Chương 1 VÀI NÉT VẺ VĂN HÓA ĐÔNG SƠN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH SUU TAP CO VAT DONG CUA NHA SUU TAP BOAN ANH TUẦN 1.1 Vài nét về văn hóa Đông Sơn ứ Việt Nam 1.1.1 Lịch sử phát hiện và nghiê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA DI SAN VĂN HÓA
TRAN CAN TOAN
TIM HIEU SUU TAP CO VAT DONG DONG SON
CUA NHA SUU TAP BOAN ANH TUAN SỐ NHÀ
27/433 KIM NGU'U - HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI
KHOA LUAN TOT NGHIEP NGANH BAO TANG HOC
MA SO: 52320205
NGUGOI HUONG DAN: TS, NGUYEN SỸ TOAN
HÀ NỘI - NĂM 2012
1
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện để tài °“7m liễu sưu tập cỗ vật đằng Đông Sơn của nhà sưu tập Đoàn Anh Tuấn số nhà 27/433 Kim Ngưư — Hai Bà Trưng — Hà Nội", đu đã nhận được sự giúp đỡ val tan tình và khoa bọc của
TS Nguyễn 5ÿ loán Trương Khoa Di sán văn hóa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Thấy đã dong góp nhiều ý kiến quý bảu và bỏ ích giúp em hoàn thành đề tài
lâm xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể giảng viên Khoa Di săn
văn hóa — Trường Đại học văn hóa Hà Nôi, những người đã tận tình truyền đạt kiến thức trong thời gian chúng em còn ngồi trên ghé nhà trường, nên tảng kiến thức tích lũy dược là cơ sở dễ eru thực hiện dễ tải này, cũng là hành Irang
trong chặng đường sắp tới
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới nhà sưu tập cỗ vật Đoàn Anh Tuấn Giám đốc Trung tầm UNESCO nghiền cứu bảo tổn cổ vật Việt Nam,
đồng cảm ơn các chuyên gia của trung tầm đã đóng gớp những ý kiến quý báu
và khoa học giúp em hoàn thành đề tài
Kinh mong nhận được sự gép ý, giúp đỡ và chỉ bão của các thấy cô
Em xin chân thành căm ơn!
Sinh viên
Trần Cánh Toàn
w
Trang 3CHƯƠNG I: VẢI NÉT VỀ VĂN HÓA ĐÔNG SƠN VẢ QUÁ TRÌNH
'HÌNH THÀNH 8ƯU TẬP CÔ VAT DONG CUA NHA SUU TAP BOAN ANH TUẦN
1.2 Khái quát về Trung tâm UNESCO nghiên cứu bảo tồn cỗ vật Việt
Nam và quả trình hình thành sưu tập cỗ vật
1.4.1 Khải quát về Trang tâm UNESCO nghiên cứu bão lên cô vật Việt
am sec
Trang 4
CHƯƠNG TT: SƯU TẬP CÔ VAT DONG DONG SƠN CỦA NHÀ SƯU
2.1 Một số khải niệm cơ ban
2.2 Sưu tập cổ vật đẳng Dông Sơn của nhà sưu tập Đoàn Anh Tuấn 2 2.2.1 Nhạc khi HH than eHeeeerree Xeeeereeoeee.8 2.3.3 Đỏ trang sức TH 2211 TH re — 2.2.3 Đỏ dùng sinh hoạt 255cc 22222 srecee "¬
Trang 53.3 Một số giải pháp đề xuất nhằm bảo quản và phát huy giá trị sưu tập 79
3.3.1 Sưu tâm bê sung hiện vật cho sưu tập
—- Snsesseesreeee TU 3.3.2 Đa dạng hóa các hình thúc trưng bảy 80 3.3.3 nắn, xuấi bân, giới thiệu quảng bá sưu tập, 81
KẾT TUẬN
'TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6và Bắc Trung Bộ Bước vào thời kỳ Đỏng Son céng nghệ đúc đồng đã đạt tới
trình độ đỉnh cao, hiện vật bằng đồng có mặt trong hân hết đời sống của cư
dân, loại hinh hiện vật rất đa đạng phong phủ Cổ vật đồng văn hóa Dồng Sơn
có giá trị về lịch sử, vău hóa, khoa học phâu ảnh đời sống val chat va tink thần của cư dân Việt cô dưới thời đại các vua Hùng,
Sưu tập có vật đồng Đông Sơn của nhà sưu tap Doan Anh Tuần phong
phú, đa đạng về loại hình, nhưng nêu không cỏ phương pháp bão quản hợp lý,
nó cũng sẽ bị mai mệt dẫn theo thời gian Chỉnh vi vậy, sưu tập cần phải được tiếp tục nghiên cứu để tầm hiểu giá trị cửa sưu tập, và có phương pháp bão quản, phát huy giá trị một cách tích cực nhất
La sinh viên năm thứ 4 học Khoa Di sin Văn hóa Truong Dai hoc Văn hóa [là Nội, tuy kiến thức còn nhiều hạn chẻ nhưng với lòng đam mã và mong muốn tìm hiển về những đi sản của cha ông để lại, nèn tôi đã quyết định
chọn dé tai “Tìm biểu sưu tập cỗ rật đẳng Đông Sơn của nhà sưu tập Đoàn
Anh Tuan sé nha 17/433 Kim Nguu - Hai Bà Trưng - Hà Nôi" dễ làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu của khóa luận
Wham thông kê, phân loại, xác định số lượng loại hình và niên đại sưu tập đồng Đông Sơn của ông Đoàn Anh Tuan
Nghiên cứu đặc diém, hinh dang bên ngoài, tình trạng bảo quán của hiện vật trong sưu tập
Nghiên cứu hoa văn trang trí, đặc điểm tạo hình điêu khắc hội hoa cia
điện vật
Trang 7Xác định giá trị lịch sử văn hóa, kỹ thuật, mỹ thuật cúa bộ sưu tập góp
phan pin giit va phát huy giá trị của sưu Tập
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Đổi lượng nghiên cửu: sưu lập cỗ vật đồng Đông Sơn của nửtà sưu lập Đoàn Anh Tuần tại số nhà 27/433 Kim Ngưu Hai Hà Trưng Hà Nội
Phạm vi nghiên củu: nghiên cứu các cổ vật đồng Dông Sơn có trong sưu tập
4 Phương pháp nghiên cứu của khỏa luận
Khỏa luận sử dụng phương pháp nghiền cứu truyền thống như: diễn dã, phân loại, khảo tả, chụp ánh, miễu tä hơa văn trang trí
Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu liền nghành như: bảo tảng học, mỹ thuật học, dần tộc học
Ngoài ra côn sử dụng các phương pháp: duy vật lịch sử, duy vật biện chứng để xem xét, đánh giả sưu tập trong mỗi tương quan với các tư liệu có
Trang 8Chương 1
VÀI NÉT VẺ VĂN HÓA ĐÔNG SƠN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH SUU TAP CO VAT DONG CUA NHA SUU TAP BOAN ANH TUẦN
1.1 Vài nét về văn hóa Đông Sơn ứ Việt Nam
1.1.1 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu văn hóa Đông Sơn
Van hoa Dang Son la nên văn hóa vật chất của cư đân Việt cố, tồn tai
vào khoảng thé ky VTT trước Công nguyên đến thể kỹ 1 - TT san Công nguyễn dưới thời đại Hùng vương, van hoa Đỏng Sơn ra đời, phát triển rực rỡ dựa trên nên tăng của cá một quá trình hội tụ lâu đài những tỉnh hoa của các giai
đoạn tiên Dông Sơn (Phùng Nguyên, Dẻng Dậu, Gò Mun) Văn hóa Dông
Sơn phân bố chủ yếu ở miễn Bắc miến Trung Viet Nam, nằm ở lưu vực các con sông lớn bung tâm chỉnh là: Sông Tiồng, Sông Mã, Sông Cả Hiển vật văn hỏa Đông Sơn rất da dang, phong phú bao g4m dé trang site, dé ding sinh hoạt, nhạc khí
Theo như nhiều thư tịch cổ còn lưu lại đến ngảy nay, đã cho chúng ta
biết từ thỏi phong kiến các vua chúa, quan lại đã chủ ý tới việc thu thập và lưu giữ các có vật như trồng dang chuéng dang Chua Béng Cổ (Thanh Hỏa) hiện còn một bảng khắc gỗ năm Bảo Hưng thứ 2 (1802) cỏ nội dụng ghú chép
về việc phát hiện và khảo tá chiếc trống đồng cỗ đặt trong chủa Diễu này minh chứng các triều đại phong kiên trước đây, đã chủ ý đến việc sưu tầm và
lưu gi# cổ vật déng nhimg ở hình thức rất sơ khai và không mang tính hệ thông,
Năm 1924, một người câu cá tên Nguyên Văn Lắãm dã ngẫu nhién tim
được mội số để đồng ở ven sông M8, thuộc địa phận Thanh Hóa Người này
sau đó da đem số đồ đểng này bán cho L Pajot (một viên chức thuế quan tỉnh
¡ Đông Bác Cổ,
thanh hóa) Phải hiện này được báo cáo cho Trưởng
T Pujol duce ũy nhiệm tiên hành khai quật khảo cổ di chỉ Đồng Sơn
8
Trang 9Từ năm 1924 đến năm 1932, L Pajot đã tiến hành nhiều cuộc khai quật
t phát
và thu được khoảng 489 hiện vật đủ cáo chất liệu: đồng, đá, gồm,
Hiện duge di chi md tang va cột gỗ dựng nhà sản Kết quả của những cuộc khi quật mày được giới thiêu trong lác phẩm “Thời đại đẳng than ở bắc kì và bắc trung ki” tác giả là Goloubew Văn hóa Đông Sơn chính thức được phát hiện và nghiên cứu từ năm 1924, rhưng phải đến năm 1934 một học giả
người Áo là Iĩeine — Geldem mới để nghị gợi tên nễn văn hóa đồ đồng này là
