Nhĩ Kỳ, AysiL Tanscl (1999) cũng dã đưa khu vực sinh sống của hộ giá đình
vào mô hình cững đã cho thấy có tác động tích cực đến việc nhập học của trẻ và tác
động đến bé gái mạnh hơn đối với bé trai
2.3.11 Giới tính của trễ
Việt Nam chịu nhiều tác động của văn hóa phương Đông nên tư tường trọng nam,
khinh nữ còn thể hiện rõ rệt trong toản bộ cuộc sống của người đân, đặc biệt là ở các
vùng núi và nông thôn Ở các vùng nông thôn, các bé gái thường it được cho đi học hay chỉ cho đi học để biết chữ chứ không được gia đình đầu từ lâu dài như các bé trai
Tuy nhiên, nghiên cửu của Aysit Tanscl (1999) cho thấy thu nhập của hộ gia đình,
Chỉ tiêu giáo dục cho trẻ cấp 1 InEExpel Nghin déng
Chỉ tiêu giáo đục cho trẻ cấp 2 InEExpe2 Nghìn đồng
Chỉ tiêu giáo dục cho trẻ cắp 3 InEExpc3 Nghin déng
Trang 37
í tiêu thục phẩm bình quân InFExpe Nghì đồng [+
‘Noi sính sống của hộ gia đình Than Thành thị: I; [+
Nông thôn: 0
Khác:0
Nik 0
Tội đụng chuơng 2 trình bày một số mô hình kinh tế lượng có liên quan đến vẫn
để cần nghiên cứu và từ đó lựa chọn mô hình tối ưu nhất để ứng dụng cho bài nghiên cứu này là mô hình của Tilak (2002): MHHEX = a — J,X; + z¡, Nguồn dữ liệu được sự dụng là bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2010 (VHLSS 2010)
do Tổng Cục Thống kê thực hiện
Cũng trong chương này, tác giả đã trình bảy cơ sở của các nhân tố được chọn lựa
để xem xét ảnh hưởng đến chỉ tiêu cho giáo dục của hộ gia đỉnh như: chỉ tiêu bình
quân, chỉ tiêu bình quân thực phẩm, chỉ tiêu y tế, nơi sinh sống của hộ gia đình, quy
Trang 39CHUONG 3: KET QUA NGHIEN CUU
Mục đích của chương này tập trung vào mô tả tổng quát thực trạng chỉ tiêu giáo
tại 3 cấp học của hộ ga đình Bắc Trung bộ va Duyên hải miền Trung Việt Nam
(n=2044) Nội dung trình bây chỉ tiêu giáo dục của hộ gia đình theo các dặc diểm kính
tế, đặc điểm nhân khâu học và đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình Các bước hồi quy, kiểm định, các kết quả của mô hình hồi quy, giải tích và so sánh kết hồi quy với kết quả phân tích thống kê
3.1 Mô tả đặc điểm hộ gia đình trong mẫu quan sát
vấn của chủ hộ
Trinh độ học vần của chủ hộ thê hiện đã học hết lớp mấy theo hệ 12 năm
Bang 3.1: Trình độ học vấn của chủ hệ phân theo cấp học của trẻ (đơn vị
Số quan | Giá trị trung | Dộ lệch | Giá trị nhỏ | Giá trị lớn
Theo thống kẻ trên, trình độ học vấn trung bình của chủ hộ tăng dần theo từng
cấp học của trẻ Điều nảy có nghĩa là những trẻ học ở các cấp học cao thường có cha hoặc mẹ có trình độ học vấn cao hơn Kết quả phân tích phương sai giáo dục chả mẹ giữa các cấp học cho thấy sự chênh lệch giữa cấp 1 với cấp 3, cấp 2 với cấp 3 có ý
nghĩa thông kê 1%, còn chênh lệch giữa cấp 1 và 2 thì không cỏ ý nghĩa thống kế (xem
Trang 40phụ lục 3.1) Với nhân tố nảy, ta kỳ vọng trình độ học vấn của chủ hộ càng tăng thi chỉ
tiêu chơ giáo đụ
cũng cao Đề xem xét sự chênh lệch tuổi của chủ hộ giữa các cấp học có ý nghĩa (hồng
kê hay không, la phân tích phương sai luối trưng bình của chủ hộ Với mức ý nghĩa 3%, chênh lệch tuổi của chủ hộ giữa các bậc Tiểu học, Trung học cơ sử và Trung lọc
)
phổ thông dễu có ÿ nghĩa thống kế (Xem phụ lục 3
3.13 Quy mô hộ gia đình
Trong nghiên cứu này, chỉ phí cho giáo đục được tính cho từng trẻ nên kỳ vợng biến quy mô hộ gia đình sẽ làm cho chỉ phí giáo dục giảm
Bang 3.2: Thống kê mô tả quy mô hộ gia đình (đơn vị tính: người)
Sdquan] Giám, | Độlệh | Giám | Giám
Quy mô hộ sát | trungbình | chuẩn | nhó nhất | lớn nhất