- Năng lực nhận thức hoá học: Nhận thức được các kiến thức cơ sở vềcấu tạo chất, các quá trình hoá học, các dạng năng lượng và bảo toàn nănglượng; một số chất hoá học cơ bản và chuyển ho
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài.
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ vào các
tố chất và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổnghợp các kinh nghiệm, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú,niềm tin, ý chí, thực hiện đạt kết quả các hoạt động trong những điều kiện
cụ thể Chương trình GDPT 2018 đã xác định mục tiêu hình thành và pháttriển cho HS các năng lực cốt lõi gồm các năng lực chung và các năng lựcđặc thù Các năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua các mônhọc và hoạt động giáo dục gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp
và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Nhằm hướng học sinh có thể nắm vững các kiến thức thực tế, giải thích 1 sốvấn đề cơ bản, tang cường kĩ năng, yêu thích thiên nhiên Có ý thức trongviệc sử dụng các chất giặt rửa hàng ngày, nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môitrường sống hằng ngày từ những điều bình thường nhất, hình thành thói quentiết kiệm, bảo vệ môi trường sống sạch sẽ, xanh tươi
- Năng lực nhận thức hoá học: Nhận thức được các kiến thức cơ sở vềcấu tạo chất, các quá trình hoá học, các dạng năng lượng và bảo toàn nănglượng; một số chất hoá học cơ bản và chuyển hoá hoá học, một số ứng dụngcủa hoá học trong đời sống và sản xuất
- Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học: Quan sát,thu thập thông tin; phân tích, xử lí số liệu, giải thích, dự đoán được kết quảnghiên cứu một số sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống
- Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Vận dụng được kiếnthức, kĩ năng đã học để giải quyết một số vấn đề trong học tập, nghiên cứukhoa học và một số tình huống cụ thể trong thực tiễn được nâng cao Vì vậy,
tôi đã chọn tìm hiểu vấn đề:
“Giải thích các vấn đề trong đời sống thực tiễn thông qua dạy học trải
nghiệm bài xà phòng, chất giặt rửa tổng hợp, giáo dục ý thức tự giác, tiết
kiệm, bảo vệ môi trường sống thường ngày của học sinh “ làm đề tài sang
kiến kinh nghiệm của mình
Phạm vi của đề tài được áp dụng ở môn Hóa học lớp 12 theo chương trình mớiTHPT2018 cơ bản trên địa bàn trường THPT Sầm Sơn
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Nâng cao hứng thú cho người học, người dạy, góp phần làm giảm mệt mỏi,căng thẳng trong học tập của học sinh Phát triển tính độc lập, ham hiểu biết vàkhả năng suy luận, giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa giáo viên và họcsinh , giữa học sinh với nhau, giúp học sinh rèn luyện các khả năng ứng xử, giaotiếp.[4][5]
- Là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học hóahọc ở trường THPT Sầm Sơn
Trang 2- Thu hẹp khoảng cách lý thuyết với thực tế, các em giải thích được các vấn đề
phát sinh, rút kinh nghiệm sử dụng các vật dụng, hóa chất thường ngày
1.3.Đối tượng nghiên cứu.
Qua việc tìm hiểu thực trạng tại trường tôi xác định: đối tượng của đề tài là
“Giải thích các vấn đề trong đời sống thực tiễn thông qua dạy học trải
nghiệm bài xà phòng, chất giặt rửa tổng hợp, giáo dục ý thức tự giác, tiết kiệm, bảo vệ môi trường sống thường ngày của học sinh “[ 2] Qua đó hình
thành kĩ năng soạn bài, dạy học, ứng dụng thực tế đời sống, sản xuất của giáo viên, học sinh và nâng cao ý thức học tập, hứng thú, yêu thích môn hóa để giúp học sinh từng bước yêu thích môn hóa học ở bậc THPT trong chương trình cải cách 2018 Giúp nâng cao chất lượng dạy học đạt kết quả cao Niềm hứng thú, yêu thích bộ môn là yếu tôt thường bị bỏ quên trong quá trình dạy học, trước những hiện tượng đơn giản như học sinh không hứng thú, chú ý vào giờ học do nội dung khó hiểu, không có tính thực tiễn Vì vậy đối tượng nghiên cứu trong đề tài là nhằm trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản và hiểu biết về cuộc sống, đòi hỏi sự hình dung và gợi mở cho giáo viên một hình thức ôn tập, thí nghiệm cho giờ dạy sinh động thu hút sự chú ý, tránh nhàm chán [4][5][6]
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Xuất phát từ mục đích trên tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau :
1 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
2 Phương pháp thực hành
3 Phương pháp đàm thoại
4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của học sinh
5 Phương pháp tìm kiếm thông tin trên mạng internet
6 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
1.5 Những điểm mới của SKKN
- Đưa các vấn đề thực tế vào bài học, giải thích các vấn đề đời sống đang là
nhiệm vụ quan trọng nhằm xóa khoảng cách giữa lí thuyết, thực tiễn giúp họcsinh có cái nhìn thực tế, biết cách sử dụng các vật dụng, hóa chất hằng ngày 1cách hiệu quả, đúng cách
- Thông qua các hoạt động dạy học, ôn tập bài học bằng cách tóm tắt lí thuyếtcủa chương trình mới bằng hình ảnh đồ họa trực quan của từng bài của cảchương, mỗi bài tập là 1 hình minh họa giúp học sinh và giáo viên tăng cườngkhả năng chú ý nắm bắt nội dung bài học phát huy tính năng động của các em;tăng cường khả năng thực hành, vận dụng các kiến thức đã học, đặc biệt tránhhọc vẹt, lý thuyết xuông Nắm và giải thích các vấn đề đơn giản, thay đổi thóiquen sinh hoạt, đặc biệt hình thành ý thức tiết kiệm, bảo vệ môi trường sốnghằng ngày.[6]
Trang 32 PHẦN NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới – trước hết là chương trìnhtổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo đăng tải lần thứ hai - từ 16/4 đến 20/5/2017 -
để tranh thủ sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà giáo và các tầng lớp nhân
dân, trong đó có phụ huynh học sinh và học sinh) được xây dựng theo định hướng tiếp cận năng lực, phù hợp với xu thế phát triển chương trình của các
nước tiên tiến, nhằm thực hiện yêu cầu của Nghị quyết số 88/2014/QH13 củaQuốc hội: "tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáodục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; gópphần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục pháttriển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà trí, đức, thể, mỹ và phát huytốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh" Đổi mới phương pháp dạy học là một giảipháp được xem là then chốt, có tính đột phá cho việc thực hiện chương trìnhnày.[3]
Chương trình hóa học mới môn hóa các em còn bỡ ngỡ, chưa ham học,điều này đến từ đặc thù bộ môn, một phần đến từ phương pháp giảng dạy cũkhông hấp dẫn, nội dung dạy còn hàn lâm, đàm thoại nhiều mà thiếu hình ảnh
mô phỏng hấp dẫn, nội dung đa dạng nhưng phải được trình bày ngắn gọn, dễnhớ, gắn với cuộc sống hằng ngày
- Trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về các khái niệm xàphòng, chất giặt rửa tổng hợp , các yếu tố ảnh hưởng, các phương pháp nângcao, nâng cao hiệu sử dụng
-Trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về các bài tập có kèm theohình ảnh, video, phần mềm, mô hình trực quan minh họa sinh sinh động
-Trang bị cho học sinh một số kĩ năng cơ bản nhất để ghi nhớ vận dụngvào giải thích các vấn đề thực tiễn liên quan vấn đề hằng ngày
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Hiện nay rất nhiều học sinh học còn yếu kém về kĩ năng sống có liên quanmôn hóa là do các nguyên nhân sau :
- Ở hầu hết học sinh học theo khối tự nhiên ở trường THPT tỉ lệ hổng kiến thứcchủ yếu là môn hoá học tương đối cao do thi đầu vào toán, văn , anh
- Đa số học sinh là con em ở một số vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, nênkhông thể tập trung vào việc học, ngoài thời gian ở trường, ở nhà các em phảilàm việc như một lao động giúp đỡ tài chính cho gia đình
- Ở bậc học THCS học sinh chưa chú trọng môn hóa do tâm lí chỉ chú ý 3 môntoán, văn, anh học để thi vào lớp 10, môn hóa giáo viên chưa được quan tâm vàđưa vào bài học nhiều
- Phương pháp lên lớp của giáo viên còn nhiều chỗ chưa gây được hứng thú chohọc sinh, nhàm chán, cũ kĩ [5]
Trang 4- Việc sử dụng các phương tiện trực quan còn hạn chế, hình ảnh minh họa ,thínghiệm ảo, phần mềm chuyên dụng , mô hình đặc biệt là thí nghiệm thực hànhcòn thiếu.
- Chính bản thân các em cũng chưa chú ý đến việc phát triển kĩ năng sống củaminh, một bộ phận thờ ơ, dành thời gian ngoài giờ lên lớp cho mạng xã hội ,game…vv
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Để thực hiện được sang kiến của đề tài này, tôi đề ra giải pháp sử dụngnhư sau:
- Hệ thống hoá lại những kiến thức đã học qua các tiết ôn tập, luyện tập kể cảnhững kiến thức liên quan ở các lớp dưới
- Xen kẽ các dạng bài tập cơ bản và các bài tập có hình ảnh minh họa vào cáctiết dạy, bài kiểm tra, ngoại khóa
- Yêu cầu học sinh tìm hiểu, ghi nhớ có chủ đích, vận dụng, tìm tòi sáng tạonhiều hơn thông qua việc giáo viên giao bài tập về nhà cho học sinh ở mức độ từ
dễ đến khó
- Tăng cường sự hợp tác, giúp đỡ của bạn bè thông qua hình thức học nhóm, học
tổ Có kế hoạch để những em có học lực khá giỏi giúp đỡ những em yếu kém
- Nếu có điều kiện giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sịnh thu thập, tìmhiểu, tổ chức các buổi thảo luận, làm mô hình, vẽ tranh ảnh về nội dung chươngtrình vì đây là chương trình khó hình dung về mặt hình tượng đòi hỏi gắn cácvấn đề thực tế đời sống [3][6]
* Môn hóa học: Biết được:
- Một số tình huống thực tế, sử lí các bài toán thực tiễn , rút ngắn thực tế đờisống và lí thuyết
- Giải thích các vấn đề thực tiễn thông qua bài học xà phòng, chất giặt rửa tổnghợp, cách sử dụng, chế tạo đơn giản [1]
* Môn giáo dục công dân :
- Nâng cao ý thức học tập, say mê nghiên cứu khoa học, yêu thiên nhiên kì thú,bảo vệ chân lí khoa học
- Rèn luyện tư duy phản biện, nhìn nhận thế giới quan tư duy biện chứng
Trang 52 Về kỹ năng.
* Môn hóa học:
- Dự đoán tính chất hóa học, kiểm tra bằng thí nghiệm và kết luận được tính
chất hoá học, ứng dụng vào đời sống
- Quan sát thí nghiệm hoặc hình ảnh , rút ra được nhận xét về ứng dụng toánhóa học vào thực tế [1][2][3]
* Kĩ năng sống:
- Rèn luyện kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc theo nhóm, đặc biệt ý thức bảo
vệ chân lí khoa học khi nó không thuộc về số đông
- Có ý thức bảo vệ môi trường sống trong giai đình, trường học
3 Về tư duy, thái độ.
- Có tinh thần học tập tích cực, nghiêm túc, hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giaocho
- Yêu thích bộ môn, say mê trong nghiên cứu khoa học
- Thường xuyên ứng dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống nâng cao năng suấtlao động
Thông qua dự án sẽ giúp cho học sinh biết vận dụng kiến thức các mônVật lí, hóa học, giáo dục công dân vào giải thích được một số hiện tượng trongthực tế liên quan đến môn học, ứng dụng vào giải quyết các tình huống thựctiễn, tính toán được các thông số liên quan để áp dụng vào sản xuất và đời sống,giải thích hiện tượng
4 Năng lực vận dụng kiến thức của bài học.
- Tính chất vật lí, tính chất hóa học hữu cơ, tính tan, sử dụng, bảo vệ môi
- Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm đối với lớp 12A5, 12A6,12A8 trong
1 số buổi học chính khóa và ngoại khóa
- Đặc điểm cần thiết của học sinh đã học theo dự án: Có kĩ năng và tinhthần đoàn kết trong hoạt động nhóm, có năng lực tìm kiếm các thông tin, tìmtòi khám phá kiến thức mới, kĩ năng thực hành thí nghiệm tốt.[3][4]
Trang 6A TÓM TẮT CƠ SỞ KIẾN THỨC
ĐỂ HỌC SINH NĂM VŨNG KIẾM THỨC, HỌC SINH NGHIÊN CỨU CÁC KIẾN THỨC THỰC TẾ ĐỜI SỐNG, TÌM HIỂU SÁCH BÁO, INTERNET ĐỂ HOÀN THIỆN PHẦN CÒN THIẾU VÀO CHỖ TRỐNG
CÓ DẤU 3 CHẤM
1 Khái niệm, đặc điểm cấu tạo của xà phòng và chất giặt rửa
Xà phòng là hỗn hợp muối (1) ………… của các acid béo và các chất phụgia Thành phần chủ yếu của xà phòng thường là muối sodium của (2) …………
Hình 1 Minh họa một số loại xà phòng trong đời sống
Chất giặt rửa tổng hợp là các chất được tổng hợp hoá học, có tác dụng giặtrửa như xà phòng nhưng không phải là muối sodium, potassium của các acidbéo Những chất này thường là muối (3) …………
Hình 2 Minh họa một số loại chất giặt rửa tổng hợp
Hình 3 Một số loại thức vật có chứa chất giặt rửa tự nhiên như bồ kết, bồ hòn,
…Cấu tạo của xà phòng và chất giặt rửa phổ biến thường gồm hai phần:
Trang 7Hình 4 Cấu tạo chung của xà phòng và chất giặt rửa
+ (4) ………… ("đầu" ưa nước): là nhóm carboxylate (xà phòng) hoặcnhóm sulfate, sulfonate (chất giặt rửa tổng hợp) Phần này (5) …………tanđược trong nước
+ (6) ………… ("đuôi" kị nước): là gốc hydrocarbon có mạch dài (R) Phầnnày (7) ………… tan trong nước
Hình 5 Ví dụ công thức cấu tạo của xà phòng và chất giặt rửa
2 Tính chất giặt rửa
Hình 6 Minh họa sức căng bề mặt của nước
Hình 7 Cơ chế giặt rửa
Xà phòng
Chất giặt rửa
Trang 8I I
Khi xà phòng, chất giặt rửa tan vào nước sẽ tạo dung dịch có (8) …………làm cho vật cần giặt rửa dễ thấm ướt
Đuôi kị nước trong xà phòng và chất giặt rửa thâm nhập vào vết bẩn, phânchia vết bẩn thành những hạt rất nhỏ có (9) ………… quay ra ngoài, các hạt nàyphân tán vào nước và bị rửa trôi Kết quả là các vết bẩn trên quần áo, dầu mỡ ởchén bát bị loại bỏ
3 Phương pháp sản xuất xà phòng và chất giặt rửa
a Phương pháp sản xuất xà phòng
Xà phòng thường được sản xuất bằng cách đun chất béo với dung dịch (10)
………… (phản ứng xà phòng hóa):
Hình 8 Minh họa phản ứng xà phòng hóa
- Phản ứng tổng quát có dạng như sau:
R1COOCH2
R2COOCH + 3NaOH → C3H5(OH)3 + R1COONa + R2COONa + R3COONa
R3COOCH2
- Xà phòng sau khi tạo thành được tách ra khỏi hỗn hợp (bằng cách sử dụng
dung dịch (11) …………), trộn với các chất phụ gia và tạo hình theo yêu cầu
Hình 9 Xà phòng với các mùi hương khác nhau Bảng So sánh 2 quy trình sản xuất xà phòng phổ biến nhất
Các đặc điểm Quy trình không gia nhiệt Quy trình có gia nhiệt
- Cân đong đúng lượng cần
- Chất béo, kiềm, nước, phụ gia
- Cân đong đúng lượng cần
Trang 9- Đun ở (14) ………… trong 1 giờ cho phản ứng xảy ra hoàn toàn.
- Phối trộn phụ gia ở cuối giai đoạn này
Bước 3: Vào khuôn,
- Cho vào khuôn, để đếnkhi nguội thì lấy ra
- Có thể cắt nhỏ cho phùhợp nhu cầu sử dụng
Bước 4: Bảo quản - Cần bảo quản nơi thoáng
mát trong (16) ………… tuầnmới đạt chất lượng cao nhất
- Có thể sử dụng ngay sau khi lấy ra khỏi khuôn
Ư u điểm - Giữ được nhưng đặc tính tốt
nhất của xà phòng, không lẫnnhiều tạp chất sinh ra do nhiệt
- Qúa trình sản xuất nhanh chóng, hiệu suất cao
Nhược điểm - Tốn nhiều thời gian - Nhiệt có thể làm mất
đi một số tính chất của
xà phòng hay sinh ra cáctạp chất
Ứng dụng - Phù hợp sản xuất tại nhà - Phù hợp quy mô công
nghiệp
- Ngoài ra, xà phòng còn được sản xuất từ dầu mỏ:
b Phương pháp sản xuất chất giặt rửa tổng hợp
Chất giặt rửa tổng hợp được sản xuất từ dầu mỏ:
- (17) ………… được trộn thêm phụ gia để tạo chất giặt rửa tổng hợp
4 Ứng dụng của xà phòng và chất giặt rửa
Xà phòng được dùng để (18) …………, … chất giặt rửa được dùng (19)
Trang 10Hình 10 Một số ứng dụng của xà phòng và chất giặt rửa
B MỘT SỐ BÀI TẬP LIÊN QUAN TÌNH HUỐNG THỰC TẾ
PHẦN I.Trắc nghiệm một đáp án.
Câu 1 [CD - SGK] Để tẩy vết dầu, mỡ bám trên quần áo, sử dụng chất nào sau
đây là phù hợp nhất?
C. Dung dịch nước Javel D. Dung dịch xà phòng.
Câu 2. Thành phần chính của xà phòng là
A. muối của acid béo.
B. muối của acid vô cơ.
C. muối sodium hoặc potassium của acid béo.
D. muối sodium hoặc potassium của acid.
Câu 3. Thành phần chính của chất giặt rửa tổng hợp thường là
A. muối sodium, potassium của acid béo.
B. muối sodium của acid vô cơ.
C. muối sodium alkylsulfate (R-OSO3Na), sodium alkylbenzenesulfonate
(R-SO3Na), …
D. glycerol và ethylene glycol.
Câu 4. Phần kị nước trong xà phòng và chất giặt rửa là
A. nhóm carboxylate B. nhóm sulfate.
C. gốc hydrocarbon dài D. nhóm sulfonate.
Câu 5. Phần ưa nước trong xà phòng là
A. nhóm carboxylate B. nhóm sulfate.
C. gốc hydrocarbon dài D. nhóm sulfonate.
Câu 6. Xà phòng có thể được điều chế từ nguồn nguyên liệu nào sau đây?
A. Glycerol và dầu mỏ B. Nước bồ hòn, bồ kết.
C. Dầu thực vật và củ cải đường D. Mỡ động vật và dầu mỏ.
Câu 7. Nguyên liệu nào sau đây dùng để điều chế chất giặt rửa tự nhiên?
Câu 8: Khả năng tẩy rửa của xà phòng và chất giặt rửa do cấu tạo có
Trang 11A hai phần bao gồm một đầu phân cực và một đuôi không phân cực.
B hai phần bao gồm đầu và đuôi đều phân cực.
C hai phần bao gồm đầu và đuôi đều không phân cực.
D hai phần bao gồm đầu kị nước và đuôi ưa dầu, mỡ.
Câu 9. Trong quá trình điều chế xà phòng bằng phản ứng xà phòng hóa,
nguyên liệu có thể thay thế mỡ động vật bằng hóa chất nào sau đây?
A. tinh dầu chanh sả B. dầu ăn.
Câu 10. Công dụng quan trọng nhất của xà phòng và chất giặt rửa là
A. làm nhiên liệu B. tẩy rửa.
Câu 11. Phản ứng điều chế xà phòng từ chất béo được gọi là phản ứng
Câu 12. Chất nào sau đây không phải là nguyên liệu để sản xuất xà phòng?
C. dung dịch HCl D. chất phụ gia.
Câu 13. không nên dùng xô, chậu bằng nhôm để đựng quần áo ngâm xà phòng
vì
A quần áo bị mục nhanh
B xô chậu nhanh hỏng do trong xà phòng có kiềm.
C quần áo bị bạc màu nhanh.
D quần áo không sạch.
Câu 14. Có thể dùng chất nào thay thế cho sodium hydroxide trong phản ứng
điều chế xà phòng?
A. Sodium chloride B. Potassium hydroxide.
C. Magnesium hydroxide D. Barium chloride.
Câu 15. Chất nào sau đây là xà phòng?
A. C3H5(OH)3 B. CH3[CH2]16COONa
C. CH3[CH2]4COONa D. CH3[CH2]14OSO3Na
Câu 16: Công thức cấu tạo sau có trong thành phần chính của?
A Xà phòng B Chất giặt rửa tổng hợp.
C Chất giặt rửa tự nhiên D Acid béo.
Câu 17: Công thức cấu tạo sau có trong thành phần chính của?
A Xà phòng B Chất giặt rửa tổng hợp.
C Chất giặt rửa tự nhiên D Giấm ăn.
Trang 12Câu 18: Tiến hành thí nghiệm xà phòng hóa chất béo:
Bước 1: Cho vào bát sứ nhỏ khoảng 2 mL dầu dừa và 6 mL dung dịch NaOH 40%
Bước 2: Đun sôi nhẹ hỗn hợp, liên tục khuấy đều bằng đũa thủy tinh khoảng 30 phút và thỉnh thoảng thêm nước cất để giữ cho thể tích hỗn hợp không đổi rồi đểnguội hỗn hợp
Bước 3: Rót thêm vào hỗn hợp 7 - 10 mL dung dịch NaCl bão hòa nóng, khuấy nhẹ rồi để yên hỗn hợp
Phát biểu nào sau đây đúng?
A Sau bước 3, thấy có lớp chất rắn màu trắng nổi lên là glycerol.
B Thêm dung dịch NaCl bão hòa nóng để làm tăng hiệu suất phản ứng.
C Ở bước 2, nếu không thêm nước cất, hỗn hợp bị cạn khô thì phản ứng thủy
phân không xảy ra
D Trong thí nghiệm này, có thể thay dầu dừa bằng dầu nhờn bôi trơn máy Câu 19 Tiến hành thí nghiệm theo các bước sau:
Bước 1: Cho vào cốc thủy tinh chịu nhiệt khoảng 5 gam dầu dừa và 10 mL dungdịch NaOH 40%
Bước 2: Đun sôi nhẹ hỗn hợp, liên tục khuấy đều bằng đũa thủy tinh khoảng 30phút và thỉnh thoảng thêm nước cất để giữ cho thể tích hỗn hợp không đổi Đểnguội hỗn hợp
Bước 3: Rót vào hỗn hợp 15 - 20 mL dung dịch NaCl bão hòa, nóng, khuấy nhẹrồi để yên
Phát biểu nào sau đây về thí nghiệm trên sai?
A Sau bước 3, thấy có lớp chất rắn màu trắng nổi lên là glycerol.
B Ở bước 3, thêm dung dịch NaCl bão hòa là để tách muối của acid béo ra khỏi
hỗn hợp
C Ở bước 2, việc thêm nước cất để đảm bảo phản ứng thủy phân xảy ra.
D Trong thí nghiệm trên, có xảy ra phản ứng xà phòng hóa chất béo.
Câu 20: Tiến hành thí nghiệm xà phòng hóa tristearin theo các bước sau:
Bước 1: Cho vào bát sứ khoảng 1 gam tristearin và 2-2,5 mL dung dịch NaOHnồng độ 40%
Bước 2: Đun sôi nhẹ hỗn hợp khoảng 30 phút và khuấy liên tục bằng đũa thủytinh, thỉnh thoảng thêm vài giọt nước cất để giữ cho thể tích của hỗn hợp khôngđổi
Bước 3: Rót thêm vào hỗn hợp 4-5mL dung dịch NaCl bão hòa nóng, khuấy nhẹrồi để nguội
Phát biểu nào sau đây sai?
A Mục đích chính của việc thêm dung dịch NaCl là làm tăng tốc độ cho phản
ứng xà phòng hóa
B Phần chất lỏng sau khi tách hết xà phòng hòa tan Cu(OH)2 thành dung dịchmàu xanh lam
C Sau bước 3, thấy có lớp chất rắn màu trắng nhẹ nổi lên
D Sau bước 2, thu được chất lỏng đồng nhất
Trang 13PHẦN II Đúng sai
Câu 1: Cho sơ đồ mô tả cơ chế giặt rửa của xà phòng như sau:
Hãy cho biết những phát biểu sau là đúng hay sai?
a Phần 1 là phần kị nước, phần 2 là phần ưa nước.
b Nếu sử dụng nước có tính cứng (chứa nhiều ion Ca2+, Mg2+) không ảnhhưởng đến chất lượng vải, đồng thời làm tăng tác dụng giặt rửa của xàphòng
c Phân tử xà phòng và chất giặt rửa có khả năng xâm nhập vào vết bẩn dầu
mỡ nhờ gốc kị nước
d Xà phòng có cấu trúc phân tử "vừa ưa nước, vừa ưa dầu".
Câu 2: Xà phòng, chất giặt rửa được dùng để loại bỏ các vết bẩn bấm trên quần
áo, bề mặt các vật dụng Cho công thức của của muối sau:
Phần 1 Phần 2
Hãy cho biết những phát biểu sau là đúng hay sai?
a Muối trên có trong thành phần chính của xà phòng và có tên là sodium
palmitate
b Có thể điều chế muối trên trên từ phản ứng giữa (C17H33COO)3C3H5 với dungdịch NaOH vừa đủ
c Phần 1 là phần phân cực (đuôi dài kị nước) và phần 2 là phân không phân cực
(đầu ưa nước)
d Trong quá điều sản xuất xà phòng, có thể thêm vào muối trên một số chất phụ
gia như chất độn, chất tạo màu, chất tạo hương, chất dưỡng da, chất diệtkhuẩn,
Câu 3.
Để đáp ứng nhu cầu to lớn và đa dạng về chất giặt rửa, người ta đã tổng hợp ra nhiều chất dựa theo hình mẫu "phân tử xà phòng" (tức là gồm đầu phân cực gắn với đuôi dài không phân cực), chúng đều có tính chất giặt rửa tương tự xà phòng
và được gọi là chất giặt rửa tổng hợp
Thí dụ: sodium laureth sulfate
O O
Trang 14a Công thức cấu tạo của sodium laureth sulfate có thể viết ở dạng
CH3(CH2)11(OCH2CH2)nOSO3Na
b Sodium laureth sulfate có khả năng tẩy rửa.
c Sodium laureth sulfate có thể dùng với nước cứng vì ít bị kết tủa với Ca2+
d Sodium laureth sulfate được điều chế bằng phản ứng xà phòng hóa chất béo
Câu 5. Xà phòng, chất giặt rửa có nhiều ứng dụng trong đời sống.
a. Xà phòng dùng để tắm, rửa tay chân, gội đầu, …
b. Chất giặt rửa tổng hợp dùng để giặt quần áo, rửa chén bát, rửa tay, lau sàn….
c. Chất giặt rửa có thể sử dụng được với nước cứng còn xà phòng thì không nên
sử dụng vì tạo kết tủa, gây hỏng quần áo
d. Xà phòng và chất giặt rửa đều dễ bị phân hủy sinh học, thân thiện với môi
trường
PHẦN III Trả lời ngắn
Câu 1 Sodium stearate và sodium oleate là các muối dùng để sản xuất xà
phòng Tổng số nguyên tử carbon trong phân tử sodium sterate là bao nhiêu?
Câu 2 Sodium stearate và sodium oleate là các muối dùng để sản xuất xà
phòng Tổng số nguyên tử hydrogen trong phân tử sodium oleate là bao nhiêu?
Câu 3 Xà phòng hóa hoàn toàn một triglyceride thu được hỗn hợp sodium
stearate và sodium oleate Số triglyceride thỏa thí nghiệm là bao nhiêu?
Câu 4 Sodium dodecylbenzenesulfonate (hình bên dưới) là chất hoạt động bề
mặt, nó được ứng dụng để sản xuất chất giặt rửa tổng hợp
Trang 15Tổng số nguyên tử hydrogen trong sodium dodecylbenzenesulfonate là bao nhiêu?
Câu 5 Triglyceride X có cấu tạo như sau:
Khi xà phòng hóa hoàn toàn X bằng dung dịch NaOH thu được hỗn hợp bao nhiêu muối có thể dùng để sản xuất xà phòng?
Trang 16 Khi sử dụng sai cách hiệu quả của xà phòng sẽ bị ảnh hưởng nếu bạn đang
sử dụng nước cứng theo nhiều cách
Làm giảm khả năng làm sạch: Xà phòng mất hoặc khó tạo bọt hơn do các khoáng chất trong nước cứng phản ứng với các khoáng chất trong xà phòng tạo thành các chất kết tủa gọi là “cặn” Cặn dính bám vào quần áo đang giặt
và cản trở khả năng giặt sạch của xà phòng
Gây lãng phí: Để quá trình giặt rửa hiệu quả hơn, bắt buộc bạn phải dùng nhiều xà phòng hơn gấp nhiều lần mới có thể đánh bay được vết bẩn khỏi cơthể hoặc áo quần, bát đĩa
Tạo ra nhiều cặn xà phòng trong phòng tắm, gây ra nhiều vấn đề như làm hoen ố gương, bồn tắm, bồn cầu, làm vải và áo quần xỉn màu, hình thành cáu cặn tích tụ trong ống nước,…
2RCOONa (xà phòng) + Ca² (hoặc Mg² ) → (RCOO)₂Ca (hoặc (RCOO)₂Mg)⁺ ⁺(kết tủa xà phòng) + 2Na ⁺
Câu 2: Giải thích ưu nhược điểm của xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp
Xà phòng Dễ phân huỷ sinh học Tan tương đối chậm, giảm hoạt tính với
nguồn nước cứng Chất giặt rửa Khó phân huỷ sinh học Dễ tan, tan nhanh, thích hợp với nhiều nguồn nước
Xà phòng Tắm, rửa tay,
Chất giặt rửa Giặt quần áo, rửa chén bát, rửa tay, lau sàn,
Câu 3: Vậy chất giặt rửa dùng cho vật liệu nào?
Chất giặt rửa là những chất khi dùng cùng với nước thì có tác dụng làm
sạch các chất bẩn bám trên các vật bề mặt rắn \( bát đũa, sàn nhà, dao, thớt…\)
mà không gây ra phản ứng hóa học với các chất đó.
Xà phòng chủ yếu dùng bề mặt vật bề mặt mềm ( vải , sợi, da…)
Từ những sự khác biệt trên học sinh có thể phân biệt chức năng, công dụng từngloại
Câu 4: Em hãy nêu phương pháp sản xuất xà phòng trong phòng thí nghiệm?
Các chất để sử dụng trong phòng thí nghiệm để sản xuất xà phòng:
Trang 17 Hóa chất: NaOH khan, cồn, nước, dầu ăn.
Dụng cụ: Nồi, muỗng…
Sản xuất xà phòng trong phòng thí nghiệm
Thứ tự các bước như sau:
Cho 3 ml cồn vào một cái bát, thêm 3 ml nước Cho tiếp 3 ml dung dịchNaOH đặc và khuấy đều
Đun nóng dầu ăn, để nguội khoảng 30 - 40 độ C Đổ từ từ vào hỗn hợp trên
và khuấy đều
Tiếp tục khuấy có thể thêm chút hương và màu
Đến khi hỗn hợp dần đông lại, đổ ra và ép thành bánh xà phòng nhỏ
Trên đây là quy trình sản xuất xà phòng ở quy mô công nghiệp và phòng thínghiệm Về quy trình khá đơn giản nên bạn có thể thực hiện tại nhà để ra sảnphẩm của riêng mình Nếu bạn muốn trải nghiệm bỏ qua những điều thú vị củaviệc tự tay sản xuất 1 bánh xà phòng nho nhỏ
Câu 5: Em hãy cho ưu điểm khác về các chất xà phòng công nghiệp và chất giặt rửa tự nhiên ?
Trang 18Saponin trong bồ hòn và bồ kết có khả năng giặt rửa Khi tiếp xúc với nước,saponin tạo ra lớp bọt nhẹ tương tự xà phòng.
2 Chất tẩy rửa công nghiệp
Trang 19Câu 6 Phân biệt xà phòng tự nhiên và chất tẩy rủa công nghiệp ?
a Xà phòng tự nhiên.
- Là các loại xà phòng chiết xuất từ các acid béo (Oleic acid, Myristic acid,Citric Acid, ) và dầu chiết xuất từ động vật hoặc thực vật như tinh dầu chanh,dầu cọ, dầu dừa… nhiều loại có tạo thêm hương thơm tự nhiên như hương bạc
hà, quế, gừng…
- Xà phòng tự nhiên thường lành tính, không gây kích ứng da, khá dịu nhẹ nênphù hợp với những làn da nhạy cảm như da em bé Đó là những sản phẩm đượclàm từ các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên, an toàn cho sức khỏe và môitrường Chúng thường không chứa các hóa chất độc hại như chất tẩy trắng, chấttạo mùi, chất bảo quản và các dung môi có thể gây kích ứng da, ảnh hưởng đến
hệ hô hấp và gây ô nhiễm môi trường Đây là các chất khuyến khích dùng vì thânthiện với môi trường, an toàn với da
- Xà phòng tự nhiên vẫn đảm bảo khả năng tiệt trùng: tiêu diệt vi khuẩn, virus
b Xà phòng, chất tẩy rửa công nghiệp
- Được cấu thành từ các hợp chất hóa học Mẹ có thể đọc trên bao bì các thànhphần như: Sodium laureth sulfate (SLS), ammonium lauryl sulfate (ALS),Cocomidopropyl Betaine, DEA, TEA, MEA, Formaldehyde, Triclosan,
- Ưu điểm của xà phòng, chất tẩy rửa công nghiệp là độ tẩy rửa vượt trội, chỉmột lượng nhỏ có thể tẩy rửa lượng đồlớn
- Chất tẩy công nghiệp khá rẻ tuy nhiên rất độc hại Một loạt các hóa chất nhưchất bảo quản Paraben, chất tạo bọt Sodium Laurel Sulfate (SLS), chất cân bằng
độ ẩm DEA (Diethanolamine)/ MEA (Monoethanolamine)/ TEA(Triethanolamine), chất diệt khuẩn Triclosan, vô cùng nguy hiểm cho sức khỏenếu sử dụng thường xuyên
Trang 202.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Chương trình THPT 2018 hơi nặng phần lí thuyết, có mở rộng rất nhiều.
Việc đưa phương tiện trực quan vào dạy học mang lại cho học sinh trải nghiệmtrực quan, dễ hình dung, dễ nhớ giúp các e tiếp thu kiến thức tốt hơn so với kiểu
cũ Qua đó gây được thiện cảm tốt hơn, giúp học sinh yêu môn hóa hơn Vớiviệc đưa các vấn đề thực tế trong cuộc sống hằng ngày gần gửi, quen thuộc làmhọc sinh yêu thích bộ môn hóa, không phải ghi nhớ quá nhiều lí thuyết khôkhan Qua đó hình thành thói quen sinh hoạt tiết kiệm, có ý thức bảo vệ môitrường sống ngay trong gia đình, trường học nơi làm viêc Có thiện cảm , ý thức
tự giác với vấn đề cộng đồng.[4][6]
Qua một số phiếu nghiên cứu khảo sát phần phụ lục có tạo cho học sinhyêu thích, ham mê và nâng cao ý thức, an toàn, tiết kiệm trong học tập, lao độngsản xuất, sáng kiến có tác dụng thực tế.[6]
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1 Kết luận sáng kiến.
Trong đề tài này tôi đã trình bày các nội dung sau:
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn, tôi đã đưa ra được một số hình thức tổchức hoạt động củng cố bài trong giảng dạy môn Hóa học 10 Cơ bản Lấy ví dụhình thức tổ chức cụ thể cho các bài giảng trong chương tốc độ phản ứng Giúphọc sinh có hứng thú hơn khi học tập môn Hóa học góp phần nâng cao chấtlượng trong giai đoạn hiện nay Là tài liệu có thể tham khảo cho giáo viên vàhọc sinh trong quá trình dạy và học hóa học
3.2 Kiến nghị.
3.2.1 Đối với giáo viên:
- Luôn trau dồi kiến thức nâng cao chuyên môn nghiệp vụ
- Cần đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp mà đạt hiệu quả cao nhất,đặc biệt là những học sinh trung bình yếu kém Khơi gợi sự yêu thích khoa học,quan sát và xây dựng ý thức tự bảo vệ sức khỏe bản thân, báo vệ môi trường họctập gia đình, trường học và nơi công cộng Các buổi dạy, ôn tập không nhằmmục đích hướng những kiến thức hàn lâm, mà đơn giản nhằm thay đổi thói quendạy và học trường học, gia đình, thay đổi tư duy dạy học theo hướng tiếp cậntrực quan
3.2.2 Đối với nhà trường, sở giáo dục :
- Cần quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho giáo viên và học sinh
- Tổ chức tốt các đợt hội giảng để giáo viên có điều kiện học hỏi, trao đổi kinhnghiệm, trang bị đầy đủ thiết bị cơ bản môn hoá học, nhất là những thiết bị cơbản để học sinh có thể quan sát hoặc tiến hành những thí nghiệm, hình ảnh dễ