văn hóa Đông Sơn, từ đó thuật ngữ này được sử dụng muội cách phố biển và chỉnh thống cho đến ngày nay
Từ năm 1935 đến năm 1939, Olov Janse nhà khảo cỗ học người Thụy
Tiền đã 3 lần thực hiện khai quật đi chỉ Dông Sơn và nhiều địa điểm khác, kết
quả của những lần khai quật nảy được bảo cáo trong “Nghiên cửu khảo cố
Sau thành công của cách mạng tháng 8 — 1945, nên khảo cổ học nước
u thông qua tư liệu và hi
nhả bắt đầu được quan tâm nhiều hơn, gắn với tên tuổi của nhiều nhà khoa học như: Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tân vả nhiều công trình nghiên cứu vẻ văn bóa Đồng Sơn đã ra dời: “Văn hóa Đồng, Sơn hay văn hóa Lạc Việt, "Văn hóa để đồng và trồng đẳng Lạc Việt Nhưng, phải đến cuối những năm 50 với việc ra đời của đội khảo cổ thuộc Vụ báo tổn bảo tảng, và thank lap Bảo táng lịch sử Việt Narn tan co sd bão tảng T.FinolL, thì công
cuộc nghiên cứu thu hiểu văn hóa Đồng Sơn mới được triển khai mạnh mổ
a
Trang 10Trong những năm 1960 các nhà khảo cễ việt Nam tiền hành khai quật ở
di chỉ Thiện Dương (Thanh Hóa), đá phát hiện nhiều mộ táng huyệt đất và đồ
tủy táng bằng gốm, đồng, đã, đặc biết côn phát luộn ra nhiều đi chỉ mới như: Pao Think, Yên Hưng, Việt Khê, Nam Chink, Châu Can, Phú Hậu, Thánh Đình, Núi Nắp, Gò Công trên địa bản phân bỏ dọc từ Bắc trung bộ đến dái đất
miễn trung Kết quả của những đợt khảo cỗ này được tập hợp trong các cổng
“Những
trình: “Bảo cáo cụ thế về những mũi tên đồng tìm thấy ở Cổ Loa”
ngồi mộ cổ tìm thấy ở Việt Khê - Hải phòng”, “Khu mò cỗ Châu Can”,
“Những vết tích dầu tiên của thời đại đồng thau Việt Nam”, “Thời đại Hùng Vương” Có thể nói những kết quả dạt được càng khẳng định vẻ sự tồn tại của
một nên văn hỏa đa dạng, phong phú và có xuất xứ bản dia chu không phải từ
phương Tây hay Tnmg Quốc như nhiều giả thuyết của các học giả nước ngoài
Hiện vật văn hóa Đông Sơn được phát luện rất da dạng phong phú, đã
cho các nhà khoa học một cái nhìn khái quát nhất về xã hội xưa kia của người Việt cổ, sự phản hòa tài sản và thân phản, cũng như đời sống tỉnh thân trong
xã hội người Việt cả Trong những nắm gần đây môi qua hệ giữa khảo cỗ học Việt Nam và thể giới đã có nhiều chuyên biển tích cực, nhiêu chuyên gia va
các nhà nghiền cứu nước ngoài dã tới Việt Nam đễ nghiên cứu về văn hóa
Déng Son Trang thiét bi kỹ thuật phục vụ cho công tác nghiên cứu ngày cảng hiện đại, và nguồn tư liệu ngày oàng phong phủ toàn diện thì những kết quả đạt được cũng ngày cảng khả quan và khoa hạc hơn
1.1.2 Đời sống vật chất của cư dan Dong Son
* Sẵn xuất nông nghiệp
Văn hóa Đông Sơn là nên văn hóa vật chất cua cu dân Việt cỗ tổn tại dưới thời đại các vua Hùng, eư đân Dêng Sơn làm nông nghiệp lúa nước, trinh 46 canh tác phát tiểu cao Thời kì này nông nghiệp phát triển dựa vào điều kiện bự nhiên rất tuyận lợi: khí hậu nhiệt đới âm giỏ ruùa, hệ thống sông
10
Trang 11ngôi đày đặc cung cấp nước tưới cho cây trồng, đồng bằng được bồi đắp bởi
phú sa Sách “Giao châu ngoại vực ký” thế kỉ IV, được dẫn lại trong “Thủy Kmh Chủ” của Lich Bao Nguyên có đoạn Irielr “Ngày xưa lúc Giao Chỉ chưa
có quậu huyện, đất đại có lạc điển, ruộng này thơo thủy triểu lên xuống Dân khẩn ruộng ấy má ăn nên gọi là Lạc Dân, đặt Lạc Vương, Lạc Hậu làm chủ các quận huyện”
Cư dân Dông, Sơn xưa còn trắng các cây rau củ, cây ăn quả; Chăn nuôi
gìa súc, gia cầm, Nghề đánh bắt thủy ẩn, Hải lượm và sẵn bắn thú rừng cũng rất phát triển, do công nghệ đúc đồng đã đạt tới trình độ đỉnh cao nên người Đông, Sơn đã chẻ tác ra được nhiều công, cụ lao động, vũ khí bằng đồng
sử dụng vào sản xuất làm tăng năng suất lao động,
Thời gian vừa qua nghành khảo cố học đã phát hiện hàng trăm di chỉ và khai quật được hàng van công cụ lao động trên khắp cha bản phần bồ của nền văn hỏa Đông Sơn Có thể nỏi việc sử dụng một cách rộng rãi công cụ lao
động bằng đồng vả sức kéo của trâu, bỏ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nộng nghiệp, năng suất lao động được nâng cao, san phim dư thửa nhiều, đỏ
là yêu tổ hàng đầu quyết định đến sự ra đời của nhà nước Văn Lang — Ân Lạc dưới thời đại các vua Từng,
Lương thực chính của cư dân Việt cỗ xưa kia là gao lẻ (họ ăn gạo tế
trong các bữa ăn hàng ngày), ngoái ra họ còn ăn gạo nếp, và các loại thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên như ran, củ quả Thức ăn được nâu chin bằng
lửa, ngay từ xa xưa họ đã biết đúng gia vị cá nguồn gốc thực vật, biết nâu rượu điêu này đủ được nói trong các thư lịch cỗ như: Dị vật chỉ, Giao Châu
ký, Kam phương tháo mộc trạng, Thủy Kinh chủ, Lĩnh Nam chích quải
* Thú công nghiệp
ông nghiệp phát triển, tạo điển kiện cho thủ công nghiệp có điều kiện
phát triển tạo ra bước đột phá đó là kỹ thuật luyện kim, đúc đẳng chế tác công,
cụ lao động, vũ khi phục vụ cho sinh hoạt làng ngày Nghệ sân xuất để gồm
11
Trang 12không được quan tâm phát triển như trước nhiều, chất liệu gồm chủ yếu là đất sét pha cat nên xương gốm thô, thậm chí hiện vật còn méo mó, hoa văn trang
trí đơn giản chiểm tỷ lệ lớn là hoa văn thùng, văn chải, loại hình chủ yếu là đồ
dũng sinh hoạt có kích thước nh
Người Đông Sơn cũng đã biết đến công nghệ chế tác đồ trang sức bằng thủy tỉnh (sự giao thoa với văn hóa Sa Iiuỳnh), nhưng hiện vật bằng thủy tính
do người Déng Sơn chế tác thô hơn, chuỗi hạt, khuyên tai (ông Doàn Anh Tuân biện đang sở hữu 3 chiếc cốc thủy tỉnh máu xanh và nhiêu chuối hại, khuyên tai rất phong phú vẻ loại hình cũng như màu sắc) Họ còn chế tác những chuối hạt bằng nhuyễn thể như ốc, xương
Phát hiện nhiều dụng cụ sử dựng trong nghề mộc như: đòi, đục điều
nảy chứng tổ người Đông Sơn cũng đã biết sử đụng những vật liệu tự nhiên
để làm nhà ở Cư dan Đông Sơn lầm nhá sản để ở chếng thú dữ, và đối phó với môi trường khắc nhiệt (mẫu nhà sản được đúc nỗi trên trồng đồng, những
cột gỗ dựng nhà được phát hiện trong các cuộc khai quật của L Pajot)
Nghề xe sợi đệt vải cũng khả phát triển (công cụ được tìm thấy là chuốt
vải với số lượng lớn, ngoài ra cỏn tìm thấy vai trong các ngồi mộ cổ), nguyễn liệu chính để đệt vãi là cây gai đay Khai quật những ngồi mà cổ, các nhả khảo cổ học đã phát hiện ra những mấu vải sót lại của quan do, dem phân tich
thi tim thấy thành phần của cây gai
Những họa tiết trang trí trên đỗ gốm và để đẳng (hoa văn hình đan trên
gồm) củng nhiễu tư liệu khoa học đã cho chủng ta biết vào thời kỳ này con người cửn biết lấy tre nứa để đan những đồ dùng sinh hoại, trồng cói đan chiêu (rong một số một táng còn phát hiện dấu vết của những mánh chiếu còn sớt lại để bọc tử thi, những họa tiết trang trí trên gốm) Nghề chế tác đã
không còn được quan tâm nhiều như trước đây, số lượng cổng cụ bằng đã
chiếm tỷ lệ rất tháp so với để động,
* Nhỏ ở, giao thông đi lại
Trang 13Cư dân Dông, Sơn thường sống quân tụ thánh những xẻm làng với quy
mô nhỏ, phản bố không đồng đều Họ sống ven các con sông, điển này rất
thuậu Hiện cho nền nông nghiệp lúa nước, sinh hoại và giao thông di lại (sử dung thuyén), Nhà sân được dựng bằng những vật liệu gắn gữn với thiên nhiên như: gỗ, tre, nửa, lá Hinh anh nha san được khắc họa trên trồng đồng Ngọc Lia, Toang Ia, Séng Da Co 2 loai nha san chinh dé [4 nha mai cong va mai
