1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quản lý khu di tích lịch sử lam kinh huyện thọ xuân tỉnh thanh hóa

132 3 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Hoàng Thị Võn
Người hướng dẫn TS. Lờ Văn Tạo
Trường học Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Văn hóa
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Văn Tạo, người hưởng dẫn khoa học; + Khoa Sau Dai Hoe - Truong Dai hoc Văn hỏa Hà Nội; các thầy giáo, cô giáo tham gia quân lý và giảng đạy trong thời gian hoe tp tai trường; + Sở Vă

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VẢ ĐẢO TẠO BO VAN HOA, THE THAO VA DU LICH

TRUONG DAIHOC VAN HOA HANOI

HOANG THI VAN

QUAN LY KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH

HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HOA

Chuyên ngành Quán Ïý văn hóa

Mã số: 6 31 73

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN LY VAN HOA

Người hướng dẫn khoa học: 18 LÊ VĂN TẠO

HÀ NỘI —2012

Trang 2

Li CAM ON

Trong qmá trình thực hiện đê tài, với tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọng câm ơn:

+ TS Lê Văn Tạo, người hưởng dẫn khoa học;

+ Khoa Sau Dai Hoe - Truong Dai hoc Văn hỏa Hà Nội; các thầy giáo, cô giáo tham gia quân lý và giảng đạy trong thời gian hoe tp tai trường;

+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa;

+ Bao tang tinh Thanh Hóa;

1 Han quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh;

+ Ban quân lý Dự án các công trình văn hóa,

+ Cơ quan, gia đỉnh, bạn bẻ, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điểu kiện để tôi hoàn thành

Tain văn này

Tuy di có nhiều cổ gắng, song do công việc nghiền cứu tải liệu và sự hiểu biết còn hạn chả,

Chắc chắn Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiêu sót Tác giả kính mong được sự góp ý và chỉ

dẫn, để để tài được hoàn thiện bm

Xin trần trọng cảm ơn |

Thanh Hóa, thủng 5 năm 2012

Tác giã luận văn

Hoang Thị Vân

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC QUẦN LÝ;

1.1 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam

1.1.1 Cơ sở khoa học - a 12

1.2 Tổng quan về khu di tích lịch sử Lam Kinh 20

1.2.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thanh huyện Thọ Xuân - 0

1.2.2 Lịch sử hỉnh thành đi tích lịch sử Lam Kinh 22

1.2.3 Ilién trạng danh thắng, đi tích, đi vật và lễ hội ở Lam Kinh 24

1.3 Những giá trị lịch sử - văn hóa của khu di tích Lam Kinh 39

1.3.3 Giá trị nghệ thuật AI

CHUONG 2: THUC TRANG CONG TAC ' QUẦN LÝ KHU ĐI TÍCH LICH

2.1 Cơ cầu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Ban quản lý di tích lịch sử

2.1.1 Cơ cầu tổ chức bộ máy quản lý di tích Lam Kinh 45

2.1.2 Chức năng va nhiệm vụ hoạt động của ban quản lý di tích Tam

2.2 Các mặt hoạt dộng trong công tác quản ný khu di tích lịch sử Lam Kinh

2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kẻ hoạch về bảo tổn và phát huy giá trị khu đi

2.2.2 Tả chức tuyên truyền quảng ba, gidi ¡thiệu về di tich 49

2.2.3 Tổ chức kiểm kê, bảo quản, tu bể, phục hồi vả lôn tạo đi tích 52

2.2.4 Tổ chức nghiên cứu, sưu (Âm, hội thảo khoa hoe va toa dam tim hi

Trang 4

2.2.5 Phối hợp với địa phương quản lý di tích tổ chức lễ hôi bảo về trật tự

2.2.7 Tổ chức hoạt động địch vụ và vệ sinh n môi trường .74

2.2.9 1Iuy động nguân lực và sử dụng hiệu quả nguôn lực cho bão tổn và

hát huy giá trị đi tích 76

2.10 Công tac thi dua khen thưởng, thanh kiểm tra và xử ily vị phạm tại di tích

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NANG CAO HIEU QUA

CONG TAC QUAN LY KHU DL TICH LICH SU LAM KINH 80

3.1 Những uu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quán lý khu di tích lịch sử

3.1.1 Ưu điểm ¬ TH HHnhhihhie —

3.2, Định hướng phát triển của khu di tích lịch sử Lam kinh 84

3.2.1 Định hướng của Chính phủ về công tác quản lý khu di tích lịch sử

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và phát huy giá

3.3.1 Giải pháp về cơ cầu lỗ chức bộ máy quản lý vả công tac can bd 88

3.3.2 Giải pháp về công Lắc phát triển toàn diện tại khu di tích 91

3.3.3 Gidi phap vé 6 chite quan ly cac hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị

sinh môi trường

3.3.5 Giải pháp phát triển hoạt động da lịch theo hướng

3.3.6 Giải pháp thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm

3.3.7 Xã hội hóa trong công tác quản lý khu di tich lịch sử Lam Kinh 105

Trang 5

Giáo sư tiền sỹ

Hội đông khoa học Khoa học lịch sử

‘Van hoa thing tin

'Văn hóa Thể thao và Du lịch

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẰNG

Tổng hợp số lượng khách du lich đến tham quan Ehu di tích lịch

Tổng hợp các dự ản tring tu tôn tạo đã được thực hiện trong giai

Trang 7

MO BAU

1 Tính cấp thiết của để tài

1.1 Tỉnh Thanh Hóa, đặc biệt là vùng đất Lam Sơn nơi điển ra sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, nơi sinh thành và hun đúc nên người Anh hùng đân tộc Bình định vương Lê Lợi,

noi tim vé va tụ nghần của các đanh nhân, đanh tưởng lùng lẫy của đổi nước lrong cú

nghữa chống quân Minh xâm lược (Thế kỹ XV), nơi thờ củng tổ tiên và cũng lả nơi mai táng các

vị Hoàng để, Hoàng Thái hậu nhà Lễ Vùng đất này đã lưu giữ rất nhiễu đi sản văn hóa đặc sắc,

là vến quỹ, nguồn nội lực to lớn của tinh trong sự nghiệp xây đựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã

hội Bảo tôn và phát huy có hiệu quả đi sản văn hóa này không chủ là trách nhiệm của chúng ta

đổi với lịch sử dân tộc, mã còn gớp phần xây dựng nên văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà ban

sắc đân lộc

1.3 Vừng đất thiêng Lam Kinh, quê hương vả cũng là căn cứ địa của cuộc khơi nghĩa

Lam Son do người anh hùng áo vải Lê Lơi lãnh đạo, sau 10 năm trường ky kháng chiến chẳng

giặc Minh xâm lược (1418-1428) giành lại nên độc lập đân tộc, ngày 15 thúng 4 năm Mậu Thân (1428), Lẻ Lợi chính thức lên ngôi hoàng để ở Đông Kinh (Thăng 1ong) và cho xây dựng Sơn

Lang tai quê hương Lam Sơn tức Lam Kinh

Khởi xướng từ vị vua đêu triều 1 am Kinh Tiên tục được dựng xây, tu bỗ trở thành

đất Tó, thở củng tổ tiên nhá Lê sơ và nhiều thé ký sau này của nha Lê trung bung Lam Kinh

thực sự trở thành một tâm điểm của không gian văn hóa Lam Sơn, là mmột trung tâm tín ngưỡng,

văn hóa quan lrợng của vùng đất và dân lộc

Gin 600 năm qua, sự tản phá của thời gian và chiến tranh đã làm những công trinh kiến

trúc ở Lam Kinh bị lúy hoại Tuy vậy , ấn còn nhiều di vật kiến trúc và điêu khắc còn sót lại

như: lãng mộ, bia ký, tượng rằng, nền móng kiến trúc, chân tảng, thành lũy, hào nước, vật liệu

xây dựng Đây là những cử liệu, hiện vật lịch sử quan trọng trong khảo cửu, bảo lồn, phái huy

di sản văn hóa dặc Diệt

Sau cach mang Thing Tam năm 1945, với đường lỗi bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Đăng, Lam Kinh đã được Nhà nước xếp hạng là một trong những di tích lịch sử - văn hóa đặc biệt quan trọng ngay trong đơt đầu tiền năm 1962 [làng chục cuộc khảo sát và khai quật

khảo cỗ được tiền hành để tim lại qny mỗ kiến trúc các công trình ở Lam Kinh Năm 1961, Bộ

Trang 8

Văn hỏa đã cho xây đựng lại nhà bìa Vĩnh Lăng, Năm 1985, tình Thanh Hỏn đố cho phục chế đôi rông ở thêm trước Chỉnh Điện, dựng lại bia ở làng Khôn Nguyên vả tu sửa một số lăng mộ

1.3 Căn cử váo giá trị lịch sử - văn hỏa và nghệ thuật của Khn di tích Lam Kinh, ngày 22

tháng 10 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 609/F1g phê duyệt dự án quy

hoạch lổng thể về Iu bễ, phục hội và lôn tạo khu đi tích lịch sứ Lan Kinh ĐỀ thực liện chương

trình quốc gia về “Bão tẩn và phái huy các giá iị lịch sử - văn háa ở Lam Kinh”, thàng 10 năm

1994 UBND tính Thanh Hỏa đã ra quyết dịnh thành lập Ban quản lý di tích Lam Kinh, trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa, qua nhiều lần tách, nhập đến ngày 20 tháng 10 năm

2009, Ủy ban Nhân dân tỉnh 'Thanh Hóa ra quyết định số 3728/Q11- LRND thành lập Ban quản

lý khu đi tích lịch sử Lam Kinh, trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin, đứng với tĩnh thân của văn bản Lmật đi sản văn hóa

Tit khi thành lập cho tới nay Ban quân lý di tích đã tô chức có hiệu quả như: phối kết hop với Viện kháo cỗ học Việt Narn, Báo tàng lịch sứ Việt Xam khai quật làm rỡ giá trị lịch sử của di

tích, tổ chức các cuộc hội thảo khoa hoc tim hiểu thêm về triều Lê sơ và một số địa danh kan

quan đến khởi nghĩa Lam Sơn, tổ chúc phòng trưng bày giới thiêu về di tích và các hiện vật khai quat duoc tai di tich, hang nim tổ chức lễ hội vào ngày 2L đến 23 tháng Tám Âm lịch, nhiều dự

án, hạng mục công trình được tu bổ và đưa vào phải huy giá trị nhục vụ phát triển kinh tế văn

hại, nan lây cắp cổ vật, tỉnh trạng mắt an ninh, trật tự trong các địp tế lễ, hội hẻ và việc ứng dụng công nghệ cao trong công lắc trưng bảy, bảo quản, nội (hải, trang Thiết bị trưng bảy chưa xứng

tầm với đi tích

Trang 9

Nhin thie duge tn quan trong cửa công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa, học viên

đã chọn để thi “Quân lý kim di tích lich sit Lam Kinh huyện Thọ Xuân, tink Thanh Héa” tian luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quán lý Văn hóa cúa minh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Km di tích Lam Kinh là một di tích có quy mô lén, có giá trị lịch sử vàn hóa đặc biệt

trong dong chảy lịch sử văn hóa dân tộc Chỉnh vì thế kể từ khí được khởi đựng đến nay Khu đi tích Tam Kinh đã được các bộ sử lớn của đần lộc để cập đến như: Đại Việt thông sử của Lễ Quý

Đôn; Tịch triều liễn chương loại chú, Hoàng Việt dư địa toàn đã của Phan Huy Chủ: Đại Nam

Nhất thẳng chỉ của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, và đã có nhiền công trình, bài viết của các học giả nghiên cứu, tìm hiểu về di tích: danh thăng và lịch sử khu đi tich Lam Kinh nhu: Di sich lich sit Lam Kinh ảo Trình Xgừ biên soạn (Nxb Thanh Hóa, năm 2001); 7henh Hóa Đi tích và danh /hẳng Tập 11 do Bảo tàng tính Thanh Hóa biên soạn; Lịch zử Thanh Hóa tập TT của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (Nxb Khoa học và xã hội, năm 2002); Khư đi tính lịch sử

am Kinh của tác giả Nguyễn Vân Hảo (Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2007); Dia chỉ huyện Thơ

“Xuân của nhóm tác giả Phạm Tấn, Phạm Tuấn, Iloàng Tuân Phô (Nxb Khoa học xã hội, năm

2005); Luan án tiến sỹ khoa học lịch sử của Nguyễn Văn Đoàn về &Jhư đi tích trung tam Lam

Kinh Thanh Hóa (năm 2004); Luận văn Thạc sỹ khoa học văn hỏa của Tê Văn Tạn về Nghệ

ghuật kiến múc và điều khảa các lãng mộ triều Lê sơ Lam Kinh (năm 2001); Cá một Lam Khủi dưới lòng đất của Tiên sỹ Phạm Quốc Quân, Tiên sỹ Nguyễn Văn Đoàn; Xứ Thanh vài nét về lịch sử - vấa hỏa của cô Giáo sư Trân Quốc Vượng (Nxb VHDT và tạp chỉ VHNT Hà Nội,

năm 1998), Thanh Hỏa thời Lê Ký yêu hội tháo của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hỏa (năm 2008); Lam Sơn thực luc do Nguyễn Diên Niên kháo chứng, Lê Văn Uỏng chú dich

(Xxb Khoa học xã hội, năm 2006); 1,8 7hỏi TỔ và các công thân thời Lê của Hoàng Hùng (Nxb

hanh Hóa, năm 2001); Các vua về hoàng hậu táng ở Lam Kinh của Lê Văn Viên (Nxb Thanh

Hóa, năm 2008), Xác định rõ hơn nguồn gốc của Lê Lợi và một số địa danh liên quan din Khoi

nghĩa Lam Sơn của Pham Tân Ân phẩm Di tích lịch sử Lam Kinh của Ban Quản lý di tích và danh thắng Thanh Hỏa Ngoài ra còn cỏ một vải học giá người Pháp như Cadiere, Parmenfier,

Geloubew, Bezacier cling đã nghiên cứu về Lam Kinh Các công tình nghiền cửu này chủ yếu

giới thiệu vẻ lịch sử đi tích, về thân thể sự nghiệp cúa vua Lê và các công thần thởi Lẻ trong khỏi nghĩa Lam Sơn, về cáo vua và hoàng hậu thời Lê được thờ cứng tại đầy và nghiên cứu sâu về

giá trị lich sit, giá trị văn hóa, nghệ thuật của khu di tích

Trang 10

Qua những tác phẩm và công trình nghiên cứu khoa học lrên cho thấy, ngoài T.uận văn,

Laiận án cửa tác giá Lễ Văn Tạo đã đưa ra một số kiến nghị về bảo tôn và phát huy giá trị đi tích,

thi cho dén nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào dễ cập tới công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh Vì vậy, trong quả trình nghiên cứn triển khai đề tài “Quấn j‡ kim di tích

lịch sử Lan Kinh huyện Thọ xuân, tình Thanh Hóa", tiền cơ sở tiếp tha,

quản lý đi tích, học viên góp phân đưa ra những nhận định đánh giá về thực trang, để ra giải pháp

quân lý để đề tính ngày càng phát huy tắc dụng và hiệu quả

ông trình nghiền cửu của các lắc giả đi rước,

3 Mục dích và nhiệm vụ nghiên cứu

31 Afác đích nghiên cửa: Tiên cơ số khảo sát, phân tích thực trạng hoạt đông quán lý khu đi tích lịch sở I.am Kinh nhằm nhận diện mặt tỉch cực, hạn ch

và nguyễn nhẫn của những

hạn chế trong công tác quản lý di tích Luận văn đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao

hiệu quả công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh trong giai doạn hiện nay và thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứaa

- Nghiên cửu, đánh giá tống quan và đặc trưng giá trị khu đi tích lịch sử Lam Kinh

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý đi tích lịch sử văn hóa

~ Khảo sói, phân lich, dinh giá thực tạng hoại động và công lác quản lý khu đi tieh lịch

sử Lam Kinh từ năm 1994 đân nay,

~ Đỗ xuất một số giãi phúp góp phẩn nâng cao hiệu quả công tác quấn lý khu đi tich Fich

sử Lam Kinh

4 Thủ lượng và phạm vì nghiên cửu

4.1 Di tượng nghiên cửu

Nghiên cứu các nội dung hoạt động quán lý khu đi tích lịch sứ Lam Kinh Trong điều kiên có thê mở rộng nghiên cứu đến các hoạt đông quản lý các khu đi tích khác để so sánh như:

Khu đi tích Đền IIừng (Phú Thọ), khu đi tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (IIãi Dương)

4.2 Phạm vị nghiên cứu

Không gian: Nghiên cửu cơ sở lý thuyết và thực tiễn công lác quản lý kim di tích lịch sử Lam Kinh; nghiên cứu quản thể khu di tích lịch sứ Lam Kinh, huyên Tho Xuân, tỉnh Thanh Hóa; nghuên cứu hiệu quả hoạt động của Ban quản lý di tích lịch sử Lam Kinh

Trang 11

Thời gian: Từ KHú có quyết định thành lập Ban quân lý kha đi tích lịch sử Lam Kinh

(1994) đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp luận: Vận dựng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, duy vật biện

chứng và đường lỗi văn hóa, chính sách của Dảng và nhà nước, đồng thời xuất phát từ thực trang

quản lý đi tích đổ nhìn nhận, xom xét, đánh giá vẫn đồ trong quả trình niên cứu

5.3 Phương pháp nghién cima

Sử đụng phương pháp nghiên cửa liên ngành và vận đụng những lý luận của khoa học quản lý, quản lý di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, bảo tàng học, văn hóa học, giáo dục học, xã hội học

Sử dụng phương pháp khảo sát thực tế tại khu di tích, áp dụng các ky nang phang van,

miêu lä Nghiên cứu thự trạng công lác quản lý đồng thời phân tích, tổng

thông kê, quan

hợp những tư liệu vì khu di tỉch lịch sử Lam Kinh dễ đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong

quản lý khu di tích Lam Kinh, đưa ra những giái phảp quản lý, góp phần năng cao hiệu quả phát tuy giả trị di lich

Sử dựng phương pháp so sánh để tim hiểu và rút ra nhận xét làm sảng tỏ vấn để quản lý,

tro khả năng áp dụng các mô hình quản lý hiều quả ở các đi tích khác

6 Ý nghĩa khua học và thực liễn của dễ tải

6.1 Về nuặt khoa học

- Để tải cung câp một cái nhìn toàn điện về thực trạng công tác quản lý di tích

- Cang cấp nguồn tài liệu tham khảo, góp phân làm phong phú thêm nội dung nghiên cửa trong chuyên ngành Quản lý văn hóa

6.2 Về mặt thực tiễn

ĐỀ lái góp phần hoàn thiện và nẵng cao công tác quân lý khu di tích lịch sử Lam Kinh, là tài liên tham khảo hữu ich cho các đi tích trên địa bàn tính Thanh Hóa và các địa phương ngoài tỉnh về di tích đặc biệt quan trọng tương tự khu đi tich Lam Kinh

7 Bố cục luận văn: Ngoài phân mớ đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sẽ lý luận về công tác quan Wj va (ang quan về khu di tích lịch sử Tam

Kinh

Chương 2: Thực trạng công tic qin lý khu đi tích lịch sử Lam Kinh

Trang 12

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC QUẦN LÝ;

'TỎNG QUAN VẺ KH DỊ TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH

1.1 Cơ sỡ khoa hạc và pháp lý cho công tác quán lý khu di tích lịch sử Lam Kinh

Cơ sở khoa học và pháp ly 1a những điểu kiện cần và đủ trong hãi kỳ một hoạt động

quận lý nào Công lắc quản ly đi tích lịch sử văn hoá được tiến hành trên cơ số khoa học và pháp

ly la thể hiện tinh đặc thủ cúa đổi tượng quản lý (di tỉch lịch sứ văn hoá)

1.1.1 Cơ sẽ khoa học

1.1.1.1 Khải niệm về quản (ý

Về nội dưng, thuật ngữ “Quản lý” có nhiễu cách điển đạt kháo nhan Đây là một thuật

ngữ Hán — Việt, theo ngiữa thông thường là trồng nom, sắp đặt công việc hoặc gin giữ, theo

đôi Tiếng Anh, Pháp thuật ngữ chỉ quản lý, trông nam đều có chung pac tr Manage

‘Theo Các Mác thỉ: "Quản lý là một chức năng đặc biệt này sinh từ bản chất xã hội của

quá trình lao động” [15, tr.29] Nhân mạnh cho nội đụng này ông viễt

Tat ca moi heat dong trac tiếp hay mọi động cơ chung nào tiên hành trên quy mô

tương đôi lớn thỉ it nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá

nhân và thục hiện những chức năng chung Một người độc lâu vĩ cầm tự rrình điêu

khiến lây mink, còn một dân nhạc thỉ cần có nhạc trưởng |lồ, tr.480|

Thông qua một sé quan di4m trên, chủng ta nhận thấy rõ bản chải của quản lý va

hoạt động quản lý bát nguồn từ sư phân công, hợp tác lao động Quản lý là một hoạt đông

khách quan nảy sinh khi cân có sự nỗ lực tập thể đê thực hiện mục tiêu chung, Quản lý điễn

ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trỉnh độ xã hội cảng

cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai tò của quản lý càng tăng Với ý nghĩa thông thường,

Trang 13

phổ biểu thì quản lý được hiểu là: Hoạt động nhằm tác động một cảch có tổ chức và định

hưởng cúa chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chính cäc quả trình xã hội

và hành vi cửa con người nhằm duy trì tính ổn định và phải triển của đối lượng theo những

mục tiêu đã định |32, tr.03{

Vi vậy, quản lý bao gồm các yếu tô sau

Chủ thể quân lý là tác nhân lạo ra các lắc dộng quản lý, chủ thể luôn là cơn người

hoặc tó chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những

phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định Dối trợng quán lý tiếp nhận trực tiếp sự tác đông của chủ thể quản lý 'tuỷ theo từng loại đổi tương khác nhau mà người †a

chia thành các đạng quân lý khác nhau Khách thể quản lý chíu sự tác đông hay sự điều chỉnh của chủ thể quân lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hệi

Me tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quán lý ra đời chính là nhằm đến hiệu

quá nhiễu hơn, năng suất cao hơn trong công việc

1.1.1.2 Khải niềm về dĩ tích lịch sử - văn hóa

Chương TV, điểu 28 Luật Di sản văn hóa quy định về di tich fich sử - văn hóa phải là

a- Công trình xây đựng, địn điểm gẵn với sự kiên lịch sử Hêu biểu trong quá trình dựng

nước va gitt nude

b- Công trình xây đụng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh lùng dân tộc,

danh nhân của đất nước

e- Công trình xây đựng, địa điểm gắn với sự kiên lịch sử tiêu biểu của các thởi kỳ cách

mạng kháng chiến

d- Quần thể các công trình kiến trúc hoặc cổng trình đơn lẻ có giá tr tiên biển về kiến trúc,

nghệ (huật của một hoặc nhiễu giai đoạn lịch sử [37, tr 22]

Di tích lich sit van hoá được tạo ra bởi cơn người (lập thể hoã

ä nhân), là kếi quả của hoạt đông sáng tao lịch sử, văn hoá của con người Văn hoá ở đây bao gằm cả văn hoá vật chất

và văn hoá tỉnh thần.

Trang 14

Nhiên nước trên thế giới đều đặt chung cho DTLS§ — VH là đâu tích, vết tíeh còn lại

“Tiếng Pháp viẾt Vestige, tiếng Anh cũng viết là Vestige, iểng Nga viết Porniatrik, 'Irung Quốc

gọi là “Cỗ tích” Mỗi nước trên thé giới dều dưa ra những khái niệm, quy định về DTLS VH của dân tộc mình Trong diễu 1 của hiễn chương Venice — Italia quy định:

DTLS - VH bao gồm những công trình xây đựng đơn lẽ, những khu di tích ở đồ thị hay

nông thôn, là bằng chứng của mội nên văn trừnh riêng biội, của một sự liễn hoá có ý ngiấa hay là

một biển cỗ về lịch sử [29, tr 12] G Việt Nam cng có nhiều khải mậm quy định về IYTLS —

VH, thông thường theo tử diễn Bách khoa Việt Nam: “Di tích là các loại dấu vết của quả khú, đổi tượng nghiền cứu của Khảo cỗ học, Sử học Dĩ lích là sản phẩm van hod - lịch sử được pháp luật bảo về, không ai được tu tiện địch chuyên, thay đổi, phá huỷ" [44, tr 667]

Hội nghị lân thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VTH đã ra nghị quyết sô 03 —

NQ/TƯ ngày 16/7/1998 vé vide xây dựng và phải triển nên văn hoá Việt Nam tiền tiễn đệm đã

ban sắc dân tộc Trong đó nhân mạnh: Di sản văn hoá là tài sản vô siá, gắn kết công đồng dân tộc, là cốt Tối của bảm sắc văn hóa dân lộc, cơ sở để sảng lạo những giả trị moi va giao Iau vin hoá, Hết sức cơi trọng, bảo tôn, kế thứa, phát huy những giả trị văn hoá truyền thông (bắc học, dân gian), văn hoá cách mang, bao gồm cả vẫn hoa vit thé va vin hoa phi vt thé Di tích lịch sử văn hoá là mội bộ phận quan trọng của Di sản văn hỏa Ở nước la thco pháp lệnh: “Bản vệ và sứ:

dụng đ tích lich sit van hóa và danh lam thẳng cônh” công bỗ ngày 4/4/1984 quy định như sau:

“Di tích lịch sử văn hóa là những công trình, dịa diễm, dỗ vặt, tại liệu vá tác phẩm có giả trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hơi

quá trình phát triển văn hoá, xã hội” [31, tr.03]

có liên quan đến những sự kiện lịch sử,

Trong công cuộc đổi mởi đất nước và hội nhập, giao lưu quốc tế Pháp lệnh năm 1984 đã

trở nên lạc hậu cân được điển chỉnh, bỗ sung, sửa đổi hoàn thiện đáp ứng yêu cần giai đoạn mới

hiện nay,

Ngày 22/7/2001, Chủ tịch mước đã ký sắc lệnh số: 09/2001/L CTN sông bổ Luật I3 sản

văn hóa, được thông qua tại kỷ họp thứ IX, quốc hội khoá X ngày 29/6/2001 Ngày 11/11/2002,

'thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 92/2002 ND- CP quy định ch tiết thi hành một số điều

của Luật Di sẵn văn hóa 'Theo quy định của Luật Di sản văn hóa và Nghỉ định 02 của Chính phủ thủ di tích lịch sứ văn hóa được hiểu như sau: “Di tích lịch sử văn hoá lá công trình xây dựng, địa

Trang 15

điểm và cáo đi vật, cỗ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hỏa, khoa học” [37, tr.13]

Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhan về I*TLS-VII nhưng tất cá đều có chung một nội dung là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển

cả nhân sảng lạo ra trong lịch sử đề lại [33, tr 17] Căn cử vào khái niệm lịch sử văn hóa mà Luật Di sân đã qny định thì khu di tích lịch sử Lam kinh đã đáp

mg được các tiêu chuẩn trên

hình của lịch sit, do tp thé hod

11.1.3 Quân lý nhà nước về di tích lịch sử văn héa

Quản ly DILS — VI 1A su dinh hướng, tạo điền kiện tổ chức điểu hành việc bảo về, giữ

gin cic DTLS VH, làm cho các giả trị của di tích được phát huy theo chiễu hướng tích cực Di

tích lìeh sử văn hoá và danh thẳng là mỗi bộ phân quan trọng cấu thành nên đi sản văn hoá, chính vi vậy việc quan ly di tích lịch sứ vẫn hoà cũng cần theo nội dung quản lý nhá nước về di

sân văn hoá được đê cập trong Iuuật Di sẵn văn hoá

Nội dung quản lý nhà mước về di sin văn hoá bao gồm

dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp

bảo vệ và phát huy giá Irị đi sản văn hoá;

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về I2SVH,

3 Tổ chức, chi đạo các hoạt động bảo về và phát huy giá tị di sn vin hoa; tuyên truyền, phổ biển, giáo dục pháp luật về đ sản văn hoá,

4 TỔ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bỗi dưỡng đội ngũ cán

bộ chuyên môn về di sản văn hoá;

5 1Iuy động, quản lý, sử đụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị đi sin vin hoa;

6, 6 cinte, chỉ đạo khen thưởng trong viée bao v8 va phit huy gid ti DSVH;

7 elnte, quan ly hop téc quic t2 vé viée bao vé va phat huy gid ti DSVIL,

8 Thanh tra, kiéin tra vide chap hambh phap lual, giai quyết khiếu nại tô cáo và xử lý

vi phạm pháp luật về di sản vẫn hoa |37, tr 35-36]

Trang 16

Ở tiên là 8 nội dung cơ bản quản lý thả nước về dĩ sâm văn hoá, Lam Kinh là một đi sân

văn hoá quốc gia đặc biệt được xác định bởi các giả trị tiêu tiểu vẻ lịch sử văn hoá Tuy nhiên, vấn đề vận dựng những nội dưng cơ hản nêu trên vào từng đi sản văn hoá có thể có những nội

đụng phủ hợp với từng đối tượng quản lý Vi vay, khi nghiên cứu thực trạng quản lý di săn văn hoá

khu di tích lịch sử Lam Kinh cân thiết phải vận dụng giữa những nội đung cơ bản đã dược quy định

trong Luật Di sản văn hoá và những vẫn để có tính đặc thủ của khu di tích này sẽ được nêu trong

quyết đình của UBND tỉnh 'Thanh Hoá

1.12 Cơ sỡ pháp lý

Pháp luật là công cụ, phương tiên để Nhà nước quản lý và điễu chỉnh các mỗi quan hệ xã

hội, nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước, Trong quản lý xã hội, ở bất kỳ một Enh

vực nào cũng cần đền pháp luật

'Việt Nam là một quốc gia văn hiễn lâu đời, trong quá trình đựng nước và giữt nước, các

thể hệ di trước đã để lại cho chúng ta khơ tàng di sân vàn hóa vô củng quý giá Kho tảng di sin

văn hóa đỏ được vật chất hoá, oộ đợng lại ở các di tích kịch sử- văn hóa với nhiều giá trị Việc

giữ gìn các đi sân văn hóa truyén lại cho muôn đời sau là một công việc cần thiết Để bảo vệ, gìn giữ di sản văn hóa không gì khác hơn là phải bão vệ thao gháp luật Nhìn lại hệ thống pháp luật

về lĩnh vụe văn hôa nói chung và di sản văn hóa nói riêng, chủng ta có thể thấy Nhà nước Việt

Nai đã xây đựng, ban hành từ rất sớm và ngày cảng được hoàn thiện Ngày 23/11/1945 Chủ tịch

Hồ Chỉ Minh ký sắc lệnh số 65- 5L gồm 6 điều trong dỏ nội dung chính án định nhiệm vụ của

Déng Phương Bắc Cổ học viên Sắc lệnh đã nhân mạnh đến việc bảo tồn cỏ tích là việc làm cân

thiết của Nhà nước Việt Nam Sắc lệnh coi loàn bộ DTL8 — VTT là tài sản cửa nhân dân, nghiêm

cảm việc phả huỷ đình, chủa, miễu và các di tích khác chưa dược bảo tồn Cam phả huỷ bia kỷ,

'văn bằng có ích cho lịch sử Sắc lệnh quy định Nhà nước chỉ ngân sách cho việc bảo vệ, tu stra di

tích và công nhận các khoản trợ cắp cho Viện Đông Phương bác cỗ

Ngày 28/6/1956, an Bí thư Trưng ương Đăng 1a Thông tư sô 38 — TT/EW về việc bảo

Trang 17

Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chỉnh phủ ra Nghị định số 519/TTg quy định về thể lệ bão t6n cổ tích Đây là văn bản phúp lý quan trọng của Chỉnh phủ có giá trị thiết thực trong công việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa trong lai thập kỹ chống Mỹ cứu nuớc của nhân đân ta Nghị đình là kim chỉ mơn cho mọi hoạt động của công tác quản lý đi sân văn hóa từ năm 1957 đến

năm 1984 Nghị định gồm 7 mục, 32 điều trong đó để

cập đến công tác quản lý DTT.§ — VIT ở cấu góc độ như Hội hạng đi sản văn hoá, quy định những tiêu chuẩn cửa các công trình được liệt

hạng là DTLS- VII, việc trừng tu, tôn tạo di tích, chế độ khen thưởng và kỹ luật đổi với các tổ

chức và cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ và phát huy tác dụng di sản văn hoá dân tộc Xghí định 5I9/TTg đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong đời sống xã hội, đặc biệt Nghị định có giá trị lán trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy đi sản văn hóa Việt Nam phục vụ tich cure cho

sự nghiệp cách rạng do Đảng ta lãnh đạo

Sau khi đất nước thông nhất, cả nước bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế,

xây dựng cơ sở vật chất cho con đường chủ nghĩa xã hội Dáng và nhà nước luôn đánh giá đứng

vai trò công tác quản lý đi sân văn hóa, tiếp tục đã ra những chỉnh sách, biện phép cụ thể thích

ứng với thời kỳ mới của dắt nước nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý các DTLS — VH và

danh lam thing cảnh Ngày 31/3/1984, Hội đồng Nha mde da ban hanh và công bỗ pháp lệnh 14

LOTATBNN về việc: "Tảo về và sử địng dị tích lịch lịch sử văn hoá và đánh lam thẳng cảnh” Pháp lệnh gầm 5 chương và 27 diễu; trong lời mở dẫu Pháp lệnh khẳng địt “DTL§ VH và danh lam thắng cảnh là tài sản có giá trí trong kho tảng văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nami”

và cần sử dụng những đ tích ấy nhằm: “Giáo dục truyền thông đựng nước, giữ nước cửa dân lộc Việt Nam phục công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu câu thẩm mỹ và văn hóa của nhân

dân làm giàu, đẹp kho tàng văn hóa đân tộc và góp phần làm phong phú văn hóa thể giải” [31,

101]

Pháp lệnh đã xác định rõ biện pháp quản lý nhà nước đổi với [8VH gồm 3 vì

1 Kiểm kê, đăng ký công nhận và xác định toại hình di tích và đanh thing;

Trang 18

Pháp lệnh cũng quy định rố chức năng của các cơ quan trong vige quan ly DTLS — VH và

đanh lam thẳng cảnh theo đó:

Hội đồng Bộ trưởng thực hiện việc quản lý nhá nước đối với các DTLS — VH vả danh lam Thẳng cảnh trong cả nước UBND các cấp thực hiện việc quản tý nhà nước đổi với

áo DTLS- VH va danh lam thẳng cảnh theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng Bộ văn

hỏa và các cơ quan văn hỏa thuộc hệ thông bộ này tại các địa phương là những cơ quan

giúp Hội đồng Hô trưởng và LIINI) các cấp thực hiện việc bảo vệ và sử đụng IJILS-

VH và danh lanh thếng cảnh [31, Ir.3-4]

Tháp lệnh 14- LCT/HĐNN ma đời trên cơ sở kề thừa tính thân của Ngỉị định SI9/TTg đã

tập trung thông nhất quán lý, sử dụng DTLS VH và đanhlam thắng cảnh trên phạm vĩ cả nước,

đưa công tác kiểm kê, lập hồ sơ xếp hạng di tích quy chuẩn bơn Quy định về cổ vật, xuất nhập

khẩu cổ vật, việc tu bổ, tôn tạo và hoạt động bảo vệ di tích rõ ràng và chặt chẽ, Pháp lệnh ra đời

có ý ngiữa lo lớn, là một bước tiễn về mặt pháp lý với mục đích làm cho công lác quản lý dã sản

văn hóa của dân tộc loàn điện hơn

Tiên pháp nước CIIXIICN Việt Nam năm 1992, điều 34 đã xác đirấ::

Nhà nước và xã hội bảo tồn - bao tang, tu bổ, tôn tạo, báo vệ và phát huy tác dựng các

thing cảnh Nghiêm câm các hành động xâm phạm đến các di lich lịch sử, cách mạng,

các công trình nghệ thuật và đanh lam thẳng cảnh [30, tr ! T]

Trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập, đỗ nâng cao hơn na vai trò của công tác quản lý đi sản văn hóa Năm 2001 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X, kỳ hợp thứ 9 đã

ban hành và thông qua Luật Di sản văn hỏa Dây Hà lần đầu tiên ở mước ta có một văn bán luật

cao nhất tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý J7TLš ~ VH trong cả nước Luật Di sản văn

hoa gồm 7 chương với 74 điều trong đó quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về đi sản văn hóa, phân định trách nhiệm của các cấp đối với việc quân lý đi sản văn hóa:

Chính phủ thông nhất quản lý nhà nước vẻ đi sản văn hóa: Hộ Văn hoá Thông tin

(nay là Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch) chịu trách nhiệm trước Chỉnh phủ thực hiện

quyền quản lý nhà mước về di sản văn hóa; các Hộ, cơ quan ngang Hộ, cơ quan thuộc

Chinh phú có trách nỉ

n quân lý nhà nước vẻ di sản văn hóa theo sự phản cộng của

Trang 19

Chính phủ; ƯBND các cấp trang phạm ví nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện quân Tý đi sân văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phú [37, tr.37]

Luật Di sản văn hóa đã cụ thế ha¿ đường lỗi, chính sách pháp luật, từ duy đổi mới của

Đăng và Nhà nước ta, dồng thời tạo điều kiện thuận lợi che tiến trình dân chủ hỏa và xã hội hoa

các hoạt động báo v$ vá phát huy giá trị di sản văn hỏa Luật điều chính những vân đề hoàn toản mới và hoàn thiện nâng cao những vân để đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp

hật trước đây cho phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam và thông lệ quốc lễ

Những nêi dưng được cụ thể hóa qua các quy định của Luật đi sản văn hóa đã tạo động lực giúp cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa cũa đân tộc có những bước phát triển

mới theo hướng: Bảo tồn và tôn vĩnh những đi săn văn hỏa dân tộc cỏ giả trị cao nhát; tạo điêu

Kiện thuên lợi nhằm tu hút nguồn lực của nhiều thành phân kinh l, đặc biệt là các chú sở hữu đi sản văn hóa đỏng góp cho sự ngiúệp bảo tôn và phát huy giá trị di tích, phát huy đi sản văn hóa thục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm gúp phần thực hiện mục tiều: Dân giàu, nước manh, xã hội công bằng, dần chủ, văn mình Đồng thời phải biết vận hành theo cơ chế

thị trường có sự quản lý của nhà mớc, định hướng XIICN để được tạo nguồn thu đáng kể từ hoạt

động địch vụ văn hóa tại di tích, tái đầu tư cho công tác bảo quân, tn bổ và phục hồi dì tích Dễ thực thì Luật Di sản văn hóa, Chính phủ, lộ Văn hoá Thông tin (nay Bộ Văn hoá, Thể thao &

Du lịch) cũng ban hành một số văn bản đưới Luật nhằm hướng dẫn thi hành

Ngày 11/11/2002, Chính phủ nước CHXIICN Việt Nam đã ban hành Nghi định sô

92/2002/XĐ — CP quy định chỉ tiết thì hành một số đ

của Luột Di sẵn văn hóa Ngày 24/7/2001, Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin ( Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lich) sa

quyết dịnh số 1709/2001/QÐ — BVHTT phê đuyệt quy hoạch tông thể bảo tổn và phát huy giá trị

TTT.§— VII và đanh lam thắng cảnh

Ngày 18/2/2002, Thú tưởng Chính phú ra Chỉ thj sé 05/2002/CT TTg vẻ việc tăng

cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cỗ vật trong di tích và ngăn chăn đảo bởi, trục với Irải phép

di chỉ khảo cỗ học

Ngày 06/2/2002, Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin ( Tiộ Văn hoá, Thể thao & Tu lịch)

ban hành qny chế bảo quan, tu bé va phuc héi DELS — VH và danh lam thẳng cảnh.

Trang 20

Các văn bản pháp lý trong Tĩnh vực quân lý di sin văn hỏa được nhà nước Việt Nam bưm hành là cơ sở để Cơ quan quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh thực hiện quản lý khu di tích

1.2 Tẳng quan về khu di tích lịch sử Lam Kinh

1.2.1 VỊ trí địa lý và lịch sử hình thành huyện Thọ Xuân

Huyện Thọ Xuân nằm về phía tây bắc thành phô Thanh Hoá với tọa độ địa lý 19250” -

20200” vĩ độ bắc và 105°25" - 105°30” kinh độ đông, là một trong số hai huyện lớn của khu vực

đồng bằng Thanh Tea

Phia bắc tây bắc, giáp huyện Ngọc Lặc vá một phần nhỏ huyện Cấm Thuỷ, phia nam

giáp huyện Triệu Sơn, pha lây giáp huyện Thường Xuân, phia đông — đông bắc giáp huyện Yên Dinh, déng — đông nam giáp với huyện Thiệu Hoá Tổng điện tích tự nhiên của toàn huyện là 30.035,58 ha, toản huyện có 38 xã và 3 thị trần Dân số là 235.392 người, thuộc ba đân tộc Kinh, Mường, Thái

Ở vào vị trí cửa ngõ nói lién đồng bằng với trung du miễn nủi, lại có đông sông Chu con

sông lớn thú hai của tỉnh đi qua tử đầu huyện đến cuối huyện, sẵn bay quản sự Sao Vàng, đường

Hỗ Chí Minh và quốc lộ 17 chạy qua, Thọ Xuân đã thực sự trở (hành mệt vùng đât mở thuận lợi cho việc hội nhập, giao lưu với IÂt cả các vùng riền trong, ngoài linh:

Dặc biệt, Thọ Xuân là vùng tâm điểm của khởi nghĩa Lam Sơn, đây là vùng đất in đâm các

sự kiện lịch sử trong thời kỳ 1414-1422 một giai đoạn cực kỳ gian khổ gây đựng lực lượng của nghĩa quản “nếm mật, nằm gai, suôi chục năm trời” Trong thời gian này ngữa quân đã bị vây khỗn 3 lần lrên núi Chỉ Tảnh, cũng chỉnh nhà sự đùm bọc, che chở của đông bảo Mường, Thái vũng Chí Linh, nghĩa quân đã thoát khỏi hiểm nghẻo Những địa danh vẫn còn lưu lại sau hơn

600 năm như: Khả Lam, Mục Sơn, Nii Chủ, Ni Dầu, Núi Mục, Nứi Rằng, Núi Voi, Rừng Lm,

Lang Cham, Luong Giang; xa hơn, lên phía tả ngan với cáo địa danh: Sông Khao, Bát Mọt, Phía

hữu ngạn có sông Lường, Yên Trường, Long Linh, Chẵn Xuyên, Ba Cồn, Ngược lên Quan I1óa

là Sép Về mặt đường thủy, nghĩa quân đã kết ndi Luong Giang (sông Mã) với sông Lưởng, sông

Am, séng Khao, séng Chiy Nam (Cau Chay), Té Giang (song Bười) Trong quả trình biến thiên

của lịch sở hơn 600 năm các địa danh: Lam Sơn hương, Hảo Lương hương, Đại Lai thôn, Nguyễn Xa x8, Dam Thị xã, Thủy Cối sách, Lại Thương sách, Cao TH sách là địa phân của

huyện T.ương Giang

Trang 21

Với địa lý đặc biệt như vậy để tạo ra cho Thọ Xuân nhiễu thể mạnh và sắc thái riêng của

vũng đất Tử trong suối trưởng kỳ lịch sử vùng đất “điện thời, địa lợi, nhân hod? nay di wd

thành điểm hạn lý tưởng để các dong người từ các nơi đổ về khai phá, lập nghiệp, sinh tổn vá

nhát triển

Khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thọ Xuân di dong gdp cho xứ Thanh va đất nước một kho

truyện dân gian quý giá Mở đầu bằng huyền thoại trao gươm, kết thúc bằng huyền thoại trả

gươm và đã khắc hơa được hình tượng người Anh hùng Lê Lợi trong sử nghiệp giải phóng dẫn tộc mội cách đậm nót

Cùng với văn học đân gian, nhiều lắc phẩm văn học lớn ra đời như “lam Sơn Thực luc”

của Lê Lợi thể theo hội ky, “Quynh Uyén ca”, “Minh Lương cẩm tú”, Hồng Dức quốc âm thì

tập”, “Thánh Tông di tháo” Đặc biệt là bài “Lam Sơn lương thuỷ phử” dài gẫn 400 câu vả Bộ

Luat Ilồng Đức của vua Lê Thánh Tông, ngoài ra còn có cac tac gid 1.8 Hoang Duc (Tho Tai),

Lê Quyễn (Lam Sơn) cũng để lại một sẽ bài thơ trong 'Toàn Việt thi lục

Thời Lê Sơ ngoài kiểu tric Lan Kính đỗ sộ, số lượng đồn, nghệ, lăng mộ đỗ thờ các vị

công thần nhà I.ê Đó là đến thờ Lê Văn An (Tho Lam), lăng Trần Lam, Lê Sao (Xuân Thiên), Lê

'Văn Linh (Thọ Hải), đến thở tưởng quân Nguyễn Nhữ Lãm (Thọ Diễn) Dặc biết là bia hộp ở

lang mộ quận công phu nhân Lẻ Thị (là vợ Đỗ Khuyến khai quốc công thân thời Lê)

'Thời Lê trung Hưng, kinh đô Vạn Lại Yén ‘Truong đã để lại dâu tích mội xu thể văn hóa

tim về cội nguồn dân tộc Dỏ là nghệ thuật khắc trên gỗ, đá, đồng, đất nung

Năm 1626 đền thờ Lễ ¡Ioàn (Xuân Lập) do Thanh Đô vương “Trịnh Tráng ra chỉ lệnh mở

rộng †nu bỗ gỗm 13 gian, kiến trúc kiều chữ cỏng là công trình kiến trúc thế kỹ XVII còn tương

dỗi hoàn chính vỏi hình tượng “réng 6” 1a biểu tượng dặc sắc của tính dân gian trong nghệ thuật trang trí

Mỗi tên đắt, tên làng, mỗi ngọn múi, đông sông Thọ Xuân dẫu gắn liên với những truyền

thuyết thần kỳ, sự tích anh fring va nhimg con người làm nên lịch sử cùng những đanh nhân

chính trị, quân sự chung sứ lãnh đạo nhân dân đánh đuổi các đôi quản xâm lược phương Hắc

bão vệ độc lập chủ quyền đân tộc, đem lại thái bình cho nruôn dân, sảng lập nên những triểu đại

Trang 22

phong kiến Việt Nam Triều Hậu 1.ê đã tần tri trơng lịch sử dân tộc hơn 300 năm cùng với những

thành tựa huy hoàng

1.2.2 Lich sử hình thành dị tích lịch sử Lan Kinh

1ưmn Kinh vẫn là đôi [mu Sơn quê hương của anh hùng dân tộc l.ê Lợi, nơi phát tích của cuộc khới nghĩa Lam Sơn vĩ đại Chính vi vậy Lam Sơn - [am Kinh 1à vững đất được str quan

tâm đặc biệt Lễ Năm của các vua triển 1430, sau khi giành lại nên độc lập, đất nước có những

phát triển mới, Lê Thái Tế đã cho đổi ving dat Lam Sơn là Lam Kinh hảy Tây Kinh (để phân biệt với Đông Kinh Hà Nội) |35, tr ó1 - 74| ; J28, tr 86| Đây là mốc quan ưọng đánh đầu sự phát tiễn của khu đi tích lịch sử Lam Kinh sau đỏ, Từ đây, Lam Kính trở thành một vùng dất “căn tản” của nước Đại Việt thời Lẻ [17] ; [38]

Năm 1433, sau khi vua Lê Thải Tổ mắt đưa về an tảng ở Lam Kinh, các điện miễn cũng bắt dầu được xây đựng [35, tr 76 - 78] Lam Kinh đã trở thành nơi an táng các vua va Hoàng

1iâu thời Lê sơ Qua ghỉ chép của Đại Việt sứ ký taàn ii được biết hàng năm các vua đầu Lê về Lam Kinh bai yat Son Lang [35]

Dai Vide sit ky toàn tự nói rõ Lam Kinh được xây dựng vào năm 1433, năm sau 1434

vuø sai Hữu bộc xạ Lê Nhu Lang dén Lam Kinh dựng miều Cìng Từ Thái Mẫu Trơng năm này,

điện Lam Kinh bị chảy

Năm 1448 và 1450, Lam Kinh lại tiếp tục được xây đựng và trùng tu Năm 1448, vua Lễ

“Hân Tông xuống chiếu cho Thái uý Lê Khả và cụe Bách Tác làm lại điện miễu ở Tam Kinh

Chua day một năm, công viêo xây dựng hoàn thành và được triều đỉnh bảo vệ Năm 1456, trong

địp hành lễ ở Lara Kinh, vua Lê Nhân Tông đã đặt tên cho 3 toa nhà cúa Chính Diện là Quang Sùng, Sủng Hiểu và Diễn (Diễn) Khánh [35]

Nơi chung việc phản ảnh quá trình xây dựng di tích Lam Kinh chỉ thấy được ghỉ chép

trong thời Lê sơ Các tải Hiện như: #z¿ Iiệt thông sử của Lê Quý Liôn [2E], tịch miêu hiển

chương loại chỉ, Hoàng Việt dir dia toan dé cia Phan Huy Chi |17} [18]; Dai Nam Nhất thông

chỉ của Quốc sử Quán triều Nguyễn [38] có nhắc tới Lam Kinh, song lại không cho thông tín về

việc xây đựng Lam Kinh cũng như vị trí, qui mö công trình kiắn trúc nơi đây

Trang 23

Ghi chép về khu điện Lam Kinh của Phan Huy Chú cho biết Lam Kinh khả to lổn, nằm

trên địa thể đẹp:

Điện Lam Kinh đãng sau gỗi vào nủi, trước mặt trông ra sông, bỗn bên non xanh

nước biếc, rừng rậm um tùm Vĩnh Lăng của Lê Thái Tố, Thiệu Lăng của Lê Thái

Tông và lãng các vua nhà Lễ đều ở đây cả Lăng nào cũng có bia San điện, lẫy Tây

hỗ làm não, giống như hồ Kim Ngưu Hỗ rất rồng lớn, nước các ngá đầu cháy cá vào

đó, Có con sông phát nguyên lù hỗ ấy, chạy vòng trước mặt, lòng sông có những

viên đá nhỏ, nhãn và trông rất thích mắt nhưng không ai dám lẫy trôm Lại có lạch

nước nhỏ, chảy từ bên phải qua trước điện, ôm vòng lai như cảnh cung, Trên lạch có cầu giống rửư Bạch Kiểu ở giảng đình điện Vạn Thọ Đông Kinl, di qua cầu mới lới

điện Nên điện rất cao, hai bền mở rộng, đưới chân điện có làn nước phẳng, giẳng

như trước điện nhả vua cơi chằu Ngoài cứa Nghi Môn có hai con chó ngao bằng đã,

đến chít Cổng, mẫu mực theo

tục truyền là rất thiêng Điện làn ba ngôi liền rưn,

đúng kiểu các miễn ở kinh sư Theo từng hậc mà lên, rồi từ đó trông xuống thú thầy

nrủi khe hai bên Tả, Hữu, cái nọ, cái kia vòng quanh thật là một chỗ đễ xảy dựng cơ nghiệp” [17, ir 40]

Nim 1805, nhà Nguyễn đã cho tháo đỡ ngói và gỗ ở Thăng Long, sẵn với

vua ở Lam Kinh đem về làm ở đền Bổ Vệ (Diện Hoằng Dức nay thuộc thanh phế Thanh Hoá)

[38] Cũng vào khoảng thời gian này, ở vùng Lam Sơn, đền thở Lẻ Lợi cũng dược xây dụng tại

phia đông nam của khu trung tâm đi tích Lam Kinh Vào khoảng đầu thể kỹ 20 đến nhữmg năm

1940, nói đến Lam Kinh, người đương thời chỉ còn biết đến mộ Lê Thái Tổ và ngôi đền mới được xây:

đựng, kh điện miễu trung tâm đã trở nên hoang phế [47|

Sudt từ đồ cho đến những năm 1995, di ich Lam Kinh vẫn chưa được sợ quan lâm thích

được phục hỏi đễ báo vệ Ngoài ra, một số dơn nguyễn kiến trúc cũng được các cơ quan trung

tương và địa phương tiền hành bảo tổn và sửa chữa, song dường như không có ảnh hưởng đăng

kể đối với điện mạo của đi tích

Năm 1905, trước tỉnh trạng xuống cấp của ởi tích, nhận thức được tầm quan trọng, ý

nehia lich sử, văn hoá của Lan Kinh, Chỉnh phủ đã phê duyệt dự an tổng thể, tring tu ton tao va phục hồi khu di tích Lam Kinh, trong đó khu trưng tâm tổ tích được đặt hàng đẫu [46]

Trang 24

Khu tong tam đi tích T.am Kinh hiện nay nằm ở toa độ 19255 S6S? vĩ Bắc, 10524'403”

kinh Đông Theo quy hoạch năm 2002, khu ti tích Lam Kinh thuộc địa phân xã Xuân Lam (Tho

Xuân) và Kiên thọ (Ngoc Lac) tinh Thanh Hóa Từ thành phỏ Thanh Hoá đi về phía Tây Hắc

khoảng 60 km ta sẽ gặp dĩ tích Lam Kinh nằm bên tả ngan sống Cim, cách dập Bái Thượng 5km

vé phia Nam

1.3.3 Hiện trạng danh thẳng, di tích, di vật và lỄ hội # Lam Kink

1.2.3.1 Danh thẳng

Núi Lam Sơn

Túi Tam Sơn (oòn gọi là nữi Dân), sách Đại Nam nhất thẳng chi chép “Noi Lat Sơn: Tại

có tên nữa là In Sơn, ở cách huyện Thụy Nguyên 52 đậm về phía tây, mạch nữi từ phía tây - bắc

qua sông Lương kéo dễn, núi chỗ lần chỗ xuống vươn ra đất băng, nói vọt lên một ngọn núi đất,

đưới núi là nhà cỗ của vua Lê Thái Tổ Lễ sử chép rằng öng tố ba dời của Lẻ Thái Tổ tên huý là

Trỗi, nguời huyện Nga Lạc từng đến Lam Sơn, thấy nhiều chỉm bay lượn, như đáng nhiều người

tụ hợp, ông tự nói: “chỗ này tất là đất tốt" bẻn rời nhà đến ở đấy Sau Thái Tổ làm vưa, mới lây đất

đã bị giác Minh giết hại, niên sau khi giành được thắng lợi, mở ra vương triều Lê, Lẻ Lợi đã cho lam gid ba hang dầu Vĩ vậy qua nhiễu thầ

ở trong, ngoài vùng Lam Sơn và cả xứ Thanh rông

lớn vẫn còn truyền nhan cậu ngạn ngữ “lãm mốt Lê Lai, hãm hai Lê Lợi, hãm ba gié mm hang

dẫn” là vì thế Cũng theo truyền thuyết vì ý nghĩa này mà Lâ Lợi đã đặt tên cho núi Lam Son là

múi Dâu 'Trong dân gian lại có cách giải thích khác, núi Dầu có nghĩa là núi “giàu” vì ngày Lam Sơn khởi nghĩa, din chúng nhiều nơi mang rất nhiễu của cái, lương thực đến đây để úng hộ nghĩa

quấn

Ở mứi Dầu xưa kỉa có rÃI nhiều cây chàm đùng để nhiệm vật vốc, quần áo thanh mau

xanh lam, cỏ nhẽ vì 1ê đỏ mà dân gian đặt lên cho núi này lẻ núi Tamn chăng 2 Ngoài m von cách giải thích khác, “lam” là phién am tir “cham” ma ra O đưới chân nủi, hiện vẫn còn một làng

mang (én lang Cham

Trang 25

Nhung đù giải thích nhưr thể nào, tên nửi Lam Sơn hay nửi Dẫu đấu vô cùng ý nghữn,

Nii Lam Son (ute mii Dau) có chiêu cao gan 200m, hiện lại đăng được tong cay lâm

ngluép theo du an 327 va dy an bảo tốn đi tích Lam Kinh đả nhằm mục địch tai tac Jai rimg Lam Sơn xưa Ngày uay đến với Lam Kinh chúng la xế được chiêm ngưỡng rừng Tim xanh mưới vá hít thở không khí trong lành do rững mang lai

Núi Mục Nủi Mục là một ngọn núi da sot đứng độc lập sát bên bở sỏng Chu- dỗi điện với khu di tích Lam Kinh Nất Mụe còn có tên núi Nghuên, hay nứi Nghẻo, núi có chiều cao 167m, hình đáng giống con vơi, các chiển rộng, hẹp đều trên đuới 500m Thoo tương truyền thì thời Tam

Sơn đây nghĩa để

Sơn và là nơi huẫn uyén chim dua tin bức cho Binh định vương Lê Lợi

ảnh Ngô, Nii Myc được sử dụng như một lrạn tiên

của nghĩa quân Lam

'tay không phải là một ngọn núi lớn, nhưng ở vào vi trí này, ni Mục đã trở thành một đánh thắng và tham quan du lịch khá bắp dẫn Ở đây cũng có nhiều hong động nhỏ ăn sâu vào

trong lòng núi ruả (hạch nhữ đã miệt rải tạo ra những sắc lủnh kỳ (hú Đi trên đồng sông Chu để

có chiểu đài 325 km, phát nguyên từ cao nguyên Sâm Nưa (Lào) trên độ cao 1 1(l0m tôi trườn

xrình thoo tướng tây bắc — đông nam, đến Mường Hình, Nghệ An chuyển sang hướng tây đông

để cháy qua các huyện Thường Xuân, Thọ Xuân, Thiệu Hỏa rồi nhập vào sông Mã ở Ngã Ba

Dau (hay còn gọi là Ngã Ba Giảng).

Trang 26

Có thể nói, lừ xưa đền nay, sông Chu luôn luôn đứng một vai trò hỗi sức quan lrọng về

rất nhiều mặt đổi với vùng đất huyện Thọ Xuân Chính sông Chu đã tạo ra cho Thọ Xuân một

khm vực đồng bằng phù sa mới tiên biểu và rộng lớn vào bậc nhất của xứ hanh trong suốt hàng

ngàn nằm lịch sử Trong bể dày thời gian, trong chiều sáu lich sử đòng sông đã trở [hành cơn đường đưa các người từ các phương trời trong và ngoài xứ Thanh về đây khai phá, lập nghiệp đựng nên làng, niên xóm ở khắp các vùng địa hình từ túc còn rÂt hưang sơ Chính đồng sông này cũng tạo ra sự giao lưu, hội nhập với các vùng miễn khác một cách thuận lợi, tao cho vùng đất này đời nổi đời phát triển liên tục, nhanh chóng thành một vũng quê giàu, đẹp của xú Thanh và

là con đường đưa cáo nghĩa sĩ từ các phương, miễn để về để “tụ nghĩa linh Ngô” trên đất Lam

Sơm

Cải tên Lương Giang (séng Chu) đã được các dang sĩ nỏi tiếng như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Phan IIuy Chủ nhắc đến một cách đậm nét trong các tác phẩm lịch sử và văn thơ của minh [25]

Dap nhà Lê, hồ Như Ảng, hé Tay, Song Ngoc

Dap nha Lé, hd Như Ảng hiện nay thuộc địa phận thôn Như Ảng, xã Kiên Thọ, huyện

Ngọc Lặc Trải qua thời gian, hệ thông này đã bi bồi lắp gần hất, chỉ còn lại các vét tích Kết quả

khai quật khảo có học cho biết xưa kia bỏ Như Ảng là một vùng trũng, nằm giữa các quả đổi, có

nhiều khe suối chây qua để vào suối chỉnh mà ngảy nay vẫn gọi “ỨTán 7Trồng” (chây ra sống Chu), lợi đụng địa hình tự nhiên, nhà Lê đã tiễn hành đấp đập ngăn nước để tạo thành hồ Hồ nằm ở làng Như Ảng nên cỏ tên gọi là hỗ Như Ang

Từ hồ Như Ang theo kénh dẫn mước chày về Hồ Tây, Hè Tây

nước về sông Ngọc, theo thuyết phong thuỷ được coi là “Dai não” của Diện Lam Kinh

hồ Inmg gian chuyển

Năm 2004 hỗ Như Áng, dập nhà Lê, Ho Tay được nhà nước đầu tư kinh phi nạo vét lòng

hỗ, khơi thông đồng chảy Công trinh Hồ Tây, sông Ngọc được coi là “hệ thuỷ” của di tích Lam

Xinh, một công trình mang tỉnh chất đặc biệt quan trọng về “khong thuỷ” mà chủ ông la đã dây

công cái tạo, xây đắp phủ hợp với nguyên tắc quy hoạch kiến trúc truyền thông Việt Nam Việc Khôi

pc lai lòng hŠ, khi thông đồng chảy đã trả lại cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh (hái trong sạch

sắc cho quần thể khu đi lịch Tam Kinh

Cây Đa Thị

Trang 27

Năm ngay phía Tây Nam sân Rông của khu di tích Lam Kinh Cây đa thị cao chừng 50m,

cảnh gốc xum xuê, phủ bóng rợp một góc sân, gốc da to, bạc phếch phái vải chục người ôm mới

đủ vòng 'Tại sao gọi là cây đa thị, bởi đây vốn là 2 loại cây khác nhau gồm cây đa và cây thí,

nhưng đa và thị xoăn xưýt với nhau lạo thánh ruột khối thông nhái, Thec truyền ngôn cây da ước tính chủng 300 tuổi, đây lá một trơng những thắng cảnh đẹp của đi tích Lam Kinh

1.2.3.2, Ditich kiến túc

Qua các kiến trúc hiện còn, cho thây bổ cục tổng thể của khu Miếu điện và lăng mộ ở

Lam Kinh hoàn toàn được người xưa lợi dụng vào địa hình có sẵn trong tự nhiên và sử dụng thuyết phong thuỷ để xác định vị trí từng công trình xây đựng, nhằm tận đọng tru thế của thiên nhiên Phía Đông có nủi Bạch Hỗ, ở giữa có múi Dầu làm điểm tựa, phía Tây có núi Thanh Long, phia Nam có dòng sông Chu chảy trước mặt khu Miếu Điện, từ Miễn Điện nhìn sang hướng lây Xam, bên hữu ngạn sông Chu có núi Mục Sơn làm Hữu tiền án, hướng Đồng Nam có núi Chủ lam Ta tiển án Cáo công trình Miễu Điện đuợc xây đựng trong một không gian rộng giống nhưự

một chiếc ngai Tắt cả các bia mộ dễu được bô cục chưng trong một khỏng gian hình chiếc ngai,

Các công trình điện miễu

Thành điện Lam Kinh phía Bắc dựa vào nứi Dầu (Du Sơn) mặt Nam nhìn ra sông Chu, qua sông Chu khoảng 900m đường chủn bay là núi Chúa (Chủ Sơn) tam liễn án; bên tố Tà đãi núi

ning Phu Lam va nai Ngọc Giăng Đèn uốn lượn thành hình cảnh cung che chắn phía Đông, bên

hữu là giặng mũi Hướng và núi Hàm Rồng cũng nến thành hình cánh cung che chân phía 'Tây

Khu hoàng thành, cũng điện và Thái miễu ở Lm Kinh được bổ trí xây dựng theo trục Nam Bắc,

trên một khoảng đâi đổi gò có hình chữ Vương trong chữ Hán Bổn mặt xây thành có chiều đài 314m, bề ngang 254m, thanh phia Bắc xây phính ra thánh hình cảnh cưng với bản kính 164,

thành đây trên Im

Mặt trước, ngoài hoàng thành khoảng 100m còn lại đầu vật của công vào rộng trên 6m,

hai bên cổng có xây 2 bức tường thành hình cảnh cmg kéo đài đến sát bở sông Ngọc, móng

Trang 28

tường IHảnh còn lại đây 1,80m, qua sống thành khoảng 10m đốn một cơn sông đảo có tên là sống

„ chạy vòng qua trước thành và điện Lam

Xgọc, rộng khoáng 19m Sỏng này bắt nguồn từ Tay

Kinh Theo sách “loàng Việt địa dư chí” xưa kia, mước söng trong veo, đáy sông có nhiền sỏi tròn dẹp, trồng rất dáng yêu, không sỉ dám lấy

Tiên sông có bie mi Âu với Kin goi Tiên I.oan Kiểu, cầu gó hình cảnh cung

tên gọi là cầu Bạch, trên cầu có nhà, kiểu thượng gia hạ kiểu, qua câu khoảng 30m thì đến một

giéng 4, hình chữ nhật, đài 37,50m, rộng 30m góc tròn, thành giếng 4 bên đều kê đá, giếng đào

trúng mạch nước ngẫm, xua kảa giẳng quanh năm diy nude và cồn được thả sen đễ giữ cho nước

mát, Bê giếng phía Bắc có lát bậc đá lên xuống, gọi là bên nước Trên bến nước một sân rống trước Ngọ môn, hai bên lỗi vào chính giữa trước sân, có đặt hai con giếng đá huyền thoại giống

nữư hai con nghé đựng cách nhau 5,10m canh phòng trước Ngọ Môn trong tư thê ngồi Mỗi con

đền dat trên một chiếc đề xây gạch và đá hình chữ nhật, trước để có một tắm đã tạc hình tròn có đường kinh 70cm, gắn liền với một tắm đã tạc hình chữ nhật, hiểu trưng cho hai vắng nhật

nguyệt Hai con nghệ đá có hình thủ giếng nhau, nhưng kich thước khác nhau, theo tải liệu khảo

sát năm 1942 của nhà nghiên cứu người Pháp tên là Louis Bezaoier thỉ con bên trai cd day Sdem,

cao 55cm cơn bên phải có đầy 59cm, cao 72cm (Tiên 2 cơn nghệ đá này đá bị vỡ nhiền mãnh)

Ngọ môn

Qua mot sân rộng trên Sm, dai trờn 14m đến thềm lam cấp lên Ngọ môn Nên Ngọ môn

rộng 11m, đãi L4,10m có 3 cửa ra vào, cửa giiia rộng 3,6m cửa 2 bên rộng 2,74m Đặc điểm của

4 cột giữa là rất lớn, đường kính chân tảng đo được 76em Ngọ môn 3 gian, bước gian giữa rộng, 4,ñ0m, bước gian bên rộng 3.50 Trãi quan thởi gian Ngọ Môn đã bị phá hủy gắn như hoàn toàn, đưa vào kết quả nghiên cửa khảo cỗ học, năm 2009 Ngọ Môn đã được phục dựng lại theo điện mạo xua

Sân rồng

Qua Ngọ môn vào đến sân rồng trước điện Lam Kinh Sân trái rộng khắp bắ ngang chỉnh

sẵn có chiều rộng ngang

diện, hài bên còn trải rộng đến sát thêm hai nhà tả vụ và hữu vụ Vì vị

58,5m sâu 60,5m Với điện lích là 3.539,254n”, sân rồng còn có tên gợi là sân châu, xưa kia lát

gạch, lép gach bị huỷ hoại „ nay đã được tôn lạo lại như xưa

Chỉnh điện Lam Kinh

Trang 29

Khu chính điện gồm 3 toà điện lớn được xây tên nên đãi rộng, cao 1,8Úm so với sân

rông, bể ngang 38m, chiều sâu 46m Mặt bằng cúa điện được bố trí theo hinh chữ công (Ð)

Ngày 21 tháng 2 năm Binh Tý (1456) vua Lê Nhân Tông đích thân đem các quan về bái

ơn lăng ở Tam Kinh, nhà vữa đã lệnh cho các đại thần đại tên các điện, điện phía trước gọi

đọc ở giữa gọi là điện Sừng Hiểu, điện phía sau gọi là d

(theo Đại Việt sử ký toàn thơ) Hai điện Quang Đức và Diên Khánh đều 9 gian, gian giữa rồng

nhất, hai gian đầu hồi shỉ rậng 2m lạo thành hành lang bao quanh cả 3 điện Theo kết quả khai

quật khảo cỗ đầu năm 2000,

ện Quang Đức và điện Diên Khánh có nền đài 38m6, rộng 18,60m

với điện tích mỗi điện 707,777m” Diện Sửng Hiểu có chiều dài 13,50m, rộng 17m, với điện tích

là 229,50m” Tông điện tích của 3 cung điện hợp nhật là ì.645,041m”

Đây là kiến trúc gỗ có quy mô lớn, hàng cột cái của cả 3 điện có đường kính 62em Căn

cứ vào chiêu rộng của nÊn điện, khoảng cách của 2 hàng cột cải thì cang điện này có 2 ng mai

Kiến trùc ba toà chỉnh điện Lam Kinh có giá trị đặc biệt quan trọng về nghệ Thuật kiến trúc thời

râu, tay kia đăng nằm viễn ngọc gọi là long lí châu (rằng vớn ngọc)

Do nhiều biển cô của lịch sử hai đầu rồng ở thêm rồng đã bị vỡ một số mảnh, dụa trên

àí liệu thư tịch cổ, dựa trên kết quả nghiên cứu khảo cổ học, hiện thểm rổng và những phần

vỡ, mắt mảnh đầu và thân rồng đã được tôn tạo lại

Hai lan can phía ngoài của lỗi lên hai bên tạc cả một tâm đá lớn nguyên khối, trên hai mặt trong và ngoài của lan can này trang trí hình vân mây, giữa vân mây có hình ngọn lủa rất đẹp Nét chạm nổi thấp, đều, uốn hình cảnh hoa, kết thúc bằng hai xoắn mấy, tạo cho phần trên của

Trang 30

lan can đáng lượn sóng uyễn chuyển, độc đúo Bức chạm này có lên gọi vân hóa long nghấ là

mây hỏa rằng Dãi viễn trang trí ở phân dưởi lan can chạm thánh một đường thắng đốc xuống,

trang trí hoa văn hoa tiết hình hoa chanh Đây là một mô típ hoa văn xuất hiện sớm từ thời Lý,

Trin trong các công trùih điều khác nghệ thuật kién trúc ở Việt Man được ưa chudng, Dai hoa

văn này phân chia phần trên và phần đưới fạo cho bỏ cục bề mặt lan can trở nền cân đối đẹp đề

ign đại của tác phẩm trang trí nghệ thuật này đá được xác định từ năm 1428 đến năm 1433

Khu Thái Miễu triều Lê sơ

Kim Thái Miếu la dãy nhà gồm 9 ngôi, các tỏa Thái Miễu có điện tích gần vuông dài từ

16 đến 17m, rộng 12-13m xây nối tiếp nhau theo chiều Dang-Tay dai 177m hinh vòng cung ôm

lây Chỉnh Điện Lam Kinh Nền nhà làt gach vudng 400 x 400, mau dé gach, xam xanh, xâm tro, lát chéo khít mạch Phía trước mỗi tùa đểu có lỗi lên xuống, cỏ 5 bậc và hai lam can hai bên trang trí đôi rông thời Tê (heo mẫu rằng trang trí bậc thêm lên Chính Điện Mỗi tòa Miều đến có sẵn

điền tích khoảng 50 — 60m”, lát gach bát 400 x 400, màu đỏ nâu, xám tro, xám xanh thải Miều

là nai thở cứng các bậc tổ tiên nhà Lê, hải hoàng 'Thái hậu, các Vua và Hoàng hậu nhà Hậu Lê

Sau khu Thái nưiễu khoảng 50m là trởng thành phía Tắc, xây theo hình vòng cung, có

đường kinh 165m, òm bao bọc phía Bắc, toan khu cũng điện và Thai miéu Cac Thái miễu han

nu bị phá hửy hoàn toàn chỉ còn lại dẫu tích nền móng, dựa vào kết quả khai quật khảo cổ học

và quø các tài Ì

Su lịch sử ghi chép lại, hiện nay một số hựng mục các tòa Thủi Miễu trong khu đi

tích đã được bảo tồn và tôn tạo lại được 5 tòa

Các công trình kiến trúc khác

Ngoài cáo công trình quan trọng như Chính điện và Thái miễu, trong khu hoàng thành

còn nhiều công trinh khác

Liai bên sân rằng có hai nhà tả vu, hữu vu chạy dài suốt cä chiều sân sân rồng, hai đấy

nhà này đã bí phá huỷ chỉ còn lai nền móng

âu Hiểu điện

Phia tây khu Chính điện còn có tai điện thở lớn, rỗi điền 5 gian, đó là Ch

côn gọi là Lam Kinh Tây giáp thất diện, thờ Tuyên Tô Hoàng Đề Lễ Khoảng bỗ đẻ của vua Lễ

Thái Tổ và thờ Chiêu Kiểu Đại Vương L.ê Học anh cả của Thái Tổ, cùng được phối thờ la Tru

ding Dai Vuong Lê Thạch cơn của Chiên Hiếu Dại Vương Lê Học Diện Hoằng Huu tho Hoang

Trang 31

Tiựu Đại Vương 1ê Trừ, anh cả thứ hai của Thái TỔ Các điện thờ ở đây hiện nay chỉ còn lại dẫu

vết nền móng

Phía Đông khu Chỉnh điện là khu cư xá của các quan và quân lính trồng coi khu kinh

thành Trong khu vực phía Dâng cỏn một khu bếp núc Theo kết quả khảo sát kháo cỗ hoc,

phát hiện được nhiều đỗ gồm sứ ở khu vực này, trên đỗ gồm sử ở đây đều có chữ “Trù” nghĩ

là đồ đụng sử đựng trong bếp rrúc Các công trình kiến trúc ớ phía Dòng đều còn đầu vết nẫn và

các chân tẳng cột bằng đá

Các kiến trúc lìng mộ

Lăng vua Lê Thái Té - Vĩnh Lăng

Vua Lê Thái Tó sau muti nam chi huy cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn (1418 — 1428) giành:

hoàn toàn thăng lợi, đến tháng Giêng mùa Xuân năm Mậu 1 hân thống nhất thiên hạ, lên ngôi

Tà Thuận thiên năm thử nhất (1428)

Hoang 93 lay hig

Trong 6 năm ở ngôi vua cho thi thổ chính sự sáng suốt như định luật lệnh, chế lễ nhạc,

mở khoa thí, đặt cám quân vệ, dặt quan chức, lập phủ huyện, thu thập sách vớ dựng trường học,

có thể nói là quy mô sáng nghiệp rộng lớn, công lao có thả đổi vận bĩ sang vận thái, chuyển thế nguy sang thể yên, đổi cuộ loạn làm cuộc trị Câu nổi “người có nhân, thiên hạ không sỉ địch

nỗi” chính là hợp với vưa, cho nên lây được thiên hạ, kưn vua trong 6 năm mà đất nước Thịnh trị,

truyền eơ nghiệp đến muôn đời về sau (Theo Đại Việt Sử ký toàn thu)

Năm Thuận Thiền thứ 6, tức năm Quý Sửu tháng 8 nhuận, ngày 22 Thái Tổ Cao Hoàng

u trời Cùng năm äy ngày 23 thang 10 táng ở Vinh Lang, Lam sơn

‘Vinh Lang được xây đựng trên giải đất bằng phẳng ở chân núi Dần phia Nam, cách thành

Tiắc điện Iưưn Kinh 50m, năm trên tuyến trục bắc nam piữa núi Dau và nữi Chúa, tạo thành thé

hậu cham bắc sơn, tiền án nam sơn; bên trái có núi Phú Lâm và ru Hổ, bên phải có núi Liướng

và núi Tầm Rồng tạo thành hai cảnh fay ngai với thế long châu hỗ phục; phía chính điện của Vinh Lang, cách trên 1000m là dong sông Chu uốn cong hình vòng khuyên, ôm lấy mặt tiền Vinh Lăng, chiêu dòng chảy tử phải sang trái tạo thành thế tụ thuy Theo cách nhin tỉnh tế của nhiều người am hiểu thnyết phong thuỷ xưa và nay thì Vĩnh Lãng được chọn đặt ở một thể đất

Trang 32

hỗ Quê là một vùng đất có vượng khí tốt tươi, nữi sông kỳ lú, là điểm huyệt quan trọng và thẳn điệu nhái trong khu sơn lăng Tam Sơn

Tỗ cục và phong cách rnai lắng của Vĩnh [Lăng đem giản nhưng lôn nghiêm và trang nhất Lãng đắp đất hình lập phương, xung quanh trước kia xây chèn bằng gạch thường, bị sụt lở đo sự

xâm thục phá huỷ của thảo mộc, nay xây thêm bằng đá đục ở bên ngoài, cỏ cạnh 4,10m cao Em

"trước lăng có hai hàng tượng người và tượng các con giống fạc bằng đá, đựng ở đây để trấn trạch, nghĩa là làm cho khu lãng luỗn luôn được yên lành, không bị tà ma quấy nhiễu và

cũng là để tõn quang cảnh tôn nghiêm kinih cẩn của lãng tắm vua chúa

Đứng dầu hai hàng tượng, ở vị tri gan lăng là bai pho tượng quan hẳu, bên trái là quan văn, bên phải là quan võ Đây là cách sắp đặt theo phép Dỗ trí quan chức thời vua Lê thải Tó, đặt hai chức quan đại than đứng hàng đầu triểu gêm quan Thị trung bộc xạ trông coi vide then chét

quan Thai ny uắm quyển tỗi cao trong quân đội KẾ tiếp tảng lượng qưưn hấu là

tương bên đôi con giếng đổi nhau theo thứ tư hai sư tử, hai ngựa, hai tê giác, hai hỗ Trước lãng

70cm cé một hượng án bằng đá đề đặt bát hương và lễ vật Giữa hai hàng tượng chầu vào là một lỗi di rộng 20,35m gọi là thần đạo

Nhìn toàn cảnh lãng vua Lê 'Thải Tổ thật lã giản dị, gần gũi mà tôn nghiêm trang trong

1516

Bia Vinh Ling

Biu Vĩnh Lãng được đựng tai phía đông Tây Hỗ, tây nam thành điện Larn Kinh, lệch trục

‘pic nam 45° về phia tây Lãng và bia lãng cách nhau 300m dường chim bay

Bia được làm bằng đã hầm tích biển nguyên khối cao 2m79, rộng 1in94, đây 027, đặt

trên lưng một con rừa cỡ lớn, cũng làm bằng loại đá trầm tích biển nguyên khối, có chiều đài

3m46, rộng Irn94, cao 090 kể cả đề Trên thân rùa còn lưu Tại nhiều đầu vệt rõ nói các loài

nhuyễn thể sống trong nước biển nhữ trai, sò trước dưng bia có nhà bia, nhưng đo hoá hoạn bị chúy chỉ còn để lại chân tãug đá kế cột, năm 196T được đựng lại, tên nhà hình gần vuông có

cạnh là m0, nhã có 4 mãi cong lợp ngói mũi hài, dưới được đỡ bằng 16 cột, mỗi góc bỗn cột

theo kiến trúc thời Lê

Hoa văn trang trí trên bia và niên đại đã được xác minh cụ thả là vo thing 10 am lich năm Thuận Thiên thử 6 tháng 11 đến thâng 12 năm Quỷ Sữu, tức năm 1433 Đây là một cử Hiệu quý giả để nghiên cửu về nghệ thuật trang tr Việt Nam thoi Lé so Tran bia trang tri một hi:

Trang 33

vuông, trong hìuh vuông điêu khắc một hình trên biển trưng cho trời và đột, chính giữa khắc một đầu rộng nhần thẳng, than rang wan khie uyễn chuyỀn quanh hình mại tri, biểu trang là thiên từ

(eon trời) do sự giao hoà của trời đất sinh ra Ở cảnh cung hai bên của hình vuông và hình tròn

Nguyễn T¡ãi plang soan Vin bia ngắn gọn, cô đọng, mô thuật hết được gia tộc, thân thế sự

nghiệp công lao của vua Lê Thái Tô, đặc biệt nhân mạnh lòng khoan đụng từ thiện đối với quân

thủ khi đã đầu hàng vi chiến bại; lòng nhãn ái đối với din chủng của Vua Lê Thải Tổ |5| |ó|

Ta Vĩnh Lăng là một công trình nghệ thuật quý giá, có ý nghĩa lớn lao trong kho làng di

mộ và bia ky cila các vua đầu triểu Lê Sơ được an táng tại đây như: Thái

‘Thanh 'Tổng (Chiêu Lãng), Liền 'Tông (Du Lăng), Túc Tông (Kinh Lang), Quang 'Thục LIoàng

thái hậu Ngõ Thị Ngọc Dao (Lăng khôn Nguyên Chỉ Đức)

Ig (Hữu Lang),

Về địa hình, không gian lăng mõ đều được nằm trên các quả đôi thấp, kế các quá đồi thập

là hệ thống sông suối cỗ từ thượng nguễn đổ ra sông Chu, đây là hai yấu tố lỷ tưởng dành cho

việc an táng các bậc đề vương Câu trúc và gui mô lăng mộ khá ỗn đụnh, mỗi lãng mộ gỗm có 3 thành phần: Mô, trước mộ có 2 hàng tượng đá châu ở vị trí hai bên đường thần đạo một tâm bia

đá đặt trên lưng rùa ở vi trí phía trước cách xa mộ, và có độ chêch hướng so với rộ Tượng ở các lăng (tính từ trong ra) có tượng quan hầu, lần, tê giác, ngựa, hồ Các tượng có kich thước nhó bẻ,

tạo tác có phần sơ sải, cao nhất không qua 1,2m Bia Vĩnh Lăng được đặt cách xa lãng nhất (300m), các bia khác được đặt gần làng hơn chỉ cách lãng từ 30 — 5(Im, trang trí trên bia chủ yên

là hình rồng, hoa là, mây lứa, sóng nước.

Trang 34

“tơng phong cách nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao của phương pháp tả thue, sing đơng và điều đặc

tiệt là tượng hầu ở lăng mộ Bà Lê 'Thị Ngọc Dao lã tượng nữ quan

1.2.3.3 Hiện vật qua các cuộc khai quật tại dị tịch:

Tiện vật là vật liệu kiến trúc

Vật liệu đất nung: Qua cac dgt khai quit tai di tich dã thu được các loại hình vật liêu cĩ

miên đại từ thời Trần, Lê Sơ, Lê Trung Hung bao gồm: gạch lát nền hình vuơng, ngĩi mũi, ngĩi

mũi hài, gạch vỗ, gạch bia, gạch thơi, pạch múi bưởi, gạch ốp trang trí, ngĩi ơng, ngĩi bỏ, ngồi

lá, ngĩi liệt, ngĩi âm, đầu đao, chốt gạch, nêm, cối cửa, vật liệu trang trí khối tượng hình rồng,

các loại riểm trang trí

Các hiện vật trên bao gồm gạch lát nên, gạch ốp trang lrí, ngồi ơng, ngĩi bỏ, ngồi âm, các

loại riểm trang trí đều cĩ hoa văn

Gach Hát nên hình vuơng thời Trần được trang trí trên một mặt, đề tài trang trí thường là

thos lá củc đây, hò sơn, cảnh hoa chanh Giịch lát nên thời Lễ Sơ và Lê Trung Hung dé trơn khơng trang trí, duy chí cĩ một viên hiện Bảo tảng lịch sử đang lưu giữ là cĩ trang trí hình rồng

chạm nỗi uốn lượn chốn kín bẻ mặt viên gạch

Gach dp trang Ini thoi Lé sơ cĩ màn đồ tươi, hình chữ nhật, trang trí trên một mặt hơa văn

hình rồng, hình séng nước, hình qua lwo, hồi văn, hình cánh sen, hình bản viên lệch

Gach ốp trang trí thời Lê Trung Liưng hình chữ nhật đẹt, màu đỏ gach vả xám đen trang

trí trên một một gồm hoa van cúc đầy, hơa 4 cảnh, nhữ đính

Ngơi ống thời Lê Sơ, Lê Trung Hưng đầu ngởi thường được trang trí hoa văn hình rồng,

hình hoa cúc, họa 4 cánh và hoa cách điệu

Eật liệu đá: Bao ơm đã lái nên, chân lá

mắc chỉ giới, phiến

hành bậc, ngồm bậu cửa và cỗi cửa, được làm từ loại đá với màu xanh, xemh xám Chân lâng loại mặt lrên được

trang trí cảnh sen 2 lớp đần, đầu trịn, mũi thấp cơng hắt lên và loại khơng trang trí chỉ cĩ u ndi

Trang 35

trên; mốc chỉ giới cỏ chữ “Vĩnh Lăng tây thạch kiệt”, thành bậc có hình đáng và cách trang trí

khắc nhau bạo gồm trang trí hình rồng, hình sóe, ruây hóa rồng, hình mặt nguyệt

Vật liệu gã: Được làm từ loại gã im, bao gầm cọc và các thanh gỗ giảng chân cầu Cọc

có một đầu nhọn cẩm sầu vào lòng đất, chiều dài còn lạt là Im — 1,2m; thanh gỗ hình chữ nhật,

có nhiều lỗ mộng đục thủng để liên kết với các bộ phận kiển trúc cầu, đài 4m — 6,4m, rộng 0,3m

0,4m; đây 0,3m

Vật liệu kim loại: Các vậi Eiệu kiên túc đều là đình sắt, tim duge voi sổ lượng lớn lới

hàng nghấn chiếc Đỉnh sắt có kích thước đài, ngắn khác nhan, tiết điện bình chữ nhật hoặc hình

trồn, mũ đình được tạo hình nằm hoặc tản đạt đu sang Hai bên hay lêch về một bên

Di vật, hiện vật đỗ gồm sứ

Ti gấm Việt Nam

Dé gdm thai Trần: Kết quả khai quật cho thầy nhóm dị vật này chủ yêu năm trong các

¡ đại cuối thể kỹ 14 đầu thế kỷ L5 Các đi vật để

tổng văn héa có tử rang độc trưng đồ gồm

thời Trần như rnen phủ, hoa văn Irang Irí và kiển đáng với kỹ thuật sử đụng con kê chống dính

Bên cạnh đó còn có các di vật trang đặc điểm phổ biến ở đồ gốm Lê sơ sau đỏ như mien Hẳng ngà, men nêu ngã m&u vàng và kỹ thuật ve lỏng Loại hình thu dược là bất, dia, au, chậu gốm

hoa nâu, chậu sảnh, tượng người ren nâu bỏng đầu vẫn khăn lậch về một phía, lon sảnh

ĐỀ gắm thời Lê sơ: Rắt phong phù về số lượng và các hoa văn trang trí, về loại hình vẫn chủ yêu là các loại bát, đĩa, chậu, bình, nắp đậy và các loại hình sinh hoạt khác, tập trung ở 2

đồng men chính là men trắng và men trắng vẽ lam Các di vật tìm được với số lượng lớn tập

trung ở tất cả các kiến trúc khu trung tầm Hoa văn trang tỉ trên đi vật thường vin in hinh réng,

văn nổi hình rồng, văn vẽ lam hình rồng, băng cánh sen xoắn móo , trong lòng có chữ Quan in

nổi, chữ viết lam hoặc bông hoa mai 6 cánh

Dé gém thoi Mac: Có số lượng it, đều là đồ gấm họa lam với hai loại hình bát và đĩa

Bat wong co dâu ve lòng, trang trí vẽ lam hoa là và các đường chỉ, hên ngoài trang trí 2 rồng von

nhan Dĩa trong có dâu con kẻ, trang trí vẽ lam hoa lá và các đường chi

Dé gém thời Lê Trung Hưng: Dược chia 2 giai đoạn

Trang 36

PG adn end th Bai, dia 1a hai loại hinh odin ty 18 shign nhất, bên

cạnh đỏ còn có các loại hình khác như âu, bình vôi, bình sảnh, lon sảnh, trõ sảnh, nắp đậy đồ đựng

Bat, đín thường là men trắng vẽ kưn, trong có đầu ve long, trang lrì các đường chủ lam,

chữ Hán, ngoài trang trí hình rông đơn giãn và hoa 2 nhánh móc vào nhau

Dé sit thé ky 17: tìm được với số lượng lớn, áp đảo gốm Việt Nam ỏ cùng niên đại Sứ

‘Trung Quéc đầu là men trắng xanh thiên thanh và men trắng vẽ lam, men trắng nga xanh, men

lam ngà tím Dễ tin trang trí trên di vật, hiện vật thưởng trong và ngoài vẽ hoa lá hoặc chỉ trong

thánh đĩa

lòng trang trí vẽ hoa lá, hình phượng, chín, lắng hơa, cỏ hoặc trang tri bi

Tiên cạnh dỗ sú, sồn có cáo loại hình đồ dựng bằng sảnh phủ mơn Trang Quốc bao gồm

các mảnh vũ:

ủa bùnh lớn men nâu bóng hoặc msn nấu ngã vàng, ngoài trang trí hoa lá xoẫn tuốc

với phong cách khác lõm Xương xám, mịn, cửng đanh

Các loại di vật khác

Đồ đất màng: có tượng bùa, chỉ còn phần đầu và thân, đầu đẹt tư thể đứng chấp tay trước ngực; lư hương tạo hình búp sen, phần miệng có các cánh nhõ cao, thân rạo 2 lớp cánh sen kép, hai bên có tai hình vành khuyên Ngoài ra còn có các mảnh vỡ của nỗi gồm, miệng lae, cỗ thất,

than cong, day hình cầu có khắc vạch và dầu vết sử đựng

Trang 37

Kim loại: gồm chủ lưới và tiễn đồng, khóa đồng, chồng sẵL, dao sãi Chỉ lưới hình gần chữ

nhật, được tim thây trong lằng văn hóa nhà Tả Vụ Tiên động gồm 145 đồng, trong đó 120 đẳng

đã được xắc định niên đại „ 24 đồng còn lại đo bị vỡ, ô«y hóa niên không »

được

Xương rừng động vải: Theo kết quả giảm định, xương xăng động vật thu được gồm cỏ

trâu, bỏ, hươu, lợn chìm trong đó, xương trâu chiêm tỷ lệ lớn, phân ánh những ghí chép của sử

sách về việc chuẩn bị đỏ tế lễ các điện miễu và lăng mộ ở Lam Kinh

1.2.3.4 Lễ hội Lam Kinh

Lễ hội Lam Kinh xua được tổ chức theo nghỉ thức triều đỉnh, “1,Ẽ nghỉ chỉ” trong Lich triểu hiển chương loại chỉ của Phan Huy Chủ chỉ gọi là “Lễ” chứ không gợi là “Lễ hồi” như: “Lễ

ky nhật ở điện ThÁi miễu ", °

hội Lam # ảnh” bởi vì những kỳ nhật tế lễ ở điện Lam Kinh thục chất người dân vùng Lam Sơn

tẾ bắn mùa” Gợi Tà

tế trời đất", “Lễ thờ tên miễu”,

noi riêng, nhân đân tỉnh Thanh Hoá nói chưng đã bị tham gia vào lễ hội trong suối cả tháng

Xưa kia, các vua nhà Lê mỗi lần về bái yết Sơn lăng đều đi hằng thuyển Tử Thăng Long

xuôi tuyên theo sông Đây ra biển vào cửa Lạch Trưởng để vào sống Mã, hoặc ngược sỏng Mã

từ Ngã la Bông lên bến Đan Nãí (tức làng Đan Né huyện Yên Định ngày nay) theo sông đảo nhà Lê vào sông Chu để lên Lam Sơn, hoặc tz Ngã Ba Bông xuôi đến Ngã Ba Đâu để vào sống

Gm ngược lên Lam Sơn Mỗi lần nhà vua Thái Tông, Thánh Tổng, Nhân Tông, Hiển Tông,

Tương Dực

trăm chiếc, cit qual trồng, chiếng rục

“về bái yết Sơn Lãng Lam Kinh” gồm thuyền rồng, thưyền lớn, thuyền quân hàng

"Trong lễ hội Lam Kinh xưa inhự tham gia của một số yếu tố đân gian như tục hát rí ren

nhưng nhanh chóng bị loại bỏ Toản thư chép sự kiện này “Đán Thanh Hóa thấy vua đền, trai, adi dem nhau hải rí ren ở hành tại, Tục kát rỉ ren môi bên con trai, môi bên cơn gái, đắt (ay

nhau hàn, hade cháo chân chéo cỗ nhau, gọi là cẩm hoa kết hoa, thôi là rất xấu Đài quan Đồng

it hat dy la thé dân tục xâu, không nân cho người hải

Trang 38

được sắng tạo lừ thời Thúa Tông, lương truyền , Vua Thái Tông nhớ lại công rước của vua cha Thải Tỗ đàng vũ công má đánh thắng giặc Ngô, bình được thiên hạ cho nên sai quan hành khiển Nguyễn Trãi chế ra hai khúc nhac mua “Binh ngề phá tân” và “Chư hấu lai tiểu” đễ múa

trong hành lễ ở Lan Kinh Điệu sửa này, trải qua bao đời dã (hảt lạc, không có sách vở nào chép

lại, trừ vài đông ghỉ trong Toản thư Các địch giá cuốn Toàn thư có chú thích: “Có lẽ tản tích của

bản nhạc múa này là điệu mía Xuân Phả ở làng Xuân Phả (nay là làng Xuân Trường g

Xinh) huyện Tho Xuân tỉnh Thanh Hóa”

Như vậy, lễ hôi Lam Kinh được mỏ ra từ khi Lê thái 'ễ lên ngôi trở vẻ bái yết Sơn Lang

vio nim 1429, nim 1433 L@ Thai Té bing ha 6 Déng dé (Ha Néi) duge dua về Lam Sơn an tăng

và Diện Lam Kinh cũng được xây dụng Lễ hội Lam Kinh được tổ chức đầy đủ lễ và hội với các

điệu mứa “'Bình Ngõ phá trận” và “Chư hầu lai triều” thời Lê Thánh Lông đất nước thanh bình

có lễ lễ hội Lam Kinh được tỏ chức rằm rộ, đồng vưi nhất Sau đó, các vua Lê “*Š bài yết Sơn

Lãng ngày càng thua, lễ hội Lam Kinh kém phân rực rỡ và quy mồ Cho đến đần thế kỷ XVI, đất nước loạn lạc, Nam Hắc phân tranh, lễ hậi Lam Kinh thu hẹp lại trong Đền Cham (Đền Cham, Jang Cham là quê nội của vua Lê Thái Tổ) sát Lam Kinh, bởi vì Lam Kinh nhiều lần bị đốt cháy, cho đến lần chây điện Lam Kinh thời Tây Sơn thì không thế khôi phục lại được nữa Nhà Nguyễn thống nhất đất mước đã cho xây đến Lê ở Hỗ Vệ (nay thuộc phường Đồng Vệ, thành phổ

'Thanh Hóa) và lễ hội Lam Kinh được chuyển hẳn về đây

Do vậy, ở Lam Kinh chỉ cèn lễ hôi Đền Cham của làng Cham và các làng lân cận có quan

hệ thờ cũng vua Lê Lễ hội Lam Kinh thực chất tằn tại từ năm 1428 đến năm 1511 là lần cuấi

am

cùng Lê Tương Dực bát yết sơn Lãng

Irong thời gian tồn tại gần 100 năm Lễ hội Lam Kinh với các nghỉ thức triều đình rực

rỡ, trang nghiêm đã đễ lại trong lòng nhân dân Thanh Hóa những rung động sâu xa và tinh cảm

sâu sắc đối với nhà Lê, với những người cỏ công mang lại tự do cho dân tốc Dạt Việt thời bầy

giờ [36, tr.498]

Nim 1933, tưởng nhớ đến công lao to lớn của vị vua dâu triều, nhân đân làng Cham (nay

là xã Xuân Lam, huyện Thọ xuân) đã góp công, góp súc xây dựng ngôi dễn thở vua Lê Thái Tổ tại đây và lễ hội cũng được mổ ra có đủ phẩn lễ, phần hội Nhưng nó chỉ biểu hiện được một phần của lễ hội lam Kinh xưa mà thôi Sau cách mạng tháng Tâm nim 1945, dén Cham bj bd

hoang phế nhiều năm Tử năm 1985 dén nay, đền Cham dã được tu sửa khang trang dap ứng

Trang 39

lòng ngưỡng mộ của nhân đân cả nước đối với vị anh hùng đân

lich lịch sử Tam Kinh đã được Nhả nước đầu lư kinh phí đổ phục HỒi, tụ sửa lôn tạo [heo gửi md diễn mạo xưa Đông thời lễ hội Lam Kinh được tổ chức hàng năm vào ngày giỗ Lê Lợi — Lê Lai

Từ năm 2000 đến nay cùng với sự phát triển của đất nước với truyền thông trắng nước

nhớ nguồn, hàng năm nhà nước và nhân đân đã lấy ngày mắt của Thải Tổ Cao Ioàng để Lê T.ơi

và ngày mỗt cửa Lô Loi, Ba hàng dâu là ngày 2T,22,23 tháng § âm lịch để tổ chức 18 hội

1.3 Những giả trị lịch sử - văn hóa cũa khu di tích Lam Kinh

Lăng trân Chi Lăng Liễu Thăng nộp đầu, Mộc Thạch nhân lúc ban đêm chạy chỗn Với chiến

công lẫy lừng Lê Lợi cùng các quản thần đánh tan âm mưu xâm lược của nhà Minh giảnh lại

giang sơn cho Đại Việt

‘Thai TS Cao Lloang để Lê Lợi đã từng gắn bó những năm tháng tuổi thơ, khi trưởng thành, lúc phất cờ khởi ngiữa, với mảnh dat Lam Son nay và khi mắt ông đã được vua triển sau

là Lê Thái Tông dưa vệ đây an táng, xây dựng Sơn Lãng, lập bia, dựng miễu dễ tưởng nhở công lao to lớn đổi voi nou sông đắt nước của ông Với tính chất tôn nghiêm, vương triểu nhà Lê luôn cắt cử chức quan cùng với một đôi quân thường trực ở điện Lam Kinh để trâng coi, bảo về kinh

thành, khu Diện, miễu và Lãng mô Xưa kia hàng năm vào mùa Xuân tháng Hai Âm lich các

Vua và Hoàng Hậu triểu Lê Sơ về bái yết sơn lăng làm lễ tầu cáo, lễ tổ Từ thời Nguyễn dễn

mam 1945 lễ hội Tamn Kinh không được lỗ chức tại khu đi tích nữa rà chuyển về Đền

Vệ thành phố Thanh Hóa Sau năm 1945 đo điền kiện chiến tranh (chồng Pháp và chống Mỹ), lễ

hội Lam Kinh chỉ được tổ chức trong không gian văn hóa vùng Từ năm 2000 dến nay cùng với

sự phát triển của đất nước với truyền thông uỗng nước nhớ nguồn, nhà nước và nhân dân đã lay

ngày mất của Thái Tổ Cao Ioảng để Lê Lợi và ngày mất

212,23 tháng 8 âm lịch hàng năm, tổ chức lễ hội để tưởng nhớ về vua Lễ Thái Tổ và những

ủa Lê Lai, Bà hàng đầu là ngày

Trang 40

đồng góp to lớn của tiểu Lô sơ trong chiểu đài lịch sử của đôn tộc Từ đó lễ hội Tam Kinh trở thành lễ hối chưng cửa đân tộc và được tổ chức thường niên

Lam Kinh hiện nay còn lưu giữ một nguồn sử Hệu sống về kiến trúc bao gồm các lãng

mô, bia, tượng hần, cơn giống nên cung điện phản ánh lịch sử phát triển, nguồn gắc của một triểu đại oai hùng

132

4 trị văn hóa

Lam Kinh được xây dựng trêu vùng đất cư trú lâu dời, có bể đày truyền thông văn hỏa

Khi nơi dãy được chọn làm Tây Kinh, củng với truyền thống vỗn có, Lam Kinh đã hội tự dược nhiễu yếu tố văn hỏa cúa cả dân tộc, kết tỉnh rỡ thành một điểm nhân đặc sắc, đại điện cho vẫn

hỏa dân tộc một thời kỳ lịch sử dài Những truyền thông văn hỏa đó được thể hiện qua các

phong tục, lễ hội, những công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc mang đặc trưng của thời đại săn sinh ra Lam Kinh với chức năng nỗi trội là thở củng tổ tiên, truyền thông đỏ có từ ngân xưa

va duge phát huy trên vùng đất Thờ cứng, vinh đanh tổ tiên truyền tỉnh thần yêu nước, yêu quê ương từ tổ tiên cho con chán, như một lời nhắc nhớ thẻ hệ sau tiếp nỗi tạo nền truyễn thông yêu

nước của đân tộc Dó là tỉnh thân đân tộc được kết tình từ lịch sử và Lam Kinh lá nơi thê hiện

Nam trong vùng xen cư giữa hai tộc Việt Mường, kế thửa vẫn hỏa của hai tộc người

chủ thể trên vùng dất, văn hỏa Lam Kinh được xây dụng và phát triển trân bản sắc lâu dời, khi trở thành tây Kính, rơi đây hội tụ nhiều tỉnh hoa văn hóa khác của dân tộc đã thăng hoa trở thành

một truyền thông văn hóa địa phương đặc sắc Các lễ hội, phong tịc tập qnản văn hóa vùng miễn

đã trở thành một bâ phận văn hóa dân tộc theo suất chiều dải lịch sử và tôn tại cho đến ngày nay

đã làm nên giá trị văn hóa truyền thông đặc sắc cần được báo vệ, tôn vinh và phát huy trong đời

sống văn hỏa đương đại

Theo suốt chiêu dội lịch sử nhà 14, những công trình kiến trúc tại Tam Kinh được tạo dựng trong thời gian dài lịch sử, là ơi hội tụ những tính hoa kiến trúc của dân tộc trên các lĩnh

vite: mặt bằng xây dựng, vật liệu, kỹ thuật xây đựng, mỹ thuật trang trí kiễn trúc Dược xây dựng

là Tây Kinh- Sơn lăng, nơi song trùng chức năng, Lam Kinh vừa là nơi thể hiện quyền lực của

triểu dại vừa là nơi thờ cúng Tổ tiên Hoàng Gia, nơi đầy dược xây dựng với quy mõ bẻ thể trang

nghiêm, hội tụ nhữmg tỉnh hoa kiễn trúc, đỉnh cao của vật liệu xây đưng tốt nhất, đẹp nhất, bên nhất, hội tụ tỉnh hoa kỹ thuật, nghệ thuật thời đai Có thể thấy mỗi công trình kiến trúc ở Lam

Xinh à một đình cao, mang gia trị văn hóa đặc trưng cúa thời ký dựng xây Bên cạnh đó, những

Ngày đăng: 13/06/2025, 16:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Tổng  hợp  số  lượng  khách  dâu  lịch  dẫn  tham  quan  kus  di  tích  lịch  sử  Lam  Kirt - Luận văn quản lý khu di tích lịch sử lam kinh huyện thọ xuân tỉnh thanh hóa
ng 2.1: Tổng hợp số lượng khách dâu lịch dẫn tham quan kus di tích lịch sử Lam Kirt (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm