1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tìm hiểu giá trị văn hóa nghệ thuật Đền gin xã nam dương huyện nam trực tỉnh nam Định

103 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Giá Trị Văn Hóa Nghệ Thuật Đền Gin (Xã Nam Dương, Huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định)
Tác giả Vũ Thị Nhẫn
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Tồn - Bảo Tàng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời cũng chính là bộ phận quan trạng cấu thành nén kho tang di sin văn hoá dân tộc, Đó la bang chứng xác thực nhất, thể hiện bản sắc văn hoá của mỗi địa phương, mỗi cộng đồng, mỗi

Trang 1

TRUONG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

GIA TRI VAN HOA NGHE THUAT DEN GIN

(Xa Nan Dương, huyện Nam Trực, tinh Nam Dinh)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGANH BAO TON - BAO TANG

NGUOI ITUONG DAN:

Trang 2

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Bố cục của khoá luận

Chương 1: Lịch sử hình thành và quá trình phái triển của Đèn Gin

2 2.1 Trang trí trên kiến trúc

3.1.1 Không gian và thời gian diễn ra lễ hội

3.1.3 Lễ hội Đến Gin trước ram 1945

Trang 3

3.1.3 Lễ hội Đến Gin từ năm 1945 đến nay và thực trạng của lễ hội

3.2.2 Cân bằng đời sống Lâm lĩnh

3.2.3 Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hoá

3.2.4 Ý nghĩa về bảo Lổn và phát huy giá trị văn hoá

3.2.5 Giá trị hướng về gội nguồn dân tộc

Trang 4

đếu phâi vươn lên khẳng định mình, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội

nhưng cũng vừa bảo vệ, gìn giữ bản sắc văn hoá của dân tộc mình, đó là hai vấn

để đồng thời được đặt ra

Di tích lịch sử là tài sắn vân hoá vô cũng quỷ giá của dân tộc, trong đó chứa đựng những giá trị tỉnh hoa, vẻ đẹp tám hỗn, những ước vọng của cha ông

Đó là những trang sử sống mang dấu ấn vẻ sự biến dộng, thãng trầm của nhiễu thời kỹ lịch sứ, được khắc ghi sâu đậm trong tém thức của mỗi người dân đất Việt Đồng thời cũng chính là bộ phận quan trạng cấu thành nén kho tang di sin văn hoá dân tộc, Đó la bang chứng xác thực nhất, thể hiện bản sắc văn hoá của

mỗi địa phương, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc

Dị tích vừa là những địa điểm lịch sử, các công trình xây dựng có giá trị kiến trúc - nghệ thuật, vừa lä điểm danh thắng tạo nên vẻ dẹp đặc trưng và cảnh quan van hoá của mỗi vũng miễn Ngoài chức nang thờ Thành hoàng làng, thờ Thật, thờ Thần và sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng dân gian, các dị tích cũng là nơi

ẩn chứa tài năng sáng tạo của con người và bản sắc dân tộc qua thời gian, năn

khẳng định sức sống mãnh liệt của nên văn minh lúa nước

tháng Đồng thời là sự

và nên van hoá cộng đồng làng xã trong suốt chiểu đài hàng nghĩn năm lịch sứ

Qua biết bao biến cố lịch sử, chúng ta may mắn vẫn còn hưu giữ được nhiều di sản văn hoá vật thể cũng như di sản văn hoá phi vật thể Dấu vết thời gian han in trên các dị tích làm cho chúng thêm phần biểu cảm sâu đậm về giá trị Nhưng đồng thời cũng lâm cho sự hiện hữu về mặt vật chất của chúng trổ nên mnong manh hơn bao giờ hết,

Do đổ việc đi sâu tìm hiểu, nghiên oứu các giá trị của các di tích trong, cuộc sống đương đại, nhằm bảo tổn và phát huy các giá trị đó ngày càng trở nên

Trang 5

cấp thiết, hướng tới mực tiêu đảm bảo tính hài hoà giữa bảo tổn và phát triển trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá

Trong hệ thổng ede di tỉch lịch sử của đất nước, thĩ loại lĩnh "đến thờ” là một trong những loại hình di tích tiêu biểu Đây là nơi tập trung tinh thần văn hoá cộng đồng, thể hiện niểm tin tín ngưỡng lòng tôn kính của nhân dân với vị

thần được thờ Đồng thời, đền thờ cho ta thấy được tài năng và quan niệm của

người xưa trong nghệ thuật tạo hình, cũng như các ý nghĩa sâu xa đằng sau các

di vật, các chi tiết trong tạo hình, trong kiến trúc cũng như trong lễ hội truyền

'Từ cách nhận thức vấn để như trên, được sự cho phép va giúp đỡ của khoa

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨC

Tím hiểu về vùng đất Nam Dương - Nam Trực, Nam Định, nơi di tích đã

được hình thành và phát triển.

Trang 6

Nghiên cứu, tìm hiểu thân thế, sự nghiệp của Kiểu Công Hãn - Vị thần được thờ trong di tích

Nghiên cứu, im hiểu Gin chuyên sâu hon để từ đó có cái nhìn tổng,

thể, tương đối hoàn chính về giá trị văn hoá nghệ thuật của dĩ tích Đên Gin

Để xuất một số giải pháp có tính chất định hướng đối với việc bảo tổn và phát huy giá trị của di tích trong đời sống xã hội

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

+ '†oàn cảnh khu dị tích Đến (im và lịch sử nhân vật được thờ trong dh tích

+ Đối tượng cụ thể là di sâu nghiên cứu giá trị văn hoá nghệ thuật của Đến Gin

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Tìm hiểu khảo sát vùng đất nơi di tích hình thành và tổn tại

+ Những giá trị văn hoá vật thể và giá trị văn hoá phi vật thé 6 Bén Gin

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vận dụng phương pháp luận của Chủ nghia Mac - Lê Nm, tư tưởng 116 Chí Minh về an dé văn hoá, giáo dục lức là đứng trên lập trường quan diểm của

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nhìn nhận các sự việc, hiện

Trong quá trình nghiên cứu để lài cồn sử dụng phương pháp khảo

da, mô tả đo vẽ, chụp ảnh, thếng kê, so sánh, tổng hợp để thu thập và xử lý

thông tin

Š BỐ CỤC CỦA KHOÁ LUẬN

Ngoài phẩn mở dầu và kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, bài khoá luận gồm 3 chương:

Chương I: Lịch sử hình thành vã quá trình phát triển của Đẻn Gin

Chương 2: Giả trị văn hoá vật thể của Dén Gin

6

Trang 7

Chương 3: Giá trị văn hóa phi vật thể của Đền Gin

“Trong quá trình thực hiện để tài, em đã sử dụng tham khão một số tài liệu, sách báo, tạp chí chuyên ngành Song, phần lớn là quá trình khảo sát thực tế tại

di tích, đặc biệt dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của giáo viên chuyên ngành Qua đây em xin bày tổ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đặng Văn Bài, người

đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em Irơng suốt quá trình thực hiện để tài Fan cũng,

xin bày tô lòng biết ơn chân thành tới các cô chú, anh chị trong Ban quan ly Di tích và Danh thắng tỉnh Nam Định Phòng Văn hoá huyền Nam Trực và bạn bè đồng môn giúp đỡ em hoàn thành khoá luận văn này

Do thời gian và trình độ còn hạn chế, nên bài viết không tránh khỏi sự thiểu sốt, hạn chế Kính mong được sự chỉ bảo của thầy giáo, cô giáo và các nhà nghiên cứu Đồng thời mong nhận được sự g6p ý của bạn hè đồng môn để bài

+kho4 luận hoàn thiện hơn

;

Trang 8

CHƯƠNG L

LỊCH SỬ HÌNH THANH VA QUA TRÌNH PHÁT TRIEN CCA

DEN GIN

1.1 Mảnh đất và con người nơi di tích tỏn tại

Nam Định là vùng đất có bể dây lịch sử, là một trong số ít các tỉnh thành

miễn Bắc có số lượng di tích lịch sử, văn hoá lớn nhất Đến với quê hương Nam

Dinh, chúng ta được đấm mĩnh trong phong cảnh hữu Tĩnh cùng với các di tích

tiêu biểu như: Đền Tran, Chùa thấp Phổ Minh Đền Bảo Lộc, Chùa Đại Bí, Khu

Di tích Phủ Giầy kèm với các di tích là các lễ hội truyền thống dân gian phong

phủ

Trong số 10 huyện ly và thành phố của Nam Định, thì Nam Trực- một vùng đất dịa linh nhân kiệt đã có từ khi dân tộc ta dựng nước, trong thời kỳ lịch

sử dựng nước và giữ nước Nam Trực luôn giữ một vị trí quan trọng Thời Bắc

thuộc Nam 1rực được coi là yết hầu của phủ Lhiên 1rường, thời Trần Nam rực

là vọng gác Phía Nam, ngày nay Nam Trực là cửa ngõ phía Nai của Nam Định

NHĩn từ gốc độ địa lý dĩ Nam Trực là vũng đất "Sđịa linh” vei hai dang

chảy hợp lực của hai dòng sông: sông liồng và Sông Đão cuộn đỏ phù sa Phía

Bắc giáp Thành phố Nam Định, phía Đông giáp sông Hồng và huyện Trực Ninh,

phía lây giáp huyện Vụ Bản và Ý Yên, phía Nam giáp huyện Nghia Hưng và Hải Hậu Đồng hành với hai triển sông là hai quốc lộ 21H và 55 chạy suốt theo

chiều dài từ bắc chỉ nam, rồi những con dường huyện có tên: dường Vàng, dưỡng

Trảng và dường Đen ruột thời đã li nên lịch sử,

Huyện Nam rực ngày nay là một phần của huyện Nam Chăn, Thượng

Nguyên vã Giao Thuỷ đầu thế kỷ XIX Danh sách các tổng và các đơn vị hành

chính cơ sở thuộc

ất Nan Trực dưỡng thời là gồm 12 tổng, trong đỏ tổng Bai

Dương chính là đất huyện Nam Trực ngày nay Huyện Nam Trực có diện tích tự nhiên 16.203,95 ha, dân số 201,921 người gồm 20 đơn vị hành chính trực thuộc

Nam Trực cổ bể dày văn hoá truyền thống và hiện dại, những giá trị văn

hoá tỉnh thần và vật chất được hun đúc qua bao thế hệ được thể hiện ở Liêm nang

3

Trang 9

văn hoá gồm nhiều lĩnh vực: trên 200 di tích đến thờ, miếu, nhà thờ trong dó

cố 30 di tích đã được xếp lạng liêu biểu như: Chùa Đại Bí (Nam Giang), Đến Gin (Nam Dương), Đền Xám (Hồng Quang) nhiều làng văn hoá dân gian cổ truyền, nhiều làng nghề truyền thống: dệt, cơ khí, đúc đổng, sơn mài Truyền thống văn hoá Nam Trực không chỉ thể hiện ở văn hoá hữu hình và vô hình mã còn thể hiện ở chính chủ nhân văn hoá đó là con người của đất Nam Trực

Gồm 20 đơn vị hành chính xã với nhiều loại hình di tích tiêu biểu, đa dạng

và phong phủ với lễ hội văn hod cổ truyền tà Đến Gin là một cụ thể ở xã Nam

Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

Dén Gin là ngôi đến chung của hai xã Nam Dương và Bình Minh (tức bốn

xã trước đây là Bái Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật và Cổ Lũng) ngôi đến tọa lạc ở

đầu thôn Chiên xã Nam [Dương trên một vũng đất bằng phẳng và thoáng đăng

Nam Dương là một xã phía nam huyện Nam Trực, phía Bắc giáp thị trấn Nam Giang, phía Nam giáp xã Bình Minh và Đồng Sơn, phía Tây giáp sông Đão và pha Đông giáp xã Nam Hùng

Nam Dương có địa hình tương đối bằng phẳng, có điểu kiện tự nhiên

thuận lợi chơ việc canh tấc lúa và hoa mau, da dang vé cây trồng Dân sổ tính đến nãm 2007 có khoảng 11.700 người trong đó giáo dân có 1000 người Xã Nam Dương có hệ thống đường liên xóm, liên thôn, liên xã được nốt liển qua

trục đường chính của huyện như đường 55, đường Vàng, đường 1rắng, đường

lên cho việc giao lưu kinh tế vũ xã hội

Nhân dân Nam Dương vốn cẩn cũ lao động ng tạo, có trình độ thâm:

canh lúa nước, hơa màu và cây công nghiệp: cà chua, dưa chuột ngô khoai ở

làng Bái, làng Vọc, làng Đầm, làng Phượng Đời sống vật chất, văn hoá của nhân

dan mỗi ngày được cải thiện, bộ mặt nông thên ngày căng đổi mới đang liến dầm

đến đô thị hoá Cùng với sự phát triển đa dạng phong phú về nông nghiệp, về giao lưu kinh tế - văn hóa, xã hội rất trú trọng giữ gìn bản sắc dân tộc của quê hương Những công trình văn hoá cha Ông tà dã xây dựng cách đây hàng ngà năm đã chịu sự tàn phá cña hai cuộc chiến tranh, bị thiên nhiên phong hoá, hàng,

nấm dễu dựơc nhân dân tu bổ, bảo vệ và giữ gìn như Đến Gin, Chia Dam, Nhà

6

Trang 10

thờ ho Chién X4 e6 nhidu céng trinh cé vé dep vé nghé thuat kiến trúc và lịch

xử văn hoá nổi tiếng như: Đến Cñn, một công trình kiến trúc được xếp trạng là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia Căn cứ vào điển 46 của Lhến pháp nước Cong hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, căn cứ vào Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh” số 14 LLCT/ HĐNN ngày 4/4/1984 của hội đồng nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đển Cin được công nhận là di tích lịch sử và văn hoá theo quyết định công nhận số 29 VHQĐ ngày 13/01/1964 dược ghi vào sổ danh mục di tích lịch sử văn hoá số 90

Từ thể kỷ X cho đến nay, hằng năm cứ vào ngày 1Ú tháng Chạp âm lịch nhân dan Nam Duong và Hình Minh (fhời pháp thuộc lä xã Hái Dương, ‘Trang

Trữ, Hiệp Luật, Cổ Lũng thuộc tổng Bái Dương cũ) nô nức mở hội truyền thống

dâng hương lưởng niệm sử quân Kiểu Công Hãn, mất năm 967, người có công,

giúp Ngô Quyền đánh đuổi quản Nam l lán ra khỏi đất nước Người đã được triểu

đình phong kiến nhà Xgô phong chức Để sát gián quốc

TĐến với di tích Đền Gin ta có thể đi bằng hai con đường Một là, từ thành phố Nam Định đi qua cầu Đề Quan, rẽ phải theo đường 55, đi khoảng 1! km, sau đồ rẽ trái theo đường làng khoảng 200 m là đến di tích Hai là, từ thành phố Nam Định qua cầu Đồ Quan đi theo quốc lộ 21 khoảng II km, sau đố rề phải theo đường Văng khoảng 5 km, đến Ngã tư chợ Chùa rẽ trái theo đường 55 khoảng 2 km, rồi rẽ trái 200 m là đến di tích

Xã Nam Dương, Bình Minh nói riêng và huyện Nam Trực nói chung lä

một vũng đất đồng bằng mãn mỡ, một vùng đất c6 nhiều điển kiện để phát triển

+kinh tế Cùng với đồng chảy của lịch sử, nhân đân nơi đây đã sáng tạo và vun

dấp chơ mình nhiều nét dẹp văn hoá truyền thống, dớ là lòng yêu quê hương, dất

Căn cứ vào nguồn tử liệu Hán Nôm tại địa phương như: thần tích, sắc

phong, bài vị, câu đối thì vị thần được thờ tại Điển Gin là sứ quản Kiểu Công

7

Trang 11

Hãn (còn gọi là Kiểu Tam Chế) Kiểu Công Hãn xuất thân từ dòng họ có thế lực

lớn ở Phong Châu (Phú Thọ) Người đầu tiên trong gia tộc họ Kiểu được sử sách nhắc tới là Kiểu Công Tiền ông nội của Kiểu Công Hãn, với lời phê phán gay gắt

vi hành động sát hại Tiết độ sứ Đương Định Nghệ” để đoạt quyền Ngay sau đó

da sợ Ngô Quyển là con rể của Dương Đình Nghệ đang man thi ở Á: Châu

(Thanh Hoa) đem quân ra báo thù Kiểu Công Tiến đã sai sứ sang nước Nam

Tin cầu viện Chớp lấy thời cơ vua Nam Hán là Lưu Cung, lập tức giao cho con

là Lưu tioằng Thao làm Lĩnh Hải Tiết độ sử chỉ huy một lực lượng binh thuyểu

lớn tiến đánh nước ta Việc làm bạo ngược và trái phép với đạo lý của Kiển Công

“Tiến đã gây nên nểm phẫn nộ sâu sắc đối với hào trưởng ở các địa phương và trong nhân dân cả nước Ngay trong gia Lộc họ Kiểu cũng cổ sự phân tâm dẫn

đến những phản ững đối lập nhau Kiểu Công Hấn và cha ông là Kiểu Công

Chuẩn quyết không đi theo con đường của ông nội Kiều Công Tiền đã chọn Khi Kiểu Công Tiển có ý sai người sang cầu cứu quân Nam Hán, Kiểu Công Chuẩn

đã có những lời lẽ để căn ngăn hành động của cha mũnh như sau: “Nhà ta vốn là nhà hào trưởng ở Phong Châu, nếu cha lượng sức không đánh nốt quân ế: Châu

thì nên trao chức Tiết độ sứ cho Ngô Quyển, rồi vẻ Phong Chân an hưởng tuổi già, không nên rước quân Nam Hấn vào tàn sát dân mình, cái tội ấy không gì

nặng bằng”

Những lời lẽ khuyên can của Kiểu Công Chuẩn xuất phát từ lợi ích dân

tộc, danh dự gia đình và dòng Lộc họ Kiểu, đã Không lay chuyển được ý đổ xấu

xa của Kiểu Công Tiễn mà rồn khiến ông suýt mất mạng Thực tế đau xót ấy đã tạo nên bước ngoặt mới trong hành động của cha con Kiểu Công Chuẩn và

Kiểu Công Hãn Ngay lập tức Kiểu Công Chuẩn đã thảo một bức thư nói rõ tình hình quán Nam Hãn sắp sang xâm lược nước La và giục Ngô Quyền gấp rút tính

kế diệt giặc để cứu muôn dân Ông sai Kiểu Công Hãn mang thư vào Ái Châu

°“ Dương Đinh Nghệ là tông cũ của hạ Khác, quê ở làng Giảng (Thanh bai) Năm 931, ông đập hạp lực lượng đánh đuối quân xâm lược Namt Hôu ra khói bờ cối đất nước, khêi phục

quyền tự chủ cứa dân tộc ne xatng te Tie

Trang 12

trao tận tay Ngõ Quyền, rồi tự mình đem hai con nhé là &?ểu ?uận Ê' và Kiểu Công Đình về ở Ẩn tại Hồi Hỗ (xông Thao- Phú Thọ),

Nhận được thư của Kiểu Công Chuẩn Ngô Quyền rất cảm kích, ông cho

mời Kiểu Công Fiẩn ở lại Ái Châu (Thanh Hoá) cùng hợp sức ống giác Tại

dây, Kiểu Công Hãn đã bày kế khuyên Ngõ Quyển tập hợp lực lượng mạnh để tiêu diệt quân xêm lược Nam Iián khi chúng tiến vào nước ta bằng đường biển, Theo kế của Kiều Công IIãn, Ngô Quyền sai Phạm Bạch IIổ đánh úp ở thành Đại

La (Ha Nội), Ngô Quyền trực tiếp chỉ huy đội thuỷ quân, cữ Kiểu Công Hãn lầm tướng tiên phong từ Ái Châu vượt biển tiến ra đổn trú ở Lương Xâm (nay thuộc huyện Liẫt An- TP Hải Phòng) Tại Lương Xâm, Ngõ Quyền, Kiểu Cong Man va

cầu tướng sĩ được tin bấo vua Nam Hản sai con là Van vương Hoằng Thao dẫn

dân tộc Kiểu Céng Hãn đã có nhiều công lao đồng góp nén dược Ngô Quyển

phong chức Để sát, sau đồ ông dược cất cử giữ chức Giám quốc

Chính sử cho biết, trong suốt những năm làm quan, Kiểu Công Hãn luôn tận trung với sự nghiệp của nhà Ngô Ông là người có vai trõ rất lớn trong việc

giúp Ngô Xương Van (con của Ngô Quyền) phế truất Dương Tam Kha khối phục

lại cơ nghiệp nhà Ngô vào năm 950

Mặc dù đã bước vào thời kỹ độc lập tự chủ, nhưng chính quyền Irung

vương dưới sự điều hành của Ngỏ vương chưa đủ điều kiện để kiểm soát và quản

chế

lý chỉ

le địa nhượng, Vĩ vậy, miẩm miống cát cứ địa phường của các thd lye

phong kiến luôn trêm ẩn, đe doạ trực tiếp đến sự sống còn của nhà nước độc lập

È Kiểu Thuận sưu này trở thành Ï trong 12 sử quân chiềm giả vùng Hót Hồ (Phú The) tự xung

là Kiểu Lệnh Công

Trang 13

Nam 944, Ngô vương mất, các eon cháu của éng khong di uy tin va tu nang để duy wi chinh tru quyén quân chủ rập trung đang còn trong thời kỳ non yếu

Dương Tam Kha là con của Dương Đình Nghệ, anh vự của Ngô Quyến

Sau cái chết của Ngô Xương Ngập năm 954, triển Ngô suy tân và nhất là sau cái chết của Ngô Xương Văn năm 956 thì triểu Ngô thực tế không cồn tổn

tại Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “các hàng trưởng daa nhan nổi đây

chiếm cứ quân ấp để tự giữ Bấy giờ trong nước không có chú, I2 sứ quân tranh

nhau làm trưởng không ai chịu thống thude vao ai”

Trong 42 sứ quên", Kiểu Công llãn xây dựng căn cứ tại vùng Phong

Châu (Phú Thọ), ông tự xưng là Kiểu 'Tam Chế Địa bàn hoạt động của sứ quân

Kiểu Công Hãn ngoài Phong Châu cồn mở rộng ra các xã lân cận thuộc khu vực

Vĩnh Phúc, Sơn Tây vốn là vùng xứ Đoài, quê hương của họ Kiểu Mặc dù Kiểu Công Hãn cũng như các sứ quân khác đều eó mục đích chính là nhanh chóng giành được quyển kiểm soát đất nước về tay mình, chấm dứt tình trạng loạn ly,

Ê+ Đại Việt sử kỹ toàn thự, tập T Bắn dịch Nxb, KHXN, Hà Nội 1995, TY 208.209

1® 12 sứ quản: sữ quản phẫu lớn là những ngườt thuộc dòng dõi con chứu tướng cũ của nhà

Ngô, nhưng người cô thể lực bỂ củ quân sg, chính ty, kinh tế ở địa phương tuường chiếm cổ

ving qué mink vit mod meng ving kid xoỗi ra các làng Aũ phụ cận xây dựng thành vũng cất

cử, wong dé tập ung chủ yế ở vàng đồng bằng sông Hàng, 12 sử quân gồnc Kiểu Công Hân ( Kiên Tan Chế) ở vùng Phàng Châu ( Pui Thọ), Nguyên Khoan ( Nguyễn Thái Bình) ä Tam: Didi (Vinh Phúc), Ngô Nhật Khánh (Ngô Lâm Công) ở Đuồng Lâm { Ta Tây), Ngô Xương XÃ chiếm giữ Binh Kiểu ( Thanh Hoá), Lý Khuê (lộ Lăn Cảng) ở Siêu Loại ( Ninh: Bình), Nguyễn Thủ Tiệp (Nguyễn Lệnh Cảng) ä Tiên Dục { Bắc Ninh), Lĩ Đường ( Lã Tả Công) ở TẾ Giang (Thang Yên), Nguyễn Siêu (Nguyễn 118M Lúng) ở vàng Túy Phù Liệt ( Hà Nội), Kiếu Thuận (Kiểu Lệnh Công) ở Hải Hỗ [Phú Thợ) Phạnn Bạch THỂ (Phạm Phàng Aty d Dang Chin (Hing Tân) , Trin Lina ( Trần Minh Công) chiếm giữ Bế Hải Khiẩu (Thái Bình), và Đề Cánh Thạc ở

Trang 14

chia cắt Nhưng cá cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa họ đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, nên độc lập bị đe doạ Trước tỉnh bình đó, Đình Bộ Linh

“người anh hùng tài năng, xâng xuối hơn người, dũng cảm mưu lược nhất dời

đã xuất hiện và tự đảm nhận sứ mạng lịch sử của dân tộc, sự nghiệp thống nhất đất nước của Đình Bộ Lĩnh mau chống được ủng hộ rộng rỗi vita gác hão kiệt bốn phương và nhân dân cả nước Nhiễu hào kiệt đã nhiệt tám giúp đỡ Định Bộ Lĩnh ngay từ buổi đầu như: Định Điển, Nguyễn Bặc, Lẻ Hoàn, Trần Lam Cũng,

có những hào kiệt sớm quy phục khi ông dấy bình dẹp loạn như : Phạm Bạch Hồ, Nguyễn Xương Xí, Nguyễn Tấn, Ngô Nhật Khánh

Kiểu Công Hãn là một trong số những hào trưởng không có may mắn được giúp sức t3nh Bộ Linh bởi nhiền lý do khác nhau Ông đã sớm hy sinh trong những cuộc chiến hỗn loạn giữa các thế lực cất cứ địa phương khi chưa kịp nhận biết được vai trò của Đinh Bộ Linh Sử sách và truyền thuyết dân gian đã ght lại sự hy sinh anh đũng của sứ quản Kiểu Công Hãn tại vững quê Nam "Trực, Nam Dinh như sau: “Năm Đìmh Mão (967) Đình Hộ Linh được Trấn Lãm trao

binh quyển ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình) và dược Phạm Bạch Hồ chiếm giữ vùng

Đẳng Châu (Hưng Yên) quy phục, với tiêm lực quan sự ngày căng lớn mạnh Dinh Bộ Lĩnh liên tiếp dánh bại La Đường đóng giữ ở Tế Giang (Hưng Yên) Nguyễn Siêu đóng giữ ở Tây Phù Luệt, Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Trên đà thắng lợi, Đình Bộ Lĩnh tiến quan sang vùng Kinh Bắc, dẹp Tý Khê đóng giữ ở Siêu

Loại, Nguyễn Thủ Thiệp đồng giữ ở T?ên Du, sau đồ tiến sang vùng sứ Loài thu

phục lực lượng Meỏ Nhật Khánh” ở Đường Lâm, tiêu diệt Nguyễn Khoan dóng, giữ ở Tam Đãi và bắt sống Kiểu Thuận chiém giit ving 1161 116 Laic nay Phong Châu nơi sứ quân Kiểu Công I1ãn chiếm giữ bị lực lượng Đinh Bộ Lĩnh vây hãm, Kiểu Công Liãn đã đem 200 thân binh mở đường máu chạy về phía Nam với hy

vọng có thể phối hợp được với quân cña Ngô Nhật Khánh ở Giao Thuy lrên

ệt sử ký toàn tất, tập L Sdd, Tr 2L Khánh ; là hậu duệ của Ngô Quên và là một thể hạ mạnh chiếm giữ ở Đường tài liệu cho biết, sau li thất bại ở Đường Lâm (Sơn Tay) Ngã Nhật Khánh chụy xảy dụng lực lượng ở Giao ThUỜ, sau đề theo hàng Định Bộ Lĩnh và trẻ thành phê mã của xưa Định

11

Trang 15

đường rút chạy, Kiểu Cong Han nhận duec tn Ne6 Nhat Khénh đã hàng ông quyết dịnh chạy vào Ái Châu (Thanh Hoá) để hợp sức với Nguyễn Xương Xí ở Binh Kiểu Sáng ngày mùng 10 tháng Chap nam Dinh Mao (697), Kiéu Công

bổ trí sẵn lực lượng đón đánh Kiểu Công lăn Vừa mới chạy đến thôn Vạn Điệp

''! xã Nam Phong ngoại thành Nam Định, thï Kiểu Công Hãn b

an vong vay của Nguyễn Tấn, ông bị thương nặng, vừa phải chống trả, via phải tháo chạy Điển Vũng Lắm (Đổng Sơn - Nam Trực) thì sức đã kiệt, lợi bị chân đánh phía trước, ðng đành phẩt quay trở lại Tứn thôn An Lũng (Nam Dương — Nam lYực) Kiểu Công Hãn được một bã hãng nước cứu giúp, dâng rượu và gỏi cá trắm (theo

Lai gác cụ cao tuổi trong làng kể lại thì vào đêm mũng 9 Iháng Chap nấm Định

Mio, ba Phạm 1hị Già được thần linh báo mộng sáng ngày hôm sau sẽ có một vị tướng đi qua đây hãy mang rượu và gỏi cá “Trắm đen” ra mời) Ân xong ông

én) thi kiét sức và mất lai

lập một miếu nhỏ phía ngoài cống đến thờ để thờ bã Phạm Thị Giả người có

công dâng rượu và gỗi cá Trắm cho thần ăn trước khi hoá Mặc dù sử quân Kiểu

Công, Hãn hy sinh giữa trận tiền khi chưa thực hiện được chí hướng dựng nghiệp

lớn, nhưng chiến công của ông vẫn sống trong ký ức dân gian, (rong sự ngưỡng

mộ và sự khâm phục của người dân địa phương và trở thành thành hoàng của bốn

lang Sự hy sinh của Kiểu Công Hãn tại Nam Dương cồn nói lên vai trò và vị trí

của vùng đất Nam Định trong sự nghiệp thống nhất đất nước của Đình Bộ T:mh

Trang 16

'Trong sách Địa chí Nam Định viết về vùng đất Nam Định đưới thời Ngõ- Đình- Tiên Lê (938-1009) PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc đã dẫn nguồn tư liệu chính sử,

đặc biệt là tư liệu thầm tích, ngọc phá để lý giải và khẳng định: “không chỉ có

Đính Bộ Lĩnh mà hẳu như tất cả các bậc “hàng trưởng ” dương thời đêu trực tiếp

hay gián tiếp chọn đất này làm nơi thủ thế tài năng Vì thế Nam Định vữa là nơi

hội tụ, vừa là nơi giảnh giật ảnh hưởng của hào kiệt bến phương, xuất phát từ

Hoa lạc Ninh Bình Đình Bộ Lĩnh dã từng bước hoàn thành sự nghiệp vĩ đại

thông nhất đất nước về một mối ` ®!

Tục thờ thành hoàng Kiểu Công llãn của nhân dân bốn làng Bái Dương,

phong ”* niện cồn km giữ tại Đển Gìn đã khẳng định giá trị lịch sử, sự trì ân

công đức của người đời, sự trân trụng của các triểu đại phong kiến đối với sử

quân Kiểu Công llãn Điều đó có thể lý giải được vẻ sự thiêng liêng, ứng nghiệm

“hd quốc tý dân” của thần và cũng là một biến thể của niềm tin và kính phục, sự tôn sũng của dân gian đối với thế lực thần linh khi mã khoa học chưa phát triển những thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh không dễ gì chế ngự

Có lẽ chính vì vậy mà hơn 10 thế kỷ qua, việc thờ phụng Kiểu Công Hãn trên mánh đất quê hương vẫn không hể thay đối Lớp lớp thế hệ người dân nơi đây vẫn mãi một niềm tôn sùng và kính phục luôn tra trổng rằng hôm nay và cả

Tai sau, dù thời cuộc có đổi thay thì thần vẫn luõn hiển Inh bảo hộ và phù giúp

ho trong mỗi bước đường xây dựng quê hương, đất nước ngày một ấm no, hạnh

phúc

©! Dia chi Nam Định Sdd.Tr208

{3 Đa sắc vêm nhất gbi niên dụi ngày 29 thẳng đuăm Đặc Long 41632) Đạo sắc muộn

nhất cả ghỉ niên đại ng y25 thing 7 năm Khải Định 9 (1024) Tất có 10 đụo sắc nay đấu ghi

duệ liệu Thành hoàng Kiệt Công Hân là Long Kiểu lành Thánh đại vương

13

Trang 17

1.3 Niên đại khởi dựng và quá trình tồn tai của di tích

Ai đã từng đi qua vùng đất Nam Định thì khơng thể khơng biết đến chùa tháp Phổ Minh, Khu di tích Đến Trần, hội Phủ Giấy và khi đến với mảnh đất cơn người huyện Nam Trực thà khơng thể bỏ qua cơng trình kiến trúc Đên Gin vat

lễ hội truyền thống nơi đây

Cĩ thể nĩi Hén Gin hiện nay là một trong những cơng trình cổ độc đáo và

đẹp nhất của tỉnh Nam Định Đẻn Gin toa lạc trên địa hình bằng phẳng, trong một khơng gian thống đãng huä quyện cùng xĩm lăng Đến Gm: trong là chính cũng ngồi là liên Các, sân lát gạch cĩ tường bao quanh, e6 hàng cây cổ thụ quanh nãm tộ bĩng mát tạo nên một quần thể kiến trúc độc dáo tại thơn Chiền

xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đến vữa cĩ vai trị là một cơng trình tơn giáo, nơi để tín đổ hành lễ đáp ứng nhu cầu tín ngướng của nhân dân Đồng thời, đến cũng cĩ chức nãng như một ngơi dĩnh làng, là nơi diễn ra các sinh hoại văn hố cộng đồng của nhân dân dịa phường

Điển cĩ tên gọi là Đến Gin như hiện nay là vì: tại đây cĩ chợ Gin nim

ngay trước đến, ở vị trí trung gian giữa hai làng Chiến và làng Hát, vì thể nĩ là

Hiện nay Đên Gin bao gồm các hạng mục: Giải vũ ngoại, Giải vũ nội, tộ

“Tiển Các và khu Chính Cung được xây dựng và tu bổ vào nhiều thời gian khác nhau như: Về niên đại của cơng trình Liên Các, Tiển Các là một cơng trình kiến

trúc gỗ khả hồn chỉnh, trải qua nhiều lẩn trùng tu tơn tạo trên long cốt tiện may

cồn ghi dịng chữ Hám cĩ nội dung cho biết cơng trình được trúng lu vào năm Duy Tân (1911): "Hồng Việt Duy tân tuế Tan Hợi trọng đơng cát nhật thời kiến” và năm trùng tu gần đây nhất là 5/10/2008 Song, tại đây vẫn cịn bảo lưu

14

Trang 18

một số mảng chạm khắc mang đậm phong cách kiến trúc thời Hau Lê thế kỷ

XVIL— XVIIL Va dc biệt là căn cứ vào cách bố trí mặt bằng tổng thể của công

trình đến thì chắc chắn di tích lịc

kỷ tứ XVII — XVTII như: "triệ

sử xây dựng muộn nhất cũng vào khoảng thế

“ Anh hùng sự nghiệp khai thiên địa

Hách trạc thanh linh đán cổ kim”

(Anh hùng sự nghiệp mở trời dất

“Tiếng thiêng lừng lẫy vẫn còn đến xưa nay

Năm Minh Mệnh (1820-1840) được tao dựng) Như vậy, khu Đến chính được tạo dựng năm Minh Mệnh (1820-1840) dưới

u Khải Định 8 (1923) tu sửa lại

triểu vua nhà Nguyễn và mì Quỷ Hợi niền li

đến, mọi công việc đã hoàn thành

Đối với hai dấy Giải vũ ngoại, mặc dù chưa xác định được năm khởi dựng nhưng qua khảo sất kết cấu kiến trúc; kèo cẩu trụ báng, quá giang dơn giản, bờ

née, hờ chảy, bờ bảng theo phong cách nghệ thuật của thời Nguyễn hai đấy giải

vũ trong có kết cấu tượng tự như giải vũ ngoài, tuy nhiên ö giải vũ nội trên quá giang thứ 6 vẫn bảo lưu được một số mảng kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thời Hậu I.ê, đặc biệt là bộ cánh cửa tai giản thờ “quan chân ngua” dé Wi chạm khác hoàn toàn là rồng, với đường chạm bong nhiều lớp Và những con rồng mập map dan xen hoa van “la hoa” tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thế

kỷ XVI

‘Yom lại, có thể dự đoán rằng việc thờ tự sứ quân Kiểu Công Hãn đã có từ trước kia và sau nay vao thời Líận Lê và thời Nguyễn mới xây dựng các công trình cố quy mô như ngãy nay Trải qua bao thời gian cùng với các triểu đại, vã

xự đồng gốp cúng Liến của nhân dân thĩ ngôi đến có quy mô ngày căng lớn hơn

15

Trang 19

Đi tích Đần Gin trung quá trành tân tại, liên quan đến phong trào cúch mang va kháng chiến ở địa phương r

Nam Dương là một vùng quê giàu truyền thống văn hoá và cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Đền Gin lã dia

điểm diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng ghi nhận những đóng gồn của nhân

dân địa phương vào sự nghiệp đấu Iranh giành độc lập dân tộc

Sau khi Cách mạng tháng Tám nam 1945 thành công, chính quyến về tay nhân dân lao động, khắp nơi trong cả nước bừng lên khí thế một nước dộc lập tự

Go

huyện Nam Trực, từ cuối tháng Tám năm 1945 đến đầu năm 1946 chính quyển

do, nguyện một lòng xây dựng chính quyển cánh rnạng và cuộc sống mới

Đến Gin còn là nơi tổ chức các lớp bình dân học vụ tại địa phương Nhiều cần bộ đẳng viên, thănh viên đã xung phong tự nguyện lầm giáo viên và tổ chức

cáu hình thức đố chữ, hỏi ghữ, lầm thơ ca, vẽ tranh tuyên truyền, phát thanh tại

Đên để vận dộng nhân dân học chữ quốc ngữ Cũng trong thời gian nay, ngôi

Điển là địa điểm hội họp, triển khai những nhiệm vụ cách Trạng của các 16 chite

đoần thể quần chúng như: Mặt trận, Phụ nữ, Thanh niên cứu quốc

Cuối năm 1946, thực dân Pháp chính thức quay trở lại xâm lược nước ta trên cả hai miễn Nam Bắc, đặt cách mạng Việt Nam trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đáng đã phát lờ kêu gọi toàn quốc kháng chiến, hiệu triệu đồng bào cả nước đứng lên dánh đuổi quân xâm lược Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng, của Bác

Hồ, Uỷ bạn khẳng chiến và huyện uỷ lâm thời huyện Nam Trực dã phát động

Trang 20

quần chúng tham gia mọi công tác cẩn kíp để phục vụ kháng chiến và động viên

mọi người tham gia nhập ngũ, dân quân du kích

Phong trào tông quân giết giấc trong toần huyện diễn ra sôi nổi, đến làng

là nơi tiễn đưa con em địa phương lên đường tồng quân giết giặc bảo vệ quê

hương Từ năm 1946- 1948, Bén Gin 1a tru sé lam việc của cơ quan Công an và

Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện, nhiều cán bộ cánh mạng được cấp trên

cử về chỉ đạo canh mang tai dia phương đã lui tới Đến Gin để hoạt động, trong

đó có đồng chí Ngô Iluy Tễ (Ngô Quốc Iĩuy) nguyên là huyện đội trưởng huyện Nam Trực Tháng 5 năm 1950, thực hiện chỉ thị của tỉnh uỷ Nam Định và sự chỉ đạo của huyện uỷ Nam TYực về đẩy mạnh nhong trào kháng chiến khu “dân chủ cộng hoa” va lang kháng chiến Hắc Sơn (Nam Thanh) ra đời Khu “dan chil cộng hoa” nam trên trục đường Trắng gồm năm xã Bắc Sơn (Nam Thanh), Đồng Lạc (Đông Sơn) Lâm Hoà (Nam Dương, Bình Minh), Minh Nông (Bình Minh), Nguyén Ling (Nam Loa), va Minh Phú (Nam llồng) Đây là những xã có phong trào trừ gian rất mạnh, địa thể liên hoàn

Đến Gm là cơ sở hoạt dộng của lực lượng dân quân, du kích xã, nơi cất dấu

và bảo quản vũ khí, lương thực, lài liệu bí mật phục vụ kháng chiến Những năm tháng miễn Bắc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng và bảo vệ vững chấc thành quả Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa, vừa chỉ viện sức người sức của cho

sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhát đất nước (1954- 1975) Đến Gmm là địa điểm tập kết lương thực, thực phẩm chỉ viện cho miễn Nam Sau ngày hoà bình thống nhất đất nước (san 1975) đến Gin là nơi diễn ra các kỹ bầu cử quốc hội và hiội đồng nhân dân các cấp, nơi tuyên truyền các chủ trương đường lối chính sách của Đảng pháp luật của nhà nước tai dịa phương Tất cả những sự kiện lịch sử diễn ra lai Đến Gin đã ghi nhận quá trình đấu tranh anh dũng, quá trình xây dựng

quê hương trơng thời kỹ đổi mới rất đáng tự hào của nhân dân Nam Dương Đó

là những chứng cứ lịch sử sống động khẳng định hơn nữa giá trị của Dén Gin,

g6p phan giáo dục truyền thống văn hoá cách mạng,

Trang 21

CHƯƠNG 2

GIA TRI VAN HOA VAT THE CUA DEN GIN

3.1 Giá trị kiến trúc

2.1.1 Không gian cảnh quan

Đổi với người Việt, không gian liên quan mật thiết đến các công trinh

kiến trúc - kiến trúc cổ truyền là một bộ phận của di tích nói chưng, mà nơi hội

1ụ nhất là kiến trúc gắn với lôn giáo tĩn ngưỡng Mỗi ngôi đình, đến, chùa Irước hết là trung tâm văn hoá của làng xã, có khi của một vùng rộng lớn Bên cạnh kết cấu kiến trúc, mà mỗi thời một dạng vẻ, thi vin dé tam Linh được truyền tải theo,

đã giữ một vai trò hết sức quan trong, nhiều khi chỉ phối tới cả bố cục mặt bằng,

chiều cao và các mặt khác của di tích

Việc xây dựng công trình kiến trúc của người Việt từ nhà ở đến dình, đến, chữa thã vấn để không giam cảnh quan có ÿ nghĩa quan trọng, Việc lựa chợn địa thế cho một công trình, đặc biệt là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng có ảnh hưởng tới sự linh thiêng của vị thần được thờ nên cũng ảnh hưởng dối với con người, Đối với một di tích kiến trúc, tiường được quan tâm: tới không gian,

Vì vậy các công trình khi được xây dựng đều được khảo sát rất kỹ lưỡng về mặt bằng, địa thế, hướng đất, đường nước li tích Đển Gm xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định là một công trình kiến trúc thuộc lexi hình tôn giáo

ti ngưỡng, do đó, khi khảo sát la thấy rõ có những đặc điểm chung của một

công trình kiến trúc tên giáo, tín ngưỡng của người Việt

Thật vậy, nhìn toàn cảnh di tích Đẻn Gin, ta thấy toàn bộ di tích có sự

hp hài hoà giữa không gian kiến trúc vã cảnh quan thiên nhiên

Di tích Đến Gm hiện nay nằm ở đầu thôn Chiến (tức xã Hiệp LuẬU), xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Trước cách mạng tháng Tám

nam 1945, địa phận xã Nam Dương ngày nay gồm có xã Bái Dương, và một phần của xã lrang 1Irữ, Hiệp Luật và Cổ Lũng thuộc tổng Hái Dương, huyện

Nam Trực tỉnh Nam Định Đến Gin là dị tích chung của bốn xã: Bái Dương (con

cả), Trang Trữ (con thứ trai), Hiệp T.uật (con thứ ba) và Cổ Luũng (còn thứ tr)

18

Trang 22

Nam Định nói chung va Nam ‘Tre, Nam Duong nói riêng vốn là vùng đất

cổ, có cư dân sinh sống từ lâu đời gắn liển với các giai đoạn lịch sử, hình thành

niên những mrết riêng về sinh hoạt vật chất và linh thần, cũng như toạt động vat hoá của mỗi địa phương cũng mang những màu sắc riêng, dáng về riêng, tạo mẻm

sự khác biệt giữa vũng này với vùng khác Và có lẽ, sự khác biệt ấy thể hiện rõ nhất chính là ở những nét văn hoá dân gian Những nét văn hoá ấy không chỉ c6 trưng cuộc sống sinh hoại vật chất thường ngày của con người, mã nơi đây nó cồn thể hiện trong đời sống tàm linh, tên giáo, tín ngưỡng của họ và Đến Gin xã Nam Dương là một loại hình tiêu biểu thể hiện rõ nét văn hoá ấy Đến Gin nam hoà lẫn với xóm lầng, toạ lạc trên một vũng đất hằng phẳng, nằm liễn kể với đi tích Chùa Xã Chiến — một ngôi chùa có kiến trúc từ thời Nguyễn, đến có kiến

trúc không cao mà trải đầi, gần gũi với thiên nhiên vä con người nơi dây Vì vậy

khi chúng ta bước vào di tích, không cảm thấy bị choáng ngợp mà thấy hoà mình

vào dị tích cảnh quan xung quanh Có thể thấy đó la quan điểm của người Việt -

với tư duy nông nghiệp thì các công trình không vươn theo chiều cao là tạo nên

cẩm giác vị thần được thờ rất gần gũi với cơn người, luôn lắng nghe những ước vọng, cẩu mong của con người va phil trợ cho con người

Nói tới không gian của di tích lịch sử văn hoá cổ truyền ngoài những vấn

để trên thì một trọng diểm nữa của người xưa được đặt vào là “cây cổ thụ”

“Trước hết cây cổ thụ được vĩ như bộ áo trang hoàng cho di tích tránh sự trợ trọi, làm cho chúng hoà quyện vào môi trường và không cách biệt Mặt khác cây cổ thu như nhấn mạnh một diểm cơ bản dể xác nhận nơi mảnh đất có di tích là tốt tươi, thith ứng với đất thiêng,

í lành của muôn loài Do đó, trong khuôn viên của di tích đều được trồng các loạt cây to, có bóng mát, những cây lâu năm, vừa làm tăng vẻ đẹp cho khu di tích vừa tạo bóng mát cho du khách thập phương,

người dân di lễ và chắn gid bao dé bdo vệ công trình Tuy nhiên không phải di

Trang 23

đây cũng mang những ý nghĩa nhất định Ví dụ, cây Sanh, lä loại cây um tim, bồng mát cây được trồng trước cổng đến, xoè rộng xung quanh là rễ cây sãä xuống mại đất như truyền sinh khí của trời cha xuống lồng đất mẹ cho muôn loài

xinh sôi nẩy nở Theo tư duy tâm lĩnh của người Việt, cây Sanh còn được coi là nơi thường ngự của các thần linh dân dã, cũng có khi là nơi nương dựa của các linh hồn bơ vơ, nhờ gần các đến miếu, các linh hồn được nương dựa vào thần mà

ân trước của đến là hai

an quả khác Đặc biệt, c cây Gạo được trồng nhĩa bèn tri di tích, đẳng sau dấy

Giấi vũ phía Tây, cây cao và to Người xưa thường cho rằng, với những chiếc gai

mọc trên thân, cây Gạo cũng trở thành chiếc thang dể lên trời, nó là gạch nối

trong mối giao hoàn than thánh của trời cha đất mẹ Trên ngọn cây với những

hông hoa rực lửa tượng trưng cho tình tú, cho hầu trời để mỗi lần giữa xuân cây

lại gọi nguồn vui Tất cả các loại cây này càng làm cho vẻ đẹp của di tích thêm tuần tảo và uy lĩnh

Tiên Giữ được xây dựng nằm trải dài theo trục bắc nam, đây là hướng thường được chú ý nhiều hơn cả Đên hướng về phía Nam, là hướng gió mát mẻ

vé mùa hè, tránh rét về mùa đông, “Lấy vợ hiển hoà, Jam nhà hướng nam” Theo đạo Phật thĩ hướng Nam trong sáng, đồng nhất với trí Luệ, mà đạo Phật lấy trí tuệ

để diệt ngu tối, tức mầm mống của tội ác Hướng Nam còn mang tỉnh dương

cũng gắn với diều phúc, diễu thiện, Đây chính là hướng truyền thống trong việc

lựa chọu cho các di Lích của người Việt Kiến trúc theo hướng Naun khiến cho vị thần trở nên linh thiêng hơn, yên vị hơn và có thể nghe những lời cầu mong của con người, phù hộ độ trì cho con người

Đên thừ toa lạc ở một vùng đất bằng phẳng ngay đầu thôn Chiến, dây li

Trang 24

của lịch sử ngôi đến đã được hình thành và phát triển cùng với người dân nơi đây, nơi chứa đựng những ước vọng cña cơn người, cẩu cho vị thần của mình

được linh thiêng, để phù trợ cho con người được ấm no, Hạnh phúc, mở mang trí

đãi theo trục Bắc Nam Trải qua bao tháng trầm của lịch sử với các lần trùng tu, tu

bổ, sửa chữa trên mặt bằng tổng thể đó lã các thành phần kiến trúc lần lượt được

bố trí theo thứ tự từ ngoài väo trong như sau: Trước khi bước vào cổng dén [a

giếng đến, bức bình phong, và một miếu nhỏ mươi thờ bà Phạm Thị Giả (người có công dâng rượu, gỗi cá trắm cho thần ăn trước khi hoá) Tiếp đó là Nghị môn hay còn gợi một cách thông thường đó là cổng đền Qua Nghỉ môn là đến Sân ngoại, là sân trước của đến được lát hoàn toàn bằng gạch đỏ có điện tích 634 1u, Nằm đối xứng trên cũng mặt sân là hai dãy Giải vũ ngoại, mỗi dấy Giải vũ có

được xây dựng theu kiểu “CỔ đẳng hai Lắng tám mãi”, có mặt bằng hình hình chữ

nhật cổ kích thước: 8,70m x 5,20m Toà Tiến Các có chiéu cao là 4,92m (gốm hai tầng), nằm sát hai bên toà Tiển Các là hai cổng phụ, tạo thành một hệ thống, khép kĩm bảo vệ công trính kiến Irúc bên trong Sau Tiển Các là Sản trong, Giải

vũ nội và khu vực Đền chính Sân trong với diện tích 286,9 m” Ở phẩu giữa sân

từ ngoài vào trong là con đường chính đạo dài 8,70 m, rộng 1,20 m, được lát

bing gach vuông nung già cố kích thước: 0,40 m x 0,40 m Nằm đối xứng nhau

trên cũng một sân là hai đấy Giải vũ nội hình chữ nhật, mỗi dãy có kích thước: rộng 3,90 m và dài 19,90 m, gầm 9 gian cững được xây theo kiểu “tường hỏi bít đốc”, Cuối cùng là bộ phận kiến trúc trung tâm: Đến chính, gồm 5 gian Tiển Đường và hai gian Cung cấm Tiên Đường e6 kích thước đàu: 13,80 m, rộng 6,35

m, Cung cẩm có kích thước: đài 4,05 m và rộng 3,70m Diện tích được sử dụng

là 3290 m°,

Trang 25

Như vậy, trong mặt bằng tổng thể kiến trúc của đến thờ, bao quanh các hạng mục kiến trúc, kiển Gin được xây dựng ẩn hoà trong một khung cảnh thiên

nhiên có nhiều cây cối, tạo cho dí tích một dáng vẻ uy nghiêm khiến cho com người đi đến đây sẽ giải toả được lâm lý, để lâm hồn trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng Ở đớ con người sẽ dược vị thần của mình che chờ, phù trợ cho cuộc sống

ấm no, hạnh phúc

2.1.3 Kết cấu kiến trúc

¡ Nghi môn:

Vao đến, trước hết phải qua một Nghỉ môn, có thể có một lối vào, ba lối

vào hoặc năm lối vào Nhưng đối với Đến Gm, thì Nghị môn là một công trình xây dựng khá đơn giản với một cổng ra vào rộng 4.70 m Đây là công trình được xây dựng chủ yếu bằng chất liệu gạch Bát Trăng, vôi cát miết mạch liối vào chính đó được tạo bởi hai cột đồng trụ, mỗi cột cao 5 m Đồng trụ được cẩu tạo gồm ba phần: Đỉnh trụ đặt nghê châu bằng sứ, thân trụ được tạo tác đơn giản đó

là một khối cạnh hình vuông rộng 0,60 m Tuy không có hơa văn trang trí nhưng thân trụ cũng cổ các riểm tạo nên đường gờ chỉ tạo thành các đường viễn, dược nhấn bằng đổi câu đối chữ Hán, khiến cho công trình không bị đơn điệu: “Tản sơn hạ vương tích cả yên, thiên nhiên cố quốc kiếm mã đỉnh tiên hành bất nhiên ngô dĩ tiền hán quận đường đô đẻ mang mang thiên ngoại vong

Khúc giang thượng thần nunh trạch thứ tứ cố bình khu phượng long giao thuy khí các tự đinh nhỉ hậu lý dàn lê miếu chí kim lịch đế ân sùng”

Dịc

“Dưới nủi Tân là nơi vương ở ngần năm cố quốc liếng gươn ngựa

đi đầu chẳng phẩt như đời Ngô về truớc bị lần lâm quận huyện đường đặt đô

nang mang nối đường ngoài trời trồng

Trên sông khúc là thâm minh trạch bốn phía bình khu khí phượng rồng giao thuy thấy từ nhã Đinh trở lại đời Lý lập đàn tên lê dựng miến thờ lịch lịch đến nay để kính ơn”,

Chân để đồng trụ dược xây dựng theo kiểu chân quỳ, Nối liễn với hai cột

đồng trụ cồn có hệ thống tường hơa xây bằng gạch Bát Tràng, miết mạch tạo ống

tơ cao trên Í m, nhằm khép kín để bảo vệ công trình

22

Trang 26

+ Sán ngoại vả giải vũ ngoại :

Qua nghỉ môn là đến sân trước của Đền hay còn gọi là sân ngoại Sân có diện tích 634 mm? (25,8m x 24,6m) toàn bộ sân đều được lát bằng gach đổ Sản trước là không gian thiêng của đến thờ, là nơi diễn ra các nghỉ thức, nghỉ lễ Nằm đối xứng trên cùng mặt sân là hai dãy Giải vũ ngoại (J)†nh 2) Sở di có các dãy Giải vũ là do sau khi Kiểu Công Hần mất nhân dâu 4 xã: Bấi Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật và Cổ Lũng đã lập đến thờ ông ngay trên phần mộ củ Do d6, bon day Giải vũ ngoài và trong lä để cho bốn xã đó sửa soạn cỗ, dồ nghỉ lễ để cúng thần

khi đến dịp lễ hội của đến thờ Hai dãy Ciải vũ ngoại, mỗi đãy có 5 gian được

xây dựng theo kiểu `'†hu hổi bất đốc” với kích thước: 3,90m x 13.4m Hộ khung Giải vũ gồm 6 bộ vì thiết kế theo kiểu ''kèo cầu trụ báng” (in 3), quá giang đơn giản Tại đây đầu ngoài của quá giang ăn mộng vào cột hiên, đầu quá giang bên trong được gác trực tiếp vào tường hậu, tạo thành bệ đỡ cho bộ vì quá giang

“Trên thượng lương của Giải vũ có ghi dòng chữ tiấm: “Hoàng Nguyễn Duy Tan

bất niên Giấp Dần thập nguyệt cát nhật tu tạo” (Ngây tốt thang mudi nam Gidp Dần triểu vua nhà Nguyễn Duy Tân thứ 8 (1914) sửa chữa lại nhà giải vũ” Trên

quá giang của Giải vũ còn ghi “Đại tu: H T 4 Giáp Tuất 1994” Như vậy, dấy

Giải vũ ngoại từ ngày khởi dựng cho đến nay đã trải qua ba giai đoạn Từ năm khởi dựng đến di vua Duy Tân thứ 8 (1914) thì sửa chữa tu tạo đến năm Giáp Tuất tức nam 1994 lại tiến hành dại tu lần nữa Mặc dù hai dấy Giải vũ ngoại không gì rõ niên đại khởi dựng nhưng những phong cách trang trí còn lại thi mang đậm phong cách thời Nguyễn lộ mái Giải vũ hoàn toàn lợp bằng ngói vay

cá, trên mái xây bờ nóc, bờ chây và bờ bằng cũng theo phong cách nghệ thuật

của thời Nguyễn

Nền nhà hai dãy Giải vũ cao hơn mặt sân gạch là 20 em và dược lát bằng,

xi mãng cát để chống ẩm thấp tạo sự khô thoáng, sạch sẽ cho dân lãng khi sửa

soạn cỗ bản, đề tế lễ khi có lễ hội

+ Toà Tiền Các :

Toà Tiền Các là khu vực chính để “tín đổ” tiến hành việc hành lễ Do đó,

"Tiên các được xây dựng c6 quy mô khá đổ sộ, và cao hơn so với các đơn nguyên

23

Trang 27

khác Đây là một ngôi nhà nằm ngang, gồm 3 gian 2 chái, được xây dựng theo

kiểu “cổ đẳng hai tầng tám mát” (Hình 4) Tiên Các là một hạng mục quan trạng

của kiến trúc Đến Gin, nha nim quay mặt vẻ hướng nam Toà Tiển Các có chiểu

"Theo chiểu dọc nhà thì toà Triển Các được thiết kế theo kiểu “tứ hàng

chân” (4 hàng chân cột) gồm 2 cột cái và 2 cột quân ở hai bên Theo chiểu ngang

nhà thì nhà cố 4 bộ vì, Hai vì ngoài cùng (vì số I và vì số 4) chỉ gồm bốn cột

quân mà không có

cột cái (vì đây là nhà 4 mái) Hai vì giữa (vì xố 2 và vĩ số 3)

có đủ 2 cột cái và 2 cột quân và có bộ vì nóc Tại gian hai bên tạo bởi bộ vì số I-

2 và bộ vì số 3-4, lại có hệ thống vì nằm ngang nhà kết cấu theo kiểu “cốn chồng, rường” (Hình S) Vì số 2 và vĩ xố 3 có hai cột cái và hai cội quân, theo chiều ngang nhà thì hai vì này có quá giang nhưng không có trụ và không có bộ vì kèo

nóc Bộ vĩ Tiên Các được gia công theo kiểu “chồng rường bẩy tiền mê cốn”, do

toà nhà là hai tầng nên với kết cấu này đã đẩy bộ mái lên cao, tạo độ thoáng cho

toà nhã, Khoảng cách các cột theo chiều ngang nhà là 2,2 m Theo chiều dọc nhà

thì khoảng cách giữa các ¡ là 1,95 m, giữa cột cái và cột quân là 1,2 m Để

tạo nên bộ khung lim của toà liển Các, các nghệ nhân đã tạo mộng én liên kết

giưã cáo cột cái và các cột quân bởi hệ thống xà thượng, xà hạ xà ngang và xà

dọc lao thành một lớp giẳng chắc ch

Trên cũng lä xà nóc hay còn gọi thượng lương với chất liệu gỗ hình chữ nhật chạy dài với dòng chữ Hán ghi: "Hoàng Việt Duy Tân tuế Tân lợi trọng dông cát nhật thời kiến” (Giờ tốt, ngày tốt, tháng mùa đông nãm Tân Hợi triểu

24

Trang 28

vua nước Việt là Duy Tân (1911) sửa chữa toà Tiển Các) Với phong cách kiến trúc hai tầng tám mái nên lớp mái phía dưới được cấu tạo bởi hệ thống xả nách

ãn mộng từ thân cột gái ra thân quân ra hiện là hệ thống bẩy

ộI quân, cồn từ

cong đỡ tầu mắi Nằm trên xã nách là bộ vì mè cốn đỡ hoành, rui của công trinh

Kết cấu mái Tiền Các dược cấu trúc theo hai tầng sẵn có của công trình Cấu trúc của mái hoàn toàn là cấu kiện hoành, rui, mè trong có ngói lót, bên trên lợp ngồi

mũi hài

Bộ cửa Tiên Các được chia thành hai loại: Hệ thống cửa được gia công

theo kiểu bức bàn khung khách chạy hết chiêu dài 3 gian Tiền Các MỖI gian c6

4 cánh cửa được đặt trong khung gỗ lắp ngưỡng gắn chân quay Toàn bộ ngưỡng

và bộ cửa hoàn toàn bằng gỗ lun, còn hệ thống cửa sau không lấp ngưỡng và

công lrình, hiện nay địa phương đang sử dụng bộ “d

bằng gỗ để che chắn mưa nắng tránh làm hư hại đến công trình Căn cứ vào công

năng, ý nghĩa kiến trúc của toà Tiển Các thì trước đây toà nhà này để trống và cũng không bài trí đồ thờ Song, qua thời gian, chức năng cúa công trình đã dẫn

thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu thờ cúng của nhân dân

Vẻ phẩn nên móng toà Tiển Các, phẩn nên được tên cao hơn mặt sân

khoảng 6Ö em và cổ mặt hình chữ nhật với kích thước: 8,70m x 5,20m, hiện lái hoàn toàn bằng gạch vuông nung đổ, xung quanh nến bó vỉa bằng gach Hát Tràng Đây là loại gạch lát nền dễ hút ẩm nhưng cũng dễ thoát ẩm không đọng, nước Nằm sát hai bên Tiền Các là hai cổng phụ được xây dựng bằng gạch vữa

theo kiểu “cổ đẳng” hai tầng tắm mái Sự liên kết giữa Liên Các và hai cổng bên

tạo thành hệ thống khép kín để bảo vệ công trình bên trong của khu đến

Tiên Các Đến Gin là một công trình kiến trúc gỗ khá hoàn chỉnh, trải qua nhiều lẩn trùng tu, tôn tạo trên long cốt may cồn ghỉ dòng chữ Hầu gồ nội dung

cho biết công trỉnh được trừng tu vào năm l2uy Tân Lần lợi (191 1) Song tai day

cồn bảo lưu dược một số mảng chạm khắc mang đậm phong cách kiến trúc của

thời Hậu 1ê thế kỷ XVII — XVII, và đặc biệt là cân cử vào cách bố cục mật

bằng kiến trúc tổng thể của công trinh Đền Gin thi chắc chắn Dị tích lịch sử này

xây dựng muộn nhất cũng vào khoảng thế ký XVIIL- XVII Qua thời gian, công

25

Trang 29

trinh cing dén dân bị xuống cấp nén toa Tiển Các lạ được sửa chữa vào 5/10/2008 Như vậy, tịa Tiền Các từ ngày khởi dựng đến nay đã trải qua hai lần xửa chữa lớn

¡ Sân trung và giải vi! nội:

Qua Tiên Các là vào đến sân trong, sân trong cĩ diện lich 1A 268,9m? (21,2

m x 13,6 mì Ổ phẩn giữa sân theo chiểu từ ngồi vào trong Đền chính cư con đường chính đạo đài 8,70 m, rộng 1,20 m, dược lát bằng gạch vuơng nung giả cĩ kích thước 0,40 m x 0,40 m, họa văn trên hiện vật khắc hoa nổi bật hình hoa chanh mang phong cách thới Irần thế kỷ XIII- XIV Liat bên hằng gạch hoa chanh (7b: 6) là sân lát bằng gạch nung đỏ cĩ kích thước 0,20 m x 0.20 m, Nằm đối xứng trên cùng mật sản là hai dãy Giải vũ nội (//inh 7) Mỗi dãy Giải vií cĩ 9 gian được dựng trên một mặt phẳng hình chữ nhật với kích thước: 3.90 m

x 19.90 m Về cơ bắn, kiến trúc Ghải vũ phía trong được kết cấu tương tự như hai dãy Giải vũ ngoại Như vậy, tổng cộng các tồ Giải vũ cĩ 28 gian và dài 33,20 1m Phẩn trang trí tạt hai tịa Ciải vũ nội và Giải vũ ngoại trong kiến tric Hén Gin

mặc dù là hạng mục bổ trợ, song tại đây vẫn cịn bảo lưu được một số mảng

chạn khắc mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê thế kỷ XYII- XVIH (/inh 8) Những mảng chạm khắc đĩ được thể hiện rõ trên quá giang của gian thứ 6 trong tộ Giải vũ nội phía Tây Cùng với đĩ, ở hai dãy Giải vũ nội cĩ gian cuối

thờ “quan chăn ngựa” Tại đĩ cĩ bộ cảnh cửa gian thờ với đẻ tài chạm khác hồn

tồn là rồng (#finh 9), với các dường chạm bong nhiều lớp, nhiều tầng và những

con rơng mập mạp, khoẻ khoắn, đan xen cịn cĩ những hoa văn đao mắc lá hoả

ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII

Nền nhà của hai dãy nhà cũng được lát bằng xi măng để tạo sự khơ

thống, sạch sẽ Dãy Giải vũ ngồi là của con cá Bái Dương và cơn thứ hai Trang, Trữ, cịn hai đấy trong là của cơn thứ ba và con thứ tư là Hiệp Luật và Cố Lãng

“Tạt sản trong là nơi thiêng liêng, đân làng khơng được vào cúng bái nhất là khi

cĩ lễ hội Nơi đây chỉ dành riêng để kiệu bát cống và cây cỗ, cịn sân ngồi để

cúng tế và tiến hành việc hành lễ

¡ Đền chính:

Trang 30

Đến chính là kiến trúc trung tâm của Đến Gin Công trình có kết cấu hình chữ dinh CT) gồm hai hạng mục: Tiền Đường và Cung Cấm (finh 6),

* Tiên đường:

Tiển Đường cổ kích thước: dải là 13,80 m, rộng 6,35 m chạy gần hết chiều rộng của khuôn viên đến, với mặt bằng 5 gian 2 chái được tạo bới 6 bộ vì Nêm nhà 'Tiên Đường cao hơn mật sân là 40cm, phía trước có xây bậc lên xuống, nên nhà được lát bằng gạch vuông nung đồ có kích thước: 0,30 m x 0,30 m Xung quanh hiên được b6 via bằng gạch Bat Trang, Mat bằng công trình được bố trí thành 5 gian 2 chát, có kích thước đăng đối nhau: gian giữa rộng 2,60 m, hai gian hai bên rộng 2,50 m, hai bẽn giáp dốc cũng rộng 2,50 m Phần lòng nhà

rộng 3,70 m, hiên nhà rộng 0,90 m

Khác với toà 1iển Các, Đến chính được xây dựng theo kiểu một ting bon

mái Kết cấu kiến trúc tại toà Tiển Đường gồm 6 bộ vì, tạo thành 5 gian theo

dụng vĩ "tứ hàng chân”, mỗi vĩ gồm bốn cột: hai cột cấi mỗi cột cao 3,60 mị,

bằng chịu lực cho hệ thống cột Để tạo nên bộ khung của toà Tiền Đường, người

†a dũng ba dạng liên kết chủ yếu: vì nóc gồm 3 gian giữa, vì đốc gồm 2 gian bên

và liên kết hiên

Vì nóc của toà Tiên Đường chỉa thành hai loại: gồm 4 bộ vì của bu giam

giữa và hai vì giáp đốc liến bộ vì của ba gian giữa gia công theo kiểu: “chồng

rường giá chiêng câu đầu trụ non con cung” Cả bốn bộ vì đếu đặt trên tám cây cột gúi có chiếu cao 3,60 mí Nối giữa các cột cái của gian chính giữa là 4 câu đầu có chiêu dài 2,45 m, chính giữa âu đầu là hai iru non cao 8Q cm chân trụ non tỳ lực vào câu đẩu, đầu trên ghép mộng đỡ “xà bụng lợn” (con cung) Giữa

“xà bụng lợn” kế đấu vuông đỡ thượng lương, hai đầu của "xà bụng lợn” đặt

“guốc hoành” đố hệ thống hoành mái trước và mái sau của công trình Nối vào than tru non mỗi bên có 6 con rường ngắn, ba con rường bẻn phải đỡ ba cây hoành mái trước, ba con rường bên trái dỡ ba cây hoành mái sau Với cách kết

22

Trang 31

cấu như vậy, toàn bộ sức nặng của bộ mái đều chia đều lực cho các bộ vì, tạo nên

sự bền chắc, hơn nữa lại góp phần mở rộng không gian cho nơi thờ tự

Vì giáp đốc có được một bộ khung công trình với bốn mái cong, thì từ cột cái của hai vĩ đốc cô hai xã đũi dài 2,50 m nối ra hai cột quân ở hổi nhà Trên các xà đùi là bốn trụ lửng cao trên 1,20 m, nối giữa các cột trụ lửng là hệ thống câu đầu dài 2,50 m, được liên kết chặt chế bởi kiểu “mộng luồn” Đặt trên các

âu đầu là hai vĩ đốc làm kiểu “mê cốn” Đặc biệt để tạo nên bộ mái với các đao

góc uốn cong thì từ các trụ lửng ở hồi nhà có các kể góc, một đầu của kẻ ăn mộng vào thân trụ lửng, một đầu gối vào cột quân phía dưới Do kết cấu như vậy

đã tạo nên bộ khung cõ hình dáng 5 gian 2 chái với bốn mái cong truyền thống

Vi hiên: 'Trong kiến trúc gỗ truyền thống của người Việt để tạo nên bộ mái rộng có thể vươn xa thủ cấu kiện được sử dụng chủ yếu là hai cấu kiện: cột hiên

và bẩy hiên Đến Œin cũng là một trong những dựng kiến trúc dược nghệ nhân ấp dụng theo phong cách đó Vì hiên của đến được tạo thành bi bốn vì có chung đặc điểm là liên kết kiểu "chồng rường” Vì hiên của công trình được tạo dựng

Bẩy hiên Tiền Đường gồm 6 cay bay, than bẩy ăn mộng vào thân cột hiện

một dầu ñ lực vào dạ "xà nách”, một đầu vươn ra xa dể dỡ tàu mái cùng hệ thống,

Lai bên hồi toà nhà cũng được xây tường hồi nhằm bảo vệ kết cấu gỗ bên

trung và đỡ một phần trọng tải của bộ mái xuống hệ thống cội Cũng để bảo vệ

công trình dân làng sử dựng bộ “dại” bằng gỗ ở ngoài hiên không để cho nắng

28

Trang 32

mua lam hại cơng trỉnh Với hệ thống hồnh hình vuơng dưới là ngối lốt, trên là

ngĩi mũi hài, các đao mác uốn cong rất đẹp mắt cho ta cảm giác như chiều cao

của mi, của tồ nhà được nâng lên

* Cung Cấm:

Cung Cẩm hay cồn gọi là Hậu cung, đây là tồ nhà dọc với kiến trúc hai

gian, được xây dựng nối với tỗ Liên tường theo kiểu giao mái bắt vần Lai gian

Cung Cấm được dựng quay dọc nối với Tiền Đường tạo thành tồ nhà cĩ mặt bằng hình chữ đỉnh (TƠ, cĩ kích thước: dài 4,05 m, rộng 3.20 m Bộ khung cơng trình được gia cơng theo dạng vì "tứ hàng chân” Lại đây cĩ ba vì kèo với 6 cột cái và 8 cột quân, vì số 1 và vì số 2 thiết kiểu vì “mê cốn”, cồn vi số 3 là kiểu vì

Cơng Hãn, tượng bằng đồng nặng 1,7 tấn Hức tượng được đặt ngay phía trên mộ

ngài Mộ mới được tu sửa năm 2007, trước đây mộ làm bằng xi măng, bây giờ

được ốp đả Gian bên ngồi đạt nhàng ẩn thờ cơng đồng, bao quanh khẩm thờ cồn

cĩ 6 cội quân nằm cách tường 30 cm, các cột nãy cĩ nhiệm vụ đỡ hệ thống “kể ngồi” ở vì nách nổi giữa cột quân và cột cái Do vậy, tồn bộ sức nặng của bộ mái dồn xuống hệ thống cột quân, cột cái và tường xây bao xung quanh chỉ cịn mang,

tĩnh chất che chắn, hoần tồn khơng cĩ Iác dụng chịu lực

Nên nhà tồ Cung Cấm được lát hồn tồn bằng gạch hoa vuơng cĩ kích thước 0,20 m x 0,20 m, làm cho khơng gian trong cung sạch sẽ, càng trở nên tỉnh mịch linh thiêng hơn Tộn bộ mái dược lợp bằng ngồi mũi hài, cĩ đao mắc 'Yươn cao và cong như gọi mây, gọt giĩ cầu mong mưa thuận giố hịa đem đến sự

ấm no, hạnh phúc cho con người

Nhin chung, Lổng thể kiến trúc Đến Gin, xã Nam Dương, huyện NanrTrực,

tỉnh Nam Định là một di tích lich sử văn hố rất cĩ giá trị, cùng với hệ thống kiến trúc rất đẹp mắt và hiếm thấy

2.2 Giá trị nghệ thuật

Trang 33

2.2.1 Trang tri trên kiến trúc

+ Trang trí bên ngoài kiến trúc:

C6 thé nói rằng, bất kỳ một di tích nào nếu thiếu di nhimg mang cham

trang trí kiến trúc do bàn tay các nghệ nhâu tạo niên thì giá trị của n6 sẽ giảm đi

bộ kiến trúc nội thất cũng như ngoại thất toát lén vẻ đẹp huyền ảo

Bằng phương pháp quan sắt, nhãn tử đẳng trước 1a thấy toà Tiển Các có kết cấu hai tầng tám mái kiểu “c6 dang” (Hink 4), với các đầu đao uốn cong Trên

nóc mái, đường bờ nóu được Lao bằng «i many vat song khong thé cing, bởi rác

nghệ nhân đã tạo ra các đường gỡ chỉ lớn nhỗ khác nhau Tại bờ nóc được trang trí “lưỡng long chấu nguyệt” Đó là hai đầu rồng có các bờm tóc ngắn hat ngược

Ta phía sau, mat Idi dit ign, ôm lấy đường bờ nóc, cả hai đầu rồng đang hướng

ninh vão mật nguyệt Mật nguyệt ở đây như một cụm mây, xưng quanh được tạo những tia mây lửa theo tư duy nông nghiệp của người Việt thì mây lửa tượng, trưng cho nước Trang trí kiến Irủe như vậy, la dễ nhận thấy phong cách nghệ thuật thời Nguyễn Ở hai đầu hồi đắp kìm nóc tiếp đố là bờ guột rồi đến các đầu đao vươn cao và cong uốn rất sinh động Đầu đao được tạo tác bởi các vân mây trốn cong hướng väo mái nhã tạo cảm giác thanh thoát Tất cả các dễ tài trang trí

trên được làm bằng chất liệu xi m

aug song được nghệ nhân Lạo dlầng sinh động,

mềm mại gớp phần tăng thêm giá trị thẩm mì cho công trình

Phần lớn trang trí trên mái này ta lại gặp một lẫn nữa tại mấi toà Đến chính (#finh LŨ), song kích thước lớn hơn Dên chính có kết cấu hình chữ định

(D, một tầng bốn mái Tàu mái đọc và tàu mái ngang šn mộng vào nhau tạo

thành ấu tàu Tại nóc, hai dầu hối đáp kìm nóc nơi đó không có trang trí "lưỡng long chdu nguyệt" như toà Tiển Các nhưng lại được trang trí ở ngay đoạn chính giữa bằng đường hồi văn rất mềm mại và cân đối Tại khúc khuỷnh có hai con

30

Trang 34

nghé đang quay mình vào trong mái nhà, đuôi xoè ra, miệng há rộng Ở hai đầu

bờ nóc là hai mái nhỏ kết cấu vuông góc với mái chính rất độc đáo, đáng chú ý

là hai bên mái nhỏ được trang trí đắp hoạ tiết hổ phù ấn trong mây Đây là phong

cách trang trí phổ biến trong kiến trúc có kết cẤu kiểu “thu hổi bít đốc” Trên bờ

guột, bờ đải đấp nghê chấu bằng vữa còn các đầu đao chỉ đắp rổng uốn cong bằng chất liệu bê tông

Nhin chung, trang trí ngoài kiến trúc ở Điển im hấu hết được lao bằng

chất liệu vôi vữa, xi mãng nẻn còn khô khan và thô cứng chưa lột tả được những

nét tỉnh xảo của con giống ở đây, song, nó vẫn thể hiện những nét tài hơa của

những nghệ nhân, đã lần trị

+ Trang trí bên trong kiến t

Mấu như trang trí bên ngoài kiến trúc bằng chất liệu vôi, vữa, xì mảng thì ngược lại trang trí bèn trong kiến trúc bằng những mảng chạm “gỗ” rất tỉnh xảo, thể hiện rỡ trên bức mẻ cốn, các dấu bẩy, các bộ vì của toà Tiên Các, Tiển Duong và Cung Cẩm

* Toà Tiên Các:

Đồ án trang trí đầu tiên ta bất gặp đó là trang trí ở gian giữa Tiển Các

Gian giữa dược tạo nên bởi hai bộ vì số 2 va vi sé 3 khá hoàn chỉnh có kết cấu

giống nhau Cụ thể trên vĩ nóc được trang trí rất linh xảo, gia công theo kiểu

*chổng rường bẩy tiền mê cốn”, trên cùng là thượng lương được đặt trên một đấu hình thuyẻn, tiếp đến là đấu vuông thót đấy trang trí hình hoa sen IÍoa sen gắn với ý nghĩa cầu phúc, được chạm khắc ở đến n6 biểu hiện cho sự sang quý, tỉnh

tế và vi điệu Để tăng thêm vẻ đẹp thì doc theo trụ nay người ta đã tạo tác ra một con doi, chan bam vào thượng lương hai cánh dang rộng, miệng ngậm chữ thọ hình tròn tượng trưng cho ý niệm về “phúc thọ song toần” Tiếp đến, hai dầu của con rường thứ nhất được tạo dáng hình bông hoa cúc, để tài hoa cúc được chạm rất mập và mềm mại, kết hợp với cáo mang chạm như thế trên các cơn rường bên dưới Đố các con rường là đấu vuông thét dầy, bao quanh các con rường và trên

31

Trang 35

quá giang là để tài cham hoa văn lá lật Toàn bộ chu tiết trang trí được kết hợp

bởi phong cách chạm nổi va cham bong kénh

Khác với đổ án trang trí và kết cấu này, ta bối gap & hai mang trang trí

giáp với bộ vĩ số I vã vi số 4, có kết cấu mãi vuông góc với mái chính, bộ vì của mái này không có trụ mà là bộ vì ván mê, trang trí bằng mảng chạm hồ phù ngậm chữ thọ dn trong may, mang twang trí tạo tác theo kiếu chạm nổi và chạm

bong kênh Mặt hổ trông dữ tựn, miệng ngậm chữ thọ lĩnh trồn

“Trên bộ vì số 2 và vì số 3, các chủ để trang trí trên vì nách và bẩy hiên dược kết hợp nhuần nhuyễn bởi các chỉ tiết chạm nối và chạn bong, Trên vì nách phải và vĩ nách trái là bức cốn mê, các máng chạm ở đây gắn liên với xà nach tao thành mắng trang trí dày đặc Trên phần mê cốn là mắng chạm hoa văn

“triện tàu lá dất” /#fimh 11) và ôm lấy dầu xà nách là mảng chạm hoa văn “lá lật” trông rất mềm mại Đây là mô tuýp trang trí mà chúng ta gặp nhiều trong trang trí nghệ thuât truyền thống của người Việt

Bẩy hiên cũng được trang trí rất đẹp mắt, cả bẩy tiển, bẩy hậu đều sơi chỉ

Mang trang trí trên bẩy hiến hoàn toàn bằng "lá lật” (7h 12), đặc biệt bẩy triển

cố dáng cong như kẽ cổ ngỗng (inh 13), phía trên bẩy có ván gỗ đố hoành, với

kết cẩu này ta nhận thấy rõ ở cội quân của lai gian giáp với tường hồi

Tại lrai gian (gian tạo bởi bộ vì 1-2 và 3-4) có hệ thống vĩ nằm ngàng nhà,

bộ vì ngang nay có kết cấu theo lối “chồng rường cột trốn” (7iinh 5), được tạo tác rất tinh xảo với mảng trang trí hoa vận “lá lật” bao quanh các con rường và trên đầu xà nách Đỡ cột trồn và đỡ các con rường là đấu vuông thớt day

Một diễu đặc biệt nữa là tại gian giữa gồm hai bộ vì số 2-3, theo chiều ngang có quá giang nhưng lại không có trụ và không có bộ vì kèo nóc, ở đây cũng chính là gian giữa của toà nhà được treo bức đại tự bằng gỗ có hai dòng chữ

Han:

* Chiêu mình cao huấn

Duy Tân Mậu 'Ihân niên tứ xã phụng sự

(Công lao của thần rực rỡ Năm Mậu Thân dưới triểu vua Duy Tân (1908) bốn xã cũng thờ phụng).

Trang 36

Tóm lại, tổng thể trang trí kiến trúc toà Tiển Các đã tạo ra một thế giới thiên nhiên gần gũi với con người, với cuộc sống của họ Cụ thể, hình tượng rồng

không chỉ đơn thuần dé tao ra dáng vẻ cho trang trí mà theo quan niệm của

người xưa, rồng là biểu Lượng cho mây mưa, dao rác là sấm chớp, nó chính li

hiểu tượng cho quyển lực và sức mạnh của tầng trên Đặc biệt hình tượng mặt hổ

phù ở toà Tiển Các dược thể hiện rất to lớn, nó nổi lên như là chủ để trang trí chính vữa làm dep cho kết cấu kiến trúc, đồng thời qua hinh tượng hồ phù, người xưa muốn thể hiện ước vọng về cuộc sống ấm no hạnh phúc, cầu cho mưa thuận

gió hơà, Ngoài ra trên kiến trúc còn nổi bật lä mắng chạm khắc hoa văn hình “lá

lật”, "triện Wau lã tla’, “hoa cic” Tạo niên mot thế giới cỏ cây sinh động mà thực

tế gần gũi với cuộc sống của con người

* Trang tri ở toà Tiên Đường;

Căn cứ vào đôi câu đổi khẩm trai treo tại hiên Tiên Đường:

cách trang trí trên kiến trúc của toà Tiến Đường thể hiện trên các phẩn chạm

khắc đều mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn

Cụ thể, trên các bộ vì của Tiển Đường chúng 1a bắt gặp các đồ án trang trí rất tỉnh xáo và đa dạng Trên xà trung gian giữa được trang trí bằng đôi rồng

chẩu vào trung lâm mảng chạm là "hỗ phũ” công mãi trời (ah 74) Mặt hổ

trông đữ tợn: "mất quỷ”, mũi nhô cao, gãy khúc, đầu đội mặt trời với nhiễu tia

lửa dang toa ra, trong đó có một tia cao nhất giữ vị trí trung tâm, miệng hổ ngậm

chữ thọ hình tròn Đối xứng qua mặt hổ phù là đôi rồng đang nằm trong tư thế

33

Trang 37

với dáng đầu nhê cao, uốn lượn nhiều khúc, lẫn trong mây, đuôi xoắn ốc với

nhiều đao mác, tạo ra xoáy ốc rất đẹp Lao mác một biểu tượng của “chớp” trong

ý thức cầu mưa của cư dân nông nghiệp lúa nước, dao mac thường gần liễn với

các linh vật đặc biệt là rồng Tuy nhiên hai con rồng ở đây không hoàn toần giống nhau khiến ta liên tưởng tới một con rồng trống và một con rồng mái Rồng bên trái nhìn dữ tợn, bờm rồng có 5 cụm tóc uốn lươn xuôi về phía đuôi,

ác cựm bờm mảnh và nhọn Rồng bên trái mặt hiển hơn, bờm rồng hơi xoẩn lại

và hướng về phía trước Trên lưng rồng tại khúc uốn cuối cùng được tạo tác một cơn kỳ lân nhở dang bám vào duôi rồng làm cho bức chạm trở nên sinh dộng va vui mal

Bên dưới đồ án trang trí này là hệ thống vách thuận Vách thuận là một bộ cửa dục thông phong chạm khắc để tài tứ linh: long, ly, quy, phượng (#finh 15) ite vin được chia thành các ö lớn trang trí rất đẹp Xen kế với để tàu tứ lịnh là những cụm mây làm cho các con vật ở đây như đang nhảy múa, vui đùa quấn quỹt với nhau, tạo cẳm giác ấm cị

Cụ thể, rồng được chạm khá sinh động, đầu rồng gần như không nhô ra

g và gần gũi

ngoài, mắt rồng đữ tợn, miệng hơi há ra, hai mắt tròn lỗi, bờm tóc dài hất ngược

về phía sau Thân rồng có vây nhưng rất mềm ai, quấn quật với lĩnh vật khác Xen ké rồng là phượng, phượng hay cồn gọi là chim thiêng, là một con vật không có thực nhưng hội tụ yếu tổ sức mạnh của vũ trụ hiện thân của thánh nhân Nó tượng trưng cho vẻ dep quý phái Đây là con vật vũ trụ, chủ của bầu trời mây và là tâm của vũ trụ rộng lớn Và về mật nào đó phượng mang ý nghĩa

biển hiện của tầng trên, biển hiện cho hạnh phúc lứa đôi Phượng được chạm rõ

nét, đầu phượng hướng ra ngoài nhưng không nhô lên mà đang ở trong tư thế bay, hai cánh xoè ra, đuôi thả tự nhiên Phượng được diễn tả gần gũi như với con công, con gà chạm nổi củng hoa lá Tiếp đến là trang trí lân và rùa Lân là con

vật huyển thoại, trong hệ thống tứ linh Lân tượng trưng cho uy quyền, đại điện

Trang 38

Một linh vật khác luôn là biểu tượng của sự bên vững đó là rùa Rùa được tạo tác nh nhất nằm dưới cùng của mang trang trí Rùa sống dưới nước hiển

lành không gây tội ác Trong tư duy cổ truyền, rùa gắn với nguồn nước cũng như gắn với bầu trời Theo quy định dịch học, rùa là sự hgp thé của âm dương của

trời đất, là biểu tượng của sự tồn tại và phát sinh, phát triển rùa được tạo tác nhỏ nhất nằm dưới cùng của mảng trang trí

Đổ án trang trí Liép thee được thể hiện rên các bộ vĩ của toà Tiên Đường

Như phần kết cấu kiến trúc đã nẻu ra, bẩn bộ vì của ba gian giữa Tiền Đường dược gia công theo kiểu “chồng rường giá chiêng, câu dầu trụ non con cung” (Hinh !6) Cụ thể, hai bộ vì nốc ở gian giữa c6 kết cấu giống nhau, có lối trang trí phong phú, tỉnh xảo: chân trụ non tì lực vào “quá giang”, đầu trên của trụ ghép

rộng đỡ “xã bụng lợn” (con cung), cốn trụ được đặt trên một đấu vuông thốt day

trang trí hình hoa sen Giữa "xà bụng lợn” cũng được kê một đấu vuông đỡ thượng lương, hai đầu của "xà bụng lợn” đặt “guốc hoành” đỡ hệ thống mái của công,

trình Nối väo thân trụ non, mỗi bên cỡ 6 con rường ngắn, cấu con rường đượu tao

tác dáng "hoá long”, ta có thể nhận thấy mát, mũi, tai và đao mác rất rõ ràng, kết

hop với các niảng trang trí bao quanh các con rường đó là đề tài hoa cúc Trên quá giang cũng được tạo hình bằng những bông hoa cie clam ral mập và mềm mại

“Toàn bộ mắng trang trí trên được kết hợp nhuẩn nhuyễn bởi các chủ tiết chạm thông phong, chạm nối và chạm bong kênh rất tỉnh xảo

G hai gian bên giáp gian giữa, hai bộ vi nóc cũng đựcc tạo tác theo kiểu

“chong rường giá chiêng” (/finh 77), được chạm trổ rất đẹp với để tãi hoa lá Tiên các con rường của bộ vì đếu được trang trí bằng hoa vấn: “lá lật” theo phong cách chạm nổi va cham bong kênh, trên câu đầu cũng được trang trí như ở gian giữa chạm khắc những bông hoa cúc rất mập thể hiện tài năng chạm trổ của

các nghệ nhân, Thông qua đó cồn thấy được ước vọng của con người về một

cuộc sống ấm cúng, hạnh phúc và cùng sinh sôi phát triển Tiếp đó là hai bộ vĩ

số I và vì số 6 của hai gian giáp với tường hồi Hai gian này có kết cấu mái vuông góc với mái chính, hai bộ vì không cố trụ mà là vần mê nằm dọc theo xã đại, trên vấn ruê là mắng trang trí “triện tầu lá dất” (ïfừah 18)

35

Trang 39

‘Tar hai gian ditgc tao bdr ofc bS vi 1-2 va 5-6, c6 hé thong vi nam ngang nha (Hing 19), Từ trụ trốn nối với cột cấi có một bức vần mê Trên cốn mề và xã đều được trang trí bằng chủ đẻ hoa lá mà chủ yếu là hoa cúc và lá cúc cách điệu

Do kết cấu như vậy đã tạo nén bộ khung nhà với bốn mái cong truyền thống,

bộ n cấu kiện chủ yếu là cột hiên và bấy hiền Vì hiên được tạo dựng bới bốn bộ vĩ cố

TĐể lao ¡

rong có thể vươn xa người thợ tài hoa đã sử dụng hai

chung đặc điểm là liên kết kiểu “chồng rường” (ïfinh 20) Nối từ cột cái ra cột

hiên là bốn cây "xà nách” dài 120 em Trên "xà nách” là một liên kết bởi ba con

rường, Các con rường được đặt lên nhau thông qua các dấu vuông thớt dáy, Trên

cde von rường được nghệ nhân chạm khắc để “tử linh” (long, ly, quy, phượng) đan xen lẫn hoa văn "lá lật" mang phong cách thời Nguy€n (Minh 21)

Trang mỹ thuật thời Nguyễn, đặc biệt là trong các đồ ấn trang trí kiến

Trúc, rắng luôn được để cao và nó cũng thường xuyên được nghệ nhân sử dụng trong các mắng trang trí mỹ thuật ở cäc di tích Nó có mặt ở mọi nơi của kiến trúc vã dược biến hoá nhiều kiểu cách Rồng là con vật cớ mặt trong tất cả mọi

thời kỷ của nên mi thuật trung đại Tuy nhiên mỗi thời kỳ có một đáng vẻ khác nhau, nhưng trong ứng xử với người đời, nó lại phải phân thân để thích hợp với lòng người, rồng là biểu tượng dũng mãnh, tung hoành Chính vì vậy, mà trong

bộ điều khắc tứ lĩnh, con rồng bào giờ cũng được xuất hiện như một biểu Lượng không thể thiếu được

Cụ thể, trên xà nách của vì hiên rồng được thể hiện với dáng đầu nhô cao,

thân cố nhiều khúc uốn mễm mại, được chạm nổi với nhiều đao ruấc toa ra,

miệng hơi há to, rồng đang trong tư thế chuyển động Rồng cồn được trang trí trên các “vần bưng thông gió”, “xà thượng và xà hạ” ở công trình hiên Ván

bưng ở gian thử hai và gian thứ tư đều chạm khấc hoa vân ảnh sen” bao quanh

để tài trọng tâm "long cuốn thuý" (#ữu# 22) rất tính xảo Đặc biệt hơn là phần

gỗ bung ở gian giữa (gian 3) chạm nổi bật hoạ tiết "lưỡng long chẩu nguyệt” (dlink 23) Đôi rồng nầm trong tư thế đối xứng nhau qua mật nguyệt, thân uốn lượn, đuôi xoấn ốc với nhiều đao mác, Rồng còn thể hiện sự biển hóa Đôi khi chỉ vài chiếc lá được cách điệu cũng trở thành một con rồng lá khá đẹp, cũng có

36

Trang 40

*khu là sự hoá thân của cây mai, cây trúc Dưới bàn tay của nghệ nhân chúng trở nên đẹp và đầm ấm, khoảng đạt và phẩn ánh việc lịnh thiêng hoá những cây cổ

mang nhidu ý nghĩa, hiểu tượng gắn với con người

Để lài này được thể hiện rõ nét trên bẩy hiên một cách tỉnh xảo, lại cây

bẩy số 2 và số 5 được trang trí “lá lật hoá long” (Jình 24), còn tại cây bẩy số 3

và số 4 thì được tạo tác một con réng, dé tai trang trí bằng các đường chạm sâu,

sắc nét đã tạo nên một dáng vóc những con rồng đẩy đủ thân đuôi, đầu thì nhô cao, mình uốn khúc mềm mại với bố cục gọn gàng trong chiéu dai cha timg chiếc bẩy (in 25) Rồng còn được biến hoá trên các “vấn bưng thông gió”, là họa văn “mai hoá long”, được trang trí bao quanh mắng chạm “tưỡng long chẩu nguyệt” lâm cho mảng chạm thêm nổi bật sinh động

Suy cho cùng rồng vẫn là linh vật được quý trọng trong các mảng trang trí, nổi lên sau rồng là lân Trên đầu bẩy lân được tao tác khả tỉnh tế, đó là một com

kỹ lân với tư thế chân đang bước đi, đầu ngoảnh lại trông rất sinh động Lân con được thể hiện rõ trên nghé bẩy Nghé bẩy được tạo thành con kỳ lân đỡ xà nách

và có mộng ãn với xà nách Kỳ làn dang trong tư thế bước di lên, có bờm tốc

được tạo thành các xoáy ốc trồn xung quanh đầu, nhưng không có simg, mắt lồi,

muéng rộng, một chân bước lên, một chân khuy xuống trong tư thế tạo đã để di chuyển

Ngoài đẻ tài tứ linh, toà Tiển Đường cồn nổi bật lên là để tài hơa lá, chủ yếu là hoa văn "lá lật” được chạm trên các con rường ở vi hiên, rồi đến các đầu bẩy đặc biệt là bẩy số I và bẩy số 6 Bên cạnh đó, để tài này còn được trang trí

Nhìn toàn bộ để án trang trí trên kiến trúc của toà Tiển Đường, ta có thể

nhận thấy rõ lối trang trí hết sức phong phú Tuy những mảng trang trí trên kiến

37

Ngày đăng: 13/06/2025, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2: Giải vũ ngoại - Luận văn tìm hiểu giá trị văn hóa nghệ thuật Đền gin xã nam dương huyện nam trực tỉnh nam Định
nh 2: Giải vũ ngoại (Trang 85)
Hình  5:  Bộ  vi  nằm  ngang  toà  Tiền  Các - Luận văn tìm hiểu giá trị văn hóa nghệ thuật Đền gin xã nam dương huyện nam trực tỉnh nam Định
nh 5: Bộ vi nằm ngang toà Tiền Các (Trang 87)
Hình  7:  Giải  vũ  nội - Luận văn tìm hiểu giá trị văn hóa nghệ thuật Đền gin xã nam dương huyện nam trực tỉnh nam Định
nh 7: Giải vũ nội (Trang 88)
Hình  16:  Vi  nóc  toà  Tiền  Đường. - Luận văn tìm hiểu giá trị văn hóa nghệ thuật Đền gin xã nam dương huyện nam trực tỉnh nam Định
nh 16: Vi nóc toà Tiền Đường (Trang 93)
Hình  20:  Vì  hiên  toà  Tiền  Đường. - Luận văn tìm hiểu giá trị văn hóa nghệ thuật Đền gin xã nam dương huyện nam trực tỉnh nam Định
nh 20: Vì hiên toà Tiền Đường (Trang 95)
Hình  22:  Trang  trí  trên  “Van  bung  thong  gid” - Luận văn tìm hiểu giá trị văn hóa nghệ thuật Đền gin xã nam dương huyện nam trực tỉnh nam Định
nh 22: Trang trí trên “Van bung thong gid” (Trang 96)
Hình  24:  Trang  trí  ở  bẩy  hiên  Tiển  Đường - Luận văn tìm hiểu giá trị văn hóa nghệ thuật Đền gin xã nam dương huyện nam trực tỉnh nam Định
nh 24: Trang trí ở bẩy hiên Tiển Đường (Trang 97)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w