Dưới góc độ đó có thể coi những nguyên tắcsau đây là những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự:Ø Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân Điều 4; Ø Nguyên tắc pháp
Trang 1Môn : LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Đề tài:
NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH SỰ THẬT,
PHÂN BIỆT NGƯỜI BÀO CHỮA VÀ
NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO ĐƯƠNG SỰ
Trang 2I Các nguyên tắc cơ bản trong luật tố tụng hình sự
1 Khái niệm
Các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự (LTTHS) là nhữngphương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn quan trọngcủa tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận
Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là kim chỉ nam cho mọihoạt động trong tố tụng hình sự Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình
sự không chỉ định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự mà nó còn địnhhướng cho việc xây dựng pháp luật trong thực tiễn
Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự góp phần vào việc độngviên và tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tham gia vàoviệc đấu tranh phòng chống tội phạm và dân chủ hóa quá trình tố tụng
Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự còn có ý nghĩa cho việcđịnh hướng xây dụng pháp luật tố tụng hình sự
3 Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựngnhà nước pháp quyền đòi hỏi phải đề cao những nguyên tắc phản ánh tính dânchủ, công bằng, nhân đạo và pháp chế, có ý nghĩa bao quát và quyết định đối
Trang 3với toàn bộ hoạt động tố tụng Dưới góc độ đó có thể coi những nguyên tắcsau đây là những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự:
Ø Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân (Điều 4);
Ø Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 3);
Ø Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 9);
Ø Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10);
Ø Nguyên tắc công minh (Điều 14);
Ø Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Điều 11);
Ø Nguyên tắc tranh tụng và bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa(Điều 19);
Ø Nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16).Dưới đây nhóm báo cáo xin trình bày nội dung cơ bản của nguyên tắc xácđịnh sự thật của vụ án nhằm làm rõ thêm ý nghĩa của nguyên tắc này trongviệc bảo đảm tính pháp quyền của tố tụng hình sự nước ta
II Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của bị cáo
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng
Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.”
Trang 4Quy định này là hệ quả của nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tạiĐiều 9: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản ánkết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"
Các cơ quan tiến hành tố tụng được quy định tại Khoản 1, Điều 33 Bộ luật
tố tụng hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
Theo quy định tại Điều 10, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cónghĩa vụ chứng minh tội phạm, nhưng vì chức năng, nhiệm vụ của ba cơ quannày khác nhau, nên việc chứng minh tội phạm của các cơ quan này ở mỗi giaiđoạn tố tụng, có những đặc điểm khác nhau Ở giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy tố, Cơ quan điều tra, Viện Kiểmsát có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, còn ở giai đoạn xét xử, nghĩa vụ chứngminh tội phạm thuộc về đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vàHội đồng xét xử
Cũng theo quy định tại Điều 10, bị can, bị cáo có quyền chứng minh mình
vô tội, nhưng đó không phải là nghĩa vụ của họ Vì vậy việc bị can, bị cáokhông đưa ra được những chứng cứ chứng minh mình vô tội, thì không thểcoi đó chứng cứ buộc tội lại họ Luật tố tụng hình sự không quy định bị can,
bị cáo phải khai đúng sự thật Muốn xác định được bị can Bị cáo có tội haykhông thì phải dựa trên cơ sở những chứng cứ đã thu được trong vụ án đểxem xét
2 Nhận xét
Theo quy định tại điều 10: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc vềcác cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phảichứng minh là mình vô tội” Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện thái độcủa Nhà nước đối với quyền của công dân Dù với tư cách là bị can, bị cáonhưng họ cũng cần phải được đối xử một cách công bằng, nhân đạo như mộtcon người, trong đó, nghĩa vụ chứng minh một người có tội hay không thuộc
về Nhà nước Điều luật quy định về “quyền” chứng minh vô tội cho bị can, bị
Trang 5cáo mà không là nghĩa vụ đã thể hiện sự tôn trọng quyền con người và đây làbiểu hiện của quyền im lặng tồn tại trong chuẩn mực pháp luật tố tụng hình sựquốc tế.
Tuy nhiên, Điều 10, Luật tố tụng hình sự cũng quy định Tòa án cùng vớiViện kiểm sát là cơ quan có nghĩa vụ chứng minh( buộc tội) bị can, bị cáo cótội
Như chúng ta đã biết, tố tụng hình sự được đặc trưng bởi ba chức năng cơbản, đó là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Tòa
án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử và yêu cầu của việc xét xử là Tòa ánphải thực sự độc lập, độc lập với bên buộc tội và bên bào chữa Tòa án phảithật sự khách quan, vô tư, phải là người thực hiện vai trò trọng tài, người cầmtrịch giữa bên buộc tội và bên bào chữa Tòa án không thực hiện chức năngbuộc tội ngay cả khi ra quyết định khởi tố vụ án hoặc tuyên bản án kết tội.Bởi lẽ khi khởi tố vụ án, Tòa án không đưa ra kết luận về lỗi của một người
cụ thể, không buộc tội ai, chỉ chuyển giao vụ án cho Viện kiểm sát xem xétviệc điều tra Khi Tòa án tuyên bản án kết tội là khi bên buộc tội đã thuyếtphục được Tòa án về lỗi của bị cáo, về sự cần thiết phải trừng phạt bị cáo Vìvậy, không thể có cách nào khác hơn là Tòa án tuyên bản án kết tội Nếu chorằng Tòa án là chủ thể buộc tội sẽ dẫn đến việc mất đi vai trò trọng tài củaTòa án, Tòa án không thực hiện được chức năng xét xử của mình, dẫn đến sựbất bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa Chỉ khi nào pháp luật tốtụng phân định rành mạch chức năng buộc tội và xét xử thì mới nâng caotrách nhiệm của người tiến hành tố tụng, bảo đảm tính khách quan, công bằngkhi tòa ra bản án
Vì vậy, nên sửa Điều 10 theo hướng khẳng định Toà án là cơ quan thựchiện chức năng xét xử và không có trách nhiệm chứng minh tội phạm Toà án
có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật nhưng Toà án sẽ thực hiện nhiệm vụ đó thôngqua chức năng xét xử của mình Toà án không phải là người truy tố bị cáo nên
Trang 6Toà án không có nghĩa vụ chứng minh là bị cáo có tội Nghĩa vụ đó thuộc vềcác Cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng buộc tội là cơ quan điều tra vàViện Kiểm sát Toà án chỉ có nghĩa vụ chứng minh trong bản án của mình là
vì sao chấp nhận cáo trạng của Viện kiểm sát mà không chấp nhận lời bàochữa của luật sư (khi tuyên án kết tội) hoặc ngược lại, vì sao không chấp nhậncáo trạng của Viện kiểm sát mà lại chấp nhận lời bào chữa của luật sư (khituyên án vô tội)
III Phân biệt người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự
1 Người bào chữa
Khái niệm: Người bào chữa (người biện hộ) là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp
đỡ họ về pháp lý.
Người bào chữa là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đạidiện hợp pháp của họ lựa chọn hoặc là người được các cơ quan THTT yêucầu Đoàn luật sư, Sở Tư pháp hoặc Mặt trận Tổ quốc cử
Người bào chữa có thể là luật sư, người đại diện hợp pháp của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân (khoản 1 điều 56 BLTTHS)
Thông thường Luật sư là người bào chữa chuyên nghiệp Họ tham gia
Đoàn luật sư và hành nghề ở Văn phòng luật sư, Công ty luật hoặc hành nghềvới tư cách cá nhân Không phải tất cả các luật sư đều có thể trở thành ngườibào chữa (Xem Luật Luật sư năm 2006)
Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo (khi họ là người chưa thành
niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần) là bố mẹ đẻhoặc bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột, người giám hộ
Bào chữa viên nhân dân là người được Mặt trận Tổ quốc hoặc tổ chức
thành viên của Mặt trận Tổ quốc cử ra để bào chữa cho bị can, bị cáo lànhững người của Mặt trận Tổ quốc hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận Tổquốc
Trang 7Những người sau đây không được trở thành người bào chữa:
“Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó hoặc là người thân thích của những người này; Người tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch” (khoản 2 điều 56
Quyền của người bào chữa (kh 2 Điều 58 BLTTHS):
+ Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa:
Sự có mặt của người bào chữa khi hỏi cung bị can tạo nên sự an tâm vềmặt tâm lý cho bị can Bị can an tâm vì biết mình có sự trợ giúp pháp lý từphía người bào chữa Đồng thời sự có mặt của người bào chữa tạo đối trọngpháp lý đối với cán bộ điều tra và sẽ làm cho cán bộ điều tra có trách nhiệmhơn trong công việc của mình cũng như giúp họ tránh được những vi phạmpháp luật không cần thiết trong khi tiến hành hỏi cung như bức cung, mớmcung.v.v…Sự có mặt của người bào chữa trong các hoạt động điều tra kháccũng có những ý nghĩa và tác dụng tương tự
Trang 8+ Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung
bị can để có mặt khi hỏi cung bị can:
Để người bào chữa có mặt khi hỏi cung bị can thì Cơ quan điều tra phảithông báo về thời gian và địa điểm hỏi cung cho người bào chữa Đây là tráchnhiệm của Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án
+ Đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch, được đưa ra chứng cứ và yêu cầu:
Pháp luật quy định người bào chữa có những quyền này là để đảm bảo sự
vô tư và khách quan của những người THTT, người giám định, người phiêndịch và để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo
+ Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật của Nhà nước, bí mật công tác:
Đây là những quyền giúp cho người bào chữa thực hiện hoạt động chứngminh của mình có hiệu quả và đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật tố tụnghình sự về thực hiện chức năng gỡ tội
+ Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu:
Người bào chữa có quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu để chứngminh sự vô tội hoặc đưa ra những tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Các cơ quan có thẩm quyền phải có tráchnhiệm xem xét, giải quyết yêu cầu của người bào chữa
+ Gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam:
Quyền được gặp gỡ bị can, bị cáo sẽ giúp cho người bào chữa hiểu biết vềnhân thân của bị can, bị cáo, hiểu được nguyên nhân, điều kiện của nhữnghành vi mà bị can, bị cáọ bi tình nghi thực hiện…v.v Những hiểu biết nàycần thiết cho người bào chữa và giúp họ chuẩn bị kỷ càng, chu đáo cho côngviệc bào chữa của mình
Trang 9+ Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật:
Quy định về việc được đọc hồ sơ, ghi chép và sao chụp những tài liệu cầnthiết trong hồ sơ sau khi kết thúc điều tra là nhằm tạo điều kiện cho người bàochữa thực hiện tốt hoạt động bào chữa của mình
+ Tham gia hỏi và tranh luận tại phiên tòa;
Tại phiên tòa, quyền xét hỏi thuộc về những người THTT (TP, HT, KSV)
và người bào chữa Người bào chữa tham gia xét hỏi là nhằm kiểm tra vàđánh giá những chứng cứ mà họ sử dụng cho việc bào chữa Người bào chữatham gia tranh luận và đối đáp với bên buộc tội tại phiên tòa để bảo vệ quyềnlợi cho thân chủ
+ Khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan, người có thẩm quyền THTT;
Người bào chữa khi thấy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn hay nhữngbiện pháp cưỡng chế tố tụng của cơ quan có thẩm quyền THTT không đúngtheo quy định của PL (không đúng thẩm quyền, không đúng thủ tục…) thìđược quyền khiếu nại về những quyết định của cơ quan có thẩm quyềnTHTT Người bào chữa có quyền khiếu nại về các hành vi tố tụng sai trái củangười có thẩm quyền
+ Kháng cáo bản án, quyết định của TA trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.
Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhượcđiểm về thể chất hoặc tâm thần thì người bào chữa có quyền kháng cáo bản
án, quyết định của Tòa án vì bị cáo trong những trường hợp này bị hạn chế vềkhả năng nhận thức hoặc bị hạn chế về mặt thể chất làm cho họ không thựchiện được hoặc thực hiện không tốt quyền kháng cáo của mình
Nghĩa vụ của người bào chữa:
Trang 10+ Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do luật định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định sự vô tội của người bị tạm giư, bị can, bị cáo, hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo;
+ Giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
+ Không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo mà mình đã nhận bào chữa nếu không có lý do chính đáng.
Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bịcáo và ràng buộc trách nhiệm của người bào chữa đối với thân chủ của mình.Như vậy, người bào chữa không được tuỳ tiện từ chối bào chữa nếu khôngnêu ra được lý do từ chối là lý do chính đáng Lý do chính đáng có thể là:Không đồng quan điểm với bị can, bị cáo và khi đã giải thích cho bị can, bịcáo về quan điểm của mình nhưng họ vẫn không nhất trí mà người bào chữathì không thể bào chữa theo quan điểm của bị can, bị cáo
+ Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng bức hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; + Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;
+ Không được tiết lộ bí mật về những gì biết được trong khi làm nhiệm vụ.
Trong khi làm nhiệm vụ nếu người bào chữa biết được những bí mậtthuộc về đời tư của bị can, bị cáo hay những bí mật quân sự, bí mật quốc giathì người bào chữa không được tiết lộ những bí mật đã biết được Quy địnhnày không chỉ đảm bảo bí mật quốc gia mà còn đảm bảo bí mật đời tư củacông dân
Việc tham gia tố tụng của người bào chữa đã góp phần vào việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cuả bị can, bị cáo giúp cơ quan tiến hành tố tụnggiải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Mặc dù còn cónhững khó khăn nhất định nhưng sự tham gia của người bào chữa nói chung
đã đáp ứng được yêu cầu bào chữa và đạt được những kết quả đáng kể Trong
Trang 11đó có những trường hợp toà án đã xử nhẹ hơn so với mức đề nghị của việnkiểm sát hoặc tuyên bố bị cáo không phạm tội; đổi tội danh nhẹ hơn hoặc yêucầu điều tra bổ sung… Đặc biệt có một số trường hợp luận điểm bào chữa củaluật sư không được toà án cấp sơ thẩm chấp nhận nhưng lại được toà án cấpphúc thẩm chấp nhận.
2 Người bảo vệ quyền lợi của đương sự (điều 59 BLTTHS)
Khi Bộ luật TTHS năm 1988 ra đời chưa có chế định này Trong thực tiễnxét xử đã có trường hợp một luật sư được người bị hại mời để bảo vệ quyềnlợi cho mình nhưng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã không cho vị luật sư nàyphát biểu vì Bộ luật TTHS lúc bấy giờ không quy định tư cách tố tụng củangười bảo vệ quyền lợi cho người bị hại
Sau sự kiện này và một số trường hợp khác tương tự, những người làmcông tác pháp luật đã kiến nghị Quốc hội bổ sung quy định về người bảo vệquyền lợi cho đương sự
Hơn nữa, xét về mặt lập pháp thì đây là một thiếu sót vì trong TTHS cóngười bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo mà không có người bảo vệ quyềnlợi cho người bị hại hay những người tham gia tố tụng khác như NĐDS,BĐDS và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Với những lý do nói trên, ngày 30/06/1990 khi sửa đổi, bổ sung BLTTHS,Quốc hội đã bổ sung điều 42a vào Bộ luật TTHS năm 1988
Theo điều 42a BLTTHS 1988 và Điều 59 BLTTHS hiện hành thì người bịhại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan có thể nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ
quyền lợi cho mình
Như vậy, về phạm vi chủ thể trở thành người bảo vệ quyền lợi của đương
sự rộng hơn phạm vi chủ thể trở thành người bào chữa
Bộ luật TTHS chỉ quy định về những người có thể trở thành người bảo vệ