1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Skkn cấp tỉnh Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 12a10 trường thpt thạch thành 1 thông qua hoạt Động nói và nghe trong môn ngữ văn 12 (bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống

24 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 12a10 trường thpt thạch thành 1 thông qua hoạt động nói và nghe trong môn ngữ văn 12 (bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống)
Tác giả Lê Thị Tuyến
Trường học Trường THPT Thạch Thành 1
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2025
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 5,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ÁP DỤNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 12A10 TRƯỜNG THPT THẠCH

Trang 1

MỤC LỤC

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ÁP DỤNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 12A10 TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 1 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NÓI

VÀ NGHE TRONG MÔN NGỮ VĂN 12 (BỘ SÁCH “KẾT

NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG”)

Người thực hiện: Lê Thị Tuyến Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2025

Trang 2

2.1.2 Dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn 52.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 6

2.3.2 Xây dựng kế hoạch dạy học nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ

cho học sinh qua hoạt động nói và nghe

8

2.3.3 Lưu ý các kĩ năng cần thiết để phát huy năng lực ngôn ngữ cho

học sinh qua hoạt động nói và nghe

9

2.3.4 Định hướng cho học sinh chuẩn bị bài nói và nghe; cách trình

bày bài nói; nhận xét, đánh giá, góp ý sau khi nói

10

2.3.5 Vận dụng linh hoạt, đa dạng hóa các phương pháp, kĩ thuật dạy

học, hình thức dạy học để phát huy năng lực đặc thù cho học sinh

qua hoạt động nói và nghe

13

2.3.6 Ứng dụng công nghệ thông tin, học liệu số, thiết bị công nghệ

vào hoạt động nói và nghe để phát huy năng lực ngôn ngữ cho học

sinh

15

2.3.7 Nhận xét, đánh giá khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ để

động viên, khuyến khích học sinh tự tin tham gia vào hoạt động nói và

nghe

16

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,

với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

Trang 3

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng và tiện lợi nhất Nhưng để giao tiếp có hiệu quả phải cần đến năng lực ngôn ngữ Trong xã hội phát triển như hiện nay, việc mở rộng phạm vi, loại hình, không gian, cách thức giao tiếp

là tất yếu, theo đó năng lực ngôn ngữ càng trở nên quan trọng Do vậy, việc phát triển năng lực ngôn ngữ cần phải trở thành điều kiện tiên quyết, nhất là đối với học sinh hiện nay Nắm vững năng lực ngôn ngữ sẽ giúp ta biết cách lắng

nghe, thấu hiểu cảm xúc của người nói Chúng ta cũng sẽ chủ động hơn khi tròchuyện với người khác, khiến người đối diện cảm thấy được quan tâm, trân trọng.Khi đó ta sẽ kết nối thêm với nhiều bạn bè mới, mối quan hệ của bạn sẽ rộng mở

Vị thế của mình trong mắt mọi người cũng vì thế sẽ được nâng cao hơn Những gìmình nói ra cũng có trọng lượng hơn Nhờ vậy con đường sự nghiệp của bạn sẽ dầnđạt được thành công như mong đợi

Năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ

thông 2018 với mục tiêu là“giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận

dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội;

có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống

có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại” Với

mục tiêu này, các cấp học quy định rõ về các môn học và hoạt động giáo dục, trong

đó môn Ngữ văn là môn học bắt buộc Đây là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn cao, giúp học sinh rèn luyện phương tiện giao tiếp, đó cơ sở đểhọc tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường Văn học giáodục những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ởhọc sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống vị tha, nhân ái,…Nội dung cốt lõi của môn học bao gồm các mạch kiến thức và kĩ năng cơ bản, thiếtyếu về tiếng Việt và văn học, đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và nănglực học sinh với trục xuyên suốt ba cấp học là rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) Trong 4 kĩ năng trên, mặc dù thời lượng dành cho kĩ năng nói

và nghe rất ít, chỉ chiếm khoảng 10% trong thời lượng dành cho các nội dung giáodục nhưng đây vẫn là hai kĩ năng quan trọng để phát huy năng lực ngôn ngữ vànăng lực văn học của học sinh Từ đó giúp học sinh tự tin, linh hoạt, chủ độngtrong giao tiếp Đó là những yếu tố rất cần thiết đối với một học sinh, đặc biệt làtrong giai đoạn đất nước đổi mới như hiện nay

Sách Ngữ văn 12 (bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” là sự tiếp nối cấu

trúc, chủ đề của SGK Ngữ văn 10, 11) được chia thành nhiều bài với những chủ đềkhác nhau, ở mỗi bài học đều có những tiết học nói và nghe Đây là điều kiện quantrọng giúp học sinh được tiếp cận kiến thức theo tinh thần hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực

và trách nhiệm) và chú trọng phát triển năng lực của người học (bao gồm các nănglực chung và năng lực đặc thù) từ đó giúp học sinh rèn luyện phát triển tư duylogic, khả năng tự học, khả năng giao tiếp, phát huy tính tích cực sáng tạo, nănglực ngôn ngữ Thế nhưng từ thực tế các tiết học nói và nghe, tôi thấy hiệu quả chưacao, kĩ năng tạo lập văn bản, kĩ năng nói của học sinh chưa tốt, khả năng giao tiếp

Trang 4

còn bị hạn chế rất nhiều Các em lúng túng, thiếu tự tin, vốn từ eo hẹp,… Do đó,làm sao để có thể phát huy năng lực ngôn ngữ của học sinh, rèn cho các em kĩ năngnói và nghe; làm sao để khơi gợi hứng thú cho các em trong giờ học, để nâng cao chất lượng giáo dục môn Ngữ văn nói riêng và giáo dục học sinh nói chung luôn

là vấn đề tôi trăn trở Với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm, cùng với những kiếnthức tiếp thu và hiểu biết về Chương trình giáo dục phổ thông 2018, tôi mạnh dạn

nghiên cứu và đề xuất đề tài “Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực

ngôn ngữ cho học sinh lớp 12A10 - Trường THPT Thạch Thành 1 thông qua hoạt động nói và nghe trong môn Ngữ văn 12 (Bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”), mong muốn góp thêm ý kiến của mình, cùng đồng nghiệp tìm ra

hướng đi tốt nhất trong dạy học tiết nói và nghe ở trường THPT Mong rằng việcdạy nói và nghe không còn đơn điệu, khô khan, một chiều như trước đây để mỗitiết học thực sự là một niềm vui, giúp học sinh nhận thức đúng đắn tầm quan trọng

và có niềm đam mê thực sự với môn học này Qua đó góp phần giữ gìn sự trongsáng của Tiếng việt

1.2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra những giải pháp nhằm phát huynăng lực đặc thù của học sinh qua tiết nói và nghe Vì vậy mong rằng, đề tài nghiên

cứu “Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh

lớp 12A10 - Trường THPT Thạch Thành 1 thông qua hoạt động nói và nghe trong môn Ngữ văn 12 (Bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”) không chỉ góp

phần giúp các em học sinh hứng thú, tự giác, chủ động hơn trong giờ học; pháttriển tư duy logic, kĩ năng giải quyết vấn đề mà còn giúp nâng cao khả năng giaotiếp, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học cho các em; khơi gợi ở các em lòng yêuthích và say mê khám phá môn học đồng thời giúp giáo viên dễ dàng phân loạiđược đối tượng học sinh Từ đó hi vọng đề tài này sẽ góp phần nâng cao chất lượngmôn Ngữ văn ở lớp 12A10 nói riêng, ở trường THPT Thạch Thành 1 nói chung

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được áp dụng cho học sinh hai lớp 11B10 và 12A10 của trường THPT Thạch Thành 1 trong hai năm học 2023 – 2024 và 2024 – 2025 với

việc sử dụng Sách giáo khoa Ngữ văn 12, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống.

Tuy nhiên, trên thực tế, các giải pháp mà đề tài đưa ra không chỉ áp dụngcho việc dạy tiết nói và nghe cho lớp 12 mà còn có thể dùng cho cả học sinh lớp 10,

11 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống (Chương trình giáo dục phổ thông 2018)

và cho cả các bộ sách khác của môn Ngữ văn THPT Qua đó tạo điều kiện để họcsinh nắm vững, hiểu sâu về ngôn ngữ dân tộc, rèn kĩ năng giao tiếp, phát huy nănglực ngôn ngữ trong học tập và cả trong cuộc sống một cách hiệu quả nhất

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Thu thập tất cả các tài liệu trong chương trình môn Ngữ văn: Sách giáokhoa Ngữ văn 12; sách giáo viên Ngữ văn 12; các tài liệu tham khảo có liênquan…

Lựa chọn những tài liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài: Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể; Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn

Trang 5

Ngữ văn; Chương trình Etep: Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng giáo viên phổ thôngcốt cán; Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT; Tạp chí Giáo dụcThời đại; Từ điển tiếng Việt; Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làmtrung tâm; Đổi mới PPDH Văn và Tiếng Việt.

1.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin

- Điều tra, khảo sát trực tiếp qua thực tiễn dạy học sinh lớp 11B10 năm học

2023 - 2024 và lớp 12A10 năm học 2024 - 2025

- Quan sát, tìm hiểu, trao đổi, phân tích với đồng nghiệp trong tổ, trongtrường và các đồng nghiệp khác trong các trường THPT Thạch Thành về vấn đề liê

n quan đến đề tài để rút kinh nghiệm, bổ sung, sửa đổi những nội dung chưa hợp lí

- Điều tra bằng nhiều hình thức thăm dò ý kiến đánh giá của đồng nghiêp vàhọc sinh về đề tài trên

1.4.3 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

- Thống kê các kết quả thăm dò trong hai năm học 2023-2024 và 2024-2025

- Phân tích, xử lí số liệu thu thập được

- Nhận xét, đánh giá lại đề tài và đề xuất giải pháp hỗ trợ

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về phát triển giáo dục đặc biệt chú trọng “c

huyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học” Đồng thời Nghị quyết Đại hội cũng nhấn

mạnh giai đoạn 2021-2030 là giai đoạn phát triển mới, mang tính bứt phá, nhất làviệc đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển toàn diệnnăng lực, phẩm chất người học Trên tinh thần này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới theo định hướng phát triển phẩm chất

và năng lực học sinh với năm phẩm chất chủ yếu và mười năng lực cốt lõi cần phát triển, nhằm khắc phục những hạn chế của chương trình giáo dục tiếp cận nội dungnhư trước đây Với chương trình mới, hoạt động dạy của giáo viên và hoạt độnghọc của học sinh bảo đảm sự thống nhất, tương tác Trong đó, giáo viên giữ vai trò chỉ đạo, hướng dẫn; học sinh không chỉ là đối tượng của hoạt động dạy mà cònchính là chủ thể của hoạt động học

Những quan điểm, chiến lược, định hướng chỉ đạo nêu trên chính là cơ sởthúc đẩy mỗi giáo viên phải không ngừng tự học, rèn luyện, tìm tòi những hướng

đi, những phương pháp phù hợp, vận dụng vào thực tiễn dạy học và giáo dục ở đơn

vị mình Nhưng làm thế nào để dạy học phát huy năng lực ngôn ngữ của học sinh lớp 12A10 trường THPT Thạch Thành 1 qua hoạt động dạy học nói và nghe trong môn Ngữ văn 12 ở trường THPT lại là một vấn đề không phải dễ, vì vậy bản thântôi đã nghiên cứu và mạnh dạn áp dụng những giải pháp để giải quyết vấn đề này.Trước hết, cần hiểu rõ thế nào là dạy học phát triển năng lực?

2.1.1 Năng lực và dạy học phát triển năng lực

* Khái niệm năng lực: Năng lực là kiến thức, khả năng, hành vi của một

người hoặc một hệ thống để thực hiện công việc hay đạt được mục tiêu cụ thể.

Trang 6

Năng lực có thể bao gồm các khía cạnh như kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, tư duy sáng tạo,

Theo từ điển của Đại học Harvard, năng lực là những điều mà mỗi cá nhân phải chứng minh mình có hiệu quả trong công việc, vai trò, chức năng, nhiệm vụ Còn theo từ điển tâm lý học, năng lực là tập hợp những tố chất, phẩm chất của tâm

lý cá nhân, đóng vai trò là nền tảng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện bất

kỳ một hoạt động nào đó Theo đó, năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó, như trí nhớ, tri giác, mà là sự tổng hợp của các thuộc tính tâm

lý cá nhân.

Căn cứ theo quy định tại Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèmtheo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT có nêu rõ khái niệm năng lực theo chương

trình giáo dục phổ thông 2018 như sau: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình

thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.

Các yếu tố cấu thành năng lực bao gồm: Năng lực = Kiến thức + Kĩ năng + Thái độ

Trong đó được chia thành mười năng lực cốt lõi (với ba năng lực chung vàbảy năng lực đặc thù):

Sơ đồ: 5 phẩm chất và 10 năng lực cần phát triển cho học sinh

* Phát triển năng lực là phát triển những khả năng hoàn thành nhiệm vụ đ

ặt ra, phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhânđóng vai trò quyết định Phát triển sự kiên trì học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm của bản thân trong hoạt động thực tiễn Phát triển khả năng thực hiện thành

Trang 7

công hoạt động trong bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức,

kĩ năng và phát triển các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…Phát triển các năng lực chung cũng như năng lực đặc thù của học sinh

* Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng

tới mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của người học thông qua cáchthức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh dưới sự

tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên Trong mô hình này, người học

có thể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình Điều đó cónghĩa là người học phải chứng minh mức độ nắm vững và làm chủ các kiến thức và

kĩ năng (được gọi là năng lực); huy động tổng hợp mọi nguồn lực (kinh nghiệm,kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí,…) trong một môn học hay bối cảnhnhất định, theo tốc độ của riêng mình

*Ý nghĩa của dạy học theo định hướng phát triển năng lực

- Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp đảm bảo chất lượng đầu

ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển các phẩm chất nhân cách và nănglực của học sinh một cách toàn diện

- Dạy học theo định hướng phát triển năng lực chú trọng năng lực vận dụngkiến thức của bài học vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn từ đó giúp họcsinh áp dụng được những gì đã học vào thực tế cuộc sống

- Với một số học sinh, dạy học theo định hướng phát triển năng lực chophép đẩy nhanh tiến độ hoàn thành chương trình học, tiết kiệm thời gian và côngsức cho việc học

- Dạy học theo hướng phát triển năng lực tạo ra những giờ học thú vị, sôiđộng và cuốn hút học sinh vào các hoạt động tìm tòi, khám phá kiến thức

- Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp các giờ giảng dạy trởnên hiệu quả hơn, giáo viên đáp ứng được nhu cầu học của từng học sinh và đảmbảo mọi học sinh đều tận dụng giờ học một cách tối đa

2.1.2 Dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn

Về mục tiêu, Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Ban hànhkèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng BộGiáo dục và Đào tạo) đã xác định yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng

lực chung: "Môn Ngữ văn góp phần hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm

chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể" đó là:

Môn Ngữ văn góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung (nănglực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề vàsáng tạo) và các năng lực đặc thù (gồm năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học) đãhình thành ở cấp tiểu học với yêu cầu cần đạt cao hơn

Yêu cầu cần đạt trong dạy học phát huy năng lực đặc thù của học sinh trongmôn Ngữ văn bao gồm:

Phát triển năng lực ngôn ngữ với yêu cầu: sử dụng được tiếng Việt, sử dụngngôn ngữ tự nhiên qua giao tiếp hằng ngày, thể hiện qua các kĩ năng đọc, viết, nói

và nghe các văn bản thông thường Năng lực này được hình thành dần dần quatừng lớp học, cấp học Ban đầu, học sinh học sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên,

Trang 8

theo kinh nghiệm tiếp thu được từ môi trường giao tiếp, sau đó mới tiến lên sửdụng một cách có ý thức Chương tình Ngữ văn mới không chủ trương dạy sâu các nội dung mang tính hàn lâm nhằm nghiên cứu ngôn ngữ mà chỉ cung cấp một số kiến thức ngôn ngữ nền tảng để người học có thể sử dụng trong việc thực hành đọc hiểu, viết, nói và nghe các kiểu loại văn bản; viết được đoạn và bài văn tự sự, miêu

tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng hoàn chỉnh, mạch lạc, logic, đúng quy trình và có kết hợp các phương thức biểu đạt; nói dễ hiểu, mạch lac; có thái độ

tự tin, phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp

Năng lực văn học là năng lực tiếp nhận, giãi mã cái hay, cái đẹp của văn bảnvăn học, thể hiện chủ yếu ở việc học sinh biết đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật thông qua các văn bản văn học; nhận biết, lí giải, nhận xét và đánh giá những đặc sắc về hình thức văn bản văn học, từ đó biết tiếp nhận đúng và sáng tạo các thông điệpnội dung Năng lực văn học còn thể hiện ở khả năng tạo lập văn bản, biết cách biểuđạt (viết và nói) kết quả cảm nhận, hiểu và lí giải giá trị thẩm mĩ của văn bản vănhọc; bước đầu có thể tạo ra được các sản phẩm văn học

Với phạm vi đề tài này, tôi dừng lại ở việc nghiên cứu, thực nghiệm một số giải pháp để phát huy năng lực ngôn ngữ của học sinh thông qua hoạt động nói và

nghe trong môn Ngữ văn 12 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) Qua các tiết

nói và nghe ở lớp 12, học sinh trình bày dễ hiểu các ý tưởng và có cảm xúc; có thá

i độ tự tin khi nói trước nhiều người; sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ thích hợp;

kể lại một cách mạch lạc câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ những cảm xúc,thái độ, trải nghiệm, ý tưởng của mình đối với những vấn đề được nói đến; thảoluận ý kiến về vấn đề đã đọc, nghe; thuyết minh về một đối tượng hay một quytrình; biết cách nói thích hợp với mục đích, đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp; biết

sử dụng hình ảnh, kí hiệu, biểu đồ, để trình bày vấn đề một cách hiệu quả Nghehiểu với thái độ phù hợp và tóm tắt được các nội dung; nhận biết và bước đầu đánhgiá được lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng; biết cách phản hồi những gì đãnghe một cách hiệu quả

Như vậy, năng lực ngôn ngữ là một năng lực tổng hợp trên cơ sở những biểu hiện của bốn yếu tố đọc, viết, nghe, nói cấu thành Các yếu tố đó có mối quan hệchặt chẽ, thúc đẩy và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên tính toàn diện trongphát huy năng lực đặc thù của môn Ngữ văn

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Thuận lợi:

Theo chương trình giáo dục phổ thông mới, việc dạy học gắn liền với việcđổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực mang lại nhiềulợi ích cho người học Năm học 2024 - 2025 là năm học thứ ba, cấp THPT triển kh

ai chương trình giáo dục phổ thông mới Về cơ bản, cơ sở vật chất nhà trườngtương đối đầy đủ với hệ thống phòng học, bàn ghế, ti vi có kết nối internet, bảngtrượt,… Đội ngũ giáo viên được phân công đứng lớp rất tâm huyết, có kiến thức,kinh nghiệm, đã được tập huấn đầy đủ về chương trình và sách giáo khoa mới Nhà

trường lựa chọn và sử dụng bộ sách giáo khoa Kết nối tri thức với cuộc sống - bộ

sách được lựa chọn dùng chung trong huyện Thạch Thành và tỉnh Thanh Hóa đã tạo điều kiện cho bản thân tôi và các đồng nghiệp có thể trao đổi, học hỏi và rút ra

Trang 9

nhiều kinh nghiệm bổ ích trong giảng dạy Tổ chuyên môn nhà trường thườngxuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn theo các chuyên đề, mỗi tháng hailần; dự giờ góp ý giờ dạy mỗi tháng một lần.

Học sinh về cơ bản các em ngoan, có ý thức học tập Với chương trình mới,các em có nhiều cơ hội để khám phá kiến thức, thể hiện bản thân qua các hoạt độnghọc tập gắn với trải nghiệm Các em hồ hởi, hăng hái, chủ động, tích cực chờ đón các giờ học Ngữ văn Đặc biệt qua các tiết nói và nghe, các em chủ động tiến hành các hoạt động để chiếm lĩnh tri thức, phát huy tác dụng của phương pháp hoạtđộng nhóm, rèn kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp, phát huy năng lực ngôn ngữ,năng lực văn học

Về bản thân, với kinh nghiệm ba năm dạy chương trình mới lớp 10, lớp 11,năm nay là lớp 12 - chương trình giáo dục phổ thông 2018, qua thực tiễn dạy học, tôi có điều kiện để tìm tòi, học hỏi, thử nghiệm, rút kinh nghiệm và từ đó đề xuất

đề tài “Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học

sinh lớp 12A10 - Trường THPT Thạch Thành 1 thông qua hoạt động nói và nghe trong môn Ngữ văn 12 (Bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”)

bị chu đáo ở nhà trước khi tiến hành hoạt động nói và nghe ở trên lớp Ngay cả kh

i thực hành tiết nói và nghe, nếu cả giáo viên và học sinh không chủ động tiến hànhcác hoạt động thì sẽ không hoàn thành được mục đích, yêu cầu đặt ra trong tiết dạyhọc

Thực tế dạy học ở trường THPT Thạch Thành 1, vẫn còn một số giáo viên còn nặng về lối dạy học theo kiểu truyền thống, chậm đổi mới, nặng về truyền đạt kiến thức thay vì tạo điều kiện cho học sinh chủ động trong quá trình học Việcchưa nắm vững và áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại bên cạnhphương pháp truyền thống của giáo viên cũng gây khó khăn không nhỏ trong dạyhọc, nhất là với những tiết dạy nói và nghe Bởi giáo viên chưa kích thích được họcsinh chủ động tham gia chiếm lĩnh kiến thức, chưa kích thích được năng lực củahọc sinh, đặc biệt là năng lực ngôn ngữ và khả năng giao tiếp

Học sinh ở lứa tuổi THPT, đặc biệt là học sinh miền núi, lại là một lớp cuốicủa trường THPT Thạch Thành 1 thì vốn ngôn ngữ còn rất hạn chế, đôi lúc còn tùy tiện trong cách nói năng Trong các tiết luyện nói và nghe theo những chủ đề hoặc nội dung bắt buộc hoặc tự chọn đa phần các em còn lúng túng trong cách dùng từ,diễn đạt ý tưởng, việc sắp xếp các phần, các đoạn trong bài nói còn lộn xộn; các emchưa biết kết hợp ngôn ngữ nói với cử chỉ, điệu bộ; còn rụt rè, e ngại khi giáo viên yêu cầu trình bày bài nói hoặc nhận xét về bài nói của bạn Khi bạn trình bày bài nói, các em còn chưa tập trung lắng nghe để đưa ra những nhận xét, góp ý xácđáng Đây cũng chính là rào cản đối với học sinh trong quá trình giao tiếp Nếu

Trang 10

không có giải pháp để giải quyết những vấn đề này, thì giờ dạy nói và nghe sẽ

không thể thành công được Trước thực trạng đó, tôi mạnh dạn đề xuất đề tài “Áp

dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 12A10 - Trường THPT Thạch Thành 1 thông qua hoạt động nói và nghe trong môn Ngữ văn 12 (Bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”)

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Nắm vững bản chất phương pháp dạy nói và nghe để phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh

Trong từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa: Nói là “phát ra thành tiếng, thành lời để diễn đạt một nội dung nhất định trong giao tiếp” Còn nghe là

“cảm nhận, nhận biết bằng một cơ quan thính giác” Nói và nghe là hai hoạt động

cơ bản trong một cuộc giao tiếp, trong đó nói (viết) là kĩ năng sản sinh văn bản;nghe (đọc) là kĩ năng tiếp nhận văn bản Hai kĩ năng này không thể tách rời nhau

mà luôn có sự tương tác, luân phiên nhau trong một hoạt động giao tiếp Người nói sau khi nói xong sẽ trở thành người nghe Ngược lại, người nghe sau khi nghexong lại trở thành người nói Mỗi người muốn tham dự một hoạt động giao tiếpbình thường thì phải có năng lực để thực hiện cả hai quá trình này

Như vậy, mục đích của hoạt động nói và nghe là nhằm giúp học sinh có khả năng diễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ nói một cách rõ ràng, tự tin; có khả nănghiểu đúng; biết tôn trọng người nói, người nghe; có thái độ phù hợp trong trao đổi, thảo luận Dạy nói và nghe không chỉ phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp mà còn giáo dục phẩm chất và nhân cách học sinh

Với hoạt động nói, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích mẫu đồng thờ

i hướng dẫn cách làm và tổ chức cho học sinh thực hành; hướng dẫn cách thức, quy trình chuẩn bị một bài thuyết trình và trình bày trước nhóm, tổ, lớp; cách thức vàquy trình chuẩn bị một cuộc thảo luận, tranh luận và cách tham gia thảo luận, tranhluận

Trong dạy nghe, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách nắm bắt được nộidung nghe, cách hiểu và đánh giá quan điểm, ý định của người nói; cách kiểmtra những thông tin chưa rõ; có thái độ lắng nghe tích cực và tôn trọng ngườinói, tôn trọng những ý kiến khác biệt; cách hợp tác, giải quyết vấn đề với thái độ

tích cực.Đối với kĩ năng nói nghe tương tác, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biếtlắng nghe và biết đặt câu hỏi để hiểu nội dung nghe, biết nói theo lượt lời trong hộithoại, biết dùng các phương tiện nghe nhìn khác để hỗ trợ cho lời trình bày miệng

Thực hành nghe nói là hoạt động chính, nhằm rèn kĩ năng nghe nói cho họcsinh Để tạo điều kiện cho mọi học sinh được thực hành nói, giáo viên cần linhhoạt trong việc tổ chức các hoạt động học tập như: yêu cầu từng cặp học sinh nóicho nhau nghe hoặc học sinh trình bày bài nói trước nhóm, lớp; tổ chức cho họcsinh thảo luận; chia nhóm, lắng nghe nhận xét, rút kinh nghiệm dựa trên nhữnghướng dẫn cụ thể về tiêu chí đánh giá mà giáo viên cung cấp

Trang 11

Hình ảnh: Học sinh lớp 12A10 thảo luận nhóm và cử đại diện trình bày bài nói

trước lớp

2.3.2 Xây dựng kế hoạch dạy học nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ ch

o học sinh qua hoạt động nói và nghe

Kế hoạch dạy học là một bản thiết kế và hướng dẫn cụ thể cho việc thực hiệnnhiệm vụ giảng dạy một môn học hay một bài học, bao gồm các nội dung: xác định mục tiêu bài học, dự kiến các phương pháp, kĩ thuật dạy học, dự kiến các nguồnlực học tập; thiết kế các hoạt động giảng dạy, học tập; tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học

+ Bước 1: Nghiên cứu tài liệu, chương trình, sách giáo khoa về bài dạy.+ Bước 2: Xác định yêu cầu cần đạt (mục tiêu bài học), các phẩm chất, nănglực cần hình thành cho học sinh

+ Bước 3: Dự kiến các phương pháp, kĩ thuật dạy học sẽ sử dụng trong tiết học

+ Bước 4: Yêu cầu chuẩn bị của giáo viên và học sinh

+ Bước 5: Xác định các hoạt động học tập trong tiết học

Việc xây dựng kế hoạch dạy học sẽ giúp giáo viên chủ động trong thực hiện, triển khai các hoạt động học một cách hợp lí, khoa học Từ đó tạo điều kiện thuậnlợi để khơi gợi được sự tích cực, chủ động của học sinh trong tiết học, qua đó đánhgiá chính xác được phẩm chất, năng lực học sinh Vì vậy, đây chính là khâu đầutiên, quan trọng quyết định sự thành công của một tiết học, tiết học nói và nghehướng tới phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh cũng như vậy

2.3.3 Lưu ý các kĩ năng cần thiết để phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh qua hoạt động nói và nghe

Nội dung các bài nói nghe xoay quanh các hình thức, kĩ năng như:

- Kĩ năng chào hỏi: Đây là kĩ năng đầu tiên khi bắt đầu bài nói, giúp người

nói gây được ấn tượng với người nghe, thu hút người nghe tập trung vào bài nóicủa mình; tạo tâm thế thoải mái, gần gũi để bắt đầu bài nói Lời chào hỏi này baogồm lời giới thiệu về bản thân và dẫn dắt, giới thiệu vào nội dung bài nói

- Kĩ năng lắng nghe, đặt câu hỏi và phản hồi: Để lắng nghe một cách hiệu

quả, người nghe phải rèn luyện cho mình tính kiên nhẫn, sự tập trung lắng nghecao độ để không bỏ phí những nội dung quan trọng trong bài nói của thầy cô hoặc

Trang 12

bạn bè Việc chú ý lắng nghe kết hợp ghi chép sẽ giúp người nghe hiểu rõ nộidung, từ đó đặt ra những câu hỏi và có những phản hồi chính xác về nội dung bàinói với người nói; còn người nói sẽ cảm thấy được tôn trọng, hào hứng, khuyếnkhích, kích thích hiệu quả nói, có những phản hồi nhanh chóng, chính xác vớinhững câu hỏi mà người nghe đặt ra.

- Kĩ năng diễn đạt: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị chu đáo nội

dung bài nói, chú ý cách sử dụng câu từ, vì đây là yếu tố quyết định việc diễn đạtcủa người nói có lưu loát, trôi chảy hay không, có đúng vào trọng tâm vấn đề đangnói hay không?

- Kĩ năng quan sát: Đây là kĩ năng khá quan trọng mà giáo viên cần hướng

dẫn cả học sinh nói và học sinh nghe Việc quan sát qua nét mặt, ánh mắt, dángđiệu, cử chỉ của đối phương sẽ giúp người nói điều chỉnh được những vấn đề trongquá trình nói và người nghe thể hiện sự tiếp nhận của mình về nội dung đang đượcnghe Từ đó giúp học sinh kiểm soát được cảm xúc và thể hiện cảm xúc phù hợp

2.3.4 Định hướng cho học sinh chuẩn bị bài nói và nghe; Cách trình bày bài nói; Nhận xét, đánh giá, góp ý sau khi nói

2.3.4.1 Trước khi nói:

* Chuẩn bị nội dung nói:

Trước mỗi tiết nói và nghe, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước

ở nhà các nội dung nói trong mỗi bài, chuẩn bị các hình ảnh, tài liệu, những yếu

tố bổ trợ cho nội dung nói để các em có thể lồng ghép vào phần trình bày bài nóicủa bản thân Nội dung chuẩn bị trước khi nói xoay quanh các bước: chuẩn bị, tậpluyện Sau đó học sinh sẽ trình bày bài nói Sau khi nói, người nói sẽ cùng ngườinghe tiến hành bàn bạc, thảo luận, rút kinh nghiệm

Ví dụ: Với tiết nói và nghe “Thuyết trình về một vấn đề liên quan đến tuổi

trẻ”, người nói cần chuẩn bị nội dung trước khi nói:

+ Dựa vào chính thực tế cuộc sống của mình và những điều em biết được từsách báo, các phương tiện nghe nhìn để trao đổi về một vấn đề mà em cho là quan trọng, có ý nghĩa với tuổi trẻ như: Tuổi trẻ hiện nay cần nhận thức như thế nào vềvấn đề cống hiến và hưởng thụ; Vấn đề việc làm đặt ra với giới trẻ trong bối cảnhtrí tuệ nhân tạo có thể làm thay phần việc của con người ở một số lĩnh vực; Vai tròcủa kĩ năng mềm đối với tuổi trẻ,……

+ Thu thập tư liệu cho nội dung trình bày: Ở phần này học sinh có thể bằngnhững trải nghiệm của bản thân kết hợp với các tư liệu thu thập để có cái nhìn toàn

diện hơn về đề tài muốn nói Ví dụ: Khi trao đổi về vấn đề liên quan đến tuổi trẻ

như “Vai trò của kĩ năng mềm”, học sinh có thể thu thập thêm các hình ảnh về vấn

đề này để minh họa cho bài nói

+ Ghi ngắn gọn một số ý quan trọng cần trình bày Ví dụ: Khi trao đổi về vấn

đề “Vai trò của kĩ năng mềm đối với tuổi trẻ” thì học sinh cần chuẩn bị những nội dung: Kỹ năng mềm là gì? Tầm quan trọng của kỹ năng mềm trong cuộc sống ra

sao? Tại sao kỹ năng mềm quan trọng đến vậy? Kể tên những kĩ năng mềm quan

trọng với giới trẻ bây giờ? Làm cách nào để cải thiện kỹ năng mềm?

+ Dự kiến các nội dung người nghe có thể trao đổi để chuẩn bị phản hồi

Ngày đăng: 11/06/2025, 15:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh: Học sinh lớp 12A10 thảo luận nhóm và cử đại diện trình bày bài nói - Skkn cấp tỉnh Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 12a10   trường thpt thạch thành 1 thông qua hoạt Động nói và nghe trong môn ngữ văn 12 (bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống
nh ảnh: Học sinh lớp 12A10 thảo luận nhóm và cử đại diện trình bày bài nói (Trang 11)
Hình ảnh: Tầm quan trọng kỹ năng mềm - Skkn cấp tỉnh Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 12a10   trường thpt thạch thành 1 thông qua hoạt Động nói và nghe trong môn ngữ văn 12 (bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống
nh ảnh: Tầm quan trọng kỹ năng mềm (Trang 13)
Hình ảnh: Những kĩ năng mềm thiết yếu đối với con người - Skkn cấp tỉnh Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 12a10   trường thpt thạch thành 1 thông qua hoạt Động nói và nghe trong môn ngữ văn 12 (bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống
nh ảnh: Những kĩ năng mềm thiết yếu đối với con người (Trang 13)
Hình ảnh: Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào một số lĩnh vực đời sống: Nhiều cơ - Skkn cấp tỉnh Áp dụng một số giải pháp nhằm phát huy năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 12a10   trường thpt thạch thành 1 thông qua hoạt Động nói và nghe trong môn ngữ văn 12 (bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống
nh ảnh: Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào một số lĩnh vực đời sống: Nhiều cơ (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w