tron, nha san mái cong hinh thuyén, 2 dau vénh lén trang trí hình đâu chim
Mái nhà lính thang cần lợp lá, thả hình tròn 2 đầu trang trí hoa vấn hình xoắn
Ốc
Phương tiện giao thông chủ yếu của cư dân Đông Sơn là thuyền bè, vỉ
họ thường sống ven các con sông lớn, ngoài ra thuyên còn là phương tiện sử
dựng để đi biển (bằng chứng là sự giao thoa văn hóa Đông Son, Sa Hugmh va phía Nam Trung Hoa), hình ảnh những cơn thuyền lớn được đúc nổi trên tréng hay thạp đồng, đã chimg minh cho diéu dé Khảo cễ học phát hiện
những ngồi mộ thuyển được lắm bằng thân cây khoét rỗng bén trong chén người chết vả những đỗ tùy táng bằng đồng, loại hình mộ nảy thường tập
trung chủ yếu ở ving déng bằng chiêm trứng ở Hải Dương, Hà Tây, Hải Phéng
phố biển, có trang tri hoa văn) Tai đeo khuyên tai bằng đồng, thủy tĩnh, đã
Cổ đeo những chuối hạt bằng thủy tĩnh nhiều màu sắc như xanh, đồ, vàng, ngoài ra cờn gó vòng deo tay chất liệu bằng đã, vòng trang sức bằng đồng,
13
Trang 14Tay đeo nhân, vòng tay chất liệu đồng hoặc đã, bao tay bằng đồng, thắt lưng
có móc hình rùa, chim Chân đeo vòng, bao chân có gắn lục lạc đế khi nhãy xua phút Ta âu thanh, những chiếc vòng thư vậy thường được sử dụng trong các lễ hội của cư đâu nông nghiệp lửa nước, hoặc được tẳng lớp trên lrong xã
hội sử dụng
1.1.3 Đời sống tink thin của cư dân Đông Sơn
Tư duy khoa học của người Dông Sơn phát triến, thế hiện bằng nhữmg hoa van hình học trang trí đối xứng, xuất liện với tần xuất vao trên đỗ gồm cũng như đổ dòng Mô tip hoa văn đặc trưng Đông Sơn lả hình tròn đồng tâm, bang hoa văn đổi xứng, hình ngôi sao nhiều cánh trên mặt trông đồng, tron,
hình trờn tiếp tuyển, chim Lac
Người Việt cổ xưa có tục xăm mình đán làm nghề chài cá, thường bị giao lòng làm hại, mới kêu với Hùng Vương, Hùng Vương nói: “ Toài ở chân núi với loài thủy tộc khác nhau Loài kia ưa đồng loại mà ghét đị loại cho nên
lam hại” (trích trong Lĩnh Nam chích quai) Ban khiến người ta lẫy mực mà
xăm mình thành hình thúy quải, từ đó không cỏn cái nạn giao xá làm hại nữa Cải tục xăm minh của người bách việt bắt đâu từ đó
Thời ky nảy côn phổ biến tục ăn trầu nhuộm răng, ăn đất, uống nước Uằng mũi, tục giả dối để báo hiệu khi có người chết Tục lệ ina chay và cưới
xin cũng hết sức độc đáo, người Dòng Sơn quan miệm chết chưa phái là hết
mà là bắt đầu một cuộc sống mới ở thế giới bên kia Chính vi vậy họ vẫn phải
lao động, sinh hoạt nên khi chết họ cũng muốn mang theo những dụng cụ lao đồng, đồ dùng cần thiết hàng ngày, đỏ là H do giải thích vì sao kHú mai táng
họ chôn theo người chét những dé ding giổng như những đỗ mà khi còn sống
họ vẫn sử dụng: dao, riu, mũi tên, thạp, bát, đĩa Loại hình mộ tảng phổ biến thường gặp đỏ là mộ đất (người chết được đặt đuổi thăng nằm ngửa trong
huyệt, không có áo quan chỉ có đỗ tủy láng) Ngoài ra côn gặp mộ quan lành
14
Trang 15thuyền (được làm từ những thân cày khoét rồng), mộ có quan tài được đóng đính đẳng
Tục lệ cưới xin thời Đông Sơn được miền tã: “Trai gái giá thú thì trước lây muối hoặc đất để hỏi, rồi sau mới giết trâu dễ làm lễ, lây cơm nến đem nhau vào phòng củng ăn rồi mới tương đồng”
Sum tập cố vật đồng Dông Sơn của nhà sưu tập Doàn Anh Tuân có 4 hiện vật rất giống cái trép 4n héi thời nay, đó là những chiếc nổi có nắp, hình
trên có 3 chân lai bên có quai để eo
Lễ hội là phản rất quan trọng trong đời sống của cư đân nông, nghiệp, hình ảnh lễ hội được phần ảnh trên tang trồng đồng, hình ảnh đoàn người mặc
trang phục lễ hội, đầu đội mủ lông chim, khoác ảo choàng làm bằng lông
chim, chân tay đeo vòng có gắn lục lạc phát ra âm thanh khi nhây múa Hình ảnh đổi trai gai dang giao hợp trên nắp tiựp Đào Thính, trai gái đang giã côi dếu thể hiện tin ngưỡng phổn thực mong cho mùa màng tốt tươi, van vật sinh: sôi nãy nớ
Trên một số trống đồng đúc nỗi hình những chiến binh tay cằm giáo
đang rhây múa, ở giữa là hình cơn bò, hình những chiếc thuyển độc mộc mũi cong đuôi én, trên thuyển có từ 3 người trở lén tay cầm chẻo, đầu đội mũt hay Dui toc, mae quan av ngày hội thể hiện lônh ảnh một cuộc đua thuyền
‘Tac gia Bui Uyén trong sich Quang Châu Ký miều tá lại ngày hội đúc
trống đồng: “Người Lý Lão đúc đồng làm trống, đúc xong treo ở giữa sân, đặt
rượu mời người đồng loại đến dự Con gái, con trai các nhả phú hào lây vàng bạc làm thoa lớu, dùng đánh vào mặt trồng, đánh xong để lại tặng chủ rhân”
Nói tóm lai théng qua việc nghiên cứu hoa văn họa tiết diêu khắc trên những hiện vật bằng đồng, và nguồn tư liệu khảo cỗ học, chúng ta có thể phân
* vo Quynh (1960), Tục lệ cưới xin, tạp chí khảo cổ học (sổ 14) tr.38
15
Trang 16nao hình dung được đòi sống tỉnh thần của cư dân Việt cỏ thời dưới thời đại
các vua Hùng
1⁄2 Khai quát về Trung tâm VINESCO nghiên cứu bảo tồn cổ vật Việt
Nam và quả trình hình thành sưu tập cỗ vật
1.2.1 Khai quát về Irung tâm UNESCO nghiên cứu bảo tần cỗ vật
Nam
* Sự hình thành và phát triển của trung lâm
UNFSCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Orgamzation) là tên viết tắt của Tổ chức Giáo dục, Khoa hợc và Văn hoá của Liên Hợp Quốc, ra đời vào ngày 16/11/1945 tại thủ đô Paris của Pháp Việt
Nam gia nhập UNTISCO, chính thúc từ năm 1976, nhưng phải đến tháng
8/1993 Tiên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam mới chính thức thành lập
Năm 2005, đưới sự hỗ trợ của Hiệp hội các Câu lạu bộ UMESCO ViệL Nam, Trưng tâm UNESCO nghiên cứu bảo tổn cỗ vật Việt Nam (UNESCO Vietnam Centre for Antiquity Preservation and Hesearche) được thành lập,
‘Trung tam là một tổ chức nghiệp vụ, hoạt động theo tôn chí và mục địch của
Liên hiệp các Hội LINESCO Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu, bảo tổn sổ vật có giá trị lịch sử, văn hoá của đân tộc và phổ biến kiến thức văn hoả cho công đông nhằm góp phần vào việo xã hội hoá văn hoá, nâng cao trình độ đâu trí theo chủ trương của Dáng, Nhà nước và Luật Di sắn
Trung tim UNESCO nghién otm bao tổn số vặt Việt Nam chính thức ra đời ngày 8 — 8 — 2005 theo quyết định số 67QĐ/CT — HH của Tổng thư ký T.iêu hiệp các Hội UNESCO Việt Nam Từ đó đến nay trung lầm: đã trải qua 8 năm xây dựng và trưởng thành, hiện nay đã có khoảng 600 hội viên chính thức, 9 câu lạc bộ và 37 chỉ nhánh trên toàn quốc, tạo ra bước phát triển vững
chắc, đóng góp nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng nên văn hóa Việt
Nam tiên tiên đậm đã bản sắc dân lộc
16
Trang 17Ngay từ khi mới ra đời trung tâm đã có nhiều đóng góp cho công cuộc bảo tổn và phát huy cố vật nói riêng và di săn văn hóa Việt Nam nói chưng, Trưng tâm đã tổ chức triển lãm, hiển tặng cỗ vật cho một số bảo làng tỉnh, than gìa tuyên truyền phổ biển kiến thức về văn hỏa cho sinh viên và những người đâm mê cô vật, tổ chức thâm định có vật chơ cáo tô chức và tư nhân oó nhu cẩu
Năm 2010, éng Doan Anh Tuan củng các hội viên trong trung tâm
UNESCO nghiên cứu bão tổn cổ vật Việt Nain đã liến tặng cho Đão tàng lịch
sử quân sự Vist Nam 1 tréng déng Hy, loại nhỏ và hàng trăm cổ vật đồng Đông Sơn Năm 2011 cho Bảo tàng Hậu cản Việt Nam mượn hiện vật dễ
trưng bày trong phản lịch sử Việt Nam thời sơ sử, hiển tặng cỗ vật cho Báo
tang Hùng Vương,
Trung tân UNESCO nghién cit bao Lồn cô vật Việt Nam cũng thường
xuyên phối hợp với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh thành
tổ chức các buổi giao lưu để hội viên có cơ hội trưng bảy hiện vật, trao đối kiến thức vả giúp đỡ nhau hoạt động tốt hơn Trong số đỏ phải kế đến những
đồng góp cho triển lãm phục vụ hội nghị Apec tế chức tại Việt Nam năm
2008, đại lễ Thăng Long — Hà Nội 1000 năm văn hiến, cuộc bau chon cho quốc hoa 2011 tại thành phố Đã nẵng, triển lắm phục vu Festival Huế và năm
du lich quốc gia các tĩnh Duyên hãi Hắc Trung Bộ 2012
Tại Đại hội Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam nam 2010, trưng tâm UNBSCO nghiên cửu bảo tên cổ vật Việt Nam đã vinh đự nhận cờ thi đua và
kỹ niên chương vì đã có nhiều thành tích trong sự nghiệp phát triển chưng, céa UNESCO giai đoạn 2005 2010
Tháng 1 2012, trưng bày hiện vật nhân kỉ niệm 180 nắm ngày thành
lập tính Hưng Yên, triển lãm phục vụ cho cuộc bau chon quốc hoa, trưng bày
lầm vỗ
điện vật tại bão tàng tỉnh Phú Thọ hân dịp giỗ tổ Hùng Vương, triểt
val tai Bao tang Nam Định Trong thời gian tới trưng tâm còn có kế hoạch
17
Trang 18triển lãm cỗ vật đồng Dông Sơn tại một số tỉnh miễn Tây Nam Hộ, dé quảng,
bá những đi sản văn hóa của cha ông để lại tới đông đảo quần chúng nhân
din, vi mong muôn cộng đồng củng chúng tsy gớp sức để gìn giữ những di
sẵn quý báu mảy Tháng 3 — 3012, tễ chức giao lưu cô vật ở thành phố Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Bình thu hút rất nhiều nhà sưu tập và khách tham quan
Tháng 4 -1012, Trung tâm LĨNBSCO nghiên sứu bảo tồn cỗ vật Việt
Nam phối hợp với Trung tầm triển lãm Văn hỏa - Nghệ thuật Việt Nam tổ
¡du lịch quốc gia các tỉnh Duyên hải Bắc Trung Bộ, Festival Huế 2012 và hội nghị các thành phế di sản của UNESCO tai Thừa Thiên - Huế Trong đợt triển lãm lân này tại tỉnh Thừa
Thiên - Tuế, trưng tâm đã đưa vào gần 1000 cỗ vật đồng thuộc nên văn hóa
chức triển lắm gỗ vật Bong Son phục vụ rt
Đông Sơn (trong số đó gần như toàn bộ là thuộc sưu tập của nhà sưu tập Đoàn Anh Tuan)
Với những dóng góp thuết thưc và có ý nghĩa vó củng to lớn đó Trung
tầm UNBSCO nghiên cứu bảo tên có vật Việt Nam đã nhận được nhiều bảng
khen cúa Dáng và chỉnh phủ, Liên hiệp các Hội ƯNHSCO Việt Nam, úy ban nhân dân các tỉnh thành phố và nhiền bộ nghành khác nhau như: bằng khen của Thủ tướng chính phú vì đã gép phân vào thành công của hội nghỉ Apec
2008, bằng khen của Bỏ Công Thương, bằng khen của Bộ trưởng Bộ Văn hoa
‘Thé thao Du lich, bằng khen cúa chủ tịch BND các tính Quảng Ninh, Da
Nẵng, Hưng Yên, Nam Định
* Danh sách Ban Lãnh Dao:
Ông Đoàn Anh Tuân - Ủy viên thường trực bạn chấp hành liên hiệp gác hội UNESCO Việt Nam - Giám đốc Trung tâm LMNBSCO nghiên cứu báo tổn
cỗ vật Việt Nam - Chủ tịch Câu lạc bộ UNESCO Nghiên cửu sưu tắm Cổ vật
Việt Nam
18
Trang 19Ông Nguyễn Trọng Cơ - Ủy viên lan chấp hành Liên hiệp các hội UNESCO Viét Nam - Phỏ Giám đốc trung tảm TINESCO nghiên cứu bảo tổn
cỗ vật Việt Nam
Ông Hoàng Xuân Trường - Phỏ Chủ tịch Câu lạc bộ UNESCO Nghiên
cửu sưu tầm Cổ vật Việt Nam
Ông Diệp Ioàng Du - Chủ tịch Câu lạc bộ UNESCO Nghiên cứu sưu
tâm Cổ vật Kiên Giang
Ong Doan Phước Thuận - Chú tịch Câu
Ong Lé Văn Hằng - Chủ tịch Câu lạc bộ ƯNESCO Nghiên cứu sưu tâm
Cả vat Thai Binh
Ông Trần Văn Thử (Trần Thịnh) - Trưởng Đại diện Câu lạc bộ
UNESCO Nghiên cứu sưu tâm Cổ vật Thái Bình:
Ông Võ Minh Mãn Truéng Dại diện Câu lạc bộ UXHSCO Nghiên cửu sưu tầm Cổ vật Can Thơ
Ông Nguyễn Hữm Định - Trưởng Đại diện Câu lạc bộ LINESCO Nghiên cứu sưu lắm Cổ vật Thừa Thiên Huế
* Chức năng và nhiệm vụ của trung (âm
Tổ chức các hoạt động nghiên cứu, phân loại cổ vật và hiện vật có giá trị lịch sử và văn hoá của dân tộc, mời các chuyên gia và các nhà khoa học than gia hoạt động đười hình thức Hồi đồng cổ vẫn, thành lập Hội đồng thâm
định cỗ vật tại các địa phường, nhữm hồ trợ gông tác bảo tôn bảo tang cho các
19
Trang 20thành phần xã hội nhằm góp phân thức hiện Luật di sản của Nhà nước và
Công ước Báo về Di sản Văn hoá của UNESCO,
Tổ xuất các biện pháp và giải pháp bảo tồn và bảo tàng bạo gồm việc
Hưng bảy và phố cập các hiểu vật có giá bị lịch
lử và văm hoá Trung lâm
UNESCO nghiền cửu bảo tồn cổ vật Việt Nam đã cử các chuyên gia phối hợp với Bảo tàng tỉnh Iiưng Yên, tiên hành chỉnh lý và tổ chức việc thực hiện trưng bảy cỗ vật nhân dịp kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh Iiưng Yên Phối hợp với Bao tang Hau Cân xây dụng kế hoạch, và đồng góp hiển vật cho phần trưng bảy có định cổ vật qua các thời kỳ
Tuyên truyền vả phỏ cập chương trình giáo dục ÿ thức công dân dối với
các gid tri cổ vật và ý thúc bão vệ di san vin hoa vat thé cho nhân đân, đặc
biệt là cho thể hệ trẻ theo tinh than Luar di san va Céng ước Bảo vệ Di sân
làm ban giảm khảo cho lễ hội truyền thống các làng nghệ tỉnh Hà Tây diễn ra
& huyén Thạch That nim 2012
Tổ chức giám dịnh od vật cho các cả nhân và tỗ chức có nhú cầu, rất
nhiều cỗ vật đã được các chuyên gia của trung tầm giám định vả cấp giấy chứng nhận Trung tâm đá tổ chức giám định cễ vật trong di tích nhà thờ họ
Đoàn, sưu tập tư nhân cũng như bảo tảng nhà nước, đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc xây dung và quản lý các sưu tập
Tổ chức đâu giá cổ vật và vận động mọi công dân tham gia lưu giữ báo
vệ cỗ vật và báu vật quốc gia, phổi hợp với sở Văn hóa Thể thao lu lịch các tỉnh thành phổ, và các bảo tầng tính củng những nhà sưu tập tư nhân, tổ chức đầu giá cỗ vật thuộc sưu tập tư nhân Thành lập quỹ tích được từ tiễn ban đầu
Trang 21giả cô vật để ứng hộ cho đồng bảo bị thiên tai, bão lũ và người nghẻo trong cá
nước
Tổ chức sưu lắm (ua bản) để xây dựng bảo tảng tư nhân và hỗ trợ cho các bảo tăng nhà nước theo Luật ch sâm văn hoá Tổ chức phục chế (xửa chữa, phục dựng) cỗ vật giúp cho các tổ chức và cá nhân cò nhú cảu, tham gia đóng góp vào cáo sự kiện văn hóa
Tế chức các lớp, khoá dao tao về kiến thủc cố vật cho các địa phương
ật nói chúng, soạn thảo vác tài liệu liên quan
hoặc những người yêu miễn cỗ
tới di sản vẫn hoá và viết sách về cô vật
Xây dựng quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức liên
quan ở trong nước và quốc tế trên lĩnh vực nghiên cứu và bảo tổn các cổ vật
có giá trị lịch sử và văn hoá Tỏ chức cuộc hội thảo, mời chuyên gia của các
G val,
To làng Pai Loan, Trung Quốc sang Việt Nam để trao đối kiến thức
dồng thời cũng hợp tác với họ để tiên hành giảm dịnh những cổ vật đồng
Déng Son, hay gồm cúa các triểu đại phong kiến Việt Nam, gồm Trung Quốc
Tham gia và đóng góp tích cực váo các hoạt động thưởng xuyên của Liên hiệp các Hội LINESCO Việt Nam, phối hợp thường xuyên với các đơn vị
có hoạt động liên quan đến chuyên môn của trung Lâu vả Hi vực bảo LỒn vẫn hoá dân tộc trong Hiệp hội
Nói tám lại chức nàng và nhiệm vụ của Trung tâm UNESCO nghién cứu bão tắn cố vật Việt Nam chỉnh là góp phần vào việc xây dựng một xã hội lảnh aạnh về vẫn hỏa, với mong tuuôn tuyển bá được rộng rãi hơn nữa những kiển thúc, kinh nghiệm má họ đã được tích lũy qua thời gian tới đại bộ phận dân chúng, để họ hiểu và chung tay giữ gìn các giá trị văn hóa chơ thể
hệ mai sau
Trang 221.2.2 Quá trình hình thánh sưu tập cổ vật đổng Déng Sơn của nhà
sưu tập Đoàn Anh Tuấn
Những năm 1990 trở về trước tệ nạn đánh cắp va tinh trang chảy máu
cỗ vật qua biên giới là vẫn đề nóng điển ra thường xuyên, đội hỏi phối có biên pháp giái quyết kịp thời, nếu không nguồn di sản văn hỏa vật thể quý giả này
sẽ ngày cảng mai một, việc bão tắn và phát huy đi sản văn hóa dân tộc là vẫn
để hết sức cấp thiết Dứng trước tỉnh hình đó Dang va Nha mrée 4 ban hanh nhiều clnh sách nhằm khắc phục tình trạng bên, mà sự ra đời của Tuất di sân năm 2001 và Luật di sẵn văn hóa 2001 được sửa dỗi bỗ sung năm 2009, là bước đột phá trong việc sưu tắm va bảo tổn các dị sản văn hóa néi chung va
cỗ vật nởi riêng, Trên cơ sở đỏ đã xuất hiện nhiều tổ chức và cá nhân tham gia
sim tam gìn giữ cổ vật, rong đó có vật Đông Sơn là một trong những loại hình được quan (âm nhất Tính đến nay trên địa bàn Ha Nội đã ra đời một số don vị hoạt động trong lĩnh vực nghiên cửu, sưu tâm vả bảo tồn có vật đó là:
Trung tâm UNESCO nghiên cửu báo tổn od vat Vist Nam, 116i cd vật Thăng long, câu lạc bộ những người yêu cổ vật, cùng rất nhiễu các nhà sưu tập tư
nhân hoạt động tự do Trong đó nổi bật là các nhà sưu tập: Đoàn Anh Tuấn, Dao Phan Long, Dương Phú hiến, Nguyễn Đại Dương, Nguyễn Đỉnh Sứ, Lê
Va Ta (Ta cong an), DS Văn Lâm, Hoàng Quốc Tuệ
Nha sưu tập tư nhân thường là người có nguồn thu nhập, ổn định vẻ tải chỉnh, công thêm hiểu biết và niềm đam mê với cổ vật văn hóa Đồng Sơn, nên
ho đã giành nhiều tâm huyết và thời gian để nghiên cứu va suu tam, voi mong
xuuốn góp phần gìn giữ những nét đẹp gủa quá khứ Hiện vật trong cáo sưu tập tự nhân thường là những hiện vật độc bản, đẹp, nguyên vẹn, hoa văn trang, tri tinh xáo, loại hình đa dạng Nguồn sưu tầm chủ yếu thông qua việc mua
bản, trao đối, số it thông qua việc khai quật những ngôi mộ cổ hay tìm thấy ở
những địa điểm công trình xây dựng, mua từ các đội thuyền vét cái ven sông,
xua lại của những nhà buôn ở miễn núi Mội số nhà sưu tập côn thường
22
Trang 23xuyên đi “sứ” lên vùng khai thác cát ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ, rồi mua lại
những hiện vật từ những đội thuyển ở đó với giá khá mẫn nhưng hiện vật lại
vất đẹp, lành lặn, vì đỏ đồng với sông riểu bị xi xâm thực Nhiệu người lại ngược lờn các vùng ruiểu nửi phía Bắc như Tuyên Quang, Yêu Bái khi đến
kỳ trước
Nhiing nhà sưn tập hoạt động trong các câu lạc bỏ, cũng như hoạt động
tự do cũng xuyên tổ chức giao lưu trao đối kinh nghiệm, hiện vật và phối hợp củng nhau tổ chức triển lãm chuyên đẻ Nhiều nhà sưu tập có điều kiện còn
xây dựng các phòng trung bày tư nhàn đề triển lãm cổ vật Dông Sơn cho đông
đảo mọi người được tham quan, chiếm ngưởng tạo ra những tin hiệu tich cực
trong công Tác bão tên và phát huy di sản văn hỏa
Ông Đoàn Anh Tuần sinh năm 1950, hiện đang sống tại số nhà 27/433 phố Kmu Ngưu, Hai Bà Trung, Hà Nội (trụ sở clúnh của trung tâm ughién cửu
bảo tên cô vật Việt Nam) Ông là người rất đam mê tầm huyết với những cỗ
vật của cha ông để lại, nên sưu tập cỗ vật nhiều loại hình và chất liệu khác
nhau (đồ đá, để đồng, thủy tỉnh, để gã, đỏ góm) nhưng cổ vật đồng Đông
vẫn quyết tâm làm để có điều kiện theo đuổi niềm đam mê đổ cổ ulin winh:
3
Trang 24Thời gian đầu do kinh tế gia đình còn khỏ khăn nên ông cũng không có điều kiện để mua hiện vật đất tiên, nhưng do giá trị kinh tế của để cỗ chưa được
đánh giá cao nên nhiều mión món dé ông Tuần mua được với giá khá rễ, ví như chiếc trầm cải lóc niền đại 2.500 nếm chỉ với giá 200.000 đồng (rong klú
có người phải bố ra cá triệu đồng)
Ông cùng từng nói: "Thật ra chơi đỏ cố cũmg giảng như đi câu cả vậy,
¡ đi câu Vì con cá đổi khi chắng chọn những
người có duyên thì cổ vật tự khắc tìm dến, còn người vô duyén thì có bỏ tiền
ra 1nua cũng rất dễ mua phải hàng rém Ma néu minh không mua thì cổ vật rất
dé bi chảy máu, rồi bao nhiều tỉnh hoa sẽ tuổn hết ra nước ngoài mất thôi",
Có lần ông Trần đi vào tân Thanh Hóa để mua đồ, khi được một người quen
chủ đã để lại món đồ trên cho ông
Những năm 2000, kinh tế gia đình cững bắt đầu đi vào quỹ đạo ổn định
và khả giá hơn sơ với thời kỳ rước, nên cổ vật ông sưu tầm da dạng hơn, bên
cạnh đó vẫn quan tâm sưu tâm cỗ vật của nền văn hóa ông Sơn Ông Doàn Anh Tuấn cũng nhận được nhiều sự đồng căm cũng như hỗ trợ từ phía gia
đỉnh cùng nhữừ bạn bè đồng nghiệp, ông kế: “Nấm 2008 con gái đầu là chị Boa Cam Tra cing
g hội vidu trong Trung tam UNBESCO nghên cửu bão tên cổ vật Việt Nam di dự buổi triển lãm và giao lưu có vật ở thành phổ Hưng Yên, chị Trà đã phát hiện ra hai món để đồng Đông Sơn đó là một chiếc bát
chân cao vá một chiếc khuy cài áo có lớp Platin bên ngoài màu xanh ngọc
được bày bản Nhưng để cập tới giá lại hiện vật trên, mmợi người còn dang lưỡng lee thi chi Tra di rit tiền ra và mua ngay hai món dé đỏ Khoảng vải
24
Trang 25ngày sau khi ông đi công tác về nhà, con gái đã mở chiếc hộp lấy ra hai món
đồ được gói cắn thận đưa cho ông xem Với kih nghiệm nhiều năm trong
nghề ông đã nhận ra ngay đây là số vật Đồng Sou that, mém vui của ông nhus tăng lên, vì không clỉ được sở hữu lựa món để hiểm ma ông còn vui hơn vì đã truyền được niễm đam mẻ cho con cháu, đỏ cũng là điều mong mỗi bẩy lâu nay”
‘Nam 2005, đưới sụ bảo trợ của Liên hiệp các Tiội UNESCO Việt Nam ông thành lập Trang tầm UƯUNESCO nghiền cửu bảo tồn cỗ vật Việt Nam, ngay
tử khi ra dời dã tổ chức rất nhiều hoạt động văn hóa bé ich phục vụ cộng déng Ong Tuan tâm sự: "Chơi đỏ cổ cốt là để dưỡng tâm chứ không phải dưỡng trí Vì vậy, nêu mình nhờ báo tầng giữ hệ thị sẽ có nhiều người được
"sướng" cái sướng của mình, vui cái vui của mình từ đó sẽ càng có nhiều người yêu quý đỗ có và biết đầu đến lúc nào đó công việc hiển tặng đỗ cô sẽ dược xã hội hoá Hơn nữa, xởi lổi rồi trời lại chơ, bo bo thì trời buộc, cuộc
đời cũng chẳng nên toan tỉnh nhiều" Năm 2010 ông củng các hội viên của trung tâm đã hiển tặng Báo tang Lịch sử Việt Nam đổi trồng đồng ông Sơn
có niên đại khoảng 3.500 năm; tặng Bảo tảng Quảng Ninh 105 hiện vật; tăng Bão tàng tỉnh Thái Bình 93 cổ vật các thời: hậu kỳ đá mới, Đồng Sơn và thời
kỳ phong kiểu Lý - Trần
Với mềm tâm huyết va kién trì theo đuổi miểm đam mê, đến nay ông
Đoàn Anh Tuân đã có trong tay một sưu tập cổ vật đẳng Đông Sơn khá hoàn chỉnh (tỉnh đến 17g20 ngày 10 - 05 - 2012 cỏ tổng công 917 cả vật đồng văn
hòa Đồng Sơn) với nhiều loại lrình khác nhau
Trái qua rất nhiều khỏ khăn, đẻn nay những thành quá mà ông có dược
là niềm tự hảo vá cảng vĩnh dự hơn khi những cống hiến đã được “đến đáp”
phần nào, khi ma tâm huyết cuả ông đã truyền lại được cho thể hệ trẻ, đã trực
tiếp đưa những kiến thức về đi sản văn hóa đến với công đồng để họ hiểu và cùng chưng lay gìn giữ những cỉ sản vô cùng quý báu của cha ông ta để lại
25
Trang 26Với những nỗ lực cúa các cơ quan Nhà nước, tổ chức và cả nhân cộng với sự phái triển nhanh của mạng lưới thông tin truyền thông trong thời gian qua đã
gúp phân nâng cao nhận thửu của người dân về đỏ là tín hiệu rất đăng xuừng cho nên văn hóa nước nhà Người dân đã ý (hức được lầm quan trọng của việc lưu giữ hiện vật có giá trị để trưng bày hoặc giao nộp cho các cơ
quan có thắm quyền
Trang 27Chương 2
SƯU TẬP CÓ VẬT BONG BONG SON CUA NHA SƯU TẬP
ĐOÀN ANH TUẦN 2.1 Mật số khải niệm cơ bản
Sưu tâm hiện vật là sự tìm kiểm, tru thập một cảch cỏ hệ thống, cỏ mục đích, đựa trên những hiện vật sưu tâm được mà người ta xây dựng các bộ sưu
tập có chung vẻ một hoặc nhiều đâu hiệu nào đẻ Có nhiều định nghĩa về sưu
lập, sơng qua việc tn hiểu những định ngứa đó chúng ta đều thấy được tầm quan trọng của các sưu tập hiện vật, chúng có vai trỏ quyết định toi sy tén tai
và phát triển của bảo tảng, cũng như của các sưu tập hiện vật tư nhằn
Thuật ngữ “sưu tập” được bắt nguồn từ tiếng Latinh là Collection, khi
dịch sang tiếng Anh, tiéng Phap la Collection và tiếng Mpga là Kollecxia Đại bách khoa toàn thư Tiên Xõ (cũ) — tập VII, trang 433 có định nghữa: “Sưu lập
là sự tập hợp có hệ thống một số lượng hiện vật củng loại hoặc được liên kết
bởi chưng chủ để” Ngoài ra thuật ngữ “sưu tập” còn được để cập trong cuốn Grande Larouse của Pháp và được giải thích là sự liên kết cúa một đối tượng
vá được phân loại nhằm giáo đục, giải trí và sử đụng
Sưu tập những giá trị văn hóa được định nghĩa trong bộ luật được thông qua năm 1993 cửu Liêu Bang Nga về việc xuất nhập những giá trị văn hóa như sau: “Toàn bộ những hiện vật khác nhau cứng chúng loại hoặc có giống nhau về những dâu hiệu nhật định không kế một hiện vật, trong đó có giả trị văn hóa riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học
hay văn hóa khác”
Từ việc nghiên cứu khải niệm sưu tập mà ta có thể hiểu rõ hơn về sưu tập hiện vật báo tảng, theo từ điển “Thuật ngữ bảo tảng” (trang 20) các nhà bảo tàng học Liên Xô đã định nghĩa: “Sưu tập hiện vật bảo tảng là toàn bội những hiện vật bảo tàng có một hay vài đầu hiệu chưng có tâm quan trong vé khoa học hay nghệ thuật liên kết hủ thành một hệ thống hoàu chỉnh” Trong
7
Trang 28ký yếu hội tháo khoa học thực tiễn “Sưu tập và phương pháp xây dựng sưu
tập hiện vật bảo tàng”, PGS.TS Phạm Xanh đá đưa ra định nghĩa về sưu tập hiện vật bäo tăng: “Sưu tập hiện vật bảo Làng là sự hén kết lại những hiện vậL
bảo tàng hiện lưu giữ trong kho bão làng, có cúng một hoặc nhiều cấu luệu giéng nhau, otmg phản ánh một chủ để cụ thể nào đó”
Tmật đi sản văn hóa 2001, và Luật đi sản văn hóa sửa đổi và bổ sung
năm 2009 có nêu định nghĩa sưu tập, cố vật như sau:
dầu hiệu chung vẻ hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tim
hiểu lịch sứ tự nhiên vả xã hội
“Tiêu chí là tỉnh chất, đấu hiệu làm căn cử để nhận biết, xếp loại một
sự vật, một khái niệm”, “Giá trị là cái làm cho một vật có lợi ich, có ý nghĩa,
là đảng quý
xem la dấu hiệu để phân biệt với những sự vật khác”
Từ những định nghĩa trên đây tôi đã rút ra định nghĩa vẻ sưu tập tư
một wal nào đó”, “Đặc trưng là nét riêng biệt, tiêu biểu dược
nhân: “Sww đập #ư nhân là một tập hợp các di sản văn hóa vật thể hoặc các di
sẵn văn hóa phi vậi thể, có cùng mật hoặc nhiều dẫu hiệu chưng nào đó, và
thuộc quyền xỡ hiu của tư nhân ",
Suu tap cổ vật đồng Đông Sơn của nhà sưu tập Đoàn Anh Tuần có dẫu
hiệu chung về chất liệu (đẳng), cổ vật trong sưu tập đều thuộc nên văn hóa
7 Hoàng Phê (2009|, Từ điển tiểng Việt,Nxb Chính trị quốc gie, Hà Nội
28
Trang 29Déng Son, nién dai cách ngày nay 2000 2700 năm, có giả trị về lịch sử, văn
hóa, khoa học Theo như cách tính tuổi cho cổ vật của Luật di sản văn hóa năm: thì tất cả những cỗ vật trong sưu lập đều đủ tiêu chuân để công nhận ed vật Vậy chúng ta có thể khẳng định sưu tập đồ đồng Đông Sơn của ông Đoàn Anh Tuần là sưu tập cổ vật tư nhân, có giá trị cao về lịch sử, văn hỏa, khoa học đã phân nào phản ánh được tỉnh hình kinh tế, xã hội, tư duy thắm mỹ, trình độ kỹ thuật của cha ông ta dưới thời đại các vua Tùng,
2.2 Sưu tập cổ vật đồng Dông Sơm của nhà sưu tập Doàn Anh Tuấn
2.2.1 Nhạc khí
Nhắc tới nghệ thuật đúc đông Đông Sơn, không thể khỏng nói tới loại
hình nhạc khi bởi nó đóng một vai trỏ quan trọng trong đời sống của cư dan
nông nghiệp lúa nước Nhạc khí thường được sử dụng trong các lễ hội, chứng, hỏa quyện, cộng hưởng với nhau để tạo thành đàn nhạc giao hưởng đầy âm sắc của người Việt cỗ mả trung tảm giữ nhịp là trồng đồng, âm thanh phát ra
có độ vang và truyền được xa là do mỗi trường sống thời kỳ này khá yên tĩnh, mật độ dân số thấp, dân cư phản bó không đồng đều Nhạc khi phát ra âm
thanh có tác đụng làm không khi lễ hội thêm vui vẻ, âm thanh cỏn làm cho tâm hồn con người sắng khoái và đưa họ giao hòa cùng với thân linh
*Tréng dong
Trống đồng là đính cao nhất của nghệ thuật đúc đổng Lông Sen, là
bi
tượng cho văn minh Việt cố Hoa văn trang trí trên trống đẳng phan anh
một cách đa đạng và phong đòi sảng vật chất cũng như tỉnh thân của cư đân
Đông Sơn hình ảnh gủa con người, lễ hội cầu mưa, bơi Huyền, hình ảnh
muông thú, tất cả đã tạo nên một bức tranh rất sống dộng vẻ xã hội thời kì
này, nơi cỏ sự hòa quyện giữa œon người với thiên nhiên
Trồng đẳng Dông Sơn thể hiện trinh độ kỹ thuật và tư duy thảm mỹ cao
của cư đân Vật cổ Trống đồng có nhiều kiểu đáng và kích cỡ khác nhau, phân lớn những trống cô kích thước vừa và nhỏ phát hiện nhiều ở phía Bắc,
29
Trang 30những trồng lớn có niên đại muộn thường được phát hiện ở miễn trung Việt Nam Về kiểu đảng, những trồng cỏ niên đại sớm, mặt trồng nhỏ hơn tang
trồng, trang trí Hoa văn hiện thực, xuất hiện với tâu suất dày đặc trên gà mặt trồng và tạng trúng, được bé trí đối xửng nửưau, cằna thành các băng hoa vẫn Bước vào giai đoạn Đông Sơn muộn hoa văn trang tri được cách điệu hóa, vả
có phân đơn giãn hơn trước, những người hóa trang nhảy múa chỉ còn la đổ
An tua tia nit van cở bay, trên mặt trắng thường xuất hiện các khói tượng
đồng vật (cóe,vơi, ngựa) thể liệu cho ước mong mưa thuận giỏ hỏa, sinh sôi
này nở của người Việt cễ
* Trắng sớm Niên đại chủ yêu vào khoảng thể kỹ VII — V trước Công nguyên, con rất đơn giản về tạo hình, công đụng vừa lả nhạc khí vừa làm đỗ đảng sinh
đúc nổi hình ngôi sao có 6 tia mảnh, thân không trang trí hoa văn, toàn thân
có mâu đen Cổ vật Việt Nam, phát hiện ven sông Lô (Tuyên Quang), niên đại
văm hỏa Đông Sơn thể kỹ HI — I rước Công nguyên Đây là một chiếc trồng
có niên đại sớm, trên mặt trồng có nhiều muội than (muội than còn bám trên
bể mặt trắng khá day), chimg tỏ chiếc trống nảy không chỉ sử dụng để đun
một lần mà nó được sử dụng nhiều lần và thường xuyên, chứ không như quan điểm của một số học giả là do chảy nhà nên có muội [mm bám trên mặt trồng
vả chiếc trống bị đen như vậy Day là bằng chứng vật chất quan trọng dễ chứng minh nền văn hóa Đông, Sơn cỏ nguồn góc phát sinh nội địa
* Trắng Tông Son muén
Theo như phân loại của học giả người áo T.Tfeger thì trồng đồng được
chia lam 4 loại chính đỏ la: Fy, Fp, Hà, Hạ, bên cạnh đó còn phái Tiện thêm
30
Trang 31chậu trỗng, trồng đặc biệt Tuy vậy bộ sưu tập của ông Doàn Anh Tuấn thì chỉ
có trồng loại hình H¿ trống chậu và trống sớm Trồng sớm chưa xuất hiện
nhiều họa văn họa tiết, còn rất đơn giảm về tạo bình, công đụng vừa là nhạc
khí vừa lầm đồ đựng (nâu thức ăn),
'Trếng loại Hạ thường là những trống được tạo hình rất đẹp, tí lệ giữa mặt trồng với chiều cao chênh lệch khêng nhiêu, đường kính tang trồng
thường lớn hơn đường kính mặt trống, hoa văn họa tiết trên trống ngoài
những lưọa tiết cơ bản hình ngôi sao liên mặt, châm lạc, loa văn hình răng cưa, đường tròn tiếp tuyển, hoa vần răng lược, còn lại những hoa vẫn miều tả đời sống sinh hoạt của người Đông, 3ơn rất hiện thực đó là hình nhà sàn, hình:
thuyén, người đang giã gạo
Trống Hị muộn ngoài những hoa văn cơ bản, trên mặt trồng thường xuất hiện 4-6 lượng cóc, hoa văn thường thế hiện cách điệu chứ không hiện thực như giai doạn trước Sưu tập trống đống Đỏng Sơn (Trồng Hạ) của nhà
sưu tập Doàn Anh Tuân phần lớn vẫn còn nguyên vẻ hình dáng, tuy vậy bể mặt thường bị oxi hỏa Trồng sớm (6 chiếc) thí bị sắt xâm thực nên bể mat co
màu nâu, cỏ chiếc có máu đen, bè mặt trống xù xì
* Trồng đồng: đường kinh miệng: 67cm, chiều cao 54,2em, mặt trắng trung trí ngôi sao 1Ô cánh, có 2 đôi quai kép nhỏ nồi giữa tang vá thân trồng,
quai trang trí hình bông lúa, mặt trồng và tang trồng chủ yếu trang trí hoa văn
bở rào, hìmh tròn tiếp tuyển trong có chấm nhỏ, đúc nổi hai đổi quai kép, trang
trí hình hông hia, tang trống trang trí hoa văn hình thuyền va người đang nhãy xuủa được cách điệu hóa Trồng phái hiên ở Thanh Hóa, có tiên dai cach ngay nay 2000 2500 năm Hiện vặt còn nguyễn vẹn, hoa vẫn trang trí sắc nét chỉnh tỏ trống được bảo quản trong môi trường tốt it axit Hoa văn trang trí
trên hiện vật rất sinh động, thể hiện được cuộc sống của cũng như sinh hoạt
văn hóa của cư dân Đông Sơn Quai trắng được trang trí bông lúa để chống trơn khả cẩm, và quai cũng đây, khỏe hơn Đây là trồng Đồng Sơn thuộc loại
31
Trang 32I1, kích thước lớn, những trồng loại nảy xuất hiện sóm và phát hiện chú yêu
miễn Trung Việt Nam
* Trống đồng (ảnh mảnh họa 2): đường kính miệng: 63,1em, đường kính đáy: 64,5eu, chiếu cao: 58,3ern, xuất hiện vào giai đoạn muộn thuộc loại Heger I, kích thước lớn, tang phinh, thin thon, chin choãi Bề mặt đúc nỗi ngôi sao 12 cánh (cánh sao mập), vành ngoài là hình chỉm Lạc, xen giữa đúc
nỗi quả trám lổng, rìa ngoài đúc nỏi 4 tượng cóc chạy ngược chiều kim đẳng
hồ Quai tring đúc nói đổi quai kép, trang trí hoa văn hình bông lúa (để quai
đỡ trơn và khỏe hơn) Cô vật phát hiện ở ngã ba Bạch Hạc _ Phú Thọ, miên đại thế kỹ1 III sau Công nguyên Trống đúc nổi 4 tượng cóc (con cóc tượng
trưng cho mong ước mùa mảng bội thu, là biểu tượng cầu mưa thuận gió hỏa)
Tĩoa vấn trang trí được cách điệu hỏa, nên có thể khắng định xuất hiện vào giái đoạn Đông Sơn muộn Trồng đồng có nhiều công dụng có thể dùng làm nhạc khi, khi đảnh có 2 người khiêng 2 đầu, hoặc có thể đặt dưới đất hay dùng
dây treo lên Ngoài công dụng làm nhạc khí trống cỏn sứ dụng để lảm hiệu lệnh trong chiến đấu, tiếng trống đành lên bao hiệu đảm cháy, trống cón lá
biếu tượng cho quyền lực của thủ lnh, người nảo sở hữu trông có thể “Tiêm hiệu xưng vương”
Loại hình nhạc khí để đồng văn hóa Đông Sơn của nhà sưu tập Đoàn
Anh Tuấn có 5 hiện vật trống chậu, còn khá nguyên vẹn Trồng chậu thường
có niên đại muộn (khi thả Hán sang đô hộ nước (2), được tạo hình như một
chiếc chậu, miệng loe Hoa văn họa Hết ở đáy chậu (mặt trồng) thường được
32
Trang 33trang trí như mặt trồng đồng loại II, hoa văn hình ngôi sao 8 cảnh,10 cánh,
đường tròn tiếp tuyên Trong làng chậu trang trí 2 con cá cách điệu, hình hai đồng tiển là do ảnh hưởng cửa văn hóa phương bắc Một số hiện vật còn được trang trí hơs văn tiên thành, trống chậu loại hình này xuất hiện ở đầu công nguyên, công dụng chính là nhạc khi và đồ đựng,
* Trống chậu (dnh minh họa 3): đường kính miệng: 37,6em, đường
kính đáy: 23,9cm, chiếu cao: 13,1em Chậu trống được tạo hình miệng loe,
đây thớp, lòng chậu trang trí bai con cá, phía đuổi cá đúc nối hai đồng tiến Trên thản có 3 dường gở đúc nỗi, dây chậu (mặt trồng) điêu khắc nỗi ngôi sao
11 sảnh, cảnh sao tượng trưng cho hình ảnh mặt trời dang tốa những, tia nẵng,
đó là hình ảnh đách trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước Vành ngoài có đường tròn tiếp tuyến được chạy theo hình vòng tròn xung quanh mặt trồng Đặc biệt thành hiện vật còu đúc nỗi ảnh hỗ phù cách điệu (ảnh hưởng của văn hỏa Hán) Trồng châu sử dụng chủ yếu dễ làm nhạc khí, khi đánh thì ủp
mặt trồng lại, ngoài ra cỏn dùng làm đỗ đụng (khi dùng đựng nước thì ngửa lên Cỏ vật được phát hiện ở Nghệ An xuất hiện vào giai đoạn văn hỏa Dỡng
Sơn muên, niên đại thể kỹ Ï sau Công nguyên Trống chậu là loại hình hiện vật xuất hiện muộn, khí nhà Hản xâm lược và đỏ hộ nước †a, đã cảm nhân đân
duc trống đông, vì thế người Việt có đã dúc ra những chiếu châu để lùa để
đựng nhưng ở phia dui day trang tri hoa văn cách điệu giống như mặt trống đồng, thể hiện sự giao thoa với văn hóa phương Bắc
* Trồng chau (anh minh hoa 4): đường kính miệng: 33/7em, đường
kính đây: 18,cm, chiêu gao: 10,2em, Châu trồng được tạo hình miệng loe, đầy
thép Thân có 3 dường gờ đúc nổi, dảy chậu (mặt trống) diều khắc nổi ngôi sao 11 cảnh, hình người cách điệu được tang trí trên mặt trống và phản tiếp giấp giữa thân và đáy, thành cỏ tai Cổ vật được phát hiện ở Hà Nội, xuất hiện vào giai đoạn văn hỏa Đông Sơn muộn, miên đại thế kỹ T - TÍT sau Công nrguyên
33
Trang 34* Chuông, chằm chọc, thanh la, chiêng
* Chuông ống (anh minh họa 5): cao: 33,8em, rộng: 146cm, quai đãi: Sau Chuông có đựng bình ống, miệng hình trên hơi loe, trên đình có lổ lành
fron, có quai dé treo hình chữ ngược, lai bén than xế rãnh, thân dé tron
không trang trí hoa văn, bể mặt có mau xanh do bị oxi hóa Chuông đảo được
ở địa phận Ha Tây cứ, có niên đại thế kỷ Ï sau Công ngưyên Chuông ng là
loại hình nhạc khi xuất muộn, có nhiều hình đáng và kích cỡ khác rhhau,
chuông dùng để đánh rên bến trong không có con lắc, đình có lỗ nhồ vả thân
xế rãnh ruục đích đễ âm thanh vang hơn khi đánh Chuông ông do người Việt
cỗ đúc có nhiều điểm khác sơ với chuông của Trung Quốc (có thể khẳng định
quả chuông ống thuộc sưu tập của nhà sưu tập Doản Anh Tuấn là chuông
Điêng Sơn) Chuông loại này thường được đúc theo bô, xếp theo thứ tr từ lớn đến bé, khi đánh sẽ tạo thành một giản nhạc có âm tầm bổng khác tưau Trong sưu tập cỏn cỏ bao chân, bao tay được gắn các quả chuông nhỏ (lục
lạc), cô chức năng tương tự như ruột loại nhạc cụ, tạo ra 4m thanh khi người
Việt cỗ nháy mủa trong các lễ hội, loại hình nảy xuất hiện khá sớm
* Chuông quả xoài (ảnh mình họa 6): cao 18em, chuông tạo hình quả xoài, hai bên phỏng, không có mủm ở giữa, mà trên đỉnh có hai tai chữa ra đối
xứng nhau, dình cỏ lễ hình chữ nhật Thân chuông có lỗ rỗng hình chữ nhật (chủ yêu để âm thanh vang xa hơn khi sử dụng), không có con lắc như những
quả chuông thời kỳ sau này Thân chuông bị oi hóa có mâu xanh, oó vết nứt khoảng Sem chuông được sử dụng để đánh chửừ không dùng để lắc Cổ vật
phái hiện ở Hà Nội, và được lầm thấy rồi nhiều ở Thanh Hóa, Hòa Bình, Hà
Nội, Nghệ An có niên đại thế ký II I rước Công nguyễn, do phát hiện ở những vùng đất ven sông (mỗi trường ít bị axit phân húy), nên hiện vat kha lãnh lặn Những quả chuông tạo hình quả xoài nảy phát hiện khá nhiều, một
sé con trang ti hoa văn rất đẹp, thường 1ùu thấy theo đôi một, tạo thành bộ
nhục khứ (có kiện vật khi đào lên vẫn được xếp chống lên nhan, lâu ngày đất
34
Trang 35bám lên bê mặt và trong lòng Trong bộ sưu tập còn cé 2 quá chuồng sắt cao 18,3 em, quai chuông tao dang rồng cách điệu
* Chim choe (dah mink hoa 7): rong 21 3c, ding tron, dinh ed wu
to (g6 han Tin so vor bd wal) chức răng chính là để cầm Khi sử dụng gõ hai
bề mặt trước vào nhau (phần nảy rỗng), sẽ phát ra âm thanh
* Thanh la (ảnh mình họa 8): rộng 22,1em, đáng tròn có nửm (só 4 lỗ
nhỏ), 2 lỗ dùng để cảm, 2 lỗ cỏn lại có tác dựng thoát âm Thanh la tạo hình
giống một cái đĩa kích thước lớn, được đúc mồng tiên khi đánh phát ra âm thanh rất thanh thoát
* Chiêng (ảnh mảnh họa 0): rộng 48, 2cm, phần đáy hơi khum lại, loại hình nay xuất hiện ở giai đoạn van hoa Déng Sơn muộn, đây cũng là một trong những loại nhạc cụ còn phổ biển cho đến nay
Danh sách cỗ vật thuộc loại hình nhạc khí văn hỏa Đông Sen
bang Séng Héng Than Cổ vật Việ Nam, The ky TIT | Co 16 thing
# | qy 1 | phat hign 6 Phi Tho —ITCN
4 | Công „ | CovatVigtNam, They | Dive
35
Trang 36chiéng phathiénd Hoa = SCN
Binh
5 Chuơng 1 Cổ vật Việt Nam, ThếkỹI | Nguyén ven
Cơ vật Việt Thể kỷ HI | Nguyên vẹn Chim
chọc
nội Cổ vật Việ Nam, ThékyI | Bj oxi héa
trí hình chim cách điệu, người phụ nữ xưa thường để tĩc dài rồi bủi tĩ Trâm
cài tĩc loại hình bảy thường được làm từng đơi sưu tập cĩ 2 đơi cặp tram)
* Trâm ba chan (dnh mink họa 10): trầm đảng thanh mánh, được tạo
hình một khung trịn gân kín, cĩ 3 chân, trên trang trí hình con chủn hộu cả,
36
Trang 37phía trong khung là hình người đứng dạng chân, hai tay xde gio cao Nién dai
thế kỹ Ï - TÏ trước sau công, nguyên, chiều dai trung binh 14cm, réng 6,50m
* Vong trang sive
* Vòng đeo tay (ảnh mình họa }1): trang trí họa vẫn kiểu bén thimg, mặt cắt ngang hình tròn, đường kinh vòng óem, mặt cất ngang 0,20cm, niễn
đại thế kỷ V - Ï trước Công nguyên, những chiếc vòng loại này phát hiện chủ yếu ở phia Bắc
* Bao chân, bao tay (ảnh sinh họa 132): kích thước trưng bình 12 — 14cm, tạo hình éng, thân đúc nổi những đường chỉ nhỏ chạy dọc đổi xửng nhau, bên ngoái gắn thêm lục lạc nhằm mục dich phát ra 4m thanh khi nháy
múa Cỏ thể những hiện vật này chỉ sử dụng cho tầng lớp trên trong xã hội
hoặc sử dụng trong những dịp lễ hội của cw din Đông Sơn, vì họ là những cr dân nông nghiệp rêu giả sử nếu đeo thường xuyên sẽ gây khó khăn trong
công việc
* Khuyêu tại (ảnh mình họa 13)
Người Dêông Sơn có tư duy lam dep ti rat som, ngoai khuyén tai da thi
họ cèn chế tác khuyên tai bằng đông Khuyên tai có nhiều hình đảng va kích
cỡ khác nhau, không trang trí hoa văn, nếu có thì rất đơn giãn chú yêu là hình xvan de
* Khuy cai do (anh minh hoa 14)
Trang phục của phụ nữ Việt sổ thời kỳ Đông Sơn là mặc váy hay yếm, nam giới cởi trần đóng khả, người giảu mặc thêm áo có khuy cài Khuy có chiều dài bung bình 6 — 8em, gồm 2 phần và cô nhiều kích cỡ khác nhau
nhưng hình dáng rất thống nhất một dầu ngắn có móc, ở giữa đúc nỗi hình cúc
áo Người Việt cổ xưa kia mặc áo choàng bảng lông trong các dịp lễ hội
* Guang ding (anh mink hoa 15)
Có nhiều loại với kích cỡ khác nhàn, nhưng hình đáng rất thông nhất,
gương tạo hình trên, hoặc hình bỏng hơa, cỏ núm nhỏ, mặt sau trang trí hoa
37
Trang 38văn hình học như hình trờn nhé, hoa cúc [ai chiếc gương còn có tay cảm, loại puong nay xuất hiện ở giai đoạn muộn thể hiện sự giao thoa với văn hóa
phương hắc Theo như ruột nghiên cứu của khảo cổ học thì chiếc gương đồng
có nguồn gốc lít bộ lạc du mục sống trên thảo nguyên, họ sử dụng những chiếc củc áo †o, mặt sau cỏ núm, trải qua thời gian thì mặt trước bị mải nhin
bóng, có thể soi được nên dựa váo đó họ đã chế tạo ra gương Gương đẳng được phát hiện khá nhiều chímg tõ tư duy thấm mỹ, làm đẹp của người xua
rất phát triển
* Bao đầu (ãnh mình họa 16) TDày 7,6em gém hai mảnh ghép lại với nhau, hai manh nay được dúc riêng
biệt, mỏng phía trên có gờ và được liên kết với nhau bằng định tán Mặt trước
trang trí hoa văn móc cầu (hoa văn đắc trung của văn hóa Đông Sơn), người Việt
cỗ xưa gắn những chiếc lông chim trên bao đầu trong các địp lễ hội
Danh sách cỗ vật loại hình đỗ trang sức văn hóa Đồng Sơn
sit TEN HIEN SỐ NGUGN GÓC NIÊN TRẠNG
VẶT LƯỢNG XUẤT XỨ ĐẠI BẢO
QUAN
Co val viel Nam, The ky
12 phát hiển ở phía | IIT-1
Trang 39Co val viél Nam,
2.2.3 Da ding sinh hoạt
Đính cao của văn hoá Đông Sơn là nghệ thuật đúc đổng mả ở đó người
Vist cổ đã hoàn toàn làm chú nguyên liệu và công nghệ chế táo, với những
kiểu dáng và hoa văn trang trí phong phú độc đáo, có thế khắng định kỹ thuật
Tuyên kim và đúc đồng thời kỳ này để đại đến trình độ hoàn mỹ
Hiển vật văn hóa Đông Sơn vô cùng phong phú, đa dạng về loại hình với nhiều chất liệu khác nhau (da, dồng, gỏm, nhuyễn thể, sat), nhưng nhiều
39
Trang 40nhất và tiêu biểu nhất vẫn là đỏ đồng Lễ đồng có mặt hậu hết trong đời sống,
đồ dùng sinh hoạt oö nhiều loại hình va kích thước kháe nhau: thạp, thé, đèn,
bát, lọ, bình, châu, âu, liễn, chân đèn loa sơn, các loại lượng trang trí, mudi
đồng
Đặc điểm thường gặp liên quan đến công nghệ đúc đỏ dùng sinh hoạt
Tông Sơn đó là đa số các hiện vật đêu có quai đề treo, thậm chí nhiều hiện vật còn có vòng, đôi quai kép khỏe Diễu này chứng tỏ các để đúng sinh hoạt của
họ thường được treo lên
* Thạp đằng (ãnh mink hoa 17) 'Thạp là loại hình hiện vật đẹp và có giá trị nhất trong loại hình đỗ dùng
sinh hoạt, có hai loại có nắp va không nắp, thân thạp được trang trí hoa văn kỹ
hả, chỉm lạc bay ngược chiêu kim dang hỗ (tr duy mủa vụ của cư dân nông nghiệp), họa văn hình người nhảy múa trong các lễ hội, văn bơi thuyền rửhư trên trồng đồng, văn vóng trỏn triếp tuyển, văn hình bờ rào, những, chiếc thạp
lớn ngoài chức năng chỉnh là đồ đựng cỏn dung để mai tang người chết như
thạp phát hiện ở Yên Hải trong đỏ có thị hải tré com
* Thạp đồng: đường kinh miệng 17,6em, đường kính đảy 13,2em chiều cao 28,4em Thạp có nắp, đảng quã nhót, miệng loe đứng thân thuên, đáy löm Thân thựp dủe nổi lai đôi quai kép hình chữ U ngược (diều đặc biệt là
đổi quai kép được đúc hiến với thân thạp), hoa văn trang trí kín từ trên xuống dưới, với phong cách chạm khắc nổi và chìm các băng hoa văn và đường chỉ
la hinh 6 tram Lang và vòng tròn đồng tâm (dạng chữ S), ngôi sao, vòng tròn tiếp tuyễn, rằng cưa có nữm nếi, chấm nổi Phía dưới, nằm cách những xô tip trang trí dan cải là hình ảnh cơn người dang nháy múa, bơi thuyền Thạp nguyên vẹn, bẻ mặt bị oxi hóa, được phát hiện ven ớ khu vực ven sông Mã (Thanh TTỏa), niên đại văn hóa Dông Sơn thế kỹ II — Ï trước Công nguyên
Thân thạp có những lỗ nhỏ đó là những lỗ thoát khuôn, những quai đúc nỗi
tiên thạp có thể đúng để treo, đôi xứng bai bên đường go dic
40