Hoàn thiện kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam thực hiện
Trang 1lý của chủ doanh nghiệp và những người quan tâm khác Bởi tính quan trọng
của kiểm toán khoản mục doanh thu nên em chọn Đề tài: ”Hoàn thiện kiểm
toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam thực hiện” làm chuyên đề thực tập
cho mình
Trang 2Bản chuyên đề này ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung chuyên đề bao
gồm các phần sau:
Phần I: Lý luận chung về kiểm toán doanh thu.
Phần II: Thực trạng kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam thực hiện.
Phần III: Một số ý kiến nhận xét và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo GS.TS Nguyễn Quang Quynh đã
giúp đỡ em hoàn thành bản chuyên đề thực tập này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2006
Sinh viên Nguyễn Thị Lê Trang
Trang 3PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN DOANH THU
1.1 Đặc điểm của doanh thu với vấn đề kiểm soát và kiểm toán
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh thu
Khái niệm về doanh thu
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: ”Doanh thu là tổng thu do kinh doanh nhập trong một thời kỳ nhất định bao gồm cả vốn lẫn lãi”
Theo quan điểm của Mác về tuần hoàn và chu chuyển tư bản thì: “Doanh thu
là kết quả của quá trình tiêu thụ, đó là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang trạng thái tiền tệ và kết thúc một vòng chu chuyển vốn” (9,180)
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14- Doanh thu và thu nhập khác:
“Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ
sở hữu nhưng không là doanh thu
Phân loại doanh thu
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 - Doanh thu và thu nhập khác: Doanh thu được phân loại theo các giao dịch và nghiệp vụ như sau:
Doanh thu từ hoạt động bán hàng: Là doanh thu bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hoá mua vào
Doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ: Là doanh thu do thực hiện một công việc đã thoả thuận theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán
Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia
Trang 4Tiền lãi: là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tiền, các khoản tương đương tiền hoặc các khoản còn nợ doanh nghiệp như: lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán,…
Tiền bản quyền: là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tài sản như: bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, phần mềm máy vi tính,…
Cổ tức và lợi nhuận được chia: là số tiền lợi nhuận được chia từ việc nắm giữ
cổ phiếu hoặc góp vốn
Xác định doanh thu:
Theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính
về việc ban hành 4 chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 1) và Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành 4 Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (đợt 1), Doanh thu được xác định theo giá trị hợp
lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được
Việc xác định doanh thu theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam có quy định cho từng loại doanh thu Trong đó doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu chủ yếu của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, doanh thu từ hoạt động bán hàng chiếm phần lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp Do đó, công thức xác định doanh thu đề cập đến doanh thu từ hoạt động bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Công thức xác định doanh thu thuần:
Doanh thu thuần về
bán hàng và cung cấp
dịch vụ
=
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
-Các khoản giảm trừ
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của các doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữuNếu doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu
Trang 5trừ thì doanh thu bán hàng là doanh thu chưa tính thuế GTGT và doanh nghiệp
sử dụng hoá đơn GTGT
Nếu doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là doanh thu có tính thuế GTGT và doanh nghiệp sử dụng hoá đơn bán hàng
Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm
Giảm giá hàng bán: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian địa điểm trong hợp đồng…
Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ nhưng bị người mua từ chối, trả lại do không tôn trọng hợp đồng kinh tế
Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp giảm giá niêm yết cho khách hàng mua với khối lượng lớn
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các khoản giảm trừ đã nêu trên
1.1.2 Vai trò của khoản mục doanh thu trong báo cáo tài chính
Theo quy định của Nhà nước, cuối kỳ các doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ Hiện nay, các BCTC được lập bao gồm bốn loại báo cáo sau: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính
Kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm ba phần: Trong
đó có phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi
kỳ Phần này có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập, chi phí của từng hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường cũng như toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các chỉ tiêu thuộc phần này đều theo dõi chi tiết theo số quý trước, quý này và luỹ kế từ đầu năm Khoản mục doanh thu
Trang 6là yếu tố quan trọng trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Không có chỉ tiêu này, báo cáo kết quả kinh doanh không thể lập được Do đó, sự cần thiết và chính xác của khoản mục này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận sau thuế và số thuế doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền Ngoài doanh thu các khoản giảm trừ cũng được chi tiết như: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp phải nộp Sau khi xác định chính xác hai khoản mục trên sẽ cho số liệu chính xác về doanh thu thuần của doanh nghiệp hoạt động trong kỳ.
1.1.3 Kiểm soát doanh thu với kiểm toán tài chính
Các tiêu chí ghi nhận doanh thu
Doanh thu từ bán hàng: được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả năm điều kiện sau
Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua
Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hoá
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Doanh thu từ cung cấp dịch vụ: được ghi nhận khi kết quả của giao dịch
đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch
vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán của kỳ đó Kết quả của giao dịch và cung cấp dịch vụ được xác định khi thoả mãn tất bốn điều kiện sau:
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó
Trang 7Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán
Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó
Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận khi thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:
Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Doanh thu này được ghi nhận trên cơ sở
Tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế từng kỳ
Tiền bản quyền được ghi nhận trên cơ sở dồn tích phù hợp với hợp đồng
Cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận khi cổ đông được quyền nhận
cổ tức hoặc các bên tham gia góp vốn được quyền nhận lợi nhuận từ việc góp vốn
Nguyên tắc kế toán doanh thu:
Hiện nay, công tác hạch toán kế toán tại các doanh nghiệp được thực hiện theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp thay thế cho Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT do Bộ Tài chính ban hành ngày 1.11.1995 Nội dung của Quyết định mới có một số thay đổi nhằm giúp cho công tác hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp được thực hiện thuận lợi hơn Chế độ Kế toán doanh nghiệp được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước Chế độ kế toán doanh nghiệp gồm 4 phần: Hệ thống tài khoản kế toán; Hệ thống báo cáo tài chính; Chế độ chứng từ kế toán; Chế độ
sổ kế toán Việc hạch toán được chia thành các phần hành kế toán khác nhau và trợ giúp cho kế toán tổng hợp trong công tác kế toán cuối kỳ Kế toán doanh thu nằm trong phần hành kế toán xác định kết quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Mỗi một hoạt động bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng đều phải tiến hành ghi nhận doanh thu phù hợp với chi phí phát sinh
Trang 8Đối với hoạt động bán hàng: Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp Các chi phí, bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu được thoả mãn
Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ: Khi kết quả của một giao dịch về cung cấp dịch vụ không thể xác định được chắc chắn thì doanh thu được ghi nhận tương ứng với chi phí đã ghi nhận và có thể thu hồi
Đối với hoạt động từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia: Doanh thu được ghi nhận khi được đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu thì khoản có khả năng không thu hồi được hoặc không chắc chắn thu hồi được đó phải hạch toán vào chi phí phát sinh trong kỳ, không ghi giảm doanh thu
Cuối kỳ kế toán, trong BCTC, doanh nghiệp phải trình bày được các nội dung chủ yếu sau:
Chính sách kế toán áp dụng trong việc ghi nhận doanh thu bao gồm phương pháp xác định phần công việc đã hoàn thành của các giao dịch về cung cấp dịch
vụ, doanh thu của từng loại giao dịch và sự kiện:
Doanh thu bán hàng;
Doanh thu cung cấp dịch vụ;
Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia
Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thoả thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp
lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu
Trang 9được trong tương lai Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi
là một giao dịch tạo ra doanh thu Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm
Doanh thu bao gồm doanh thu bán hàng và doanh thu bán hàng nội bộ
Doanh thu bán hàng được theo dõi trên TK 511- Doanh thu bán hàng: TK này
được dùng để phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong kỳ
và các khoản giảm doanh thu TK này cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành 4 TK cấp hai
TK 5111 – Doanh thu bán hàng hóa: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của khối lượng hàng hoá đã xác định là tiêu thụ… TK này được sử dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp kinh doanh vật tư hàng hoá
TK 5112 – Doanh thu bán các thành phẩm: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của khối lượng thành phẩm và bán thành phẩm đã được xác định là tiêu thụ TK này được sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm nghiệp
TK 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần khối lượng dịch vụ, lao vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và
đã được xác định là tiêu thụ TK này được sử dụng cho các ngành các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ công cộng,
du lịch
Trang 10TK 5114 – Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Phản ánh các khoản thu từ trợ cấp, trợ giá của Nhà nước khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm hàng hoá dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.
