Xây dụng kha xuất bẫn phẩm diện tử" rù một số nguồn thông tín dựng khác 32 Tràng tâm phối hợp tổ chức các sẵn phẩm và địch vụ tha tiện, thông tin 2.2.1 Công tác biên xuạn tĩuv mục quác g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẦU TẠO BỘ VĂN HOÁ - THONG TIN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN 1IOÁ HÀ NỘI
NGUYÊN MẠNH HIÊM
THU VIEN QUOC GIA VIET NAM
Vl VAI TRO TRUNG TAM CUA HE THONG THU VIEN GONG CONG TRONG GA NƯỚC
Chuyén nganh: Khoa hee thu vién
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THƯ VIỆN
Người hướng dẫn TS LÊ VĂN VIẾT
Trang 2CHƯƠNG!:THUVIỆNQUỐC GIAVIỆT NAM TRONG HE THONG THU VIEN CONG CONG
1.1 Hệ thếng thư viện công cộng
1.1.1 Khái niệm về hệ thống
1.1.2 Hệ thống thư viện công công
1.2 Thư yiện Quốc gia Việt Nam
1.3.1 Vài nết về lịch sử ra đời của Thư viên Quốc gia Việt Nam
1.3.2 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện Quốc gia Việt Nam
1.2.3 Cơ cấu tổ chức của Thư viện Quốc gia Việt Nam
4.3 Vai rò rung tâm của Thư viện Quốc gia Việt Nam trong hệ théng
thư viện công cộng
1.3.1 Khái niệm Trung wong vé Trung tém trong vai trò của Thư
viện Quốc gia Việt Nam
1.3.2 Các vai trò trưng tâm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
CHƯƠNG 2 : HIỆN TRẠNG THỤC HIỆN VAI TRÒ TRƯNG TÂM CỦA THƯ VIÊN
QUỐC: GIÁ VIỆT NAM
3.1 Trung tâm thụ thập và tàng trữ xuất bản phẩm đân tộc, tài liệu về
Việt Nam của các tác giá trong và ngoài nước:
2.1.1 Xây dựng kho tài liệu của Việt Nam và về Viet Nam
16 1#
Trang 32.1.2 Xây dựng kho tài liên không phải là ẩn phẩm
2.1.3 Xây dựng kho tài liệu luận án của Việt Nam
2/124 Xây dụng kha xuất bẫn phẩm diện tử" rù một số nguồn thông tín dựng
khác
32 Tràng tâm phối hợp tổ chức các sẵn phẩm và địch vụ tha tiện, thông tin
2.2.1 Công tác biên xuạn tĩuv mục quác gia và các thư mục chu yên ĐỂ
2.2.2 Cảng tác biên soạn Tổng thư mục Việt Nam:
3.2.3 Câng tác biên nhục tập trung
2.2.4 Trung tim hé trợ liền kết phục vụ bạn đọc trong và ngoài hệ thống:
2.3 Trung tâm nghiên cứu và hướng dẫn nghiệp vự
2.3.1 Trung tâm nghiên cứu về thư viện học, thư mục hoc
2.3.3 Trưng tâm hướng đẫn nghiệp vụ
CHƯƠNG 3 : NHŨNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO VAI TRO
TRUNG TAM CUA THU VIEN QUOC GIA VIET NAM
3.1 Tăng cường các văn bản pháp quy
3.2 Tăng cường cơ sở vậi chất trang thiết bị
3.3 Tăng cường việc ứng dung công nghệ thông tín trong việc thực
hiện các vai trò trung tâm của Thư viện Quốc gia Việt Nai
3⁄4 Tăng cường sự phối hợp haại động giữa Thư viện Quốc gia Việt
ANam với các thư riên trong hệ thống thư viên công cúng
4
47
53
37 5?
112
Trang 43.6 Tăng cường kinh phí hoạt động
37 Kiện toàn tổ chúc, tăng cường số lượng và nâng cao trình độ
chuyên môn của đội ngũ cán bó
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
416
418
121
Trang 5MỞ ĐẦU
1 TINH CAP THIET CUA DE TAL
Thư việu Quốc gia Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển gần
Quoc gia Việt Nam đã có những đồng góp quan trọng trong sự nghiệp thư viện nối riêng,
một thế ký Trải qua gan 90 nam xây dựng và phát triển, Thư vi
và trong phát triển kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội của đất nước nói chung
Thur viện Quốc gia Việt Nam luôn phấn đấu trở thành thu viện trưng lâm của
hệ thống thư viện công cộng, là tấm gương sáng cho tất cả các thư viện trong
cả nước noi theo Đặc biệt, Thư viện được Nhà nước giao trọng trách thu thập,
giữ gìn di sản thư tịch dân tộc và có nhiệm vụ quan trọng trong việc đưa vốu
tai liệu thu thập được phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước cũng,
như việc học tập nâng cao trình độ của từng công đân
Vị trí và vai trò của Thư viện Quốc gia Việt Nam đã được khẳng định
trong Pháp lệnh Thư viện do Uy ban Thường vụ Quốc hội khoá TX nước Cộng,
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/12/2000 và Nghị định
72/2002/NĐ-CP ngày 06/08/2002 của Chính phủ quy định Thư viên Quốc gia
ngày 9/10/1976 vỗ “Chức nảng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thư việ
Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghia Việt Nam, đồng thời là thư viện trọng điểm của hệ thống thư viện thuộc Bộ Văn hóa”
Mặc dù đã thực hiện chức năng thư viện Trung ương trong hàng chục năm nhưng sau khi Pháp lệnh Thư viện và Nghị định 72 có hiệu lực thi hành, Thư viện Quốc gia Việt Nam: vẫn gập nhiều lúng túng trong việc triển khai
ng việc Sự việ phức tạp hơu khi côu muội số ý kiến khác nhau về vấn
để này trong đó có cả những ý kiến không đồng nhất về vai trò trưng tâm của
Trang 6lý giải một cách thấu đáo vai trò “Trung ương” hay “trung tâm” của Thư viện
Quốc gia Việt Nam đối với hệ thống thư viện công cộng trong cả nước Là cán
bộ làm việc tại Phòng Nghiên cứu khoa học Thư viện Quốc gia Việt Nam,
nhận thức dược tầm quan trọng về vị trí và vai trò của Thư viện Quốc gia Việt
Nam đối với hệ thống thư viện công cộng trong cả nước, tác giả mạnh đạn chọn vấn đề “†ñw viện Quốc gia Việt Nam với vai trò trung tầm của hệ thống thư viện công công trong cả nước ” làm đẻ tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chưyên ngành Thông tin — Thư viện cia minh
2 BỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Việc thực hiện vai trò trung tàm của Thư viện
Quốc gia Việt Nam đối với hệ thống thư viện công cộng từ năm 1976 - nay
3 MỤC DICH VA NHIEM VU CỦA LUẬN VĂN
Mục đích: Nghiên cứu vị trí thư viện trung tâm của Thư viện Quốc gia
Việt Nam, xác định phương hướng và để xuất những giải pháp tăng cường vị trí và vai trò của Thư viện Quốc gia Việt Nam đối với hệ thống thư viện công,
cộng trên cả nước
Nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cửu cơ sở lý luận về vai trò thư viện trung tâm
- Xác định nhu cầu cần thiết thực hiện vai trò thư viện trung tâm
- Khảo sát và phân tích, đánh gla việc thực hiện vai trò thư viện trung
tam của Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Dễ xuất phương hướng và các giải pháp để năng cao hơn niïa vai trò và
vị tí của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 74 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGITIÊN CỨU
Vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử; dựa trên các quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước về phát triển văn hóa, thư viện để lý giải tầm quan trọng của vai trò thư
viện trung tam trong tiến trình phát triển của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu:
- Phuong pháp phân tích - tổng hợp tài liệu
- Phương pháp thống kê, so sánh, điều tra và khảo sất
- Lý giải sự cẩn thiết phải tang cường vai trồ và vị trí của Thư viện Quốc gia Việt Nam đối với hệ thống thư viện công cộng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò và vị thế của Thư viện
Quốc gia Việt Nam
6 BO CUC CUA LUAN VAN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục các tài liệu tham
khảo, phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Trang 8CHUGNG 2:
HEN TRANG THC HN VAL TRO TRUNG TÂM CỦA THU VIÊN QUỐC GIÁ VIỆT
NAM
CHUGNG 3:
NatNG GIAL PHAP TANG CƯỜNG VẢ NÂNG CAO VAI TRO TRUNG TAM cts
'THỦ VIỆN QUỐC GIÁ VIỆT NAM
Trang 9CHƯƠNG 1 THỰ VIỆN QUỐC GIÁ VIỆT NAM TRONG IIỆ
TIONG TOU VIEN CONG CỘNG
1.1 Hệ thống thư viện cong cộng
1.1.1 Khái niệm về hè thông
Quan điểm hệ thống xem xét sự vật trong sự thống nhất của toàn thể và
trong các mối liên hệ lương lác của các yến tố lạo thành từ lâu đã được khẳng định 14 cách tiếp cận khoa học Dạc biệt, chỉ trong mấy thập kỷ gần đây, với
sự phát triển mạnh mẽ của toán học, điều khiển học, công nghệ thông tin
quan diểm dó mới dược tiếp thêm sức mạnh đầy tính thuyết phục và được phát
triển thành khoa học hệ thống hiện đại Khi nghiên cứn mệt vấn đề quần lý, từ việc nghiên cứu chiến lược kinh tể — xã hội cho đến giải quyết một bài toán cụ
thể, quan diểm hệ thống giúp ta nhìn nhận vấn để một cách chính xác và khoa
cách nhìn thực tế phức tạp, xem sự vật như một tổng thể bao gồm nhiều phần
tử như người, phương tiện, phương pháp Giữa các phần tử có ràng buộc lân
nhau [19, tr 5]
TÌ thống là tập hợp các yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng
có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chế làm thành một thể thống nhất [29,
tr 9]
T thống còn là tập hợp những tư tưởng, những nguyễn tắc, quy tắc liên
kết với nhau một cách logic làm thành một thể thống nhất [29, tr 9]
Ví dụ: Hệ thống tư tưởng chính trị, hệ thống ngân hàng, hệ thống đường
giao thông, hệ thống sông ngồi
Trang 10Nhu vậy, hệ thống là một tập hợp những yếu 1ố, những bộ phận có mối
liên hệ qua lại với nhau, tác động lần nhau và tạo thành một chỉnh thể thống
nhất
Theo quan diém triết học thì kh:
từ thời cổ đại Arixtốt đã khẳng định rằng toàn thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó Phái Xtôia thì giải thích hệ thống như là một trật tự thế giới Những tư
1 Mỗi hệ thống gắn liên với một hệ thống tổ chức nhất định Tĩnh tổ
chức ấy thể hiện ở cấu trúc thứ bậc, đặc trưng cho kết cấu hình thức và phương, thức hoạt động của hệ thống Mỗi hệ thống gồm nhiều phân hệ, nhiều hệ con,
nhiều yếu tố hợp thành Mỗi phân hệ, mỗi hệ con, mỗi yếu tố ấy vừa là một
yếu tố của hệ thống cao hơn, vừa là một hệ thống của những yếu tố thấp hơn
2 Do kết quả tác động qua lại giữa các mật, Eu 16 18
tính cách là một chỉnh thể có những thuộc tính mới, chất lượng mới, những cái
hệ Hưống với
yon không có ở yếu tố và các bộ phận hợp thành hệ thống, Vì lẽ đó, người ta
nói rằng chỉnh thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó.
Trang 113 Các hệ thống hữu sinh, kỹ thuật và xã hội có khả nâng tự điều chỉnh trên cơ sở thu thập, tàng trữ, chế biến và xử lý thông tin nhằm đạt đến mục
Theo quan điểm của các nhà thư viện học thì: ITệ thống là một tập hợp
các phần tử có mới quan hệ qua lại và phụ thuộc, dược tổ chức, sắp xếp theo
một trật tự nhất định tạo thành ruột chỉnh thể thống nhất
Cấu trúc là mặt bất biến của hệ thống, là hình thức tổ chức của hệ thống Các phần tử hợp thành được sắp xếp, tổ chức theo cách nào thì lao ra một hệ thống lương ứng theo cách ấy Oich sắp xếp, sự tác động qua lại
các yếu tố cấu thành tạo ra cho hệ thống những thuộc tính mới không thể có ở
mỗi phần tử nếu nó tên tại biệt lập được gọi là “tính chỏi” 16]
HỆ thống và cấu trúc có quan hệ mật thiết với nhau và là hai mặt của
thực tại Trong nghiên cứu khoa học thư viện phải vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống — cấu trúc, nghĩa là phải xem xét các sự vật và hiện tượng với ti
cách là một bộ phận cấu thành của một hệ thống nhất định, déng thời bản thân
nó là một tiểu hệ thống v ; phần tử 6 quan hd Unit bac, vita
có mối quan hệ tương hỗ với nhau Chẳng hạn, hệ thống thư viện công cộng,
có mổi quan hệ thứ bậc trên là Vụ Thư viện, Thư viện Quốc gia dưới là thư
viện tỉnh, thành phố, thư viện cấp quận h
m, thư viện 1ủ sắch xã phường,
trong đồ chúng cũng có mối quan hệ tương hỗ với nhau
Các phần tử trong hệ thống được hiểu là các thành phần hợp thành của
nó và được hiểu theo nghĩa rất rộng;
- Các phần tử có thể rất đa đạng, chẳng hạn trong hệ thần kinh thì các
phan tử là bộ óc, dây thần kinh, tuỷ sống
Trang 12Một hệ thống dược hiểu là một tập hợp các phần tử có quan hệ với
nhau, hay nỏi cách khác là giữa chúng phải có những rang buộc để tạo thành
Trong các quan hệ đang tỏn tại chúng ta đặc biệt quan tâm đến các
quan hệ ổn định và tỏn tại lân dài chứ khòng quan tâm đến các quan hệ có tính
chất tạm thời Khi nói đến ổn định, không nhát thiết phải hiểu là bất biến; trên thực tế hầu hết các hệ thống đều có tính biển động nhưng chúng vẫn giữ sự ổn
định trong tổ chức, trong quan hệ giữa các phần tử, diều này có nghĩa là bản
chất của hệ tống là không thay đổi
Sự biến động của hệ thống thể hiện trên hai mật:
- Sự tiến triển, tức là các thành phản của nó có thể phát sinh, có tăng trưởng, có suy thoái, có đào thải
- Sự hoạt động, có nghĩa là các phần tử của hệ thống trong những mối quan hệ ràng buộc cùng cộng tác với nhau để thực hiện mục tiều chung nào
đó
Quá trình hoạt động cúa hệ thống là quá trình biển đổi cái vào fhành cái
ra Chẳng hạn hệ thống thư viện công cộng đầu tư trang thiết bị, tài liệu, xử Lý chúng để tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu học tập nghiên cứu của bạn đọc Một hệ thống có thể bao gớm nhiều bộ phận, thành phẩn mà ta thường gái là hệ thống con Mỗi một hệ tướng con đảm nhận auột số tắc vụ riêng biệt
Trang 13Giới hạn: là chu vi hay đường ranh giới giữa một hệ thống và môi
trường bên ngoài Nó cách biệt giữa các phần tử tạo nên hệ thống và thế giới
bên ngoài
Dầu vào: của hệ thống là các đối tượng từ bên ngoài tham gia vào hệ
thống Hệ thống tác động lên chúng, biến đối chúng tạo thành các kết quả đầu
ra Không có dầu vào, hệ thống không thế có được kết quả đầu ra
Thanh phần xử lý: của một hệ thống có chức năng biến đổi từ các đối
tượng đầu vào thành kết quả đầu ra
Đầu ra: là các sản phẩm, là kết quả của quá trình xử lý
im những con đường, những phương pháp và những, phương,
tiện nghiên cứu khách thể với tính cách là một hệ thống đã dẫn tới chỗ hình thành một phương pháp mới _ Phương pháp phân tích hệ thống
Việc áp đụng rộng rãi phương pháp này đã mang lại những hiệu quả
tích cực trong thực tiền cũng như trong nghiên cứu khoa học
1.1.2 Hệ thống thư viện công cộng
ön xây dựng một mang lưới thư viện và cơ
Ổ mỗi quốc gia người ta
quan thong tin rộng khắp toàn quốc Trong mựng lưới đó, các hệ thống thông
tìn — thư viện được hình thành và hoại động vừa có tính độc lấp nhất định, vừa
có sự đan xen với nhau Các thư viện và cơ quan thông tin chính là những mắt xích trong các hệ thống này
Ở Việt Nam, các thư viện được hình thành từ hơn một nghìn năm nay
và đá phát triển với nhiều loại hình phong phú Ñgày nay, chúng ta đã có một mạng lưới các thư viện và cơ quan thông tin rộng khắp từ trung ương đến tỉnh,
g
Một trong những hệ thống thư viện chính yếu của Việt Nam, đó là hệ
thành phố, quận, huyện, ở sở cũng như ở tất ảnh nghề khác nhau
thống thư viên công cộng Hệ thống thư viện công cộng là hệ thống thư viện
có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp thư viên Việt Nam, là hệ thống thư viện “xương sống”, được tổ chức theo nguyên tắc hành chính - lãnh thổ, Hệ
Trang 14viện, phòng dọc sách cấp xã, phường, thôn, bản Hệ thống thư viện này trực
thuộc sự quần lý Nhà nước của Bộ Văn hóa — Thông tin, cơ quan được giao
nhiệm vụ quản lý trực tiếp là Vụ Thư viện Cách tiếp cận hệ thống không chỉ
cầu thiết dễ xác định vai trò của mỗi một thư viên nằm trong hệ thống, mà còn
để nghiên cứu các khâu riêng biệt trong công tác thư viện của một thư viện
trong hệ thống TIệ thống thư viện công cộng Việt Nam bao gồm nhiều mắt
xích khác nhau và có mối liên hệ chặt chế với nhau, quan hệ với nhau theo
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện do Uỷ bạn nhân dân các cấp thành lập
lưu các mối quan hệ giữa các
Mắt xích thứ hai, thư viện tỉnh, thành phố được hình thành và phát triển theo nguyễn tắc phân chia lãnh thổ hành chính Thư viện tỉnh, thành phố ở
ệ thống thự viện trong nước và quan hệ quốc
Hước,
a xuất hiện sau khi cuộc khẳng chiếu chống thực đân Pháp thành công
và sau nam 1955 bat đầu phát triển nhanh chóng về mật số lượng Trong giai đoạn từ nâm 1955 đến năm 1970, các thư việu tỉnh chủ yếu là thư viện phổ thông, Sau khi có quyết dịnh số 178/ CP ngày 16/9/1970 của Hội đồng Chính phú * Về công tác thư viện”, iừ nãm 1971 đến nay các thư viện tỉnh đang trên
đường chuyển hoá từ thư viện phổ thông lêu thư viện khoa học tổng hợp với
Trang 15mức độ khác nhau tuỳ theo dac điểm của từng tính Từ nam 1990 đến nay, phần lớn các thư viện tỉnh đang ở giai đoạn củng cố là thư viện khoa học tống,
hợp kiêm phổ thông, chú trọng nhiệm vụ phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa
học, học tap, sẵn xuất đồng thời vẫn phục vụ nhu cầu đọc phổ thông của cần
bộ, nhân dân trong tỉnh; một số thư viện đang ở giai đoạn hoàn thiện là thư viện khoa học tổng hợp dồng thời cũng có những thư viện đã thật sự trở thành thư viện khoa học tổng hợp đứng nghĩa của nó Tính đến năm 2006, ở Việt
am có 64 hư viện tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Trong những năm
gần đãy, nhờ các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước, đạc biệt là
thực hiện Nghị quyết V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI về
“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dan
tộc” các thư viện tỉnh ngày càng phát triển cả bẻ rộng lẫn chiều sâu
Nhữn chúng, các thư viện tỉnh, thành phố ở Việt Nam với mức độ khác: nhau, trong những điều kiện khác nhau đang cố gắng phát huy sức mạnh kho tàng sách báo để phục vụ tốt nhu cầu nâng cao trình độ dân trí, góp phản thực
biện nhiệm vụ xây dựng nến văn hóa Việt Nam tiên tiến, dam da ban sac dân
tộc, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các địa phương Giếng như TVQG, thư viện tỉnh, thành phố cũng thực hiện một số chức năng
như chức năng tàng trữ, luân chuyển sách báo, chức năng dịa chí, chức nâng
độ nhận lun chiểu văn hóa phẩm, bổ sung qua các cơ quan phát hành, các nhà
xuất bẩn, các nhà sách, trao đổi, biếu tặng, thu thập trong nhân dân Thông,
Trang 16thư viện tỉnh, thành có khoảng 1 10.000 bản sách
Tà thư viện công công nhã nước lớn nhất ở địa phương, thư viện tỉnh là trung tâm luân chuyển sách báo phục vụ yêu cẩu của nhiều nhóm người đọc
khác nhau Tuỳ thco hoàn cảnh vé cơ sở vật chất, trang thiết bị, vốn tài liệu mà
các thư viện tỉnh chọn cho mình các phương thức phục vụ Bên cạnh đó, các
thư viện tỉnh cũng đầy mạnh công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo, tổ
chức diểm sách, thi dọc sách, xãy dựng và chỉ đạo phong trào dọc sách báo ở
tỉnh
cơ sở, Nguài ra, thự vị cồn Ihod man ntu edu luận chuyển sách báo
rộng rãi trong phạm vi tỉnh bằng chế độ cho mượn sách giữa các thư viện, tổ
chức kho lưu động để luân chuyển sách cho các †hư viện cơ sở Hình quan mỗi thư viện tỉnh, thành phố có khoảng hơn 2.000 bạn đọc
Công tác địa chí là công tác đặc thù và rất quan trọng đối với thư viện tỉnh, thành phố Các thư viện tỉnh đang cố gắng đấy mạnh cỏng tác này để thư
viện tỉnh trở thành trung tâm thông tin vẻ địa phương của tỉnh Nhằm thực
hiên tốt nhiệm vụ này các thư viện tiến hành sưu tầm tất cả các tài liệu, những
ấn phẩm vẻ địa phương nhằm phục vụ việc nghiên cứu toàn diện các vấn để về
địa phương như tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế, đời sống văn hóa -
xã hội, lịch sử địa phương Nhiệm vụ của bơại động này là sưa tẩm, tầng trữ, bão quản tài liện địa chí, biên soạn thư mục, giới thiệu, khai thác nguồn tài liệu địa chí
Một trong, những chức năng rất quan trọng của thư viện lĩnh, thành phố
đó là trung tâm nghiên cứu khoa học về thông tin - thư viện và tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ trong, phạm vi tỉnh Trong những năm qua, hoạt động nghiên
cứu khoa học ở các thư viện tỉnh còn yếu, mang tính tự phát, không có cán bộ
chuyên trách Hướng nghiên cứu tập trung chủ yếu vào vấn đề 16 chức kho
sách, diện bổ sung, cũng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của thư việu cơ
Trang 17sở Trong thời gian téi, các thư viên tập trung hướng nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ thông tin để điều hành quản lý người đọc, người mượn, bổ sung tài liệu, tạo dựng CSDL và phát triển dịch vụ thông tin, thư viện Bên cạnh việc nghiên cứu khoa học, các thư viện tỉnh chịu trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ
cho các thư viện quận, huyện, thị và thông qua các thư viện này tác động đến
thư viện phường, xã, xây dựng phong trào dọc sách báo rộng rãi trong phạm vỉ
toàn tỉnh Nhiều thư viện tĩnh cần tổ chức bổ sung, xử lý ký thuật tập trung,
phân phối hỗ trợ sách cho thư viện cơ số, hướng đẫn nghiệp vụ, tham gia cong
tác đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ cho cán bộ thư viện tại dia phương,
số lượng và chất lượng Chỉ riêng về CNTT, hiện nay bình quân mỗi thư viện
tỉnh, thành có 10 máy tính, nhiều thư viện tỉnh đã xây dựng mạng LAN, nối
mạng Internet để phục vụ bạn đọc Một số thư viện tỉnh, thành đang xây dựng thư viện điện tử &hư viện số
Mất xích thứ ba, thư viên quận, huyện xuất hiện ở nước ta từ năm 1961
là mắt xích quan trọng trong hệ thống thư viện công cộng, là cấp tổ chức và
Xây dựng kho sách báo, tài liệu có tính chất tổng hợp phù hợp với trình
độ và yêu cầu của bạn đọc cũng như đặc điểm, yêu cầu kinh tế của địa phương
Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giới thiện sách báo để thu hút bạn
đọc, tổ chức và hướng dẫn việc đọc; mở rộng việc luân chuyển tài liệu, xây
dựng thư viện, phòng dọc sách báo ở cơ sở
Giúp đỡ nghiệp vụ cho cán bộ tại thư viện và phòng dọc sách Ở cơ sở
Trang 18tỷ lệ thấp, một số thư viện được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất khang trang,
hàng năm được cấp một lượng kinh phí đầng kể để hoạt động Bên cạnh đó,
phần lớn các thư viện quận, huyện gặp nhiều khó khăn trong hoạt động do
kinh phí đầu tư thấp, việc cấp ngân sách hoạt động còn tuỳ tiện, thiếu thống nhất; vến sách báo, trang thiết bị, trụ sở hoạt động ở trong tình trạng thiếu
thốn, đội ngũ cán bộ yếu về trình độ chuyên môn, thiếu về số lượng, hình thức
hoạt động đơn diệu Cá biệt có những thư viện không được cấp kinh phí để
quan tâm đầu tư từ các cấp, các ngành chức năng, trong đồ vai trò của Vụ Thư
viện và TVQGVN rất quan trọng Hơn nữa, đội ngĩ cần bộ thư viện tại các thư viện này phải có sự năng động, tìm ra những hướng đi thích hợp trong điều
kiện hiện nay
Mất xích thứ tư, thư viện phường, xả có vị trí cực kỳ quan trong trong
việc chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
tìm hiểu những kiến thức vẻ văn hóa xñ hội, kiến thức về kinh
công nghệ mới vào sản xuất và đời sống Ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều mô
hình thư viện cấp xã, phường khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm phát triển
văn la, khoa học của các địa phương Hiện nay, trong phong trào toàn dân toàn kết xây dựng đời sống văn hóa thì thư viện 1A một thiếi chế văn hóa bắt buộc phải có trong xây dựng làng văn hóa [25] Đến tháng 12/2005, nước ta có 9.560 Thư viện xã, tủ sách bản, lăng, Ihôn Ngoài ra, cồn có hơn 8.000 điểm bưu điện - văn hóa xã; pần 10.000 tủ sách pháp luật xã
Trang 19TIÊ THỐNG THƯ VIÊN CÔNG CÔNG
Thự viện Thư viện
Thư viện Thư viện quận huyện | ; | quận huyện
quận, huyện quận, huyện
"Thu viện "Thư viện Thư viện Thư viện ọ fh
Các thư việu tỉnh, thành phố, thư viện cấp quận, huyện, thị xã và cơ sở
chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân các cấp tương ứng Kinh phí
hoạt động thường xuyên sẽ do nguồn ngân sách của tỉnh cấp Vụ Thư viện và 'Thư viện Quốc gia Việt Nam sẽ chỉ đạo vẻ những định hướng phát triển chung,
Trang 20hệ thống thư viện công công như tài trợ sách cho thư viện cơ số; xây dựng kho
tài liệu luân chuyển tại thư viện tỉnh; tổ chức đào tạo cán bộ; tin học hóa
TVCC
1.2 Thư viện Quốc gia Việt Nam
1.2.1 Vài nét về lịch sử ra đời của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện trung tám cúa cả
nước, đồng thời là thư viện khoa học tổng hợp lớn nhất nước, thư viện đứng
dấu hệ thống thư viện công cộng thuộc Bộ Văn hoá - Thông tỉn
Tiền thân của TVQGVN là Thư viện Trung tương Dông Dương thuộc
Nha Tam trứ và Thư viện Đông Dương, được thành lập theo Nghị định ngày 29
— 11 — 1917 của Toàn quyền Pháp San một thời gian chuẩn bị, ngày 01 — 09 —
1919 Thư việu chính thức mỡ cửa phục vụ bạn đọc Trải qua gần 9Ũ năm xảy
dựng và trưởng thành, Thư viện đã nhiều lần thay đổi tên gọi khác nhau Khi mới thành lập thư viện có tên là Thư viện Trung ương Lông Duong, dén năm
1935 Thư viện được đổi tên thành Thư viện Pierre Pasquier — lêu của toần
quyền Dêng Dương đã có một số đóng góp cho Thr vien
Năm 1945, sau khí Cách mạng tháng [ám thành công, Chính phủ Lam thời Việt Nam I2ân chủ cộng hoà ra quyết dịnh đổi tên Thư viện Piene Pasquier thành Quốc gia Thư viện Khi thực đân Pháp chiếm lại Hà Nội (tháng,
2 năm 1947), Theo Nghị định ngày 25 — 7 — 1947 của Phũ Cao uỷ Pháp tại Sài
Gòn, Nha Lưu trữ và Thư viện Đòng Dương dược tái lập nhưng, đặt trụ sở tại
Sài Gòn, có nhiệm vụ điều khiển Thư viện Trung ương ở Hà Nội Như vậy từ năm 19⁄17, Thư viện mang tên Thư viện Trung ương ở ITà Nội và trực thuộc Phủ Cao uỷ Pháp tại Sài Gon Theo [ép nghị Việt _ Pháp ngày 9 tháng 7 năm
1953, Thư viện Trung ương Hà Nội được sấp nhập vào Việu Đại học Hà Nội, đổi tên thành Tổng Thư viện Tà Nội và trở thành cơ quan văn hóa hén hợp
Pháp Việt
Trang 21m1
Sau Khi hộ bình lập lại ở miền Bắc nam 1954, ngày 29 tháng 6 nam
1957 Tha tướng Chính phủ Việt Nam cho phép đối tên Thư viện thành Thư
viện Quốc gia Việt Nam và được giữ nguyên cho tới ngày nay
1.2.2 Chức nang và nhiệm vụ của Thư viện Quốc gia Viet Nam
Trong Pháp lệnh Thư viện được Lý ban Thường vụ Quốc hội khố X
thơng qua ngày 28/12/2000 cĩ quy định vẻ Thư viện Quốc gia Việt Nam như Sau:
1 Thư viên Quốc gia Việt Nam là Thư viện trưng tâm của cả nước
2 Ngồi những nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại điều 13 và 14 của
Pháp lệnh này, TVQGVN cịn cĩ những nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Khai thác các nguồn tài liệu trơng nước và ngồi nước để đáp ứng nhu cẩu người đọc;
- Thu thập các xuất bản phẩm lưu chiếu trong nước theo quy định; xảy
dựng, bảo quần lần đầi kho tàng xuất bản phẩm đân lộc; biên soạn, xuất bản
Thư mục Quốc gia và Tổng Thư mục Việt Nam;
- Tổ chức phục vụ các đối tượng người đọc theo quy chế của thư viện;
- Hợp tác, trao đổi tài liệu với các thư viện trong nước và nước ngồi;
- Nghiên cứu khoa học và cơng nghệ trong lĩnh vực thơng tin — thư viện;
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên mơn, nghiệp vụ cho người làm cơng tác thư
viện, hướng dẫn nghiệp vụ thư viện theo sự phan cơng của Bộ Văn hố -
Thơng tin
Theo Quyết định số 81/2004/QÐ - BVITTT, ngày 24/08/2004 của Bộ
trưởng Bộ Văn hĩa Thơng tia quy định chức nang, nhiệm vụ, quyển hạn và
cơ cấu tổ chức của TVQGVN như sau:
Điều 1 Vị trí và chức năng:
Thr viện Quốc gia Việt Nam là đơm vị sự nghiệp cĩ thu trực thuộc Bộ
Văn hố - Thơng tỉn cĩ chức năng giữ gìn di sản thư tịch của dãn tộc, thu thập,
tăng trữ, khai thác vã sử dụng chung vốn tai liệu trong xã hội
Trang 22Thư viện Quốc gia Việt Nam có tư cách pháp nhân, có con dấu và được m6 tai khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân bàng
Điều 2 Nhiệm vụ và quyên h
1 Trình Bộ trưởng quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt dộng dài hạn, bàng năm của Thư viện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;
2 ‘6 chite phuc vụ, tạo điều kiện cho người đọc sử dụng vốn tài
của thư viện theo quy dịnh và tham gia các hoạt động đo thư viện tổ chức;
3 Xây dựng, báo quản lâu dài vốn tài liệu cúa đân tộc và tài liệu của nước ngoài viết về Việt Nam;
4 Thu nhận theo chế độ lưu chiểu các xuất bản phẩm, luận án tiến sĩ
của công dâu Việt Nam bảo vệ ở trong nước và nước ngoài, của công dâu nước:
ngoài bảo vệ tại Việt Nam;
3 Xử lý thông tin, biên soạn xuất bản Thư mục Quốc gia và ấn phẩm
thông tìn về văn hóa nghệ thui; tổ chức biên soạn Tổng Thư mục Việt Nam;
6 Hợp tác, trao đổi tài liệu với thư viện trơng nước và nước ngoài theo
quy định của pháp luật,
1 Nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khơa học công nghệ vào hoạt
động hư viện;
8 [Tướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các thư viện trong cä nước
thco sự phân công của Bộ Văn hoá - Thông tỉn hoặc yêu cầu của địa phương,
đơn vị;
9 Thực hiện hợp tác quốc tế theo kế hoạch của Bộ Văn hoá - Thông tin
và quy định của pháp luật,
10 Tam trữ các tài liệu có nội dung lại khoản Ï Điền 5 Pháp lệnh Thư
viện và phục vụ cho người đọc theo quy định của Chính phủ;
11 Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động dịch vụ, thu phí
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; quản lý và sử dụng theo quy định
của pháp luật;
Trang 2323
12, Dam bao kỷ luật, kỷ cương theo nội quy làm việc của Thư viện:
đâm bảo an toàn, an ninh cânh quan môi trường và khu vực do Thư viện quản
lý;
13 Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, hồ sơ tãi liệu; thực hiện chính
sách, chế độ đối với cán bộ, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản
lý theo quy dịnh của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ trưởng;
1⁄4, Quản lý, sử đụng tài chính, tài sản được giao và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật;
15 Thực hiện các nhiệm vụ khác được Bộ trưởng giao
1.2.3 Cư cấu tử chức của Thư viện Quốc gia Viel Nam
Theo Quyết định 81/QĐ - BVHTT ngày 24/8/2004 của Bộ Văn hoá -
“Thông tin, bộ máy tổ chức của Thư viện Quốc gia Việt Nam gồm:
- Vẻ lãnh đạo: Giám đốc và các Phó Giám đốc đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Văn hoá - Thông tin
- Về tư vấn khoa học: có Hội đồng khoa học
Mô hình tổ chức của TVQGVN gồm các phòng:
- Phòng Lưu chiếu;
- Phòng Bồ sung và trao đổi tài liệu quốc tế;
- Phòng Phân loại biên mục;
- Phòng Đọc tổng hợp;
- Phòng Báo — tap ch
- Phòng Thông tin tư liệu;
- Phòng Nghiên cứu khoa học;
Trang 24- Tạp chí Thư viện Việt Nam
Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam quy định nhiệm vụ cụ thể của các phòng chuyên môn, nghiệp vụ; bế trí cán bộ, viêu chức và người lao động,
theo cơ cấu chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ; xây dựng quy chế tổ chức và
hoạt động của Thư viện Quốc gia Việt Nam trình Bộ trưởng phê duyệt
Hiện tại với đội ngũ viên chức và người lao động là 187 người, Thư viện Quốc gia Việt Nara đang từng bước khẳng định vị trí của mình, góp phần đưa vào thực tiễn cuộc sống Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lan thứ 4 (khoá VI
tầm cỡ, đấp ứng nh cẩu phát triển trí tuệ của nhàn đân, yếi
“Xây dựng Thư viện Quốc gia có
cầu ngh
khoa học và văn hóa, văn nghệ”
Yai tro trung tam của Thư viện Quốc gia Việt Nam trong hệ
thống thư viện công cộng
Khái niệm “trung ương” và “trung tản” trong vai trò của
Thư viện Quốc gia
Đối với từ nước ngoài đây là hai nghĩa của thuật ngữ "Central", Central
Anh - Việt do Tê Khả Kế và một nhóm giáo viên biên soạn thủ
"Central” có nghĩa là ở giữa, trung tâm, trung ương 2) chính, chủ yếu, quan trọng nhất Nhưng trong tiếng Việt, dây là hai khái niệm có những nét tương đồng nhưng không giống nhau Trung ương: theo từ điển tiếng Việt thì trưng, ương thuộc bộ phận chính, quan trọng nhất, có tác dụng chỉ phối các bộ phận xung quanh có liên quan Ví dụ như: Thần kinh trung ương, máy phát diện
trung ương, Thuộc cấp lãnh đạo cao nhất, chung cho cả nước Ví dụ như
Chính phủ trung ương, uỷ ban trung ương, cơ quan trung ương Thuộc quyển
quản lý của các cơ quan trung ương Ví dụ: xí nghiệp trung ương, phát triển
công nghiệp Irung ương và công nghiệp dịa phương.
Trang 2525
Trung tam: Nam ở giữa của một vùng nào đó Ví dụ: Trung tam cúa
thành phố, khu trung tâm Nơi tập trung những hoạt động trong linh vực nào
đó, có ảnh hưởng lớn đối với những nơi khác Ví dụ: Thủ đô là trung tàm
chính trị, vân hóa của cả nước, trung tảm công nghiệp Cơ quan phối hợp
linh vực nào đó Ví dụ:
những hoạt động nghiên cứu hoặc dịch vụ trong
Trung tâm nghiên cứu bệnh ung thư, trung tâm giới thiệu việc làm cho thanh niên Quan trọng nhất, có tác đụng quyết định, chỉ phổi đốt với những cái
khác Nhiệm vụ trung tâm, công tác trung tâm [20]
Khái niệm thư viện trung ương hay thư viện trung tâm
Thư viện Trung wong (Cemtral library): Thư viên trung ương là một thư
viện đơn độc, hay thư viện đóng vai trò trung tâm hành chính cho một hệ thống thư viện, nơi thực hiện công tác trị thư tập trung và chứa các bộ sưu tập chinh [1]
Theo tôi, định nghĩa này áp dung cho cả thư viện trung ương lẫn thư
viện trung tâm Như vậy thư viện trung tâm là thư viện thực hiện các nhiệm vụ
quan trọng nhất có tác dụng quyết định, chỉ phối đối với những thư viện khác
Nó có thể là thư viện độc lập hoặc là thư viện chính với các thư viện khác phụ thuộc, các thư viện chỉ nhánh v.v
Ở bất kỳ nước nào, dù đưi hình thức xã hội nào, thì thư viện quốc gia cũng là thư viện đứng đầu trơng màng lưới thư viện, thư viện quốc gia nằm
trong hệ thống thư viện của nhà nước và giữ vị trí then chốt irong toàn bộ sự nghiệp thư viện của nước đó Những thư viện quốc gia dẻu có các chức nâng,
cơ bản khác nhau Chứng ta sẽ tìm hiểu
rác chức năng đó, thông qua TVQG
một số nước trên thế giới
'Trơng khuôn khổ luận văn, chúng tôi xin nêu một số TVQG tiêu biểu
thực hiện vai trò trung tam của mình Ở Liên Xô cũ dó là Thư viện Nhà nước
Tiên Xô mang tên V.I Lênin, đây là một trong những thư viện lớn nhất của
liên Xô (cú) và nó giữ một vị trí chủ chốt trong hệ thống thư viện Xô viết
Trang 26Tháng giêng nấm 1992, Tổng thống Nga B Elsin ký Sác lệnh đổi tên thư viện thành Thư viện Nhà nước Nga và thục hiện quy chế như 'Phư viện Quốc gia Ngay từ khi mới thành lập (1862), Thư viện dã dược nhận ấn phẩm lưu chiểu
Diều này đã đem lại cho nổ có ý nghĩa đối với toàn nước Nga, làm nỏi bật vị
trí của nó đối với các thư viện trong nước Những bộ sưu tập sách tư nhân mà
thư viện đã mua hoặc được biếu tặng đã giữ vai trò quan trọng trong sự hình
thành kho tàng của thư viện, đặc biệt là về sách Thư viện V.I Lénin da trai qua bước đường phát triển điển hình cho tất cä các cơ quan văn hóa, trong thời
kỳ của chính quyễn Xô viết, Thư viện đã phát triển thành một cơ quan văn hóa
- giáo dục và khua lọc có ý nghĩa đối với toàn Tiên Xô để trở thành một
TVQG lớn nhất của đất nước ïTiện tại Thư viện có trên 42 triệu đơn vị tài liệu (con số năm 2000), rất đa dạng vẻ chủng loại và ngôn ngữ, trong đó có nhiều
tài liệu quý hiếm Các tài liệu trong kho của Thư viên gồm trên 24? ngôn ngữ khác nhau, trong đồ có những ngôn ngữ hiện không còn tồn tại Thư viện có
khoảng 540 ngàn bản sách chép tay từ thế kỷ IX đặc biệt quý hiếm, liên quan
đến nhiều nhân vật lịch sử lỗi lạc của nước Nga
Trong quá trình hoạt động của mình, Thư viện đã thể hiện rõ vai trò
trung tâm của mình qua việc thực hiện một số chức năng cơ bản như sau:
- Kho tàng trung ương các ấu phẩm đân tộc Liên Xô Đây là chức năng
do Hội đồng đân uệ trao cho Thư viện V.T, Liên Xô ngày 12 tháng 12 näm
121 Sau này chức năng này luân được nhấn mạnh và được coi là một trong những hoạt động quan trọng bậc nhất Thư viện đã sưu tập được một kho tài liệu dân tộu bao gồm các ấn phẩm được viết bằng nhiều thứ tí g của lầu hết các đân tộc ở Liên Xô, giúp cho Thư viện thực hiện chức nang tàng trữ tất cả những ấn phẩm của đất nước 1 thực hiện chức năng này, tất cả các ấn phẩm
xuất bản đều phải gửi tới Thư viện 3 bản theo chế độ lưu chiếu Một trong ba
bắn được lưu giử tại một kho đặc biệt gọi là kho lưn trứ, tài liệu tại kho này
Trang 277
không phục vụ bạn đọc và được bảo quản để đánh đấu từng bước phát triển của nên khoa học và văn hóa Xô viết
- Thư viện công công trung ương lớn nhất Liên Xó
Dây là thư viên phục vụ cho đông đảo mọi tfng lớp nhân dân, nhưng, nhìn chung nhiệm vụ chủ yếu của thư viện vẫn là sử dụng kho sách độc nhất của mình phục vụ cho sự phát triển của khoa học, văn hóa và kinh tế của đất nước Với kho tài liệu cia minh, thư viện phục vụ trung bình 5.000 lượt người
và 35.000 lượt tài liệu /ugầy Thư viện có trên 20 phòng đọc, việc mượn liên thư viện đã dược tự động hoá với 14.446 đơn vị (năm
- Trung tăm thông tin - hư tre
Thư viện Nhà nước (Liên Xô cũ) giữ một vị trí đặc biệt trong hệ thống
thong tin - thư mục Thư việu rất chú trọng tới việc biên soạn thư mục chuyên
đề và xây dựng mục lục liêu hợp Thư viện cũng được giao nhiệm vụ biên soạn các loại thư mục cho các thư viện đại chúng Như vậy Thư viện đã được đật vào cương vị trung tâm của công tác thư mục
- Trung tâm nghiên cứu - hướng dẫn nghiệp vụ cho các thư viện của cả
nước
Công tác nghiên cứu và hướng dẫn nghiệp vụ cho các thư viện trang cả
nước là nhiệm vụ quan trọng của Thư viện Lênin với vai trò là thư viện trung
tâm, Chính công lắc nghiên cứu hướng dẫn nghiệp vụ đã xắc đỉnh vị trí của thư viện trang hệ thống thư viện Xô Viết và tác động tích cực tối quá trình phát triển của sự nghiệp thư viện trong nước Qua quá trình hoạt động của
mình, Thư
lệu đã Lrở thành trung: Lâm nghiệp vụ Trong toàn Tiên lsang,
- Cơ quan nghiên cứu khoa học đầu não về các vấn đẻ thư viện học, thư
mục học và lịch sử sách
Lịch sử phát triển của Thư viện Lênin da khẳng dịnh, việc trao cho
những thư viện trung tâm chức năng nghiền cứu khoa học là hoàn toàn đúng
đắn Vì làm như vậy sẽ đúc kết những kinh nghiệm và thu hút nhiều tập thể
Trang 28tham gia công tác nghiên cửu khoa học và những kết quả nghiên cứu nhanh chóng được áp dụng vào thực tế và làm phong phú thêm cho công tác chỉ đạo nghiệp vụ thư viện Những năm sau này, thư viện được giao trách nhiệm phổi hợp và hợp tác hoạt động nghiên cứu khoa học với các thư viện lớn và các trường đại học
Thư viện Quốc gia Trung Quéc
Cũng như các TVQG các nước khác, TVQG Trung Quốc là một thư
viên khoa học tổng hợp, là trung tâm lưu giữ ấn phẩm quốc gia với chức năng
thu thập, xử lý, lưu tri, nghiên cứu và phổ biến thông tin TVQC Trung Quốc
cũng là trung tâm lưu trữ thư mục, trung tâm mạng thông tin thư viện quốc
¡ cứu và ứng dụng những công nghệ hiện đại, đi đầu trong việc
vực nghiên cứu vã tất cả nhân dâm Thư viện cồn chịu trách nhiệm đầu tạo cắm
bộ thư viên, nghiên cứu và phát triển các lĩnh vực khoa học thông tin - thư
viện Với chức năng là trung tâm tàng trữ, TVQG Trung Quốc có vốn tài liệu phong phú, đa dạng và toàn diện, là nơi lưu giữ nhiều tài liệu cổ và sách quý biếm Tính đến năm 2002, Thư viện có hơn 23 triệu bán tài liệu (hiện nay mức
độ tăng bình quân 600 - 700 nghìn bẩn/năm) Thư viện có rất nhiều bộ sư tập
cổ, trong đó có bộ sưu tập sách đời Nhà Tống, đó là những sách viết trên xương động vật và mai rũa Thư việu cũng tàng trữ bộ sưu tập đác biệt quý biếm là sách cổ, bản khắc đá, bản đồ và aHlat cổ, sách kinh, sách bằng tiếng dân tộc, các bản chép tay của các tác giả nổi tiếng, Thư viện cũng là nơi có bộ sưu tập sách bằng tiếng Trung Quốc lớu nhất thế giới được xuất bản ở trong và ngoài nước TVQG cũng là trung tâm sách niên giám của Trung Quốc, các tài liệu về khoa học thông tin - thu viện đồng thời cũng là nơi lưu giữ các luận án tiến sĩ, các tài liệu thuộc dạng vi phím, vi phích, các CSDL, dia CD-ROM va
các ấn phẩm điện tử Thư viện cũng là trung tâm thư mục, biên soạn và xuất
Trang 2929
ban Thư mục quốc gia Trung Quốc, mục lục liên hợp quốc gia Thư viện thành
lập Trưng tâm mục lục thư viện trực tuyến vào năm 1997, tổ chức mạng mục
lục diện tử trong toàn quốc, quản lý mục lục hợp nhất trên mạng, thúc đẩy chía sẽ nguồn lực thông tin Thư viện là trung tâm nghiên cứu vẻ thư viện học, nghiên cứu các ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thông tin - thư viện, đỏng thời chịu trách nhiệm dào tạo cán bộ chuyến môn, thực hiện việc
trao đổi, hợp tác với các thư viện trong và ngoài nước
Thư viện Quốc gia Thái Lan
Được Vua King Chulalangkorn (Vua Rama Ý) thành lập ngày 12 tháng
10 năm 1905 bằng việc sát nhập 3 thư viện: Tĩo Phưa Mandira Dharma, Ho Phra Samut Vajiranana, Ho Phra Buddhasasana Sangaha vả lấy tên chung là Ilo Phra Samut Samrap Phra Nakhon, sau 4 duge 4éi tên thánh Thư viện
Quốc gia Thái Lan vào năm 1932
Thư viên Quốc gia Thái Lan (trực thuộc Bộ Giáo đục Thái Lan) đóng vai trở võ củng quan tượng trong sự nghiệp giáo dục và văn hoá của Thới Lan Ngoài trụ sở chính ở Tha Vasulơi, đường Samsen— Bangkok, NLT (Thu viện Quốc gia Thái Lan), côn có 20 thư viện chỉ nhảnh (cũng gọi lá Thư viện Quốc gia) 6 20 tinh trong nước
NLT c6 eae chute ning, nhiém vụ đặc biệt sau:
~ Thu thập tải liệu: NLT có số lượng tải liệu lớn nhất Thái Lan (heo số
liệu thống kê năm 1999, NLT cỏ 2.120.000 bản sách, 2.100 tên tạp chỉ, 400
tên báo, 125.000 tải liệu viết tay, 92.300 tài liệu qui hiểm và các loại tải liệu
khác đưới các dang video, bang casset, microfilm, microfich, ban dé, tranh
ảnh và các tài liệu điện tử khác) thông qua nhận lưu chiếu và các nguồn kh:
- Phục vụ độc giả: đối tượng phục vụ của NILT là mọi lẳng lớp nhên
dân thuộc các chủng tộc va các tôn giáo khác nhau trên mọi miền của dất
Trang 30nước thông qua thư viện chỉnh ở Bangkok và các thư viện quốc gia chỉ nhánh
trên toàn quốc
- Ứng dụng lim bọc: Cuối năm 1991, NT,T thực hiện việc ứng dụng ông nghệ thông tin và kết nổi mạng trong toản hệ thông, cũng như trong mọi
hoạt động của thư viện
- Các nhiệm vụ đặc biệt biên soạn các sách hướng dẫn, tải liệu tham khảo vẻ nghiệp vụ, hướng dẫn thực hiện các địch vụ thông tin đọc và giải mật mã các tài liệu (phân lớn là tài liệu viết tay) của Đông phương cổ (thuộc
kho tải liêu qui liểm của NT.T), tổ chức định kỳ các cuộc hội tháo, hội nghị
và các chương trình đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện, triển lãm tải liệu, chiếu phim, video, tổ chức ca nhạc, các buổi 1oạ đàm
- Thực hiện cổng tác khuyên đọc: tham gia phong trào khuyến đọc trong toàn quốc - nhm thúc đấy thới quen đọc trong nhân dân bằng gác
rác trò chơi
phong trào: ti kể chuyên, đọc sách, triểu lấn s
- Biên soạn thư mục quốc gia: NLT thực hiện việc biên soạn thư mục
quốc gia và chịu trách nhiệm trong vide danh chi sé ISBN cho sich va ISSN
cho các xuất bản phẩm định kỳ ở Thai Lan vá phần phối các tài liệu này cho toàn bộ hệ thống thư viện trong toàn quốc
* Việc hợp tác với các thư viện khác trong nước:
- Thực hiện việc trao déi tài liệu và mượn liên thư viện trong phạm vi toàn quốc (với 13 thư viện lớn trong nước và các trung tâm tư liệu - gọi là liền hiệp NI.DC-SEA được thành lập 1980)
- NET đồng vai trò là người đứng đầu trong hệ thống hông tín Quốc
gia Thải Lan - dược Chính phủ phê chuân vào ngày 2 tháng 12 năm 1986
- Tạo ra tiêu chuẩn quốc gia cho biểu ghi thư mục
- Dào tạo nghiệp vụ thư viện: NLT đảo tạo các khoả học về cổng tác thư viên hàng năm cho các sinh viên thuộc khoa thông tín, thư viện cũng như
Trang 3131
cho các nhân viên thư viện từ các trưởng đại học, các viện nghiên cứu Công tác đào tạo náy được thực hiện miễn phi cho người học
- Hợp tác thúc day việc xuất bản sack: NIT công lac với Trung tâm
phát triển sách thuộc Bộ Giáo dục tham gia các hoạt động xuất bản sách nh
tỏ chức tuần sách quốc gia hàng năm vả các cuộc thi sách hàng năm
- NLT tham gia biên soạn mục lục liên hiệp các ấu phẩm định kỳ
- NLT và hiệp hội thư viện Thái Lan: KLT đã tham gia tích cực trong
tất cả các hoạt động của Hiệp hội Thư viện Thái Lan như tổ chức hồi nghị các cắn bộ thư viên Đông Nam châu Á ở Bangkok lân thứ 4 và lần Huy 9 vào năng
1978 và 1993, tổ chúc Hội nghị Hiệp hội Thư viện IFLA năm 1999 tại Bangkok
Thư viện Quốc gia Singapore
Thãnh lặp năm 1960 khi chính thức tách khỏi bảo tàng Singaporo Sau
đó, vào ngày 1 tháng 9 năm 1995, NLB mang tên Ban Thư viện Quốc gia (Naticnal Library Iioard) NLI chịu trách nhiệm thúc đẩy phát triển hệ thống,
thi viện sông, cộng của Singapore gao cho mọi người đân Singapore đều có thể
NLB đảm nhận các công việc sau:
- Phát triển nguồn tài liệu: NI.B bổ sung các tài liệu theo diện bổ sung
đã để ra với 1 ngôn ngữ chính sau: tiếng Ảnh, tiếng Trung Quốc, tiếng Malay
và Tamil với tết cả các dạng tài liệu truyền thống và điện tử Theo thống kê
ia NLB là 4277007 tài liệu bằng tiếng Ảnh, 1.695.183 tài liệu bằng tiếng Trung Quốc, 553.073 tài liệu tiếng Malay và
187.931 tài liệu tiếng Tamil và các tài liệu điện tử khác
nữm 2002, vốn lài liệu
Trang 32Các nguồn bổ sung tài liệu: tài liệu được bổ sung vào NLB thông qua các nguồn trao đổi, biếu tặng, nua và nộp lưu chiểu Mỗi tên tài liệu (dưới bất
kỳ đạng nào) dếu phải được nộp lưu chiểu cho NLB với số lượng là 2 bản
- Lưu trữ, báo quần tất cá các loại tài liệu, đạc biệt chú trọng tài liệu quí hiếm
- Chịu trách nhiệm biên mục và phân loại tài liệu theo chuẩn quốc gia
và quốc tế
- Số hoá tài liệu: ngoài việc số hoá các tài liệu in, NT hiện tại đã số
hoá 6.000 ảnh từ kho tài liệu quí hiếm của nó
- NLB 1 co quan định chỉ số TSBN cho các xuất bản phẩm của
Singapore
- NLB là trung tâm quốc gia định chi sé ISSN cho các xuất bản phẩm định kỳ của Singapore
- Thu nhận ấn phẩm nộp lưu chiếu cho quốc gia, đồng thời bão quán và
tàng trữ vốn tài sản văn hoá thành văn này cho dân tộc
- Thực hiện việc trao đối và biếu tặng tài liệu trong nước và quốc tế
- Xuất bản các ấn phẩm thư mục, biên mục các tài liệu nghiệp vụ nói
chung
- Tổ d e lớp học về nghiệp vụ cho cần bộ thư viện trong hệ thống, thư viện, tổ chức các cuộc triển lám, trưng bày giới thiệu sách nhằm thức đẩy phong trào đọc sách trong nhân dân Tổ chức các buổi chiếu phim, ca nhạc
chờ người sử dụng thư viện vào các ngày lé, ngày nghỉ
- C6 riêng bộ phận là các tình nguyện viên là những cộng tác viên,
những người sử dụng thư viện tham gia các chiến dịch, phong trào, hoạt động của các thư viện trong hệ thống để giúp các thư viện thực hiện tốt vai trò của mình là "nơi dành cho tất cá mọi người dân"
Từ những gì trình bà)
bay mức dộ khác, TVQG của các nước thực hiệu những chức năng chính gau:
ở trên, có thể rút ra những nhận xét ở mức dộ này
Trang 3333
1 Thu nhận lưu chiểu, tàng trữ tất cã các xuất bản phẩm của tất cả các
dân tộc trong nước và bổ sung những sách nước ngoài vẻ đủ các bộ môn trì thức làm cho kho tài liệu trở nêu phong phú nhất so với tất cả các thư viện khác trong nước
2 Luân chuyển sách báo phục vụ mọi đổi tượng bạu đọc, đáp ứng được
mọi yêu cầu của dộc giả trong cả nước
3 Nghiên cứu và biên soạn các loại thư mục để giới thiệu sách báo phục vụ cho sẵn xuất, nghiên cứu khoa học và đời sống trong cả nước
4 Hướng đẫn cán bộ thư viện của toàn mạng lưới giúp họ náng cao
trình độ nghiệp vụ, đồng thời đúc rất kinh nghiệm bổ sung không ngừng cho
lý luận của thư viện học và thư mục học
3 Trao đổi sách báo với nước ngoài nhằm bỏ sung cho kho tàng sách
báo của mình, đồng thời góp phẩn vào sự phát triển quam hệ văn hóa giữa các nước, tang cường quan hệ chính trị và kinh tế
Các vai trò trung tam của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam, tiền thản là Thư viện trung ương Đông,
Dương ngay từ khi mới thành lập dã thực hiện một số chức nãng sau: thu thập
các tài liệu về tất cá các lĩnh vực tri thức; truyền bá những tri thức dé cho da
số đân chúng Đông Dương; phổ biến các văn bản có thể đem lại những lợi ích
đặc biệt cho một nước thuộc địa; quản lý công tác thư viện ở các nước Đông
Dương; tiến hành đão tạo công chức về ngành thư viện Ngày aay, Thư viện
Quốc gia cúng là Thư viện trung tâm, thư viện đứng đâư trong hệ thống thư viện công cộng và có ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động của hệ thống thư
viện này Trong quả trình xảy dựng và phát triển, TVQGVN đã và đang thực hiện vai trò thư viện trung tam của mình nhất là đối với hệ thống TVCC
Ngay sau khí tiếp quản Hà Nội và tiếp quản Thư viện Quốc gia, vấn để
được các cơ quan hữu quan xác dịnh là phải xây dựng Thư viện Quốc gia với
vai trò là một thư viện trung tâm của cả nước Sau khi được mang tên là Thư
Trang 34viện Quốc gia Việt Nam, nam 195? Thư viện Quốc gia Việt Nam đã chính
thúc được công nhận là Thư viện trung ương của nước Việt Nam [2ân chủ
cộng hoa dat dưới sự chỉ dạo trực tiếp của Bộ Văn hóa và cũng từ đó Thư viện Quốc gia được phát triển theo hướng một thư viện trung tâm và tổng hợp, thư
viện tiêu biểu cho sự nghiệp thư viện của một nước xã hội chủ nghĩa
t Nam đã trở thành một trong những
Hiện nay, Thư viện Quốc gia
cơ sở văn hóa lớn của nước fa, nằm trong hệ thống những cơ quan làm công
tác 1ư tưởng và nghiên cứu của Đảng và Nhà nước Nhận thức đúng về vai trò
của sách báo trong suốt những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi thư viện lä một cơ quen vău hoá, giáo dục quan trợng mã trong dé vid
xây dựng,
và phát triển Thư viện Quốc gia là một trong những nhiệm vụ hàng đầu Trong Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung trơng Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 4 khoá VTT (1t 04/01/1993 đến 14/01/1993) đã chỉ rõ phải “Xáy dựng Thư viện Quốc gia có tâm cỡ, đấp ứng yêu cầu tuyên truyền các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đáp ứng yên cầu phát triển trí tuệ của nhản dàn,
bởi dưỡng kiến thức về khoa học công nghệ, văn hoá nghệ thuật góp phần phát
triển đất nước” Nghị quyết này đá tiếp nối cho những quan điểm cũa Dang,
Nhà nước ta về Thư viện Quốc gia Việt Nam Ngay sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến vai trò của Thư viện Quốc gia,
ngày 9 tháng 10 năm 1976 Thủ tướng Chính phú đã ký Quyết định 401/TTự, quy định chức năng, nhiệm vụ và quyển hạn của Thư viện Quốc gia Việt Nam,
Quyết định đã chỉ rã "Lhư viện Quốc gia là Thư viện Trung ương của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Naan, đồng thời là thư viện trọng điểm của hệ thống thư viện thuộc Bộ Van hóa" [34] Dể xây dựng, bảo tần, khai thác và sử dụng vốn tài liệu của thư viện, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, thông tỉn, giải trí của nhân dân và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về thư viện, ngày 28 tháng 12 nam 2000, Uy ban Thường vụ Quốc hội khoá X đã thông
qua Pháp lệnh Thư viên Ngoài việc quy định hoạt động hư viện của nước ta
Trang 353ã
nói chung, Pháp lệnh cồn có một số điều quy định riêng cho TVQGVN trong
đồ có điều 17 đã chỉ rõ: Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện trung tâm của cả nước [18] Tiếp theo Pháp lệnh, ngày 6 tháng 8 nam 2002, Chính phủ
đã ký Nghị định 72/2002/ND-CP Quy định chỉ tiết đi hành Pháp lệnh Thư
viện, trong đó tại điều 5 chương 3 đã quy định rõ vị trí, vai trò của Thư viện
Quốc gia Việt Nam như sau:
Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện trung tâm của cả nước trong
3 Thu nhận các xuất bản phẩm lưu chiếu trơng nước theo T.uật Xmất
bản, các luận ẩn tiến sĩ cúa công dân Việt Nam được bảo vệ trong nước và
nước ngoài, của công dân nước ngoài được bảo vệ tại Việt Nam,
4 Biên soạn, xuất bản thư mục quốc gia và phối hợp với thư viện trung
tâm của các bộ, ngành, hệ thống thư viên trong nước biên soạn Tổng Thư mục
'Việt Nam;
5 Nghiên cứu thư viện học, thư mục học; hướng dẫn nghiệp vụ thư viện trong cả nước [heo sự phân công của Bộ Văn hóa - Thông tin [15]
Từ những quy định trong các văn bản pháp luật trên, trong khuên khổ
của luận văn chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu và làm rõ một số vai trò trung
tâm san của TVQGVN Đó là:
- Trung tâm thu thập, tầng trữ xuất bản phẩm đán tộc, tài liệu về Việt
Nam của các tác giả trong va ngoài nước
~ Trung tâm phối hợp tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thư viện - thông
Trang 36- Trung tam nghiên cứu và hướng dẫn nghiệp vụ trong hệ thống thư viện công cộng
Để thực hiện một cách tốt nhất các nhiệm vụ trung tâm của mình, TVQGVN phải tạo ra những mối quan hệ công tác hết sức chật chẽ với các cơ
quan khác như Vụ Thư viện, các nhà xuất bản, các thư viện trong hệ thống thư
viện công cộng và các thư viện thuộc các hệ thống thư viện khác, Hoàn thiện công tác nghiên cứu khoa học, liên kết hoạt động giữa các tập thể khoa học, củng cố mếi quan hệ giữa TVQGVN với các thư viện và cơ quan thông tin lớn
của đất nước, áp dụng nhanh chóng kết quả nghiên cứu vào hoạt động thực
tiễn, tiến tới tiêu chuẩn hóa hoạt động nghiên cứu khoa học góp phẩu làm cho
TVQG thực sự trở thành một thư viện hiện đại, trung tâm tàng trứ xuất bản phẩm dân tộc, trung tâm nghiên cứu lý luận thư viện lớn nhất Việt Nam, xứng đáng với vai trò Lhư viên trung tân của hệ thống thư viện công cộng Viel
Nam.
Trang 3737
CHƯƠNG 2 IIỆN TRẠNG THỤC THIỆN VAI TRÒ TRƯNG
TAM CỦA TIIU VIÊN QUỐC GIÁ VIỆT NAM
2.1 Trung tam thu thap và tàng trữ xuất bản phẩm dân tộc, tài
về Việt Nam của các tác giả trong và ngoài nước
2.1.1 Xáy dựng kho tài liệu của Việt Nam và về Việt Na
Sau cách mạng tháng tám năm 1945, đặc biệt là sau năm 1954 Thư viện
Quốc giá Việt Nam được giao thêm một số chức nãng, nhiệm vụ Thới
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của thư viện quốc gia và
cũng là chức năng chủ đạo, bao trùm lên tất cả chức năng khác của thư viện
quốc gia là tàng trữ đời đời những ấn phẩm của nước nhà Thư viện Quốc gia
Việt Nam cũng không là ngoại lệ, đồ là việc xảy dựng vốn tài liệu mã trước
hết là vốn tài liệu dân tộc và về dân tộc Ngay từ khi mới thành lập việc xây
dựng vốn tài liệu của Thư viện Trung ương Đông Dương đã có những định
hướng rổ rằng; đó là từng bước xây dựng một thư viện bách khơa nhằm cưng
cấp cho người đọc những tài liệu tốt nhất về văn học, nghệ thuật và khoa học Trong đó nhiệm vụ quau trọng nhất là tập hợp tài liệu vẻ Đông Lương một
a
cách đây đã nhất Trong giai đoạn này, vốn tồi liệu dân tộc của thư viện được xây dựng chủ yếu dựa trên các nguồn: mua, nộp lưu chiếu, biếu tạng hi mới thành lập, vốn tài liệu của Thư viện có rất ít, khoảng vài nghìn bản Những năm sau này, vốn tài liệu phát triển một cách nhanh chóng, tới năm 1953 Thư viện có 153.092 bán sách, 1.215 tên báo tạp chí chủ yếu là báo, tạp chí Dông Duong và Việt Nam Trong sổ bản sách nói trên sách tiếng Việt chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 17.086 bản, Để bỏ sung một cách dây dủ kho tàng văn hóa dân
tộc, Thư viện tiếu hành bổ sưng ở rất ti
4 nguồn khác nhau nhưng nguồn
quan trọng nhất là thông qua con đường lưu chiểu Thư viện Trung omg Bong
Dương được người Pháp thành lập nên công tác thu nhận lưu chiểu các xuất
bản phẩm trêu phạm vì Đông Dương luôn được cơi trọng vì
nước Pháp wd truyền thống này từ lâu đời (1537) Văn bản đầu tiên quy định vẻ chế độ nộp
Trang 38lưu chiển xuất bản phẩm ä Dõng Dương lä Nghị định của Toần quyền Pháp ký
ngày 31 tháng 1 năm 1922 Nghị định này quy định, tất cả các ấn phẩm xuất
bản ở Đông Dương đều phải nộp cho Thư viện Trung ương Đông Dương 1
bản Trong giai đoạn ti năm 1922 đến trước khi Nhật đáo chính Pháp việc nộp
lưu chiểu khá nghiêm túc Theo thống kẻ, kể từ năm 1922 đến năm 1940, Thư
viện Trung ương Đông Dương đã nhận lưu chiểu trên toàn xứ Đông Dương
được số lượng ấn phẩm như sau:
- 13.381 tên sách các loại
- 3.123 số báo, tạp chí
- 1.201 tác bản địa đỗ [26]
Số lượng bản nộp vào Thư viện cũng tăng theo thời gian: nếu năm 1922
‘Thu viện Trung ương Đông Dương nhận được qua con đường lưu chiếu 59 tên
tạp chỉ (Irong đó có 16 tên tiếng Việt, 193 tên xách (139 tên tiếng ViệU, 12
ban đỏ; Dến năm 1943 các con số trên đã có sự thay đổi nhanh chồng: Số báo, tạp chí là 387 tên (120 tên bằng tiếng Việt), 1.117 tên sách (527 tên bằng
tiếng Việt), 84 bản đó Sở đi số lượng ấn phẩm tãng lên như vậy là do trình độ dân trí của người dân được tầng lên, sự nghiệp xuất bán ở Việt Nam giai đọan
này không ngừng phát triển Trang giai doạn từ 1945 - 1954 do những biến cố
chính trị và một số nguyên nhân khác nên công tác thu nhận các xuất bản
phẩm của Thư viện gặp rất nhiều khó khăn và hết sức hạn chế về mặt số lượng
Song song với nguồn hm chiéu, Thư viện cũng tiến hành bổ sung vốn tài
liệu dân tộc thông qua việc mua thường xuyên, ngoài nguồn mua ở Đông
Dương, Thư viện cồn tiến hành mus sách, báo ở Pháp Số lượng bổ sung thông qua nguồn mua giai đoạn này khá lớn, bình quân mỏi nấm mua khoảng 2.500 bản sách Ngơài các nguồn trên, kho tài liệu của thư viện còn được các cơ quan, cá nhân biếu tặng với số lượng mỗi nam vài trăm bản, có năm dat tới
cơn số 1.000 bắn.
Trang 39về Việt Nam của các học giả Pháp cũng được lưu trữ tại Thư viện và nó vẫn
bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp có sự vận dụng phương pháp của phương Ty
vào nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam Trong mảng sách Việt thời kỳ này
có cả mảng sách dược xuất bảu ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công,
đến ngày toàn Quốc kháng chiến Trong thời gian này, nhờ Sắc lệnh lưu củ (SL - 18 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 31 - 1 - 1946), mà trong bộ sưu tập
Trang 40của Thư viện có khá đầy đủ các tên sách trong thời gian hơn một năm đó Những sách trên đã thể hiện nội dung cách mạng, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, về lãnh tụ Hồ Chí Minh, đẻ cao lịch sử dân tộc, tổng kết các phong trào cách mạng, phản ảnh kịp thời cuộc kháng chiến chống
Pháp mới bùng nỗ ở Nana Bộ, công cuộc xảy dựng chủ nghĩa xã hội ở các
nước xã hội chủ nghĩa anh em Kho sách Đồng Dương ở Thư viện Quốc gia
gắn liền với sự phát triển của lịch sử chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Việt
Nam, trở thành những tiềm năng quý giá phục vụ cho việc phát triển nền văn
hớa mới, nên khoa học dộc lập, tự chủ của một nhà nước độc lập, phát triển
Do trước
lay kho sách Đông Dương không được phân loại theo khung phân
loại nên có nhiều khó khăn trong việc thống kê kho sách này Năm 2001 theo
dự án ký kết giữa Thư viện Quốc gia Việt Nam với Thư viện Quốc gia Pháp, Thự viện tiến hành xử lý tiền máy, nhập biển phủ tạo lập cơ sở đữ liệu kho sách Dông Dương và hiện nay đã đuợc tích hợp vào CSDL chung của Thư viện
Trong giai doạn từ 1954 đến 1975, Thư viện tiếp tục thu nhận lưu chiểu
xuất bắn phẩm dân tộc, Thư viện Quốc gia Việt Nam thời kỳ này còn được
giao nhiệm vụ bổ sung những tài liện về Việt Nam và của người Việt Nam dù
chúng dược xuất bản ở bất cứ dâu, bổ sung có chọn lọc vốn tài liệu nước
ngoài
Cảng việc đầu tiên trong xây dựng vốn tài liệu sau ngày tiếp quản thư viện từ tay thực dân Pháp là Thư viện Quốc gia Việt Nam đã tiếp nhận, xử Lý gần 2 van bản sách của Thư viện Chính phả được thành lập ở chiến khu Việt Bac Day là một vốn tài liệu rất quý, chủ yến là những tài liệu được xuất bản trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp có nội dung cách mạng, giầu giá trị lịch
sử - văn hóa dân tộc Do nãm 1954, trước khi rút khỏi Bắc Việt Nam thực dan
Tháp đã mang đi hơn 800 hòm sách thuộc vốn tài liện của Thư viện Quốc gia
vào Nam, giai đoạn này, thư việu phải chấn chỉnh lại kho sách cả vẻ nội dung,