1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn biến Đổi văn hóa dân tộc thái Ở huyện quỳnh nhai sơn la

78 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến Đổi Văn Hóa Dân Tộc Thái Ở Huyện Quỳnh Nhai, Tỉnh Sơn La
Tác giả Hoàng Ngọc Anh
Người hướng dẫn GV. Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ăn sắc đân tóc thế hiện trong hệ giả trị của văn hỏa dân tộc, nó biểu hiện và dịnh hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con người Những giá trị văn hóa là thước do tinh dé phát triể

Trang 1

TRUONG DAI HOC VAN HOA HA NOL

KHOA VAN HOA HOC

BIEN DOI VAN HOA DAN TỘC THÁI

TAI HUYEN QUYNH NHAI, TINH SON LA

NGUOI HUONG DAN: GV NGUYEN THI THANH THUY SINH VIEN THUC HIEN: HOANG NGOC ANH

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

MỞ ĐÀU

Chuong 1: CO SO LY LUAN VA TONG QUAN VE HUYE

NHAT, TINH SON LA

1.1 Cư sở lý thuyết về sự biến để

Quynh Nh:

1.1.1 Lý thuyết về biến a6 hóa

1.2 Téng quan về huyện Quynh Nhai, tinh Son La

1.2.1 Dặc điểm về vị trí địa lí - điều kiến tự nhiên

1.2.3 Dặc điểm về văn hóa — -

Chương 2: THỰC TRẠNG BIẾN ĐÔI VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI TẠI

HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SON LA

3.1.3 Vải nét về văn hỏa của dân tộc Thái huyện Quỳnh Nhai, tỉnh

2.2 Những biến đổi văn hóa dân tộc Thải tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh

2.2.1 Sự biên đổi vẻ nhà cửa

2.2.2 Sự biển đổi vẻ trang phục

2.2.3 Sự biế trong âm thực

2.2.4 Sự biển đổi các phương tiện đi tờ

2.2.5 Sự biển đổi trong sinh hoạt văn hóa gộng đỏng 45

2.3 Nguyên nhân dẫn dến một số biển đổi văn hóa dân tộc Thái tại

hội trong thời kỳ đổi

3.3.2 Sự phải triển của lực lượng vẫn xuất, ứng dụng khos học kỹ thuật

vào san xuất và đời sông, 48 3.3.3 Sự tăng cường giao hưu hội nhập giữa các nên văn hóa 49

Trang 3

2.3.4, Ty than nên văn hóa we AD

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIA TRI

3.1 Đánh giá chung về sự biến đổi văn húa của đân tộc Thai & huyện

3.2 Giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá đân tộc Thái tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La

3.2.1 Phát triển kinh tế - xả hội, nâng cao đời sống, xây dựng cơ sở vật

chất của văn hóa cho đồng bảo dân tộc Thái -

3.2 Khai thác sứ đụng hiệu quá nguồn vốn cho hoạt độn văn hóa

3.2.3, Nâng cao dân trí cho dông bảo đân tộc Thái 53 3.2.4 Xây dựng dội ngũ làm công tác văn hóa

Nâng cao ý thức giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hỏa

3.2.6 Tập kế hoạch cụ thể toàn điện và lâu đài cho công tác gìn giữ kế

2.7 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ty Đảng trong công tác quân

lí văn hóa nói chimg, sự quản lí các cấp chỉnh quyền trong công tác quản

lí các di sản văn hóa nói riêng của đồng bào Thái a 38

Trang 4

Thẻ kỉ XXI là thể kỉ của văn hóa.Văn hóa được xem như nén tảng, cơ

sở, động cơ và mục tiêu của mỗi quốc gia, dàn tộc Dắt nước ta hiện nay đang

trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta vừa có điều kiện phát huy văn hóa

dân tộc, vừa phải có trách nhiệm, ý thức cao hơn trong việc giữ gin và phát huy những giả trị văn hóa của dân lộc

Tai nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lân thứ XI dã xác dịnh mục tiêu

tổng quát trong 5 năm tới về vẫn dễ văn hóa: “Tiểp tục xây dựng nên văn hóa

Việt Nam tiền tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tên và phát huy các giá trị văn hảa tốt đẹp của dân tộc đẳng thời tiếp thu tình hoa van héa nhân loạt”

Van hoa vén gắn liển với loàn bộ cuộc sống vả với sự phải triển của xã hội

Con người ra dời cùng với văn hóa, trưởng thành nhớ văn hóa, hướng tới

tương lai cũng tử văn hóa

Văn hỏa của một dân tộc trước hết thẻ hiện ở bắn sắc của dân tộc ấy

ăn sắc đân tóc thế hiện trong hệ giả trị của văn hỏa dân tộc, nó biểu hiện và dịnh hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con người Những giá trị văn hóa là thước do tinh dé phát triển và đặc tít riêng của mỗi dân Lộc “Môi

dân tộc thiểu văn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, mội nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nên văn hỏa ấy không có sức sống thật

sự của nó" [ 33, tr.16]

‘Nam trong quéc gia đa dân tộc, dân tộc Thái được coi là một thánh viên

quan trọng trong công đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Với số dan hon 1 triệu người Sinh sống lâu đời trên đản đất ViệL Nam, kế thừa mội nến vẫn

mình cỗ truyền của cha ông, Người Thái đã đóng góp không nhó vào kho tàng

văn hóa chung của các dân tộc Việt Nam Theo những sứ liệu còn ghỉ lại thi

Trang 5

Ww

người Thái có mặt & Viét Nam tir khoang thé ki VILIlién nay nguoi Thai cu trú trên địa bản rộng lớn chủ yêu ở các huyện vùng trung du và thượng du Tây

Đắc cho đến tận miễn Tay hai tinh Thanh Hóa và Nghệ An,

Tại Son Ta cd hon 842.985 đồng bào Thái sinh sống, đây là một dân

tộc mang nhiều nét văn hóa độc đáo, đặc sắc Cùng với sự phát triển của xã hội thì những phong tục dep ay đang có sự biển đổi Chính vi vậy Đăng và

Nhà Nước đã ban hành một loạt các chính sách có liên quan phục vụ đắc lực

cho công cuộc phát triển văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số như:

Trong nghị quyết số 03/NQ-TƯ ngày 16/7/1998/BCH TƯ Đăng khỏa 'VII vẻ xây dung va phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc là văn bản chính cao nhất, trong đó để cập tới nhiệm vụ bảo tẳn và

phát huy văn hóa của các đân tộc thiểu số: “ Coi trọng và bảo tốn, phat huy

những giá trị truyền thông và xây dựng, phái triên những giá trị mới về văn hóa, vân học nghệ thuật của các lộc người thiểu số "[35] Hay nghị quyết 22

NQ/TƯ, ngày 27/11/1998 của Bộ Chính Trị RCH TU Dang khỏa VT nêu rõ:

“Tân trọng va phat huy những phong tục tập quản và truyền thống văn hóa

tất đẹp của các tộc người Nền văn mình ở miễn núi phải được xây dựng trên

cơ sở mỗi tộc người phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tình hoa văn hóa của dân tộc khác và sóp phân phát triển nỄ văn hỏa chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nên văn mình cúa cộng đồng các

tộc người Việt Nam” [36]

dân cư thắp, phẩn lớn là dân tộc ít người

Trang 6

dân, tải định cư nhằm ấn định đời sống, giảm thiểu tác động tiêu cực đến tái nguyên thiên nhiên, môi trường, và đâm bảo cho người dân cỏ cuộc sống tốt Hơn Tuy nhiên việ

triển khai xây dựng các công tình thủy điện đã và dang

lam nay sinh một số vấn để về môi trường, văn hóa

Công trình thủy điện Sơn La dược xây dựng trên cơ sở khai tháo tim năng tải nguyên nước có một ý nghĩa quan trọng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ngoài việc hàng nim sản xuất hàng chục

ty kwh din vehi gia Irì nhiều ty đẳng,

áu công trình thuỷ điện còn cắt lũ, cấp

và điều tiết nước cho đồng bằng Bắc Bộ, điều hoà khí hậu trong vùng, tạo

điều kiện cho phát triển du lịch đường thưý

Tổng bảo đền tộc Thái có đời sống chủ yếu gắn với sản xuất nềng nghiệp và khai thác lâm sản, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, khả nẵng tiếp

thu gác yêu tổ kỹ tuyật côn hạn chế, nhiều tập quản, hỗ tục lạc hậu vẫn còn

tên tại và duy tri trong các bản làng nên việc thay đôi điều kiện, mỗi trường

sống của người dân là một vấn dễ gây ảnh hưởng hết sức lớn dến đời sống của déng bao

Lả cư dân nông nghiệp, người Thải thường tìm đến sinh sống ở gân

nguồn nước ven sông, suối, định cạnh, định cư khả bền vững ở các thung lũng,

trủ phú dưới chân đổi với cuộc sống trồng lúa nước và phát nương, làm ray,

săn bản, hái lượm

Người Thái phải rời bố quê hương, bản quán truyền thống nhiều đời để

tạo quỹ dất xây dựng các công trình thuỷ điện cho dắt nước là một sự hy sinh

lớn lao của đồng bảo dâu lộc

Vi vay, Dang và Nhà nước ta chủ trương không chí đền bù thoá đáng

những tài sản của đồng bao bị thiệt hại, mà còn phải đầu tư để "Báo đảm

Trang 7

người dân tai dink cw én dịnh chỗ ở, ôn dịnh cuộc sống, có diều kiện phat

triển sản xuất, nâng cao thu nhập, từng buớc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, cuộc

xông vậi chất và văn hoá tốt hơn nơi ở cũ, Ôn định lôu dài, bền vững góp phần thúc dậy phát triển kinh tế - xd hoi"

Thực tế cho thấy, cơ sở bạ tầng gồm các hạng mục công trình giao

thông, trường học, trạm xá, điện, nước sinh hoạt tại các khu tái định cư đang

là những điều kiện mới làm thay đổi bộ mặt cáo thôn bán, góp phần nâng cao dâm trí, timg bước thúc đây kinh tế - xã hội khu vực chịu ảnh hưởng của gác công trình thuỷ điện, gỏp phẩn đăm bao an ninh chinh tri khu vực Tây Bắc

Whimg bén cạnh những kết quả đã đạt được, công tác lái định cư ở khu

vực đồng bao dan tộc thiểu số hiện nay còn bộc lộ không ít những hạn chế đôi hỏi sự đầu tư, chăm lo, khắc phục lâu dài, đặc biệt là trong việc xây dựng vin

hơá xã hội theo đặc thủ lừng tiểu vùng, từng nhỏm dân tộc trong điểu kiện

mỗi trường sống mới

Với địa hình đa đựng (thung lăng lòng chảo, sườn núi thập va cae ro

cao), Sơn La là vùng nhiễu dân tộc có 12 tộc người và có một nên văn hoá võ củng đa dạng, độc đảo Những tác động của các nhân tế chỉnh trị - kinh tế - xã

hội trong quả trình lái định cư đang lạo ra những biển đổi trong đời sống văn

hoá của các tộc người thiểu số trên các phương diện cầu trúc văn hoá, các giả tri van hoá và sẽ làm ảnh hưởng sàu sắc đên phần lớn các thánh viền cộng đồng xã hội tái định cư vùng đồng báo đâm tộc thiểu số ở Tây Bắc theo cả lai

chiều hướng tích cực và tiêu cực

Be

chất phải đi tìm những mục tiểu, động lực từ những yêu tổ tỉnh thân, yếu tố

an bêo chờ sự phái triển bên vững, cần xác định ngoài yếu tổ vật

văn hoá Văn hoá ở các vùng miền núi nghẻo có mỗi quan hệ chặt chẽ với phát

triển xã hội Và biển đổi vău hoá có tính quyết định đối với sự phái triển của

vũng tải định cư của đồng bảo thiểu số Tây Bac

Trang 8

được một môi ường văn hoá mới trêu cơ sở bảo tốn và phát huy văn hoá các

dân tộc thiểu số trước yêu câu hội nhập và phát triển, dâm bảo cho các vùng tải định cư có sự phát triển bản vững

Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết nêu trên, đề tài “Biển đỗi văn

hỏa dân tộc Thải tại huyện Quỳnh Nhai, tĩnh Sơn La”được triển khai nhằm

bước đầu đánh gia những biến đổi văn hoá dưới tác động của quá trình đi đâm,

tái định cư phục vụ cho công tác xây dựng nhà máy thúy điện Sơn 1a đối với

dồng bào thiểu số trong dó có đồng bảo đân tộc Thái, từ đó góp phẩn để xuất

những giải pháp thích hợp trong xây dựng và phát triển văn hoá xã hội cho đồng bảo dân tộc Thái, huyện Quỳnh Khai hiện nay,

2 TINH HINH NGHIEN COU

lliện nay chưa có một để tài nào nghiền cửu một cách hệ thông, toàn

diện và sâu sắc về sự biển đổi văn hóa của dân tộc Thái huyện Quỳnh Nhai, fink Son La Tuy nhiên cũng có nhiều để tài nghiêu cứu lêu quan đến được các tác giã tiếp cận, nhìn nhận dưới góc độ khác nhau về biến đổi văn hóa

chung và biến đổi văn hóa ở Việt Nam

Ở phạm vi Việt Nam, các nghiên cứu của các học giả nước ngoài

nghiên cứu về Việt Nữ như Tương Văn Hy, với

công trình Việt Nam

thời hậu chiến: Động thái của một xã hội đang chuyển đổi (2003), Cuậc cách mạng trong làng: Truyền thông biến đổi của một xế hội đang chuyển đổi ở

"Bắc Việt Nam, từ 1925 dẫn 1988 (1992) [ 34 ] Cáo công trình nghiên cửu của Tương Văn Hy đã có những gợi ý về nhiều mặt mô hình nghiên cửu về sựr biến đổi các công đồng nóng thôn, phủ hợp với đặc điểm văn hóa và lịch sử

phát triển của Việt Nam

Trang 9

Dé tài khoa học KX.03.9?: "Nghiên cứu văn hĩa Bản dân tộc Thái

Đen, trên cơ sé dé dé xuất nội dung, giải pháp xây dựng mơ hình Bản văn

hĩa" 1999, TIBND tính Sơn Ta Nhìn chưng cáo cơng bình để đi vào khai thảo những đặc điểm chung về bản sắc văn hỏa; văn hĩa các dân tộc thiểu số:

văn hĩa của đân tậc Thâi ở nước ta

Tuy nhiên, những nghiên cửu này mới chỉ dùng lại ở việc tru hiểu

những giả lrị văn hĩa, phong tục tập quản của người Thái (nĩi chúng), người Thái ở Tây Bắc (nĩi riêng) nhằm giới thiêu về người Thái; những tiết đặc sắc

- cải hay, cái đẹp của văn hỏa đân tộc Thái Một số đề tài, cơng trình cũng để cập tới vẫn dé bảo tổn, giữ gin và phát huy bản sắc văn hĩa dân tộc Thái nhưng mới chí đẻ cập một cách chung chung hoặc đi sâu tim hiển một số nét

văn hĩa cụ thẻ, đã đẻ cập đến thực trạng và một sỏ giải pháp cho sự phát triển văn hỏa cáo dân tộc Tây Bắc nhưng cũng chỉ là những giải pháp mang tỉnh định hưởng chúng cho các đân tộc thiêu số; phủ yêu nghiên cửu về vẫn hĩa

dân tộc Thái ở gịc độ văn hĩa, chưa đi sầu vào nghiên cứu một cách cĩ hệ

thống dưới gĩc dộ triết học, chưa bản nhiều tới vẫn dễ kế thừa và phát huy bản sắc văn hĩa dân tộc Thái & Tay Bac như: “Si ngiữ về bản sắc văn hĩa

dân tộc”, Huy Cầm, Nxb Chỉnh Trị Quốc Gia Hé Chi Minh 1994

Cơng tác định canh, định cư đối với đẳng bao cáo đân tộc thiểu số miễn núi phia Bắc của Nguyễn Dức Truyền Viện Xã hội học (Viện KITXII Việt

Nam - http:/Avww.tapehicongsan.org.viv): Danh gia ciia Doan gidm sit cia

Uy ben Thường vụ Quốc lội về dị dân, tái định cư cơng trình Thuỷ điển Sơn

La: dam bảo cơng bằng, đân chủ, cơng khạ (M0p:/Avww.epv.org va), Di dân

30 năm vẫn chưa xơng của Hà Yên (htp:⁄www vietbao.vn/Xa-hoi); Di đân

tải định cư cơng trình thuỷ điên Sơn La, một số vẫn để cần quan tâm của Trần

Lê Trần (htip:⁄www neagov.vn/tạp chi/toan van), Nghién cửa một số mơ

hình tái định cư đổi với đồng bảo dân tộc thiểu số liên quan dến các cơng

trmh thuy điện của Nguyễn T.ãm: Thành (Viện Dâm tộc, Hà Nội 2004);

Trang 10

năm 2005), Tái định cư cho khu vực lòng hỏ thuỷ điện - Công tác quy hoạch

và những vấn để kinh tế - xã hội của Đỗ Đức Viêm; Mật số kinh nghiệm từ

Nghiên cứu một số mô bình tải Âịnh cư đối với đồng bào dân tộc tiểu

sổ liên quan dẫn các công trình thuỷ điện do Ta Nguyễn Tâm Thành lun

Chủ nhiệm đẻ tài (Viện Dân tộc, [Tà Nội, 2001) đã đánh giả về vẫn đẻ tái định

cư ở các công bình thuỷ điện, về chính sách của Đăng và Nhà nước la và

khuyến nghị các giải pháp trong việc triển khai công tác tải định cư ở các

công trình thuỷ điện;

Khai thác giả trị trí thức bản địa người Thái phục vụ yêu câu phái triển

kinh lễ - xẽ bội ở các khu tải dịnh cư thuộc dự ứn Thuỷ điện Sơn La do Ths

Nguyễn Thị Thanh Huyền làm chủ nhiệm để tài (Học viên Chính trị - Hành

chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008)

Những nghiên cứu này đã đề cập về vị trí, tầm quan trọng của việc khai

tháo giá trị trí thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tẻ - xã

hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn Ta, đánh giá thực trang

khai thác giá trị trí thức bán địa người Thái phục vụ yêu câu phát triển kinh

tếxã hội và để xuất phương hướng và giải pháp cơ bản khai thác giá trị trí thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các khu

tải định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La Tuy nhiên chua chỉ ra những tác

động cụ thể và gây va những biến đổi cụ thể vẻ văn hỏa của đân Lộc Thái

Trang 11

3 MỤC ĐÍCH VA NHIEM VY NGHIEN CUU

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của khỏa luận là đi tìm hiểu về văn hóa và xu

hướng biển dỗi vău hóa của dân Lộc Thái ở huyện Quỳnh Nhai, tĩnh Sơn La dưới tác động của dị dân, tải định cư của thủy điện Sơn La Đồng thời chỉ ra

nguyên nhân cửa sự biến đổi văn hóa lừ đó đưa ra những khuyên nghị và giải pháp đề giữ gìn văn hỏa của cư dan téc Thai

3.2 Nhiệm vụ

Nhiệm vụ nghiên cứu của khỏa luận là chỉ ra sự biến đổi văn hóa đưới

tác động của đủ dân tái định cư thủy dién Son La Ti đó đưa ra những giải pháp đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa cứa dân tộc Thái ở huyện Quỳnh Nhai, tinh Son La

4 DOI TUGNG, PIIAM VI NGINEN CUU VA TIIGI GIAN NGIUEN CUU

Đổi tng nghiên cứu của khóa luận là biển dỗi vấn hóa của dân lộc

‘Thai huyện Quỳnh Nhai Bái khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm van hỏa đân tộc Thai và những biến đổi văn hóa trong qué trinh di dan tai dinh

cư Thủy điện Sơn La

Phạm vi nghiền cửu, dễ tài được nghiên cứu tại huyện Quỳnh Nhai vào tháng 4 năm 2014

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khóa luận đã sử dụng cơ sở lý luận dự trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin (quán thiệt những nguyên tắc cúa Chủ nghĩa duy vật biện chứng,

Chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hễ Chí Mĩnh về vấn dé văn hỏa, đánh

gid cing rh gác quan điển của Đồng ta để nhìn nhận giá trị văn hóa eda din

tộc Thái huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La một cách khách quan, chân thực theo đỏng lịch sử.

Trang 12

Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, khảo sát điển đã thực địa, quan sát tham dụ, phỏng,

vấn sâu phân tích sự biển đổi vấn hóa trong không gian vá thời gian khác

nhau Đồng thời lập hợp hệ thống hóa tư liệu lên quan để phâu tích, so sảnh,

đánh giá, đối chiều

6 BONG GOP CUA DE TAI

6.1 Về khoa học

- Xác định rõ quan mệm biến dỗi vin hoa

6.2 Về thực tiễn

- Ghỉ ra những biển đổi tích cực, tiêu cục và cả những nguy cơ cần

dược xử lý trong việc xây dựng và phát triển văn hoá vùng tái định cư của

đồng bào dân tộc thiếu số, từ đó góp phần xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn

cho việc hoạch định chiến lược phát triển văn hóa xã hội huyện ()u‡nh Nhai

nởi riêng vả vùng tải định cư của déng bảo dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện

nay nói chưng

- Lẻ tải liệu tham khão hữu ích trong công tác dào tạo và nghiên cứu khoa học văn hỏa

- Góp thêm tư liệu cho việc nghiền cửu văn hỏa của cư đân tộc Thái

vững Tây Bắc

7 KET CAU CUA DE TAT

Ngoài phản Mỡ đầu, Phụ lục và Thư mục tham kháo, đề tải gồm 3 chương;

Chương 1: Cơ sở lý thuyết vả tổng quan vẻ huyện Quỳnh Nhai, tỉnh

SơnLa

Chương 2: Thực trạng biến đổi văn hóa dân tộc Thái tại huyện Quỳnh Nhai, Gh Son La

Chương 3: Một số giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hỏa đân tộc

Thái tại huyện Quỳnh Nhai

Trang 13

1.1.1 Lý thuyŠ về biển đãi văn hóa

Biển đổi văn hóa đã được dé cập đến trong các khoa học xã hội nhuy

một chủ để trọng tâm của thể kỉ X%X và thể kí X%I, Trên nên táng lý thuyết đã

được khải quát hóa cao như ở trên, với các nghiên cứu về hiện tượng vẫn hóa

cụ thể, đã só những triển khai để xác định các khuynh hưởng lý thuyết để lam

cơ sở cho các nghiền cửu thực địa

Các lý thuyết hiến đổi văn hóa được hình thánh chủ yếu đựa trên các lý thuyết về biến đổi xã hội, được các học giá phương tây đưa ra, ở đó biển déi

xã hội được hiểu là một quá trình quá đỏ các khuôn mẫu các hành vị xã hội,

các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội vá phân tảng xã hội được thay đối

theo thời gian Với quan điểm này thì văn hóa được coi là một bộ phân của xã

hội cũng không ngừng biến đối Ở bất cứ xã hội nào và nên văn hóa nào cho

dử có bão thủ cổ truyền đến đâu thì nó cũng luôn biến đổi

Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến nhưng ở mỗi xã hội thì

nó diễn ra khác nhau với những khác biệt vẻ phạm vi thời gian và hệ quả

của nó Đây là một quả trình mang tính chủ động tự nhiên, khách quan

Khai niệm biến đổi không chỉ là một thuật ngữ thể hiện sự mô phỏng của

xột nêu vẫn hóa mà còn chỉ định hướng giá Wi, khong bảm nghĩa là một

phán quyết giá trị chứ không phải là một lời tường thuật vẻ một sự kiện hay

một hiện tượng xã hội.

Trang 14

Theo một số cách tiếp cân chủ yêu về biến đổi xã hội của các nhà nhân học và xã hội học thì họ dựa vào cách tiếp cận theo chu kí, các quan điểm tiền

hoa, quan điểm xung đột, quan điển hiện đại về biến đổi xã hội, để đi giải thích tại sao biến đổi xảy ra và dự doán những biển đổi dỏ sẽ điển ra trong tương lai như thể nảo

Trong, các tiếp cận về biển dồi văn hóa tại các vùng miễn nửi phía bắc

trong quả trinh công nghiệp hóa, hiện đại hỏa nổi lên một cách tiếp cận coi

tiến trình biển đổi văn hóa phụ thuộc vào các yêu tế chỉnh trị, kinh tế, xã hội, tiến trình này lại mang những đặc thù của từng khu vục, công đồng dân cư

Sự biên đối về kính tế xã hội và những thay đổi về hành chính, đất đại,

chỉnh sách nồng nghiệp là những Hiền đề trực tiếp tác động đến biến đổi văn

hóa, với các tác giả như: Tô Duy llẹp, Nguyễn Văn Chính, Lương lỏng Quang, Nguyễn Thị Phương Châm và nhiều tác giá khác

Từ những lý luận nêu trên biển đổi văn hóa là: Sự ¿hay đối những đặc

điẫm văn báa trước kia so với hiện nay Sự biến đổi đá có thể điễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực nhờ quá bình giao lưu và Hiếp biến văn

hóa theo chiều đài lịch sử

1.2 Téng quan về huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La

1.21 Đặc diễm về vị trí địa lÍ - diễu kiện fự nhiên

Huyện Quỳnh Nhai nằm ở phía Tây Bắc tìh Sơn La, phía bắc giáp

huyện Sin Hỏ (tĩnh Lai Châu), phía tây giáp Điện Biên, đông giáp huyện Than Uyén (tinh Lai Chau), nam giáp huyện Thuận Châu và Mường La

Huyện có diện tích 1 049,07 km#và dân số là 58.493 người (năm 2011)

Huyện ly nằm ỡ xã Mường Giảng, cách thành phố Sơn La 60 km về hưởng

bắc Quốc lộ 279 theo hưởng đồng bắc đi huyện Than Uyên (Lai Châu)

Trang 15

12

Quỳnh Nhai là huyện vùng sâu, vùng xa Trước năm 1908, vùng đất

nảy thuộc châu Quỳnh Nhai, phủ Diện Biên, tỉnh Hưng ITỏa Từ nắm 1948 tới năm 1953, Quỳnh Nhai thuộc Liền khu Việt Bắc Từ năm 1933 tới năm

1955, Quỳnh Nhai thuộc khu Tây Bắc Từ năm 1955 tới năm 1962, Quỳnh Nhai thuốc khu tự tì Thái Mèo Từ năm 1962 tới năm 1975, Quỳnh Nhai thuộc khu tự trị Tây Bảo (đổi tên từ khu tư trị Thái Mèo), Sau khi khu tự trị Tay Bắc giải thế, Quỳnh Nhai là huyện thuộc tỉnh Sơn La

Ngày 2 tháng 12 năm 2003, Chính phủ CHXHCN Việt Nam ban hành

Nghị định số 148/2003/NĐ-CP, chuyển 25.911 ha điện tích tự nhiên và

26.659 người của các xã Mường Giảng, Chuông Đằng, Mường Sai, Liệp

Muội, Năm lït, Chiếng Khoang của huyện Thuận Châu vẻ huyện Quỳnh Nhai

Quỳnh Nhai là 1 trong 3 huyện của tỉnh Sơn La phải di chuyển dân ra khỏi vùng hỗ xây dựng nhà mảy thủy điện Sơn La, huyện Quỳnh Nhai đã xây dựng 10 khu tái định cư với 65 bản cho các hộ tái định cư Năm 2009, Quynh

Nhai chuyển huyện ly từ xã Mường Chiên đến xã Mường Giảng trên trục đầu nối quốc lộ 279 với tỉnh lộ 107 (Sơn La), cách huyện ly cũ là thị trấn Quỳnh

Nhai (nay thuộc phan lòng hỏ thủy điện) khoáng 30 km vẻ phia hạ lưu sông

Tổ và xây dựng thị trấn Phiêng Lanh

Nằm ở vùng khí hậu phía bắc của Tỉnh Sơn La, huyện Quỳnh Nhai cỏ múi

cao tập trung, độ cao phổ biển trên 500m Quỳnh Nhai mang trong mình đặc diễm của khí hậu nhiệt đới gió mùa chí tuyển của ruiền khí hậu Bắc Bỏ Ảnh

hưởng của bã, gió mùa đông bắc it hơn vũng dong — dong nam cia Tinh va gid

tây khô nóng ít hơn ving tay _ tây nam cúa Tính Mua nhiều, nhất là mưa dõng,

ấm áp hơn, ít bị sương muối đe đọa là đặc điểm chủ yếu của huyện

Đất đai của huyén Quynh Nhai đa dạng và phức tạp với nhiều quá trinh

hình thành khác nhau

Trang 16

Với 44.653 ha đất lâm nghiệp có rừng và 57,023 ha đất nông nghiệp,

đât đai lại mâu mỡ, phủ hợp với sự sinh trưởng của cây lương thực và cây

công nghiệp, Quỳnh Nhai có kợi thể wong phát triển nông — lâm nghiệp Để khai thác lợi thể này, lãnh đạo huyện đã vận dòng người dân chuyển dổi cơ cau mia vu, dua giéng vào thâm canh, tăng cường ứng dụng tiển bộ khoa học

công nghệ và phương thức sản xuất tiên tiến Nhờ đó, đến nằm 2096, săn

lượng lương thực của huyện đạt 25.179,3 tắn, tăng 16,4% so với kế hoạch

Các loại cây công nghiệp ngắn ngày như : Nhãn lổng Hưng Yên đã xuất hiện rong cơ cấu cây trồng của huyện, trong đỏ điện tich cay công

nghiệp năm 2006 dat 1.725,5 ha, tang 23,3% so với năm 2005 Việc hình

thánh săn xuất cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quá đã thúc đây ngành nông nghiệp Quỳnh Nhai phát triển theo luớng sản xuất hàng hỏa

Tiên cạnh đó công tác quản ly, bảo vệ và trỗng rừng cỏ sự chuyển biển

tích cực Toàn huyén da trang mai hang tram ha rừng tap tring, tinh trang pha

rừng làm nương, khøi thác lâm sẵn trái phép bị khống chế, góp phan nâng độ

che phủ rùng lên núc 42,25% (nấm 2006)

Chăn nuôi của huyện ngày cảng khỏi sắc Trong những năm qua, huyện

đã tập trung nàng cao chất lương đàn gia súc, gia câm theo hướng lai tạo,tảng nhanh số lượng và cơ cầu đàn, nhất là đàn gia súc ăn cỏ Công tác thủ y được

coi trọng, đâm bảo không để xây ra dịch bệnh lỏn Nhö đó đến năm 2006, toàn huyện có 16.231 con trâu, 10.050 con bò (312 bỏ lại sind), trên 33.084 con lợn, 15.863 con đê và 384.064 gia cẩm

1.22 Đặc đim về kinh tế - xã hội

Củng với phát triển nông - lâm nghiệp huyện còn tập trang phát triển

công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Nhằm khai thác hiệu quả hai mỏ than ở

Mường Chiên và Pha Khinh, đá với, cát sỏi và vàng sa khoang Sông Da, ofp

Trang 17

14

ủy, chính quyển huyện luôn khuyến khích các tổ chức, cả nhân đầu tư sản xuất — kinh doanh Tiển năm 2006, toàn hưyện có 3 doanh nghiệp tư nhân, hai

chỉ nhánh doanh nghiệp ngoài tĩnh và 4 hợp tác xã hoại động ơng các Tinh

vực sẵn xuất gạch ngỏi, khai thác than, cát sỏi, chế biến lương thực, thực phẩm và lâm san, Gia tri sản xuất tiêu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh năm

2006 đạt khoáng 2,6 tý đồng, tắng 18,69% so với năm 2005

Bên cạnh đó, việc mở rộng mạng lưới thương mại — dịch vụ ở trưng

tâm huyện ly, khu vực bến phả Bắc Liên và mạng lưới chợ phiên ở các xã đã đây nhanh nhịp đô tăng trưởng ngành thương mại — địch vụ với tốc độ tăng

trưởng bình quân 16%/năm

Những bước tiến trên cả 3 lĩnh vực đã đưa nhịp dộ tăng trưởng kinh tế

của huyện bình quần đạt trên 10%/năm (2001 — 2003), GDP nắm 2006 dat

119,6 tỷ đẳng Cơ cấu kinh tế chuyển địch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng

công nghiệp — dịch vụ, giảm tỷ trọng nông — lâm nghiệp Thu ngân sách trên

dịa bàn dạt 3,92 tỷ đồng (nấm 2006), tăng 76,7% sơ với nấm 2005 Thu nhập

bình quân đạt 3,3 triều đồng/ngườinằm

Kinh tế phát triển dã tạo điều kiện dễ huyện tập trung, phát triển văn hỏa

—xã hội, nàng cao đời sống văn hóa — tinh thin cho người dân

Sự nghiệp giáo dục — đào tạo được cũng cổ và phát triển ở tất cả các cấp học Trong giai đoạn 2001 — 2005, số học sinh phổ thông tăng bình quân

10%44iÄm 100% xã gỏ rưởng, lớp học, mầm nơn, tiểu học và trung học cơ sở,

Tỷ lệ huy động rẻ em trong độ tuổi đến trường dat tran 80% Chat lượng giáo dục ngày càng dược nang cao.Công tảo phổ cập giảo dục tiểu học,

xa mủ chữ dược duy trì vả giữ vững, Đặc biệt, năm 2006, huyện Quỳnh Nhai

đã hoàn thành ph cập trung học cơ sở, trở thành một trong bốn điểm sáng về

giảo dục — đào tạo của tinh Son La.

Trang 18

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân đân được quan tâm , đầu

tư Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố với 100% trạm y tế của 100% xã có ý —

báo sỹ Do đó, các chương trình cùng sự tăng cường đội ngũ cán bộ y,

bác sỹ chuyên khoa đã gáp phần triển khai có hiệu qua

Tý lệ tiêm chúng đầy đú 6 loại vắcxin đạt trên 859%, Bệnh viện luyện

và hai phân viện Mường Giỏn, Chiếng Khoang được đầu tư cơ sở vật chất,

trang thiết bị y tổ, cùng sự tăng cường đội ngũ cản bộ y, bác sĩ chuyên khoa

đã gớp phản triển khai hiệu quả chương trinh khám, chữa bệnh cho người nghèo, người cỏ cổng với nước và các đổi tượng chính sách

Mạng lưới y tế dược củng cổ, chất lượng khám, chữa bệnh khỏng

ngừng dược nông cao đã cơ bản dáp ủng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân

dân, đám bảo cho mọi người dân được tiếp cận và sứ dụng các dịch vụ y tế

Đến năm 2006, tý lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống con 22,46%,

Anninh quốc phòng được đấm bảo Các sự kiện chính trị của các địa phương được bảo vệ an toàn, nhất định lả trong các đợt di dân, tái định cư

Không những thẻ, huyện Quỳnh Nhai òn tầng cường chỉ dạo nắm vũng các

địa bản xung yếu, tập trung tắn công truy quét các loại tội phạm, tăng cường kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo trật tự an toàn giao thông Từ những nỗ lực

đó, trong những nắm qua, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của huyện Quỳnh Nhai luôn được giữ vững

Từ trung tảm huyện đến các bản vung cao, giờ đây không chi lo cai &n,

cái mặc, việc học hành của con em trong bản đã được quan tâm đủng mức

Đời sống văn hóa xã hội annimh quốc phỏng được đảm báo đã góp phin nâng cao nhận thức của đồng bảo các dân tộc D lá tiển để quan trong để Quỳnh Nhai triển khai hiệu quả các chú trương, chính sách của Dáng và nhà

nước, đặc biệt là công tác dị dân, tải định cư

Trang 19

1.2.3 Đặc diễm về uăn hoa

Quỳnh Khai nằm ven sông Da - ving dat van hoá đặc trưng của đân tộc Thái trắng: đời sống vật chất, tình thần của nhân đân gắn bỏ mật thiết với văn

hoá vũng sông nước Nhiều giá trì vẫn hoá quỷ báu đậm đã bản sắc dam tộc của các dân tộc được lưu truyền, từ ngồi nha sản dẫn dời sống tâm linh, các

phong tục tập quán, văn hoá tỉnh thân,.những bài ca, diệu múa, lễ hội của

đồng bảo các đân tộc như lễ hội : Lễ hội gội đâu của người Thái, lễ hội Then

Kin Pang hay lễ hội đua thuyển của người Thái

Văn hỏa có nhiều đặc sắc Về nhà ở: Có 2 loại nhà chính: Nhà sản và

nhà nên đất Nhà sàn là nhà cổ truyền, cấu trúc cơ bản giống nhau, nhưng

mỗi dên tộc lại có nét đặc trưng riêng Về trang phục: Trang phục của mỗi

dân tộc khác nhau về kiếu hoa văn Về âm thực: Cơm nếp, cơm tẻ, ngô, rau,

cá là những thức ăn hãng ngày Kh4u vị ưa thích lả các món nướng, luộc, đề, xảo, ăn chua cay, có nhiễu gia vị Các món ăn sống cũng phổ biến (như gồi cá) Rượu cần, rượu nếp là đề uống thông dựng, thuốc lào, thuốc lá là để hút hằng ngày

Trang văn hỏa tỉnh thắn, các dân tộc của huyện bảo lưu được những

yếu tổ văn hóa bản địa của ruình như trong dam cudi, dam ma, dip sink dé, 1

xuừng nhà mới, lôn giáo, lín ngưỡng, gia đình, hôn nhằu TÂt gà các đán lộc dễu thờ cúng trời đất, tổ tiên, đều tiến hành cáo nghỉ lễ liên quan đến sẵn xuất nông nghiệp, với cách thức tiên hành khác nhau

Văn học nghệ thuật của gác đầu tộc trong huyện Quỳnh Nhai phong phú, mỗi đần tộc có kho tảng phong lục lập quán riêng của mảnh Đặc biệt đân tộc Thái có những hoa văn trên trang phục, chắn, đệm, màn rất đẹp.Cáo trô chơi đân gian, các nhạc cụ, điệu hát, điệu múa cho đến các phương thuốc

chữa bệnh dân gian khá đặc sắc

Trang 20

Những năm gần đây, huyện luồn quan tâm, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của địa phương Dén năm 2006, toàn huyện đã xây dựng

13 đội văn nghệ xung kich ở 13 xd, main m biểu điển hàng lắm buổi phục

vụ nhân dân.Phong trào toàn dân doàn kết xây dựng dời sống văn hóa phát triển sâu rộng Đến năm 2006, toàn huyện cỏ 10.250 hộ, 115 bản, 13/13 xã và

63 đơn vị đăng kỉ tham gia.

Trang 21

Chương 2

“TTỰC TRẠNG BIEN DOI VAN TOA DÂN TỘC THÁI

TẠI HUYỆN QITỲNH NHAL, TINH SON LA

ở Tây Bắc tỉnh Yên Bái (nay chúa thành ba huyện thuộc tỉnh Yên Bái: Văn

Chân, Mù Căng Chai, Tram Tau va thi xd Nghữa Lô), Sang phía Tây gồm toàn

bộ địa phận ba tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn Ta Phía Nam người Thái

sinh sống ở miễn Tây Bắc Hòa Bình (nay là huyện Đà Bắc và Mai Châu) và miễn Tây hai tính Thanh Hóa, Xghệ Ân

Cuỗi củng còn thấy những nhỏm sống rấi rác trong các tỉnh thuộc vùng, múi Tây Nguyên, trong đó huyện Đức Trọng tĩnh Làm Đông là nơi họ ở đồng

hơn cã Trải qua hàng ngàn năm sinh sắng trên các địa bàn trên lãnh thổ Việt

Nam, dân tộc Thải đã cùng các dân tộc anh em khác, tham gia dựng nước va

giữ nước Đây cũng chính là quả trình hình thành tộc người dễ phát triển đến

chưa có cách nào khác đệ tì ra cội nguồn của văn hoá

v 1m Hiện ngà

ngà

lich sử tộc người Thái, ng

sống tâm linh của họ Từ đó, đưa ra những kết luận vẻ nguồn gốc hình thành

re đúc kết he Điệu biết nói về đến

việc rủi ra và đúc kết những hiểu biết mới về đời

của dân tộc này

Người Thải ở Việt Nam không theo một tồn giáo chính thông nảo trên thể giới nã theo một trong những tụo có nghĩ thứo thờ Nước (nấm) và Đất gọi

Trang 22

là Cạn (bóc) Nước có biểu tượng Thân chủ là con Rồng (T6 Tuuông) mang tên

chi nude (chau năm), và đất có biểu tượng thân chủ là loài Chùm ở nủi mang

tên chủ đất (châu din)

Hai biểu tượng thần chủ Réng, Chim cũng là Mẹ, Cha của Mường và tục thở này nằm trong toàn bộ nghỉ lễ cứng mường (xén mương) Theo truyền thống, Thái Đen và Thái Trắng có tục thờ Mẹ- Cha gắn với biểu trợng thần

linh Rẻng- nước và Chim- cạn trong cứng Mường chéo ngược như sau:

Mường Thái Đen thờ: Mẹ - Rằng - nước >< Cha - Chim - Cạu Mường Thái

Trang thé: Me - Chim - Can >< Cha - Rồng - Nude Biéu nay cho thay méi liên hệ giữa văn hóa biểu tượng cội nguồn giữa người Thái với truyền thuyết thủy tổ người Việt (Kinh): “AZg thấy tổ người Kinh là bà Âu Cơ thuộc giống

Tiên (Chim lạc) ở đất, và Cha thúy tễ là ông Lạc Long Quân thuộc loài Nông- nước (Thủy lộo (biển) Bà Âu Cơ sinh ra mội bọc trăm trứng, nở ra trằm con

trai, khi khôn lớn thì năm mươi con trai theo cha xuống biển và năm mươi cơn trai theo mẹ về mắt” [31, tr 23]

Từ đây, ta có thể hình dung được bức tranh có thế có vẻ sự hình thành,

vá phát triển văn hỏa cội nguồn của hai ngành Người thuộc nhóm nói tiếng

Thái có liên bệ với Người Việt (Kink) trong lielr sit hang ngan nam hind than,

và phát triển: Trong khi Mẹ thủy tổ hay thần Mẹ của ngành người Thai Tring

ở cùng nhóm nữ với bả Âu Cơ trong tập doàn người mang biểu tượng, Chứm -

cạn thì Mẹ thủy tổ, hay thần Mẹ của ngành người Thái Đen sẽ ở nhóm Nữ của tập đoàn người có đại diện nhóm Nam lả ông Lạc Long Quân mang biểu

tượng Rồng - nước Ngược lại, Claa thủy tổ hay thần Cha của ngành người

‘Thai Trang củng nhỏm Nam la éng Lac Long Quan mang biéu tượng Rồng

Nước thì Cha của ngành Thải Đen số ở nhỏm Nam có dại điện nhóm Nit la Ba

Au Co trong tập đoàn người mang biểu tượng Chím - cạn [32]

Trang 23

20

Theo các nhà nghiên cứu, thi tổ tiên của người Thái đã sinh cơ lập nghiệp tại một vúng nào đó chính trong phạm vi ho dang, cu trú hiện nay, có

thể từ trước công nguyên đã có một phần người Thái cư trú chủ yêu là ở vừng

Mường Thanh bày giờ Sang những thế kỹ đầu công nguyên, một bộ phận

Thái Trắng ở đầu sông Dà, sông Nậm Na đã di cu xuống phia Nam cư trú ở

các huyện phía Bắc như mường Tè, mường Xo (Phong Thổ), mường Lay,

Quỳnh Nhai (Sơn La) Đền thể kỷ thứ XI theo “Quậm Tô Mương” cho rằng:

khởi thủy từ thời đại của anh ern Tạo %nông, Tạo Ngắn đưa ngành Thái Đen

xuôi theo động sông [Tổng xuất phát từ mường Ôm, mường Ai (Vân Nam, Trưng Quốc) đến mường Lò (Nghữa Lô)

Sau do bau duệ Tạo Xuông, Tao Ngan dã khai “Mường” lập “Tạo” tạo

va cỗ mnỘt vùng rộng lớn gm rất nhiều luyện Vùng giữa ngày may: Thuận

Châu (Mường Muôi) thuộc tính Sơn La là thủ phủ của ngành Thai Den Cho

đến cuồi thẻ ký XI, người Thái ở Việt Nam đã ổn định về cư trủ chủ yếu ở

Tây Bắc Việt Nam Dân tộc Thái chia thánh nhiều ngành, mỗi ngành lại chía

thành nhiều nhóm khác nhau: Thái Đen (Tây Đầm): Cư trú chủ yếu ở các tỉnh

Son La (hau như toàn tỉnh) Nghĩa Lộ (mường Lò) thuộc tĩnh Yên Bái; ở tỉnh Điện Biên, Tuần Giáo tính Lai Châu và một số ở phía Tây Nam tỉnh Lào Cai Thai Trang: (Tay Don hay Tay Khao) tip trung ở Mường Lay, mường So

(Phong Thổ, Lai Chau); mudng Chién (Quỳnh Nhai); một số khác tự xưng là

That Tring nhưng có nhiều nét giống Thái Đen sống tập trung ở Mường Tắc

(Phù Yên), Bắc Yên, mường Sang, Mộc Chau (Son La)

Whom Thai Hòa Đình (Mai Châu, Da Bắc) có nét giống với các nhóm

Thái ở Thánh Hóa Nhóm Thái ở Thánh Hóa cư trú ở tường Một- mường Deng tự nhận mĩnh thuộc ngành Đeng (Tay Thanh), ngành Trắng (Tay Mường- [lang Téng, Tay Do) Nhóm Thải Nghệ An với viée chia nganh Len,

Trang 24

Trắng đã mở nhạt, họ chỉ quan tâm đến thời gian vả quê hương xuất xử của

minh khi dễn nơi này

Tịch sử phát triển của người Thái theo con đường dich dae qua hang ngàn năm, nhưng với người ong nhỏ nói tiếng Thái vẫn giữ mạch tự duy văn hóa lưỡng phân, lưỡng hợp đễ tưởng nhớ quê cha dắt tỔ xa xưa nhất

31.2 Vài nét về tộc người Thái ở Tây Bắc

Người Thái ở Tây Bắc là dân tộc có số dan khá đông ở miễn Tây Bắc,

năm 1955 người Thái ở miễn Tây Bắc nước ta mới có 22 vạn người, thì đến năm 1989 riêng người Thải ở tỉnh Sơn La đã cd khoảng AO vạn người, năm

2005 có khoảng 52 vạn người Người Thái ở Tây Bắc là bô phân tiều biểu của

người Thái Mặc dủ có những đặc trưng cơ bản, nhưng người Thải ở Tày Bắc

vẫn chia hai nganh: Thai Tring va Thai Den Thai Trắng có thể chia thành hai

nhỏm địa phương:

Nhém thứ nhất cư trú ở phía Bắc ở các huyện Mưỡng Tay, Mường Tè,

Phong Thổ, một phẩn ở Tuần Giáo (Lai Châu), Quỳnh Nhai, Sinh Hồ, Tủa Chủa và xã Ngọc Chiến thuộc Mường Ta, Sơn 1a Về đại í , nhóm này số

những đặc trưng văn hỏa của một nhom dịa phương thống nhất như: Cùng

một vùng thể ngữ, cùng một loại hình sinh hoạt phong tục tập quan, van học,

nghệ thuật, tôn giảo Nhóm thứ hai, phân bố ở phia Nam trong các huyện

Mộc Châu, Phủ Yên (Sơn La) vá một phan ở Văn Chân (Yên Bái)

Nhóm này do ảnh hưởng của nhiên luồng văn hóa khác nhau, nên chỉ

có thể thông nhất trên cáo nét nhức Cùng clumg một câu chuyện kế về nguồn

Trang 25

22

Mường La, Thuận Châu, Mai Sơn, Sông Ma (Son La); Tuần Giáo, Diện

tiên Ngoài ra, cờn cỏ một phần phân bẻ ở các huyện Phong Thả, Sinh Hẻ,

Quynh Nhai

Mời nhón Thái Đen có hơi khác một số điểm vé tap quan va thé ugit,

hiện dang cư tú ở huyện Yên Châu nên thường gọi lả Thải Yên Châu.Sự

phan chia hai ngành Thái Trắng và Thái Đen ở miền Tây Bắc hiện nay, là kết

quả của một quá trình thiên đi, xáo động trên những diễn biển lịch sử lâu dái

và phúc tạp

Cho đủ hiện nay có hai ngành Thái, chẳng qua cũng là sự chuyển hóa

từ một nhóm Thái cổ xưa nhất mã thiên di di mdi người một ngã Rồi đến dịa vực cu trủ mới của mình, tùng nhỏm một tiếp xúc với diễu kiện tự nhiên vả chịu ảnh hưởng của các dân tộc xung quanh rồi xa dẫn cải nguyễu

gốc của mình

Tuy vậy, người Thái ở Tay Bac vẫn mang trong minh những nét văn hỏa

riêng, độc đáo cân được giữ ghu, kế thừa và phát huy, Sự hình thành nhóm Thi

6 Tay Bac: Bon vi cu trú của người Thái được gọi là Bản và Mường, Nhiễu bản hợp thành một mường nhỏ, nhiều mường nhỏ hợp thành một Châu mưởng

Ngay từ đầu, các bản mường dã phân bỏ tương dối déng duc trên

những vùng cư tú của ba nhỏm địa phương: ở phía Bắc- những bản mường

của người Thái Trắng tap tame trong các thung lững ruộng đổng mảu mở

Khoảng thể ký thứ VI, Mường Lay đưới thời Lô Lạnh Lạt Ma đã trở thank Gung tm cia ving way Lợi dụng sự phát triển của người Thái, quuý

tộc thống trị Mường Lay đã bảnh trưởng thể lực khắp nơi.Phia Bắc phát triển

tới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Từ Mường Tẻ ở phía Đông kéo sang đầu Mặm I (Thượng Lão) ở phía Tây Phía Kam phát triển dọc theo sông Tà

ở vùng Mường Chiên (Quỳnh Nhai)

Trang 26

2.1.3 lài nét về văn hóa của dân tộc Thải huyện Quỳnh Nai, tình

Son La

Trãi qua các cuộc thiên đi trong lịch sử, dân tộc Thái có mặt ở Việt Nam tit hang trim năm trước, họ có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương,,

dựng cọn, bắc máng lẫy nước làm ruộng nền trong dân gian thường truyền

cau ca “Xa an theo lửa, Thái ăn theo nước”

Tần tộc Thái là dân tộc đông nhất ở tỉnh Sơn T.a, chiếm trên $4% dan

số của tính Người Thải có mặt ở Sơn La từ rất sớm, bao gồm hai ngành là Thái đen (Tay đấm) và Thái trắng (Tay đón) Tiếng Thái thuộc ngữ hệ Nam Á,

nhóm ngôn ngữ Tày - Thải

Canh tác lúa nước là hoạt động sản xuất chính của người Thải, lúa gạo

Tả nguồn lượng thực chính, đặc biệt là lửa nếp Tuy nhiền người Thái cũng làm nương để trông lúa, ngô, lạc, vừng và nhiêu thứ cây trồng khác

Trong từng gia định còn chăn nuôi gia súc, gia cằm, đan lát, trỗng

bông, nuôi tầm dễ đệt vãi, một số nơi còn làm đẻ gốm Sản phẩm nỗi tiếng

của người Thái là vải thổ cẩm với những nót hoa văn độc đáo sắc màu ruc 16,

biển đẹp

2.1.8.1 Trang phục

Nam giới mặc quân áo thé cam mau cham xanh hoặc cham den Phy nit

‘Thai vin gắn bé với trang phục truyền thông: Áo cóm màu trắng, xanh hoặc

den bố sát thân với hàng khuy bạc tang, vay dai den quan suéng hoặc được thêu viền hoa văn ở gấu Cũng với váy, áo phụ nữ Thái Ben con có chiếc khăn Piệu thêu hơa văn bằng nhiều loại chỉ màu rất sặc sỡ và đẹp Đồ trang

sức của phụ nữ chủ yếu là vẻng bạc, xuyến bạc đeo ở cổ vả tay: hoa tai bằng

bạc hoặc vàng,

Trang 27

34

Trang phục của dân tộc Thái vừa đẹp, vừa gọn và làm nổi bật đường

nét trên cơ thẻ họ Người cơn trai khi lớn thì người lớn mặc quản theo kiểu

“chin que”, khong ding dai rút mà khâu cạp để thất lưng, chỉ gó hai loại là

quần dài và quần đùi Áo có hai kiểu dễ mặc thường ngày và lễ phục

Váy của người phụ nữ Thái thường màu đen không cỏ màu nào khác

ngoài sắc đen tuyển Vày của người Thái Trắng thì có các hình quả tam nam

cắt ngang trục thân

Thường phục: Phụ nữ Thái thường mặc ảo Cóm: Cỏ nghĩa là: Céc, cụt,

ngắn (chữ Cóm chỉ độ dài ngắn của thân áo Áo của người Thái đơn thì có dải

viễn hai vật

Phát nữ Thái Trắng ở huyện Quỳnh Nhat mắc áo cánh ngắn, mẫu sảng,

gỗ chữ V, khuy cài bằng bạc hình con ve, con bướm, váy máu den không

trang trí hơa văn Phụ nữ Thái đen mặc ảo ngắn, màu tổi (chảm hoặc den), cỗ

áo hinh tròn, khuy cài cũng bằng bạc hinh con ve, con bướm Dâu đội khăn

giêu thêu hoa văn nhiều mô lip, trang bri wang phong cach lừng noi, Vay mac

giống váy của phụ nữ Thái Trắng, Phụ nữ chưa chỗng bi lốc sau gay, cd chồng bủi trên dinh dau (ting cẩu) Trong những dịp lễ tết, phụ nữ thường

mặc áo dài, với các loại xé nách, chưi đầu, trang trí hoa văn Dặc biệt, trong tang rna, cơn dâu trưởng của dòng họ phải mặc loại áo dải gọi la xia hi

Trang sức của phụ mĩ gảm: Vàng cố, vòng tay, khuyến tai bằng bạc

hay thêm Trước kia phụ nữ thường nhuộm rắng đen Riêng phụ nữ Thai

Trắng, trong các dịp lễ tết thường đôi loại nón rồng vành, dan bang nan tre

Nam giới thường ngày mặc áo mẫu den, cổ tròn, xẻ ngực, cải cúc vải,

có hai tủi đưới vạt trước, quân kiểu chn qué, mau cham den Dip Jé tét, ho mặc loại áo dài xẻ nách phải, raàu chàm, đầu quấn khăn, chân đi guốc Trong tang lễ họ mặc nhiễu loại áo sặc sở, tương phản màu sắc với ngày

Trang 28

thường cỏ lỗi cắt may dài, thung, không lượn nách với các loại: Xẻ ngực,

xế nách, chui đầu

Người Thái rất nổi tiếng vẻ nghệ thuật thêu, đệt vải cdc sản nhằm của

họ trước hết thỏa mãn nhủ cầu của nội lộc Ngoài sẵn phẩm thêu, đệt còn B biểu tượng của sự giàu có.Hầu hết các cỏ gái Thái đều khéo léo, biết thêu dệt

không chỉ váy áo cho mình mã cỏn cho chồng con, anh em ma con cd sin

phẩm hàng hóa để trao đổi Hiện nay ở nhiều nơi, nghề trồng bông, nuồi tằm

va dét vai co chiều hướng mai một, sang nhìn chung, nghé dét vẫn được bảo lưu, duy trì đóng vai trò không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu sử dung trong gia dinh Nguyễn liêu để thêu dệt là soi béng va soi to tim

Phụ trang đi kèn không thể thiểu trong trang phục phụ nữ Thái dó là

dây lưng, dược làm bằng tơ, nhuộm mảu xanh.Trong trang phục Thải cổ thì

dây lưng được làm bằng thổ cẩm, khi dệt thi đột tắt cả hoa văn từ đời sống,

Xã tích cũng là một loại trang sức đi kèm với phân đây lưng được làm

bằng bạc Người phụ nữ có chẳng khi cuốn xã tích thì cuốn ] nửa vòng thé

điện rằng mình chỉ còn 1 nữa, 1 nữa đã thuộc về chồng, con Với người con

gai chưa chồng thì cuỗn xả tích cả vóng Trên xả tích có 1 chủm chia khoa thé

hiện người phụ nữ "tay hởm chìa khoả” trong gia định Cách cuốn xả tích cũng thể biện tỉnh cách và thẩm mĩ của mỗi người, xả tích cuốn ngắn thế hiện

nhàn hạ, xả tích cuốn sát cạp váy thể hiện tính cách khiêm tốn

3.1.3.2 Nhà ở

Nhà của người Thái là nhà sảm, đổi với các gia đình thuộc dòng đối quý tộc vả các gia dình giàu sang, có thể lực thường trang trí “khau cút” ở hai đầu

hỏi mai nha Bản của người Thái ở vùng thấp, gần nguồn nước, gẵn với nghề

trồng lúa nước trong hệ thống thủy lợi được đúc kết như một thành

ngữ: mương, phái, lai, lớn.

Trang 29

26

ăn mường Thái thường định cư gần nguồn nước, mỗi bản có từ vái

chục đến hon tram noc nhà kể bên nhau, người Thai 6 nha sản, kết câu bằng

gỗ, với những hảng cột gỗ vuông hoặc tròn được kẽ đã, sản cao, lợp lá cọ hoặc ngồi Mỗi nhà tùy theo gia cảnh mà dựng, 3 gian hoặc 5 gian

Đây là nơi chững kiến rượi sinh hoại của znọi thánh viên trong giá đình

suết từ sảng sớm đến chiều tối chỉnh dưới mái nhà sản, quanh bếp lửa hỏng, thé hệ ông cha đã truyền lại cho thể hệ sau những kih nghiềm lao động

những quan hệ xã hột, con người cũng như tập quần dân tộc Ngôi nhà vừa là mơi học nghề, vừa là xưởng thủ công Ngôi nhà vừa là nơi bảo tổn, kế thừa

phái tiển truyền thông vii ida cfu dân tộc Nhà sản của đân tộc Thán có siể dan xen giữa truyền thống vả hiện đại

hà truyền thống của người Thái là nhà sản, được làm bằng gỗ, tre,hay

lá rừng đẹp, các ngôi nhà sản đều được đựng theo những quy định chặt chẽ

Nha san Thai Trắng ở huyện Quỳnh Nhai, tinh Sơn La được lắm theo

kiểu mái lợp tranh, 4 gỏe nưải vuông, không có khau củtxưng quanh nhà che

Lằng vách nửa Mặt bằng sinh hoat chia ra lam 3 phần theo chiêu dọc nhà: Thang chính đặt ở đầu hỏi thuộc về hành lang phia sau qua thang lên thẳng phòng tiếp khách Liên với phòng khách về bên trái là nơi đành cho cơn gái canh đõ có bàn ăn,tiếp là bếp Cạnh bếp, giáp vách ngăn với sản phía ngoài là nơi để chai lọ Ngoài cùng là sản dễ nước, sàn này có thang phụ

dành cho nữ giới qua hủ

Wha san cia người Thái trắng thường có lan can xưng quanh trước nha

rất đẹp Hành lang ở giữa, phía trước danh cho vợ chồng chủ nhà có bếp mời

khách, tiếp lá sa quay sợi và khung cử Hành lang phía trước, đầu hỏi có 1 phỏng nhỏ danh cho khách, lá 1 ô nhỏ trong đặt bản thờ tỏ tiên, tiếp là nơi

dành cho vợ chồng chủ nhà, vợ chẳng con chủ nhà vả con gái chủ nhà

Trang 30

2.1.8.8 Hôn nhân gia dink

Việc hôn nhân của dân tộc thải chú yếu theo chế độ 1 vợ một chồng

Thời trước, khi kết hôn nhà trai phải đem đền nhà trưởng bản mây chục đồng

bạc, và cũng phải đem tiễn đến cho cha mẹ cô gái, đồng thời nang biểu người

chị cả rong bản, Sau kÌu làm lễ cưởi người con trai phải đến nhà người cơn

gái ở rễ 3 năm Trong 3 nim ấy chẳng rẻ phải gánh vác mọi việc trong gia

đỉnh Tục ngữ của người Thái có câu: “Dược một cháng rễ, là một được người

làm” Nếu đi ở rễ chưa hết thời hạn, mà người con trai muốn trở lại nhà mình, bên nhả trai phải nộp cho cha mẹ cô đâu mây chục gánh thóc và trên 100

chice chiéu,

Không những cưới vợ phải mất tiền mà ngay cả ly hôn cũng mất tiển Néu bén nam đòi ly hòn thì bên nữ được bai thường, nếu nlưt bên nữ đòi ly

hôn thi ngược lại Nếu chưa bổi thường đủ, bên nữ còn chưa được đi lẫy

chêng mới, phải chờ đến khi chảng rễ bồi thường đã số tiến quy định mới dược đi bước nữa Nêu cô gái đi lấy chồng lân thứ 2 thủ tiền cưới sẽ nhọ di rất nhiều

Dân tộc Thái có tục ở rể, vải năm sau khi đôi vợ chồng có con mới về

nhà chẳng sinh sống rồi sau đỏ tách hộ ra ở riêng

2.13.4 Tam link

Người Thái có ngôn ngĩt và văn tự, có tư duy và văn hóa nhưng không theo một tôn giáo nghiêm ngặt nào nhu đạo Phật, đạo Iổi, đạo Thiên chúa Vi xã hội người Thái ở Việt Nam mỏi chúng, người Thái ở Tây Bắc nói riêng không hình thành tư duy trên con dường đỏ mả theo một hướng riêng

của mình Co thế nói, dân tộc Thái là dân tộc có tỉa ngưỡng da thần Tin

ngưởng của người Thái chưa phát triển thành tôn giáo riêng nhưng họ cũng không chịu ảnh hưởng hay du nhập vào raình các tôn giáo khác.

Trang 31

28

Nằm trong phạm trù tâm linh, tôn giáo tỉn ngưỡng dân gian Thái tập

trung trong các trong các phong tục tập quan, lễ nghi xoay quanh sự thê hiện nhận thức về: đường sống, đường chết và đường thân lĩnh Đường sống: Nhận

thức về đường sống theo tâm linh Thái được bắt đâu tử quan niệm sinh ra con

người Người mẹ đẽ nhận con của mình từ bà Then mang tên Me Bau, ba cd

khuôn chuyên đúc rồi đập thành hải nhỉ trai hay gái rỗi giáng xuống dâu thai

vào các bà mẹ ở cối tran

Moi thủ tục chuẩn bị đường sông cho một con người đã hoàn tẤt ở cối

Wi va thee mach tam nh dy Tin ngưỡng người Thái cho rằng còn người

sống nhờ gó lĩnh hồn Họ quan miệm mỗi bộ phận cơ thể có một nh hẳn và con người có tất cã có 80 linh hỗn được chia thành hai nửa như câu ngạn ngữ:

“30 hẳn ở mặt trước, 30 hỗn ở mặt sau”, nhiều linh qui vẻ một, mang tên hẳn người ngụ ở đỉnh đâu chỗ có chôm xoáy tóc, vị trí đẻ đặt tên lä đỉnh hẳn Khi

ở bên thể xác, hỗn như bóng nên gọi là kép bóng hồn, bỏng hỗn bao quanh

thân thể như người mặc áo

Tập quán cúa người Thái, áo là vật tượng trưng cho linh hồn.Cho nền,

trong tất cá các lễ nghỉ tôn giáo, tin ngưỡng Thái, cạnh mâm cúng bao giờ cũng đặt áo của chú hẻn (thân chủ) Xưa nay, dân tộc này vẫn tin và thờ lực lượng siêu tự nhiên ma thuật ngữ Thái gọi là Phi na), tất cá các phi đều trú

ngụ ở một thể giới gọi là Mường Phi (mựờng ma), mường ma được quan

niệm như một thế giới vĩnh bằng bất biến Cách giải thích này trùng lặp với thuyết cho răng linh hỗn là bắt tử Ngược lại là Mường Người thì tốn tại theo

sự biển động Iheo từng thể hệ con người Linh hồn, lúc tách khỏi thản sống trở thành bản thể riêng gợi là phú khoăn, dùng để chỉ khái niệm hồn hay lĩnh

hồn sống của người, vật, hiện tượng tự nhiên, xã hỏi, như triết học gọi là vật

inh giao.

Trang 32

Chúng có thé tam thời tách khỏi thể xác nhập cõi trời đất mà đường

sống cửa thân chú vẫn tỏn tại Theo quan niệm tâm linh Thải, sự sống không

cỏ gì thiêng hơn linh hồn nên có những tập quán pháp kiêng ky, không được phép vô tình hay hữu ý vi phạm

Tâm lĩnh Thái cho rằng sự sống vốn do lười tạo ra và giảng xuống trần gian tạo thành người và ngược lại cải chết của con người lại bắt dâu từ tần gian trở về trời Đường chết: Theo quan niệm tầm lĩnh Thái, đường chết được giải thích phân thành bai trường hợp: đường chết không bình thường và chết

Do có quan niệm linh hon bal tử, nên dân lộc này có tục thờ cúng tổ tiên, cơi đỏ là tôn giáo tín ngưỡng chính Đường thân lnh: Vẻ tâm linh: dường sống, đường chết còn có quan hệ khăng khít với thần linh và không gian chứa dựng nỏ Với người Thái phi bản, phi mường (thân bản, thin mường) gộp lại được miêu tả thành ba phan: Phản hồn trong không gian tam tỉnh mường, Phan chau sửa trong không gian tâm lĩnh mường:

Phân thân, ma trong không gian tâm lính mường Theo người Thái, vũ trụ cỏ ba tầng: Tảng trên, phì ở có tên Mường Pha (mường Bén), ngoai ra con,

có các vị Then nên cỏn gọi là Mường Then Tắng giữa, người ỡ có tên Mường

Lum (tức cối trần) và tầng ba là tằng đưới lòng đất của các loài phi nhỏ trú

neu, khác với các phi ở tẳng trên

Trang 33

30

Da đời sống gẵn liên với săn xuất nông nghiệp nên có tục lây nước đêm Giao Thừa, lễ hội đón tiếng sâm năm mới và một số lễ hội cải: mùa khác Dồi

với người chết, họ quan niệm là tiếp tục “sêng” ở thể giới bên kia vì vậy đám

ma là lễ tiễn người chết về với “mường trời” Người Thai có nhiều họ, mỗi họ

có những qui định kiêng ky khác nhau, chẳng hạn: hợ Lỏ kiêng khỏng ăn thịt

chim Tang Lo, họ Quang kiéng con hỗ

2.1.3.5 Lần học nghệ thuật

Do người Thái có chữ viết riêng nên kho tàng văn học dân gian như

truyền thuyết, ca đao, truyện tho, văn học, dân ca và một số luật lệ còn

được lưu giữ và truyền lại khả nguyên ven qua các bản ghủ chép kiên giấy bản hoặc trên lá cây

Một số tác phẩm truyện thơ nỗi tiếng như *Xỏng chy xon xao”, “Khun

La, Nàng tửa” Đồng bảo Thái rất thích ca hát, đặc biệt là khắp Khấp là lỗi

ngâm thơ hoặc hát thea lời thơ, có thể đệm đàn và múa Nhiễu điệu múa như

quấn xóc, tuúa gặp, mứa quạt vất độc đáo đã được trình điễn trên sân khẩu trong

và ngoài nước, hấu đẫn đông đão khán giả Vào dịp lễ hội, hạn khuông và ném còn là hai trỏ chơi mang nét đặc trưng văn hỏa nốt tiếng của người Thải

3.1.3.6 “Ân thực

Một trong những dặc trưng nổi bật của dân tộc Thải là văn hóa 4m

thực Dân tộc Thái ưa cái huong vị đậm đà, giàu chất đỉnh đường của món nướng Món thịt trâu hoặc bỏ, cả, gà mướng được người Thái tắm, ướp gia vị

rất cầu kỳ, Gia vị để ướp là tiêu rừng lay

còn gọi là “mắc khẻn”, ớt, tôi, gìmg, muối Trước khi dem wớp với thịt, các gia vị cũng được nướng lên chơ chủn,

tỏa mùi thơm

Trong mâm cơm cúa người Thải có nhiều món ăn, muỗi món đều có

hương vị đặc trưng Cáo loại thịt gia súc, gia cẩm, hay thủy sản đều cỏ thể

Trang 34

nướng Thịt thải miếng, ướp gia vị, đủng xiên hoặc kẹp tre tươi đặt lên than

héng; hoặc thịt băm nhõ, bóp nhuyễn với trứng, gói lá chuối, lá đang, kẹp lại,

nướng trên than đồ hoặc vũi tro nóng, khi chín, thịt rất thơm, ăn không ngắn

Món cá nướng lắp din bai luong thom eda ca, vi cay ca db Mon

“pĩnh tộp” cũng lả cả nướng, nhưng thường dùng cá to như chép, trôi, tram

mỏ lưng, đẻ ráo nước, xoa một lớp mudi rang né; tim ớt tươi nướng, nghiền

nát, mắc khén, để cả ngắm gia vị, cửng thịt lại rồi đặt lên than hồng Cá chin

có vị thơm hấp dẫn, dừng để uống rượu rất độc đáo Sản phẩm cá được người Thái chế biến ra nhiều món ăn khác nhau, đặc trưng và ngon: cả hấp trong

chõ gỗ, người Thái gọi là cá mọ; món “pa giảng” là cá lun khói

Do đặc thủ vùng cao, người Thái thường để đảnh cá sẳy trong bếp Khi

có khách, nhà xa chợ, chưa lâm kịp món ăn thì bó cá ra nướng lại cho thơm,

rót rượu mời khách nhâm nhí, Và ở bếp, người nhà tiếp tục chế biến món ăn,

tiếp từng món lên đãi khách Đây là cách giữ chàn khách, thể hiện sự hiểu khách của đồng bào vùng cao

Tiên cạmh các tồn nướng, người Thái còn có tài chế biển gia vị để ăn

với các món luộc, món hấp, hương vị thơm ngon Món gà “di bộ” - gà nuôi

thá trên đổi, luộc lên chằm với gia vị chéo rất ngon, không ngấy, uống với rượu Mông pê hoặc lẫu sơ rất thú vị.Từ thịt, cá, người vùng cao còn có các

món lạp, luộc, canh chua với vị ngon đặc trưng,

Luong thực chính của người Thái là gạo nếp Gạo nếp được để thành

xôi và người Thái chỉ ăn xôi nếp dé cach thủy Ngoài đỗ xôi, họ còn bỏ gạo nếp vào ông nứa#trc, đỗ nước lã vào rồi nưởng trên lửa gọi là cơm lam Đặc

biệt cơm lam còn dành cho phụ nữ khi sinh con trong vòng ] tháng

Xôi nếp la món án truyền thông của đân tộc Thái Người Thái có phương pháp đỏ xỏi cách thủy bằng chỡ gỗ rất kỹ thuật Xỏi chin bằng hơi,

Trang 35

32

mềm, đềo nhưng không đính tay Xôi được đựng vào ép khẩu hoặc gié com

đậy kin, ủ âm, giữ cho cơm đẻo lâu.Cơm lam là đặc sản của dân tộc Thái

thường được sử dụng vào dđặp lễ, tết hay dai khách

Với các chuyén du lich, du khách có thể mang theo ép khẩu xôi, vải khúc cơm lam dễ ăn dọc đường hoặc khi nghỉ ngơi tại các điểm tham quan sẽ rất tiện lợi Mùa nảo thức nảy, người Thái đãi khách bằng sẵn vật, như: măng

ding, ming ngọt, rau cải ngéng, rau đớn chấm với gia vị chéo, đậm đã vị

cay của ớt, riểng, mặn của muỏi rang, hương thơm của rau Lam biết bao đu khách phải ngắn ngơ khi đã một lần nếm thử

Trong lễ cúng hỗn hàng năm của người Thái bao giờ cũng phải có món

cơm lam Ngoài ra các món ần của người Thái chủ yếu là đổ nướng: Cá

nướng, cá đổ, các vũi gio, các chua, ca mooc (trộn tâm, gói lá dong rồi đồ

chín), cả lap, géi Déi với thịt có các món: Thịt nướng, thịt vùi gio, thịt chua,

thit gác bếp hoặc làm gồi bằng thị thú rừng

Đặc biệt, môn mắm chế bằng ruột nơn động vậi, có vị đẳng và được

ph thêm các loại gia ví nậm pia rất hợp khẩu vị của họ Cả r loại rau, mắng

thường dỗ hay luộc, làm nệm ít khi xào bằng mỡ, ăn rêu sông và các loại tôm,

tép, cá sông thỉ nấu canh hoặc làm chéo dé chám xôi nếp

Sông suối chay trong thung lũng lông chão là nguồn cung cấp thủy sẵn

phong phú Lợi dụng sự hào phỏng của thiên nhiên, người Thải đã nâng cả lên

ngàng lâm với lúa gạo Tục ngữ có câu: “Tiủa Ở ruộng, cá ở nưc

Rượu là thức uống đặc biệt trong các địp vui, buôn và lễ phẩm thiêng

của các nghỉ thức Do vậy,trong cuộc sống với ý nghìa nào do, người Thái dã

xem rượu như một sản phẩm cẳn thiết hàng dẫu, ngang tẩm với cơm gạo

Déng bao đúng rượu trong các dịp đón tiếp bà con họ hàng, khách khủa, làm nghỉ thức cũng lễ, cưới xin, hội hè, tang ma hoặc ngâm thuốc uống,

Trang 36

Nhìn tổng thể ở một bản của người Thái không có ngày nào không có người uống rượu nên có thể gọi đây là thức uống được đủng quanh năm Theo người Thái, cuộc sống suug túc, lý tưởng là như câu Lục ngữ: “Đt: Ấn cá; Về

Ung rượu; Đêm: Ngủ đắp chăn - năm đêm”

Rượu của người dân tộc Thái cỏ hai loại chỉnh: Rượu cắt, rượu cần Ngoài ra còn có các loại rượu phụ như Rượu nếp

Luong thye chỉnh của người Thái là gạo nếp Œạo nếp dược đề thành

xôi và người Thái chỉ ăn xôi nếp để cách thủy Ngoài để xôi, họ còn bỏ gạo nếp vào ông mrửa/tre, đỗ nước lä vào rồi nưởng trên lửa gọi là com Jam Dac

biệt cơn lam còn đảnh cho phụ nữ khi sinh con long vòng 1 tháng

Trong 1é cúng hỗn hàng nếm cửa người Thai bạo giờ cũng phải có món

Đặc biết, món mắm chế bằng ruột nón dong val, co vị đẳng và được

Ha thêm các loại gia vị nậm pịa rất hợp khâu vi của họ Cá loại rau, mắng

thường dỗ hay luộc, làm nệm ít khi xào bằng mỡ, ăn rẻu sỏng và các loại tôm,

tép, cá sông thì nấu canh hoặc làm chẻo dé chấm xôi nếp

Sông suối chấy trong thung lững lông chão lá nguồn cung cấp thủy săn

phong phú Lợi đụng sự háo phóng của thiên nhiên, người Thái đã nâng cả lên

ngang lầm với lửa gạo Tục ngữ có câu: “Tủa ở ruộng, gá ở nước”

Rượu là thức uống đặc liệt trong các dịp vui, buần và lễ phẩm thiêng của các nghỉ thức 2o vậy, trong cuộc sống với ¥ nghia nao do, người Thai đã

xem rượu như một sản phẩm cần thiết hàng, dau, ngang tim với cơm 2a0

Tổng bào đúng rượu trong các dịp đón tiếp bà con ho hàng, khách khứa, làm

Trang 37

34

nghỉ thức cũng lễ, cưới xin, hội hè, tang ma hoặc ngâm thuốc uỏng Rượu của

người đên tộc Thái có hai loại chính: Rượu cất, rượu cân Ngoài ra cẻn có các

lgại rượu phụ như: Rượu nếp

Thìn tổng thể ở một bản của người Thái không có ngày nào không có người uống rượu nên có thể gọi dây là thức uống được ding quanh năm Theo người Thái, cuộc sông sung túc, lý tưởng là như câu tục ngữ: “Đi Ấn cả; Về:

tưểng rượu, Dêm: Ngủ đắp chăn — nằm đệm”

3.1.3.7 Lễ hội

Một số lễ hội tiểu biểu của dân tộc Thải huyện Quỳnh Khai

LE hi dua thuyên: Công đồng dan cư ở Quỳnh hai chủ yếu là người Thái, sinh sống băng nghề chính là trằng lúa nước, khai thác lâm sản và đánh

Dat ca Boi vay tir bao đời mày, bò cơn rất gắn bỏ với sông nước và phòo thuyền là công việc thường ngày, trở thánh thỏi quen vả nhú câu không thể thiểu trong sinh hoạt vá trong lao động sản xuất Theo quan niệm của bả cơn,

những ai giỏi chèo thuyển lá người cỏ khả năng chỉnh phục sông nước va thuận lợi hơn ong làm šn, sính sống, Từ đó, trong bản làng đã hình những, cuộc đua thuyển quy mô nhỏ và dân dẫn trở thành những lễ hội văn hoả

truyền thống của vùng dắt này

Lễ hội dua thuyén Quynh Nhai là một hình thức sinh hoạt vẫn hoá cộng

đồng hết sức độc đáo và có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tên và phát huy các giả trị văn hoả truyền thắng cao đẹp của dân tộc Lễ hội có ý nghĩa rất lớn

trong việc giáo đục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tình thầu Lương thân tương

ái, cùng nhau đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thách thức để vươn lên trong cuộc sống, Mặc dù chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, song những ấn tượng và

du âm tốt đẹp của lễ hội còn mai đọng lại trong trai tim và suy nghĩ của

những người tham dự đề củng nhau hẹn ước đến mùa lễ hội sau

Trang 38

Tễ hội gội đầu hay còn gọt là lỗ hội Lúng Ta: Dây là lễ bội của đồng bao dan tộc Thái trắng thuộc các huyện Quỳnh Nhai, Phù Yên, xã Ngọc Chiến

(uyên Mường 14) tinh Sou La

T.ễ hội được tổ chức mỗi năm một lần vào đúng ngày 30 tết, tức Ta ngày cuối cùng trong năm, Người Thai quan niệm, gội dẫu là dễ rửa trôi, tổng tiễn những cái vất vả, bênh tật, diều không may mắn của nằm cũ theo dòng nước

(sông, suối) trôi đi, đi mãi không lặp lại, đồng thời cũng là câu cho năm mới

tốt lành, gặp điều may mắn, lảm ăn phát đạt

Tổ lễ hội có thể điễn ra thi trước đó hang tuần các gia đình vo gạo nếp

để lây nước gạo Nước gạo được để vào nội cất giữ cả tuân hoặc có thê lâu

hơn, sao cho cảng chua cảng tốt Đây là nước gội dành cho đàn bè con gái

Còn dan ông nước gội la bé ket

Khi buổi lễ bắt đấu, người dứng, dầu bán hoặc là thầy mo dẫn dau doin

người theo hàng đi ra bờ sông To cầm thea nước gội đầu và một cảnh lá xanh

dũng cho nghỉ thức gội đầu

Đến hờ sông, những người phụ nữa ở dưới lòng sông gòn đản ông thì khoác sung kịp, đeo túi thổ pẩm trong có đựng bả bối gợi là “Hung xanh”

(ả móng vuốt hỏ, vuốt gấu, châu ngọc hay đơn giản chí lá cúa hỏi môn như

nhẫn, vòng) Lúc nảy, người chủ lễ thay mặt người dân hát lên lời khẩn

thân linh:

Năm hẻi tắt đán, tắt đến tiễn cái cũ âi, cải tốt thì la mang về

Câu cha năm mới làm ăn phát đạt Cải xấu, cái cũ bãu đi xa, đừng bao giờ quay vé nita

Cái mới cho người mới hôm nhiều may mắn

Và nghỉ thức gội đầu chính thức bắt đầu

Trang 39

36

Tễ hội “Kim Pang Then”: là lễ hội tiêu biểu của dân tộc Thái trắng ở Quynh Nhai “Then” 6 day la thay mo được quan niệm là cao tay hon ca; thay

mo được cơi như người của trời được cử xudng tran gian để cứu giúp người

khỏi bị ốm đau, bệnh tật và có khả năng giao tiếp với thần linh ITàng năm, cứ

vào địp đầu năm, thấy mo tổ chức lễ cứng và gặp mặt các cơn midi (đó là những người đã được thây mo chữa cho khỏi bệnh)

Lễ hội “Kin Pang Then” được tổ chức với quy mê lớn, không những các con muôi và người trong bán tham gia, mnả còn nhiều đên làng ở bản khác

cũng đến tham dự Thời gian cứng có thể kéo đài từ 3 đến ⁄1 ngày, tuỳ thuộc

và số lượng cơn nuôi dến với “Then” nhiều hay ít Trong những ngày điển ra

lễ hội, mọi người trong làng bản cùng dâng lễ cảm tạ đất trời và câu xin sang một năm mới mọi điều may mắn vá tết lành đến với bản làng

Cũng như nhiêu lễ hội khác, lẽ hội “Kim Pang Then” gêm có hai phản chỉnh là phần lễ và phản hội Phần lễ với lễi hát Then truyền thống Qua lời

hát, ông Then câu cúng cho dân làng trong bản, trong mường sang một năm

mới có nhiều điều tốt đẹp, cho con người luôn khoé rnạnh, no âm, cầu cho mưa thuận giỏ hoá, cho mùa mảng tươi tốt và cùng với đó là lễ tạ ơn của con

cái đối với cha mẹ

Ngoài ra, “Kim Pang Then” cũng la lễ hội cầu phúc lộc cho gia đình và con châu, là địp để con chau ta on thay trong dip đâu năm mới Phản lễ đơn giãn nhưng mnang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, không có yếu tổ mê tỉn đị doan, mang tính cộng đẳng cao, vn đắn tỉnh đoàn kết trong bản, trong muờng,

Phẩn hội với những lời hát Then, điệu mủa, trỏ chơi dân giau lành

mạnh như Trỏ mưa đã (là trẻ chơi ông Then xin trời cho mưa xuống để cho mùa màng tươi tốt), trỏ cày bừa, hái nắm, mùa khăn, múa tăng bu tăng bằng, mia yong xoẻ đã tạo ra không khi vui tươi phần khới, cuốn hút dân làng

Ngày đăng: 13/06/2025, 16:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w