Doanh thu bán hàng nội bộ được theo dõi trên TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ: dùng để phản ánh doanh thu của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ tiêu
thụ trong nội bộ TK này cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành ba TK cấp hai sau:
TK 5121 – Doanh thu bán hàng hoá: Phản ánh doanh thu của khối lượng hàng hoá đã được xác định là tiêu thụ nội bộ TK này chủ yếu dùng cho các doanh nghiệp thương mại như vật tư lương thực
TK 5122 – Doanh thu bán các sản phẩm: Phản ánh doanh thu của khối lượng sản phẩm, dịch vụ, lao vụ cung cấp giữa các đơn vị thành viên trong một công ty hay tổng công ty TK này chủ yếu được dùng trong các doanh nghiệp sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng cơ bản
TK 5123 – Doanh thu cung cấp dịch vụ: Phản ánh doanh thu của khối lượng dịch vụ lao vụ cung cấp cho các đơn vị thành viên trong cung công ty hoặc tổng công ty TK này được sử dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ như giao thông vận tải, du lịch , bưu điện
Khi sử dụng TK 512 cần chú ý các TK này chỉ sử dụng cho các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong một công ty hay một tổng công ty Chỉ phản ánh vào TK này số doanh thu của khối lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ của các thành viên cung cấp lẫn nhau Không hạch toán vào TK này các TK doanh thu bán hàng cho các doanh nghiệp không trực thuộc công ty, tổng công ty
Các khoản giảm trừ doanh thu được theo dõi như sau:
Chiết khấu thương mại được theo dõi trên TK 521: Dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế TK này không có số dư cuối kỳ
Trang 11Hàng bán bị trả lại được theo dõi trên TK 531: Dùng để theo dõi doanh thu của số hàng hoá, thành phẩm lao vụ dịch vụ đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như: vi phạm cam kết hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm chất, không đúng quy cách, chủng loại TK này cuối kỳ không có số dư.
Giảm giá hàng bán được theo dõi trên TK 532: Theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng trên giá bán đã thoả thuận vì các lý do chủ quan của doanh nghiệp như: hàng bán kém phẩm chất hayb không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế TK này cuối kỳ không có số dư
1.1.4 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp
Hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của bất cứ một doanh nghiệp nào Kiểm soát nội bộ là hoạt động thường xuyên của các đơn vị tổ chức có chức năng cơ bản sau:
Bảo vệ tài sản cho đơn vị: Tài sản đơn vị bao gồm cả tài sản hữu hình và vô
hình, chúng có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào các mục đích khác nhau hoặc bị
hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp
Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin: Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy
kế toán của các doanh nghiệp tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý Như vậy, các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động
và phản ánh đầy đủ các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, tài chính
Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý: Hệ thống kiểm soát nội bộ trong
doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm:
Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt động của doanh nhiệp
Trang 12Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận trong mọi hoạt động của doanh nghiệp
Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập BCTC trung thực và khách quan
Đảm bảo hiệu quả của hoạt động và năng lực của quản lý: Các quá trình kiểm
soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp Đồng thời, định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động với cơ chế giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý trong doanh nghiệp
Hệ thống kiểm soát nội bộ của bất cứ một doanh nghiệp nào cũng bao gồm bốn yếu tố chính sau: Môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ
Môi trường kiểm soát: Bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong đơn vị và bên
ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý
dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát chung chủ yếu liên quan tới quan điểm, thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý trong doanh nghiệp Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm
Đặc thù về quản lý: Đề cập tới các quan điểm khác nhau trong điều hành hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp Bởi vì chính các nhà quản lý và đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao nhất sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát
Cơ cấu tổ chức: Được xây dựng hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần tạo
ra môi trường kiểm soát tốt Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định đó cũng như việc kiểm tra giám sát việc thực hiện các quyết định đó trong
Trang 13toàn bộ doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức tốt sẽ góp phần ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế toán của doanh nghiệpChính sách nhân sự: Nhân viên luôn là yếu tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp Các nhà quản lý doanh nghiệp cần có chính sách cụ thể
và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật nhân viên
Công tác kế hoạch: Hệ thống kế hoạch và dự toán bao gồm kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu chi quĩ, kế hoạch hay dự toán đầu tư, sửa chữa TSCĐ, đặc biệt
là kế hoạch tài chính gồm những ước tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự luân chuyển tiền trong tương lai là những nhân tố quan trọng trong môi trương kiểm soát
Uỷ ban kiểm soát: Bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của đơn vị như thành viên của Hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát
Môi trường bên ngoài: Là các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp song có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành cũng như sự thiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát của các nhà quản lý Các nhân tố này bao gồm: sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước
Hệ thống thông tin: hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán trong đơn
vị đó bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống báo cáo kế toán Mục đích của một hệ thống kế toán
là sự nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó, thoả mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động
kế toán Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các mục tiêu kiểm soát chi tiết như: Tính có thực, sự phê chuẩn, tính đầy đủ, sự đánh giá, sự phân loại, tính đúng kỳ, quá trình chuyển sổ tổng hợp chính xác
Trang 14Các thủ tục kiểm soát: Các thủ tục kiểm soát do ban giám đốc đơn vị thiết lập
và thực hiện nhằm đạt được bốn mục tiêu quản lý cụ thể Các thủ tục kiểm soát chủ yếu bao gồm:
Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến đơn vị;Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán;
Kiểm tra chương trình ứng dụng và môi trường tin học;
Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết;
Kiểm tra phê duyệt các tài liệu kế toán;
Đối chiếu số liệu nội bộ với bên ngoài;
So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ kế toán;
Giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và tài liệu kế toán;
Phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch
Các thủ tục kiểm soát được lập dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Trách nhiệm và công việc cần được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hoá trong công việc, sai sót ít xảy ra hoặc khi xảy ra thường dễ phát hiện do có sự kiểm tra chéo
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Quy định sự cách ly thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn
Nguyên tắc uỷ quyền, phê chuẩn: Theo sự uỷ quyền của các nhà quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định Quá trình uỷ quyền được tiếp tục mở rộng xuống các cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của các doanh nghiệp
Kiểm toán nội bộ: Là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến
hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ quản trị trong nội bộ doanh nghiệp Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội
bộ của đơn vị cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt
Trang 15động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách, thủ tục về kiểm soát nội bộ Bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ phát huy tác dụng nếu bộ phận này phải trực thuộc một cấp cao đủ để không giới hạn phạm vi hoạt động của tổ chức đó Đồng thời, phải được giao một quyền hạn tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập với các bộ phận được kiểm tra Bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân viên có năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp với các quy định hiện hành.
1.2 Kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1 Cơ sở của hoạt động kiểm toán doanh thu
Cơ sở thực hiện kiểm toán doanh thu là những Luật định, tiêu chuẩn và các chuẩn mực chung do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Hiện nay, kiểm toán doanh thu thực hiện dựa trên hệ thống Chuẩn mực và luật định như sau:
Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác: Chuẩn mực này được Bộ Tài chính đưa ra trong Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 có quy định và hướng dẫn các nguyên tắc kế toán doanh thu và thu nhập khác
Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 hướng dẫn kế toán thực hiện bốn chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định trên
Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ban hành ngày 30/03/2004 của Chính phủ về Kiểm toán độc lập và các Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định này
Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã ban hành và các Thông tư hướng dẫn thực hiện hệ thống Chuẩn mực này
Bên cạnh các Chuẩn mực và Luật định liên quan đến lĩnh vực kế toán, kiểm toán, KTV khi tiến hành thực hiện kiểm toán khoản mục doanh thu cũng có thể dựa vào những quy định về doanh thu trong một số hoạt động cụ thể khác như phân tích hoạt động kinh doanh, tài chính doanh nghiệp, thuế, ngân hàng…
Trang 161.2.2 Rủi ro thường gặp trong kiểm toán doanh thu
Doanh thu phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán cao hơn doanh thu thực tế:
Trường hợp này được biểu hiện cụ thể là doanh nghiệp đã hạch toán vào doanh thu những khoản thu chưa đủ các yếu tố xác định là doanh thu như quy định hoặc số doanh thu đã phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán cao hơn so với doanh thu trên các chứng từ kế toán Rủi ro trong trường hợp này có thể là do: người mua đã ứng trước nhưng doanh nghiệp chưa xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho người mua; người mua đã ứng tiền, doanh nghiệp đã xuất hàng hoặc
đã cung cấp dịch vụ nhưng các thủ tục mua bán, cung cấp dịch vụ chưa hoàn thành và người mua chưa chấp nhận thanh toán; số liệu đã tính toán và ghi sổ sai làm tăng doanh thu so với số liệu phản ánh trên chứng từ kế toán
Doanh thu phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán thấp hơn so với doanh thu thực tế:
Trường hợp này được biểu hiện cụ thể là doanh nghiệp chưa hạch toán vào doanh thu hết các khoản thu đã đủ điều kiện để xác định là doanh thu như quy định hoặc số doanh thu đã phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán thấp hơn so với doanh thu trên các chứng từ kế toán Có thể là do: doanh nghiệp đã làm thủ tục bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng, khách hàng đã trả tiền hoặc
đã thực hiện các thủ tục chấp nhận thanh toán nhưng đơn vị chưa hạch toán hoặc
đã hạch toán nhầm vào các tài khoản khác; số liệu đã tính toán và ghi sổ sai làm giảm doanh thu so với số liệu phản ánh trên chứng từ kế toán
Việc hạch toán doanh thu như trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do nhân viên kế toán chưa hiểu biết đầy đủ quy định về doanh thu hoặc do trình độ nghiệp vụ của nhân viên kế toán, hoặc vì một lý do nào đó
mà nhân viên kế toán hạch toán doanh thu không đúng quy định
1.2.3 Mục tiêu kiểm toán khoản mục doanh thu
Đặc điểm cơ bản về chức năng của kiểm toán trong kiểm toán tài chính là thu thập bằng chứng để đưa ra kết luận trình bày trên một báo cáo kiểm toán thích hợp Đây là mục tiêu chung của kiểm toán tài chính Theo chuẩn mực Kiểm toán
Trang 17Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính: ” Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên
cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận có tuân thủ pháp luật có liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không?” Bên cạnh mục tiêu kiểm toán chung, tuỳ thuộc vào chu trình kiểm toán cụ thể mà các mục tiêu được cụ thể hoá phù hợp
Khi tiến hành kiểm toán khoản mục doanh thu trên BCTC, các KTV và trợ lý kiểm toán phải áp dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán nhằm đạt được mục tiêu hợp lý chung và các mục tiêu chung khác cụ thể sau:
Mục tiêu hợp lý chung: Mục tiêu hợp lý chung đối với kiểm toán khoản mục
doanh thu trên BCTC đó là thu thập bằng chứng chứng minh việc hạch toán doanh thu và hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đã đảm bảo cho việc hạch toán doanh thu là trung thực, hợp lý và đúng quy định của Nhà nước
Mục tiêu chung khác:
Mục tiêu hiệu lực: Doanh thu được ghi nhận là có thực đã phát sinh và được
ghi nhận tương ứng với số tiền mà khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho doanh nghiệp Hàng hoá đã được chấp nhận là tiêu thụ và được chuyển giao cho khách hàng là có thật không tồn tại các khoản doanh thu được ghi nhận trong khi hàng hoá chưa được chuyển giao cho khách hàng
Mục tiêu trọn vẹn: Mọi hoạt động bán hàng đều được ghi nhận đầy đủ, không
có nghiệp vụ nào bị bỏ sót ngoài sổ sách Mục tiêu này chú trọng tới việc ghi chép đầy đủ các nghiệp vụ bán hàng phát sinh trong kỳ kế toán
Mục tiêu quyền và nghĩa vụ: Các khoản doanh thu thu được từ khách hàng là
do doanh nghiệp bán hàng hoá của mình, không phải là hàng hoá nhận đại lý, ký gửi hay tài sản nhận giữ hộ
Mục tiêu định giá: Các khoản doanh thu mà doanh nghiệp thu được đều phải
có kèm theo hoá đơn ghi giá bán đã được thoả thuận Trong nhiều trường hợp có
Trang 18các khoản giảm trừ cho khách hàng như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại thì phải kèm theo hoá đơn của các khoản giảm trừ đó Việc kiểm soát hoá đơn chặt chẽ giúp cho việc xác định chính xác doanh thu thuần từ các hoạt động bán hàng mà doanh nghiệp nhận được.
Mục tiêu chính xác cơ học: Các nghiệp vụ hạch toán doanh thu phải được ghi
vào sổ tổng hợp, sổ chi tiết, và khớp đúng với số tổng trên báo cáo kế toán cuối kỳ
Mục tiêu phân loại và trình bày: Các nghiệp vụ bán hàng được phân loại
chính xác, sử dụng các tài khoản chi tiết tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp để hạch toán Phân loại rõ ràng các khoản doanh thu từ bán hàng hoá dịch vụ ra bên ngoài và doanh thu nội bộ doanh nghiệp Phân loại và trình bày chi tiết các khoản giảm trừ doanh thu từ các nghiệp vụ bán hàng
Việc xác định mục tiêu cho từng công việc trước khi tiến hành kiểm toán sẽ trợ giúp cho công việc kiểm toán đi đúng hướng Đồng thời, tiết kiệm được thời gian trong công việc kiểm toán
1.2.4 Quy trình kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính:
Dựa trên cơ sở và mục tiêu kiểm toán đã được xác định, đồng thời dựa vào mức rủi ro kiểm toán mà KTV đánh giá đối với việc trình bày khoản mục doanh thu trên BTCT của khách hàng, công việc tiếp theo là thu thập bằng chứng kiểm toán Việc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán cần phải được thực hiện theo quy trình kiểm toán Quy trình kiểm toán thực hiện nhằm đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán làm căn cứ cho kết luận của KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên BCTC Cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn như sau: Lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán; Thực hiện kế hoạch kiểm toán; Hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
Giai đoạn I
Trang 19Sơ đồ1: Các giai đoạn của một cuộc kiểm toán Giai đoạn I: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Đây là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò quan trọng và chi phối tới chất lượng và hiệu quả của toàn bộ cuộc kiểm toán Lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán bao gồm sáu bước công việc được thực hiện theo trình tự như sau:
Sơ đồ 2 : Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán
Bước thứ nhất, chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán: Quy trình kiểm toán được
bắt đầu khi KTV và công ty kiểm toán chấp nhận kiểm toán cho một khách
Giai đoạn II Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn III Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo
kiểm toán
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách
Trang 20hàng Đối với các khách hàng mới việc chấp nhận kiểm toán phải được thực hiện thông qua việc đánh giá rủi ro chấp nhận khách hàng mới đó Đối với các khách hàng hiện tại, KTV cần phải xem xét có thể tiếp tục chấp nhận kiểm toán cho năm tài chính hiện tại hay không Sau khi chấp nhận kiểm toán đối với khách hàng, KTV sẽ tiến hành thực hiện lập kế hoạch kiểm toán như sau:
Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: KTV cần đánh giá khả năng chấp
nhận kiểm toán một khách hàng mới hay tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng
cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động của công ty kiểm toán hay không Để thực hiện được điều đó KTV cần kiểm soát chất lượng đối với việc thực hiện một hợp đồng kiểm toán theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán Xem xét tính liêm chính của BGĐ công ty khách hàng, bởi đây là một bộ phận chủ chốt của hệ thống kiểm soát nội bộ Thông qua
đó KTV có thể đánh giá rủi ro của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, làm cơ sở cho việc tìm hiểu các sai sót trọng yếu có thể có trên BCTC Đối với các khách hàng mới của công ty, KTV có thể xem xét hồ sơ kiểm toán của KTV các năm trước thực hiện để hỗ trợ cho công việc lập kế hoạch kiểm toán KTV
có thể liên lạc với KTV tiền nhiệm để có thể nắm vững hơn tình hình hoạt động của khách hàng
Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng: Đây là hoạt động
nhằm xác định người sử dụng BCTC của khách hàng và mục đích sử dụng của
họ KTV có thể phỏng vấn trực tiếp BGĐ khách hàng hoặc xem báo cáo kiểm toán những năm trước Việc xác định hai tiêu chí trên ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng kiểm toán KTV cần thu thập và giúp cho công ty kiểm toán có thể ước lượng được quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán
Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán: Nhằm hướng tới hiệu quả
và tính tuân thủ các Chuẩn mực Kiểm toán chung được thừa nhận Khi lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán, cần chú ý tới các vấn đề sau có trình độ hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ, có tính độc lập trong việc thực hiện kiểm
Trang 21toán đối với khách hàng, có đầy đủ kinh nghiệm và sự am hiểu về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng để thực hiện kiểm toán
Ký kết hợp đồng kiểm toán: Sau khi công ty kiểm toán quyết định chấp nhận
khách hàng công việc tiếp theo là ký kết hợp đồng kiểm toán Việc ký kết hợp đồng kiểm toán phải được thực hiện trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và của công ty kiểm toán Nội dung của hợp đồng kiểm toán tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau: Mục tiêu và phạm vi của cuộc kiểm toán, trách nhiệm của BGĐ công ty khách hàng và KTV, hình thức thông báo kết quả kiểm toán, thời gian thực hiện cuộc kiểm toán, căn
cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán Hợp đồng kiểm toán là
cơ sở pháp lý để KTV thực hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán và có ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý của KTV đối với khách hàng
Bước thứ hai, thu thập thông tin cơ sở: Thu thập thông tin cơ sở giúp KTV
trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán tổng quát Trong giai đoạn này KTV đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đánh giá ban đầu về mức trọng yếu, thực hiện các thủ tục phân tích và xác định thời gian cần thiết cho việc thực hiện kiểm toán
Tìm hiểu ngành nghề hoạt động của khách hàng: Tìm hiểu ngành nghề hoạt
động kinh doanh của khách hàng giúp cho KTV có đầy đủ nhận thức và xác định các nghiệp vụ về doanh thu thực hiện trong hoạt động tiêu thụ của đơn vị được kiểm toán
Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung: Kết
quả của các cuộc kiểm toán trước chứa đựng rất nhiều thông tin về công việc hoạt động kinh doanh của khách hàng, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm trong hoạt động kinh doanh Ngoài ra, hồ sơ kiểm toán chung của công ty kiểm toán
đã có những thông tin thường xuyên của các khách hàng Bằng việc tìm hiểu này KTV sẽ có được những nét khái quát ban đầu trước khi thực hiện kiểm toán
Trang 22Tham quan nhà xưởng: Tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt động
sản xuất kinh doanh cung cấp cho KTV một cái nhìn tổng thể về công ty khách hàng
Nhận diện các bên hữu quan: Các bên hữu quan là các bộ phận trực thuộc,
các chủ sở hữu chính của công ty khách hàng hay bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào mà khách hàng có quan hệ, có ảnh hưởng đáng kể tới chính sách kinh doanh và quản lý của khách hàng Việc nhận diện này được thực hiện thông qua phỏng vấn BGĐ và nhân viên trong công ty nhằm hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp
Sử dụng chuyên gia bên ngoài: Nhằm đánh giá một cách chính xác những yêu
cầu kỹ thuật chuyên môn của công ty khách hàng Để có thể sử dụng chuyên gia trong công tác của mình, các KTV phải đánh giá khả năng chuyên môn nhằm hướng tới tính khách quan của chuyên gia đó
Bước thứ ba, thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng: Thu
thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng được KTV thực hiện thông qua phỏng vấn BGĐ nhằm xem xét các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng Các tài liệu mà KTV cần hướng tới bao gồm:
Giấy phép thành lập và Điều lệ công ty: giúp KTV nắm bắt được các lĩnh vực
hoạt động của khách hàng và một số vấn đề mang tính chất nội bộ trong đơn vị như cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các phòng ban…
BCTC, báo cáo kiểm toán, tài liệu thanh tra, kiểm tra: Đây là một trong các
tài liệu quan trọng đối với một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, giúp KTV có được định hướng quan trọng trong việc xây dựng các phương hướng kiểm tra
Biên bản họp hội đồng quản trị, hội đồng cổ đông hay họp BGĐ và các tài liệu quan trọng khác: Các tài liệu này thường có những thông tin quan trọng về
chính sách phát triển của khách hàng, các hợp đồng và cam kết quan trọng mà khách hàng đã và sẽ thực hiện
Trang 23Bước thứ tư, thực hiện các thủ tục phân tích: KTV thực hiện các thủ tục
phân tích dựa trên các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Thủ tục phân tích mà KTV sử dụng bao gồm phân tích ngang (phân tích xu hướng) là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC
và phân tích dọc (phân tích tỷ suất) là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các
tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC
Bước thứ năm, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro:
Đánh giá tính trọng yếu: KTV cần có ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
của các khoản mục doanh thu để phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục đó
Đánh giá rủi ro: KTV phải xác định rủi ro kiểm toán mong muốn Mức rủi ro
này được xác định phụ thuộc vào mức độ mà cá nhân, tổ chức bên ngoài tin tưởng vào BCTC và khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán được công bố
Bước thứ sáu, nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát: Là công việc hết sức quan trọng mà KTV phải thực
hiện trong một cuộc kiểm toán Đây cũng là một trong những yêu cầu mà chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ quy định.Việc thiết kế các phương pháp kiểm toán được thực hiện trên ba khía cạnh sau:
Trắc nghiệm công việc: Được thực hiện như cụ thể hoá các mục tiêu kiểm
soát nội bộ cho các khoản mục được khảo sát; nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù làm giảm rủi ro kiểm soát của từng mục tiêu kiểm soát nội bộ; thiết kế các thử nghiệm kiểm soát đối với từng quá trình kiểm soát đặc thù; thiết kế các trắc nghiệm công việc theo từng mục tiêu kiểm soát nội
Thiết kế các trắc nghiệm phân tích: Được thiết kế để đánh giá tính hợp lý
chung của các số dư tài khoản doanh thu đang được kiểm toán Thủ tục phân tích được thực hiện qua các bước sau: xác định số dư tài khoản và sai sót tiềm tàng có thể có; tính toán giá trị ước tính của tài khoản cần kiểm tra; xác định số
Trang 24chênh lệch có thể chấp nhận được; kiểm tra số chênh lệch trọng yếu và đánh giá kết quả kiểm tra.
Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp các số dư: Được thực hiện theo quy trình
như đánh giá tính trọng yếu và rủi ro đối với khoản mục doanh thu; đánh giá rủi
ro kiểm soát đối với khoản mục doanh thu trên BCTC nhằm xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần được thu thập; thiết kế, dự đoán kết quả trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm phân tích; thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư để thoả mãn sáu mục tiêu mà khoản mục doanh thu đã đề cập
Giai đoạn II: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán Các bước công việc cần thực hiện trong giai đoạn này bao gồm:
Bước thứ nhất, thực hiện thủ tục kiểm soát: Thực hiện thủ tục kiểm soát đối
với khoản mục doanh thu nhằm kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về
sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục doanh thu Mục tiêu kiểm soát nộ bộ đối với khoản mục doanh thu và các thủ tục kiểm soát thực hiện được tổng hợp trong bảng sau:
Trang 26Phỏng vấn: KTV đưa ra những câu hỏi và thu thập những câu trả lời của
nhân viên khách hàng Dạng câu hỏi thường được sử dụng là cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở nhằm đạt được tính hoàn chỉnh và chi tiết của các câu trả lời Kết thúc phỏng vấn cần tóm tắt những kết quả thu về nhận biết thực tiễn của người được phỏng vấn Bảng hỏi được thiết kế như sau:
1 Doanh thu ghi sổ là có thực
Việc ghi sổ doanh thu có kèm theo các chứng từ vận
chuyển đã được phê chuẩn và kèm theo các đơn đặt
hàng của khách hàng không?
2 Doanh thu tiêu thụ được phê chuẩn đúng đắn
- Chính sách tín dụng của khách hàng có được phê
chuẩn bởi người có thẩm quyền không?
- Hoạt động vận chuyển có được kiểm soát thông qua
việc đánh số cho các loại hàng hoá hay không?
- Chính sách giá được phê chuẩn hay không?
3 Doanh thu có ghi chép đầy đủ
- Doanh thu có được theo dõi trong hệ thống sổ sách
của doanh nghiệp hay không?
- Hoá đơn vận chuyển có được theo dõi thường xuyên
và đánh số trước hay không?
- Hoá đơn bán hàng có được theo dõi và đánh số
thường xuyên hay không?
4 Doanh thu ghi sổ được ghi chép chính xác
- Việc so sánh giữa số liệu trên hoá đơn bán hàng và
hoá đơn vận có được thực hiện hay không?
- Có sự phân công trách nhiệm và thẩm tra nội bộ đối
với các hoá đơn bán hàng hay không?
- Việc tổng hợp các thông tin có được thực hiện chi
tiết đối với hoạt động bán hàng hay không?
5 Phân loại các nghiệp vụ doanh thu
Cách thức phân loại các nghiệp vụ doanh thu có theo
những tiêu chuẩn đã quy định hay không?
6 Doanh thu ghi số đúng kỳ
Trang 27Việc ghi chép ngày trên hoá đơn với ngày ghi trên sổ
sách có được thực hiện thường xuyên hay không?
7 Doanh thu được tổng hợp chính xác
Công việc đối chiếu số liệu giữa sổ chi tiết doanh thu
bán hàng và sổ tổng hợp doanh thu, khoản phải thu có
được thực hiện hay không?
Bảng số 2: Bảng hỏi phỏng vấn về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với
khoản mục doanh thu
Sau khi phỏng vấn, KTV thực hiện tổng hợp các kết quả và đưa ra ý kiến nhận xét về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp, mà đặc biệt áp dụng đối với khoản mục doanh thu trên BTCT
Kiểm tra từ đầu đến cuối: Là sự kết hợp giữa kỹ thuật phỏng vấn, điều tra
theo diễn biến của từng nghiệp vụ bán hàng ghi chép trên Sổ cái TK Doanh thu Việc kiểm tra này đòi hỏi sự kết hợp của nhiều kỹ thuật để xác minh nghiệp vụ
từ khi bán hàng đến việc ghi vào Sổ cái – TK Doanh thu
Kiểm tra ngược lại: Là việc kiểm tra khoản mục doanh thu từ Sổ cái đến thời
điểm phát sinh nghiệp vụ bán hàng Quá trình này cũng cung cấp bằng chứng kiểm toán thích hợp về hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục doanh thu
Các biện pháp kỹ thuật cần phải thực hiện đồng bộ bởi không có một biện pháp cụ thể nào có thể mang lại kết quả trong việc kiểm soát hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Bên cạnh những thủ tục kiểm soát trên, KTV có thể thực hiện kết hợp với việc điều tra hay thực hiện lại các hoạt động để nhằm xác định mức độ trách nhiệm của các cá nhân có liên quan
Bước thứ hai, thực hiện thủ tục phân tích: Thủ tục phân tích được thực hiện
nhằm giúp KTV xác định được nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác Bên cạnh đó, thủ tục phân tích còn kiểm tra toàn bộ BCTC trong khâu soát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán
số 520 – Quy trình phân tích, quy trình (thủ tục) phân tích được định nghĩa như sau: “ Là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm
Trang 28ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến” Thực hiện thủ tục phân tích phải trải qua những giai đoạn chủ yếu sau:
Xây dựng một mô hình: Là việc kết hợp các biến tài chính hoặc hoạt động
nghiệp vụ và mối liên hệ giữa chúng KTV có thể sử dụng phương pháp so sánh doanh thu thực tế theo giá bán kế hoạch và doanh thu kế hoạch theo giá bán kế hoạch theo công thức sau:
Tỷ lệ hoàn
thành kế
hoạch tiêu
=
∑ { Khối lượng tiêu thụ thực tế × Giá bán kế hoạch }
∑ { Khối lượng tiêu thụ kế hoạch × Giá bán kế hoạch }
Bên cạnh đó, KTV còn sử dụng rất nhiều các tỷ suất tài chính khác nhau như:
Tỷ suất lợi nhuận gộp
Lợi nhuận gộp
Doanh thu bán hàng
Tỷ suất lợi nhuận thuần
Lợi nhuận thuần
Doanh thu bán hàngHai tỷ suất này phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp, tỷ suất này cang cao thể hiện khả năng sinh lời trên một đồng doanh thu là lớn Việc tính toán các tỷ suất này được thực hiện qua các năm nhằm đánh giá khả năng tăng trưởng trong kinh doanh của khách hàng Đồng thời, cũng có thể so sánh các tỷ suất này giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành để thấy được khả năng phát triển và vị trí của doanh nghiệp trong trong ngành nghề đó theo tỷ suất hiệu quả kinh doanh sau:
Tỷ suất hiệu quả kinh doanh
Lợi nhuận trước thuế
Doanh thu bán hàng
Xém xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ: Các nhân
tố trong mô hình được xây dựng đều dựa vào những dữ liệu tài chính và nghiệp
vụ sử dụng trong kế toán Để đảm bảo tính độc lập của dữ liệu cần cụ thể hoá các dự tính nhằm đặt được độ tin cậy cao trong việc xây dựng các mô hình trên
Trang 29vào một số chỉ tiêu sau: nguồn dữ liệu từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; tính kế thừa, phát triển của thủ tục kiểm toán áp dụng đối với khoản mục doanh thu những năm trước và phạm vi sử dụng dữ liệu đó.
Ước tính giá trị và so sánh chúng: Dựa vào mô hình đã được xây dựng, KTV
tính toán giá trị thu được và so sánh chúng với số liệu trên sổ sách kế toán đã có
Ví dụ: KTV ngoài việc phân tích biến động doanh thu bán hàng qua các năm còn có thể thực hiện phân tích xu hướng biến động của doanh thu hàng tháng thông qua chi tiết từng loại sản phẩm cung cấp cho khách hàng Nếu có những biến động khác thường, có thể so sánh số liệu doanh thu của tháng cùng kỳ năm trước hoặc số tổng cộng trong cả năm để xác định được chênh lệch
Phân tích nguyên nhân chênh lệch: Nguyên nhân chênh lệch số liệu trong
phân tích có thể từ phía bản thân doanh nghiệp hoặc từ chính ước tính trong phân tích Về phía bản thân doanh nghiệp, do việc hạch toán kế toán khoản mục doanh thu chưa được thực hiện đầy đủ theo những tiêu chuẩn hạch toán kế toán hoặc do những thay đổi trong chính sách giá bán làm doanh thu thay đổi theo từng kỳ KTV có thể tìm hiểu từ những nhân viên của khách hàng để đưa ra những ý kiến đóng góp cho khách hàng và phản ánh trên báo cáo kiểm toán Bên cạnh đó, KTV cần xem xét việc sai sót trong các ước tính phân tích của mô hình được thực hiện
Bước thứ ba, thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết: Kiểm tra chi tiết là việc
thực hiện các biện pháp kỹ thuật để kiểm toán số dư trên khoản mục doanh thu, hoặc những yếu tố có liên quan đến khoản mục này trong hệ thống tài khoản kế toán Công việc kiểm toán chi tiết khoản mục doanh thu gồm lập kế hoạch kiểm tra chi tiết; lựa chọn kiểm toán khoản mục doanh thu một số tháng trọng điểm theo phương pháp chọn mẫu xác xuất hoặc phi xác xuất; thực hiện các biện pháp
kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên khoản mục doanh thu; đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết và xử lý chênh lệch kiểm toán
Hệ thống thủ tục kiểm toán chi tiết được tổng hợp trong sơ đồ sau:
Trang 30Thủ tục kiểm toán chi tiết Người
thực hiện
Nhận xét/ Tham chiếu
1 KIỂM TRA SỐ DƯ TÀI KHOẢN DOANH THU
[Hoàn tất, Ghi nhận, Kết thúc niên độ]
Chúng tôi kiểm tra doanh thu dựa trên thủ tục phân tích và
kiểm tra chi tiết
A Kiểm tra số dư tài khoản doanh thu dựa trên thủ tục phân tích
1 Xây dựng số doanh thu dự tính dựa vào nguồn dữ liệu độc
lập Sử dụng các loại dữ liệu sau nếu thích hợp:
- Xu hướng bán hàng và hàng bán trả lại từ các năm trước
và năm nay;
- Giá vốn hàng bán và lợi nhuận gộp các năm trước và năm
nay;
- Giá bán hàng, giá dịch vụ các năm trước và năm nay;
- Doanh thu từ khách hàng chủ yếu;
- Thay đổi về kinh doanh trong năm dẫn đến thay đổi về
giá bán;
- Thống kê từng kỳ (VD: theo quý, theo tháng hay theo
tuần); từng tài khoản, dòng sản phẩm hoặc cả hai; hoặc
theo phòng ban hoặc theo vùng.
2 Ghi nhận và thu nhập các bằng chứng giải thích nguyên nhân
đối với bất cứ khác biệt trọng yếu nào(VD: bằng cách kiểm
tra các chứng từ bổ trợ).
3 Đánh giá kết quả kiểm tra
B Tiến hành thử nghiệm chi tiết các nghiệp vụ bán hàng:
1 Bên có tài khoản Doanh thu được ghi nhận tương ứng với bên
nợ tài khoản giá vốn hàng bán, do đó có thể chọn mẫu một số
nghiệp vụ được ghi nhận bên nợ tài khoản Giá vốn hàng bán
để thử nghiệm.
2 Đối với mỗi nghiệp vụ được chọn ở trên:
2.1 Theo dõi nghiệp vụ đến từng hoá đơn bán hàng.
2.2 Đối chiếu giá trong hoá đơn với bảng giá.
2.3 Xác nhận các khoản bổ sung trên hoá đơn.
2.4 Khẳng định doanh thu được ghi nhận đúng kỳ.
2.5 Theo dõi giá trị hoá đơn bán hàng đến nhật ký bán
hàng.
2.6 Theo dõi số tổng trên nhật ký bán hàng với sổ Cái.
3 Đánh giá kết quả kiểm tra.
2 KIỂM TRA HÀNG BÁN BỊ TRẢ LẠI
[Giá trị, Ghi nhận, Kết thúc niên độ]
A Chọn một số nghiệp vụ bán hàng bị trả lại đã ghi nhận Theo
dõi nghiệp vụ được chọn đến những giấy báo có, sau đó đến
biên bản nhận hàng và hoá đơn gốc, và đến những thư từ liên
lạc của khách hàng nếu có Khẳng định rằng các Giấy báo Có
đã được ghi nhận đúng kỳ.
B Đánh giá kết quả kiểm tra.
3.KIỂM TRA VIỆC TRÌNH BÀY DOANH THU
[Đánh giá, Trình bày]
A Khẳng định những con số sau được phân loại, ghi chép và/
Trang 31hoặc trình bày hợp lý:
1 Doanh thu bán hàng cho các bên liên quan.
2 Doanh thu bán hàng cho công ty hợp nhất, đặc biệt chú ý đến
việc loại trừ lợi nhuận nội bộ.
3 Doanh thu phi thương mại.
4 KIỂM TRA VIỆC TRÌNH BÀY DOANH THU VỚI CÁC
BÊN LIÊN QUAN [Trình bày]
A Yêu cầu và đánh giá những bằng chứng sẵn có, nếu có, nhằm
xác định doanh thu có được trong năm từ tất cả các bên liên
quan Thu thập được bảng liệt kê doanh thu bán hàng cho các
bên liên quan và xác định những khách hàng thuộc các bên
liên quan đều biểu hiện trong bảng này Theo dõi số lượng
trong bảng đến nhật ký bán hàng.
B Khẳng định bản chất kinh tế của những nghiệp vụ bán hàng
cho các bên liên quan phù hợp với những ghi nhận trong sổ
sách.
C Đánh giá sự hợp lý của việc phản ánh và trình bày của những
nghiệp vụ bán hàng với các bên liên quan.
D Yêu cầu xác nhận với những nghiệp vụ trọng yếu với các bên
B Chọn một số bút toán đánh giá lại chênh lệch tỷ giá ghi nhận
trong tài khoản doanh thu bán hàng hoặc một số tài khoản
khác, và:
1 Tính toán lại những điều chỉnh trên dựa vào những tài liệu về
hàng bán và điều khoản bán hàng và thu tiền.
2 Đối chiếu tỷ giá được sử dụng với tỷ giá từ một nguồn độc
lập, hoặc xem xét sự hợp lý của tỷ giá được sử dụng với tỷ
giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
C Đánh giá kết quả kiểm tra.
Bảng số 3: Thủ tục kiểm toán chi tiết khoản mục doanh thu.
Đối với kiểm toán doanh thu, thủ tục kiểm toán chi tiết được thực hiện dựa vào khả năng phán đoán của KTV Các thủ tục kiểm tra chi tiết hướng tới việc thu thập bằng chứng kiểm toán về cơ sở dẫn liệu của doanh thu bán hàng
Doanh thu ghi sổ là có thật: Doanh thu bán hàng trong kỳ của doanh nghiệp
có thể gặp phải một số sai sót sau:
- Do trình độ kế toán doanh thu chưa đầy đủ dẫn đến việc ghi chép sổ sách đối với khoản mục doanh thu chưa đầy đủ và chính xác
- Ghi chép nghiệp vụ bán hàng không thống nhất giữa các kỳ kế toán
Trang 32- Doanh thu bán hàng thực tế đã được ghi sổ nhưng chưa chuyển giao quyền sở hữu và quyền sử dụng cho khách hàng.
- Ghi chép nghiệp vụ bán hàng hai lần mà không có sự kiểm soát chặt chẽ trong đối chiếu với sổ sách kế toán
Khả năng sai phạm về khoản doanh thu không có thật thường ít xảy ra, tuy nhiên nếu xảy ra thì có ảnh hưởng trọng yếu đối với việc xác định lợi nhuận cuối
kỳ và nghĩa vụ đối với Nhà nước Để khảo sát sai phạm doanh thu ghi sổ là không có thực, KTV lựa chọn một số khoản mục doanh thu và tính toán lại một
số nghiệp vụ bán hàng có doanh số lớn hoặc phức tạp xem có đúng số phản ánh trên sổ sách hay không KTV cũng có thể đối chiếu số liệu của bên Có TK phải thu của khách hàng với nguồn gốc của các nghiệp vụ phát sinh số liệu đó Đối với việc ghi chép nghiệp vụ bán hàng không thống nhất giữa các kỳ kế toán, KTV có thể đối chiếu ngày ghi trên chứng từ với ngày trên sổ của các nghiệp vụ bán hàng phát sinh vào thời điểm chuyển giao giữa hai kỳ kế toán Để kiểm tra việc chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng hàng hoá cho khách hàng, KTV có thể chọn mẫu một số nghiệp vụ bán hàng từ Nhật ký bán hàng và đối chiếu với hoá đơn vận chuyển kèm theo
Doanh thu bán hàng được phê chuẩn đúng đắn: Việc phê chuẩn doanh thu
bán hàng được thực hiện thông qua việc kiểm soát chính sách phê chuẩn hình thức bán chịu, giá cả và hình thức vận chuyển đối với khách hàng Hình thức bán chịu cho khách hàng phải được phê chuẩn bởi người có thẩm quyền trong doanh nghiệp và áp dụng đối với toàn bộ khách hàng hay với những khách hàng thoả mãn điều kiện Kiểm soát giá bán được thực hiện thông qua việc so sánh giá thực tế của các loại hàng hoá khác nhau với bảng giá đã được niêm yết Hình thức vận chuyển đối với hàng hoá cần có sự cam kế thực hiện của cả bên bán và bên mua Việc chọn mẫu một số nghiệp vụ trong kiểm soát doanh thu bán hàng
có được phê chuẩn hay không phụ thuộc vào hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua thủ tục kiểm soát Số lượng mẫu kiểm tra này có thể giảm
Trang 33xuống nếu như thông qua thủ tục kiểm soát khẳng định là hệ thống kiểm soát nội
bộ hoạt động có hiệu quả
Doanh thu của các nghiệp vụ được ghi chép đầy đủ: Doanh thu của doanh
nghiệp đôi khi bị ghi thiếu nhằm mục đích trốn thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp KTV có thể kiểm tra việc ghi chép các nghiệp vụ bán hàng có được ghi nhận đầy đủ hay không, đối chiếu với bản sao hoá đơn bán hàng và với sổ Nhật
ký bán hàng KTV có thể soát xét lại chứng từ theo một dãy liên tục Để xem xét việc ghi chép có đầy đủ hay không KTV thực hiện kiểm tra xuôi theo trình tự kế toán để dễ phát hiện Ngoài ra, KTV có thể kiểm tra thêm các TK có liên quan khác như số dư TK 131 Phải thu của khách hàng, hay TK 338 Phải trả, phải nộp khác
Doanh thu bán hàng ghi sổ được định giá đúng đắn: Việc định giá của các
nghiệp vụ doanh thu đúng đắn cần được tính toán chính xác về mặt số lượng và giá trị Con số này phải khớp với sổ sách hạch toán và đơn đặt hàng phiếu xuất kho hàng hoá, hoá đơn bán hàng, hoá đơn vận chuyển Đây là một trong thủ tục kiểm tra chi tiết quan trọng đối với khoản mục doanh thu trên BTCT Dựa vào việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV có thể xem xét việc lựa chọn mẫu để tiến hành kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ bán hàng KTV có thể tính toán lại số liệu trên sổ sách kế toán, tổng hợp doanh thu
cụ thể của một khách hàng nào đó và đối chiếu với số liệu trên TK 131 Phải thu của khách hàng chi tiết cho khách hàng đó Kết hợp với các chứng từ khác như Giấy báo Có của Ngân hàng trong việc tiếp nhận tiền từ khách hàng
Doanh thu bán hàng được ghi chép đúng kỳ: Doanh thu của kỳ này có thể bị
hạch toán sang kỳ tiếp theo, đây là một trong những sai sót mà việc hạch toán của kế toán hay mắc phải Để có thể phát hiện ra việc ghi chép khoản mục doanh thu có đúng kỳ không, KTV lựa chọn một số hoá đơn bán hàng cuối kỳ này và đầu kỳ liền kế sau đó để kiểm tra Đối chiếu ngày tháng trên sổ sách và chứng từ
kế toán, đơn đặt hàng của khách hàng để xác định ngày ghi nhận doanh thu của các nghiệp vụ
Trang 34Doanh thu được phân loại đúng đắn: Doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp
có thể là đã thu được bằng chuyển khoản, bằng tiền mặt hoặc bán chịu Việc xem xét phân loại doanh thu theo các hình thức thanh toán giúp cho việc tổng hợp báo cáo kế toán cuối kỳ được phản ánh chính xác Ngoài ra, việc phân loại chính xác doanh thu bán hàng và doanh thu nội bộ trong các doanh nghiệp có nhiều bộ phận rất quan trọng khi hợp nhất báo cáo tài chính KTV xem xét việc phân loại doanh thu có theo đúng những quy định hay không bằng cách kiểm tra những tài liệu có liên quan như giấy báo Có của Ngân hàng, giấy thanh toán tiền mặt hay chi tiết khoản phải thu của một số khách hàng
Doanh thu của các nghiệp vụ tiêu thụ được phản ánh đúng vào các sổ chi tiết
và sổ tổng hợp: Việc ghi chép số liệu trên các sổ chi tiết cần phải khớp đúng với
số liệu trên sổ tổng hợp Ví dụ, doanh thu bán hàng chưa thu được phải khớp đúng với số liệu chi tiết trên khoản phải thu của các khách hàng trong kỳ hay doanh thu đã thu được tiền phải khớp đúng với số liệu trên sổ chi tiết tiền mặt hoặc giấy báo có của Ngân hàng về nghiệp vụ doanh thu KTV cần đối chiếu với
sổ Nhật ký bán hàng với các sổ chi tiết khác xem số liệu có thực sự được tổng hợp chính xác hay không Bên cạnh đó kiểm tra số liệu trên sổ chi tiết các tài khoản liên quan và các Sổ cái để tìm ra việc tổng hợp từ các nghiệp vụ cụ thể
Kiểm tra các nghiệp vụ giảm trừ doanh thu: Các nghiệp vụ giảm trừ doanh
thu bán hàng bao gồm hàng bán bị trả lại; giảm giá hàng bán và chiết khấu thương mại Các ngiệp vụ này có ảnh hưởng đến sự chính xác của doanh thu thuần phản ánh trên BCTC Cũng tương tự như khoản mục doanh thu, KTV cũng cần kiểm tra các khoản giảm trừ doanh thu có được thực hiện hợp lý và chính xác hay không thông qua việc xem xét chính sách giảm giá và chiết khấu thương mại đối với khách hàng Đặc biệt chú ý đến các khoản hàng bán bị trả lại
và nguyên nhân của khoản mục này, việc ghi giảm doanh thu và số thuế đầu ra phải nộp KTV thường áp dụng thủ tục phân tích như so sánh khoản giảm trừ doanh thu kỳ này so với kỳ trước; phân tích tỷ lệ các khoản giảm trừ trên doanh thu và so sánh giữa các kỳ; lập bảng tổng hợp so sánh các khoản giảm trừ doanh
Trang 35thu và tìm nguyên nhân của sự biến động Thủ tục kiểm tra chi tiết được thực hiện bao gồm: đối chiếu chính sách giảm giá, chiết khấu với các khoản đã thực hiện đối với khách hàng; xem xét những quy định về bán hàng và quản lý bán hàng của khách hàng; kiểm tra các chứng từ liên quan đến lô hàng được hưởng chiết khấu và giảm giá.
Bên cạnh đó, KTV còn thực hiện kiểm tra các nghiệp vụ có gốc ngoại tệ: Các
nghiệp vụ có gốc ngoại tệ thường xảy ra việc chênh lệch tỷ giá cuối kỳ KTV lựa chọn một số nghiệp vụ phát sinh có gốc ngoại tệ, đánh giá lại việc tính toán tỷ giá và đối chiếu với một nguồn độc lập như tỷ giá giao dịch liên Ngân hàng
Giai đoạn III: Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
Đây là khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán, KTV phải đưa ra kết quả kiểm toán thu thập được trong quá trình thực hiện kiểm toán Các công việc thực hiện trong giai đoạn này bao gồm:
Một là, tổng hợp các thủ tục kiểm toán áp dụng: Các thủ tục kiểm toán là các
kỹ thuật KTV đã áp dụng trong toàn bộ cuộc kiểm toán nhằm thu thập được đầy đủ những thông tin cần thiết cho việc đưa ra ý kiến về khoản mục doanh thu trên BTCT Xem xét và đánh giá tính đồng bộ và sát thực của các thủ tục kiểm toán đó
có thực sự hợp lý hay không Các thủ tục kiểm toán thường được xác định trước khi tiến hành thực hiện kiểm toán, song việc kiểm toán từng khoản mục cần có những thiết kế riêng biệt để có thể phát hiện ra những sai sót trọng yếu
Hai là, xem xét sự thích hợp và đầy đủ của những bằng chứng kiểm toán đã thu thập được: Các bằng chứng kiểm toán mang lại sự đánh giá của KTV đối
với khoản mục kiểm toán Các bằng chứng thu thập được cần có sự kiểm soát của KTV trong quá trình thu thập để đảm bảo độ tin cậy cao Sự đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán sẽ ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định và ý kiến cuối cùng của KTV về khoản mục doanh thu
Ba là, đánh giá tổng hợp các sai sót phát hiện được và đưa ra ý kiến nhận xét: Việc đưa ra ý kiến nhận xét của KTV sẽ được ghi chép trên báo cáo kiểm toán cuối cùng Việc tổng hợp các sai sót được thực hiện thông qua kết hợp kết
Trang 36quả kiểm toán của nhiều phần hành khác Để đưa ra được nhận xét về các sai sót KTV có thể thu thập thông tin từ doanh nghiệp như giải trình của nhà quản lý, những báo cáo khác trong đơn vị khách hàng.
Bốn là, xem xét các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ: Các sự kiện sau ngày
kết thuc niên độ có thể có ảnh hưởng đến BCTC của doanh nghiệp Thông thường, các sự kiện này thường không nhiều nên KTV có thể tiến hành kiểm toán toàn bộ các nghiệp vụ đó KTV có thể xem xét cách thực nhà quản lý thực hiện để đảm bảo mọi sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ được xác định
và phỏng vấn người đứng đầu đơn vị về các sự kiện lớn xảy ra sau ngày kết thúc niên độ
Năm là, xem xét giả định hoạt động liên tục: Giả định hoạt động liên tục là một
trong những cơ sở để tiến hành lập BCTC Giả định này có thể bị vi phạm nếu doanh nghiệp chấm dứt hoạt động do kinh doanh không có hiệu quả; doanh nghiệp
bị tai hoạ nghiêm trọng như thiên tai hoả hoạn hay doanh nghiệp đanh có những vụ tranh chấp kiện tụng tại toà Để có thể kiểm soát được giả định này, KTV có thể xem xét thông tin trên thuyết minh BTCT hoặc các tài liệu bên ngoài cung cấp thông qua việc KTV kết hợp với bên thứ ba để tiến hành kiểm tra
Cuối cùng,KTV phải đưa ra ý kiến kiểm toán về các khoản mục trên BCTC của khách hàng Ý kiến kiểm toán này được lưu giữ trong báo cáo kiểm toán Ý kiến của KTV về các khoản mục trên BCTC có bốn dạng ý kiến sau:
Ý kiến chấp nhận toàn phần;
Ý kiến chấp nhận từng phần;
Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến);
Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược)
Trong một số trường hợp thấy cần thiết phải bổ sung thêm thông tin về kết quả của cuộc kiểm toán đã được trình bày trên báo cáo kiểm toán KTV được phép lập thêm phần phụ lục đính kèm báo cáo kiểm toán như phần trình bày về yếu tố ngoại trừ, bảng tính số liệu chi tiết, các kiến nghị khác của KTV
Trang 37Ngoài báo cáo kiểm toán gửi cho khách hàng, KTV và công ty kiểm toán có thể gửi thư quản lý cho khách hàng nhằm trợ giúp cho khách hàng chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, kế toán, xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp.
PHẦN II THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN DOANH THU TRONG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN
TƯ VẤN VIỆT NAM
Trang 382.1 Khái quát chung về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kế toán Kiểm toán
Tư vấn Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kế
toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam
Trong cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa đang phát triển như hiện nay, nhu cầu kiểm toán được coi là một yếu tố không thể thiếu Với thị trường kế toán, kiểm toán đầy tiềm năng sự hình thành của các Công ty kiểm toán đáp ứng yêu cầu thiết yếu trong công tác
kế toán, kiểm toán Cũng trong nhu cầu đó, Công ty TNHH Kế toán Kiểm toán
Tư vấn Việt Nam được thành lập vào tháng 02 năm 2001 theo Quyết định số
0102001962 của Sở Kế hoạch_ Đầu tư Thành phố Hà Nội
Tên giao dịch: Vietnam Accounting Auditing Consulting Company.
Tổng giám đốc:Ông Hà Quốc Khánh.
Với cách thức quản lý hiện đại và sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp AACC nên mặc dù mới thành lập nhưng AACC đã nhanh chóng tạo được một chỗ đứng vững chắc trên thị trường kiểm toán và tư vấn Công ty không chỉ đạt mức lợi nhuận cao hàng năm mà tỷ suất sinh lợi của vốn đầu tư cũng tăng nhanh Đây là điều mà không phải bất cứ một Công ty kiểm toán nào cũng đạt được, nhất là trong điều kiện thị trường kiểm toán vốn dĩ đã cạnh tranh khốc liệt không chỉ giữa các Công ty kiểm toán trong nước mà còn cạnh tranh với các Công ty, các tập đoàn kiểm toán và tư vấn nổi tiến trên toàn thế giới Cho đến nay, Công ty Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam (AACC) đã
có một quá trình phát triển lớn mạnh nhằm theo kịp những công ty kiểm toán lớn ở Việt Nam Mặc dù mới hoạt động được năm năm nhưng hiệu quả kinh doanh của AACC khá cao so với các doanh nghiệp trong ngành Do là doanh nghiệp trẻ nên việc học tập kinh nghiệm của các doanh nghiệp lớn trong ngành
là rất quan trọng và bổ ích đối với AACC
Trang 392.1.2 Đặc điểm về tổ chức hoạt động của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kế
toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam
Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại AACC
Mô hình và mục tiêu hoạt động của AACC
AACC là một điển hình của mô hình công ty “nhỏ gọn và hiệu quả” Hiệu quả và chất lượng là tiêu chí cơ bản và là mục tiêu được đặt lên hàng đầu Toàn
bộ các hoạt động của công ty được tập trung vào việc làm thế nào để các dịch vụ
mà AACC cung cấp cho khách hàng là các dịch vụ có chất lượng tốt nhất và được khách hàng tin cậy
AACC hiểu rằng khách hàng không chỉ đơn thuần lựa chọn AACC, mà thực chất là đang lựa chọn một đội ngũ cộng tác những người có thể sẵn sàng trợ giúp
họ giải quyết những khó khăn vướng mắc trong hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng và thành công Do vậy, AACC luôn cố gắng không ngừng để giữ vững và củng cố hơn nữa uy tín cũng như sự tin cậy của khách hàng đối với Công ty Mục tiêu của Công ty hiện nay là xây dựng một đội ngũ nhân viên có chất lượng bởi với AACC tài sản quý nhất mà Công ty coi trọng là con người Hơn 40 nhân viên chuyên nghiệp làm việc dưới sự soát xét của các nhóm trưởng
và chuyên gia trong các lĩnh vực kế toán, kiểm toán và tư vấn Trong tương lai, AACC sẽ mở rộng quy mô hoạt động trên một số tỉnh thành trên toàn quốc Trong 5 năm tới, AACC dự định mở thêm một số văn phòng tại Bình Dương và Hải Phòng Kết hợp với việc mở rộng quy mô là việc đảm bảo hệ thống chất lượng của dịch vụ cung cấp cũng được thực hiện trong thời gian tới
Các dịch vụ cung cấp
Về dịch vụ kiểm toán: AACC thực hiện chủ yếu là kiểm toán Báo cáo tài
chính, kiểm toán các nguồn vốn đầu tư và các hoạt động kiểm toán nội bộ Kiểm toán Báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam Dịch vụ kiểm toán Báo cáo tài chính của AACC nhằm giảm thiểu rủi ro cho khách hàng đồng thời tăng cường hơn nữa hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Dịch vụ kiểm toán vốn đầu tư tập trung vào các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động đầu tư tại Việt Nam
Về dịch vụ kế toán: Công ty cung cấp cho khách hàng các dịch vụ kế toán như
xây dựng hệ thống kế toán, kiểm soát sự hoạt động của bộ máy kế toán theo
Trang 40chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế, lập dự toán ngân sách, kiểm soát chi phí, cung cấp các phần mềm kế toán có hiệu quả cho từng loại hình doanh nghiệp, trợ giúp cho doanh nghiệp chuyển đổi Báo cáo tài chính theo quy định của Việt Nam sang hình thức phù hợp với yêu cầu và quản lý của đối tác nước ngoài.
Về dịch vụ tư vấn thuế: AACC cung cấp dịch vụ tư vấn thuế cho các doanh
nghiệp trong và ngoài nước bao gồm hoạt động xác định và tổng hợp báo cáo thuế, lập và soát xét các báo cáo thuế cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, tư vấn cho khách hàng nhằm có lợi nhất trong hoạt động kinh doanh của mình Đây là dịch vụ đóng góp phần lớn vào doanh thu từ hoạt động kinh doanh của AACC
Về dịch vụ tư vấn đầu tư, tài chính: Công ty cung cấp các dịch vụ như hoạt
động tư vấn nghiên cứu thị trường, phân tích hoạt động kinh doanh, đánh giá các hoạt động đầu tư bằng kỹ thuật hiện đại, lập báo cáo hoạt động tài chính Hiện nay, AACC tập trung và một số các doanh nghiệp đang thực hiện cổ phần hoá và tham gia vào thị trường chứng khoán trong nước Hoạt động này ngày càng mở rộng do nhu cầu tham gia vào thị trường ngày càng tăng của không chỉ các doanh nghiệp trong nước mà còn cả những doanh nghiệp nước ngoài đang muốn đầu tư vào Việt Nam
Các dịch vụ khác: Các dịch vụ khác của AACC bao gồm có dịch vụ đào tạo
và công nghệ thông tin Hiện nay, Công ty luôn có các chương trình đào tạo về
kế toán, kiểm toán, thuế, đầu tư và quản trị kinh doanh Ngoài ra, AACC còn trợ giúp khách hàng trong các dịch vụ và giải pháp tin học như áp dụng các phần mềm kế toán, thiết lập mạng quản lý doanh nghiệp, hệ thống quản lý khách hàng
có hiệu quả
Doanh thu và khách hàng
Hiện nay, AACC được đánh giá là một trong những Công ty Kế toán, Kiểm toán có doanh thu cao trong hơn 80 Công ty Kế toán, Kiểm toán đang hoạt động tại Việt Nam Xét theo cơ cấu các dịch vụ thì doanh thu từ hoạt động kiểm toán chiếm 20%, từ hoạt động tư vấn thuế chiếm 50%, hoạt động tư vấn đầu tư là 15% còn lại là các dịch vụ khác Xét theo khách hàng thì doanh thu từ doanh nghiệp nước ngoài chiếm 30%, 70% còn lại là các doanh nghiệp trong nước Doanh thu của AACC theo các năm được thể hiện theo sơ đồ sau: