Coli để chống bệnh sốt rét Tầm quan trọng của Artemisinin trong điều trị bệnh sốt rét đã được xác định và đề cao từ các nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng của các viện nghiên cứu trên t
Trang 1Synthetic Biology: Vũ khí mới giúp tổng hợp dược chất
Artemisinin từ E Coli để
chống bệnh sốt rét
Tầm quan trọng của Artemisinin trong điều trị bệnh sốt rét đã được xác định và đề cao từ các nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng của
các viện nghiên cứu trên thế giới Hiện nay Artemisinin đã được sử dụng thay cho Chloroquin, đặc biệt
là những trường hợp bệnh nhân
Trang 2kháng thuốc
SHVN số ngày 28/9/05 có báo cáo
về kết quả tốt đẹp của Artemisinin dùng trị bệnh sốt rét ở những nước Châu Á Gần đây, ngành Synthetic Biology đã được ứng dụng thành
công trong tổng hợp hoạt chất thiên
nhiên Artemisinin ở E coli Nghiên
cứu thành công này đã mang lại
nhiều hứa hẹn về tính khả thi của việc sản xuất Artemisinin để đáp
ứng nhu cầu lớn lao trong việc điều trị sốt rét ở các nước, gồm cả Việt Nam, nơi mà căn bệnh này vẫn còn
là vấn đề nan giải của y tế và gây
Trang 3tổn thất kinh tế lớn lao
Hình 1: (a)Cấu trúc hóa học của hoạt chất Artemisinin; (b) Một
hồng cầu bị vi trùng sốt rét xâm
Artemisinin cho tới nay chưa được biết rõ Từ một số thí nghiệm, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng
Artemisinin có khả năng giải phóng một lượng gốc Oxy tự do làm tiêu hủy trùng sốt rét do tác động đến
các enzyme hoặc những phần có
chức năng quan trọng như ty thể
Trang 4của chúng Gốc Oxy tự do được
giải phóng từ cầu peroxide không
ổn định của Artemisinin bởi tác
động của heme (gồm sắt và
porphyrin) được giải phóng từ hồng cầu sau khi trùng sốt rét xâm nhập
Lý do cần tổng hợp Artemisinin:
Hinh 2: Bản đồ phỏng định các vùng dịch sốt rét trên thế giới
(màu đỏ)
Trang 5Bản đồ trên đây định vị các vùng
có hiểm họa sốt rét dưới hình thái kinh niên hoặc bộc phát thành dịch Theo đó hơn nửa diện tích thế giới sống trong vùng này với khoảng
500 triệu người mắc bệnh và số tử vong hàng năm là 2-3 triệu mà
phần lớn nạn nhân là trẻ nhỏ Khả năng đề kháng thuốc trị sốt rét cổ điển thuộc họ hóa học Quinine và kháng sinh gần đây càng làm tăng mối đe dọa của bệnh này Đặc tính trị liệu cao của Artemisinin cho
bệnh sốt rét dưới nhiều dạng và giai đoạn cũng như ở các vùng khác
nhau trên thế giới đã tạo được sự
lưu tâm đặc biệt của giới nghiên
cứu y tế và sinh học cơ bản của
Trang 6hoạt chất này Hiện nay
Artemisinin là thuốc chuẩn để điều trị bệnh nhân sốt rét kháng thuốc
Dược thảo Artemisinin đã được
biết đến từ trên ngàn năm trước ở Trung Quốc và đã được sử dụng để trị liệu cho nhiều loại bệnh, đặc biệt
là bệnh sốt rét ở nhiều nơi Trong tiến trình này đã có nhiều nỗ lực cải tiến về thực vật học (gồm nuôi cây, tạo giống) và hóa học (gồm ly trích, tổng hợp) Mục đích chính là gia
tăng hiệu năng sản xuất
Artemisinin để đáp ứng nhu cầu
của nạn nhân ở các vùng sốt rét
trên thế giới Tuy nhiên, việc cung
Trang 7cấp số lượng lớn Artemisinin cho dân số lớn lao nằm trong các vùng
có nguy cơ sốt rét là rất khó, nếu không muốn nói là vô khả, vì việc
sử dụng ly trích thường quy có
năng suất thấp Ngoài ra, phí tổn nằm ngoài khả năng tài chính của nhiều nước, nhất là những nước
đang phát triển mà phần lớn bị đe doạn bởi bệnh sốt rét
Synthetic Biology (SB) và ứng
dụng trong tổng hợp
Artemisinin:
Vì những khó khăn nêu trên, giới hữu trách và những nhà nghiên cứu
Trang 8y tế, sinh học đã lưu tâm đến kỹ
thuật tách dòng (cloning) để mong tìm được giải pháp hữu hiệu hơn
nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất
lượng lớn Artemisinin Nhưng khác với kỹ thuật tổng hợp các protein trị liệu đã được áp dụng thành công như insulin, growth hormone,
cytokine, lymphokine,
erythropoietin v.v việc sử dụng
phương pháp tách dòng để tạo hoạt chất artemisinin rất phức tạp Lý do
vì chu trình tổng hợp hóa chất thiên nhiên như Artemisin cần sự tham gia của nhiều enzyme và sự phối
hợp của những enzyme này để tạo
ra hoạt chất Chu trình và những
enzyme trong chu trình tổng hợp
Trang 9Artemisinin từ cây cải hương ngọt (Herba artemisiae) được diễn tả
theo tài liệu (1) May mắn thay, bộ môn Synthetic Biology đã ra đời và tổng hợp Amorphadiene (tiền chất của Artemisinin) cũng là ứng dụng thành công đầu tiên của kỹ thuật
này cách đây 3 năm ở phòng thí
nghiệm của J Keasling tại Đại học California, Berkely (2)
Synthetic Biology (SB) là một
nhánh mới của Sinh học phân tử, theo đó tế bào được coi là một bộ máy gồm các phần có thể tháo gỡ
và thay đổi được để tạo thành một
hệ thống điều hành mới có khả
năng như mong muốn Các phần
Trang 10(parts) có thể là những gene thụ
cảm của tế bào (receptors), hoặc
của enzyme, những protein hoat
hoa (activator) và của tất cả những protein có chức năng đặc biệt của tế bào Như vậy, có thể nói SB là việc
áp dụng cao độ kỹ thuật gene
(genetic engineering) trên diện
rộng Phương pháp SB có tiềm
năng tạo những tế bào mới với
chức năng như ý muốn Có hai đặc tính của SB so với các nghiên cứu dùng kỹ thuật gene khác: (i) về kỹ thuật, các bộ điều hành của hệ
thống tế bào được tạo riêng từng
phần (parts), do đó tùy theo cách
ghép các phần này sẽ tạo được
những hệ thống điều hành đa dạng
Trang 11theo như nhu cầu và ý muốn; (ii) ve ung dung, mục tiêu của SB là tạo
hệ thống điều hành có khả năng sản xuất những dược liệu thiên nhiên với năng suất cao (như tổng hợp
Artemisinin), các hóa chất có năng lượng như dầu diesel thực vật, tạo các nhóm tế bào có khả năng sản xuất protein trị liệu, enzyme tiêu
hủy chất độc để cải thiện môi
trường Đặc biệt là phương pháp
SB có hiệu năng rất cao vì dùng
phương pháp tách dòng và sản xuất bằng E Coli Trong nghiên cứu
tổng hợp Artemisinin bằng phương pháp SB, hiệu năng đã tăng 10000 lần và các nhà nghiên cứu hy vọng
có thể tăng thêm 10 lần nữa khi kỹ
Trang 12thuật được hoàn chỉnh
Về lý thuyết, khái niệm SB đã có từ cuối thập niên 1970 khi phát hiện enzyme giới hạn (restriction
enzymes) Nhưng phải đợi đến thập niên 2000 thì mới được triển khai
Lý do vì kỹ thuật SB đòi hỏi kiến thức và sự phát triển của những bộ môn tân tiến khác gồm
proteonomics (nghiên cứu cấu trúc
và chức năng protein cũng như
tương tác giữa chúng);
metabolomes (nghiên cứu tổng
hợp, biến dưỡng protein);
bioinformatics (nghiên cứu tin sinh học) và cell signaling (nghiên cứu
hệ thống tín hiệu của tế bào) để xác
Trang 13định chức năng của gene (gene
function) và kết quả biến đổi kiểu hình của tế bào (phenotype) Hiện nay những nghiên cứu về SB đã và đang được tiến hành ở nhiều Đại
học Quốc tế, trong đó hai trường
MIT và UC Berkeley dẫn đầu về bộ môn này Tài liệu tham khảo 3 liệt
kê những trường Đại học và các đề tài nghiên cứu SB ở các nước phát triển
Trên thực tế, viện nghiên cứu dược phẩm Institute of o ne World
Health (IOWH), ở San Francisco
đang tiến hành tổng hợp
Artemisinin dùng SB Một tin vui cho chúng ta là nghiên cứu gia đảm
Trang 14trách chương trình này là người
Việt Nam, TS Nguyễn Hữu Tuệ
TS Tuệ đã tham gia một số hội
nghị khoa học ở Việt Nam trong
những năm qua Ở IOWH, tiến
trình tổng hợp Artemisinin còn
đang trong giai đoạn đầu gồm các vấn đề căn bản như thiết lập một
nền móng (platform) có khả năng tái lập (reproducible), năng suất cao (high yield), sản phẩm tinh khiết
(purity) và sau đó là 3 giai đoạn thử nghiệm lâm sang (3-5 năm)
Tính khả thi của SB và việc tạo Artemisinin ở Việt Nam:
Trang 15Nghiên cứu và ứng dụng SB để tạo Artemisinin nêu trên là cần thiết
cho nhiều nước nằm trong vùng sốt rét bao gồm Việt Nam Cho nên
việc tìm hiểu về tính khả thi của SB
để hoạch định một chiến lược áp
dụng cho đất nước cần được lưu
tâm thích ứng Như đã nói ở trên, đặc tính của SB là bộ môn ứng
dụng sinh học, vì vậy nếu kỹ thuật
đã hoàn chỉnh cho một sản phẩm
nào đó thì khi thực hiện chỉ cần làm đúng quy trình (protocols) để thu kết quả Trong sản xuất
Artemisinin, kỹ thuật căn bản là
tách dòng các enzyme và kết hợp thành một hệ thống điều hành bằng các phương pháp chuyển gene để
Trang 16tổng hợp, và sau đó là ly trích hoạt
chất Artemisinin ở E coli Như vậy
theo thiển ý của tôi, SB là một
trong những đề tài khoa học mà
chúng ta có thể đi tắt để đạt được mục tiêu tạo hợp chất Artemisinin
ở Việt Nam Tuy nhiên chúng ta
cần khắc phục những yếu tố căn
bản gồm khả năng, phương tiện để đáp ứng đòi hỏi kỹ thuật, nhân lực
và tài chính Việc đào tạo chuyên mon SB ở cấp bậc Đại học là cần thiết, nhưng chúng ta chú trọng về phần ứng dụng, mà không đi sâu
vào nghiên cứu cơ bản vì đòi hỏi
nhiều thiết bị, kiến thức và kỹ thuật cao Việc kết hợp hữu hiệu với giới khoa học Quốc tế luôn đóng vai trò
Trang 17thiết yếu để triển khai kỹ thuật tân tiến, đặc biệt đối với giai đoạn hiện tại của Việt Nam Cũng cần tìm
hiểu và giải quyết thỏa đáng yếu tố pháp lý về bằng phát minh Có
nhiều kết quả nghiên cứu y sinh
học không bị ràng buộc bởi bằng
phát minh như trình tự bộ gene
người, hoặc được nới rộng vì nhu cầu an toàn y tế thế giới như một số thuốc trị bệnh AIDS Ngoài ra
chúng ta có thể tạo những chương trình kết hợp với các nhóm nghiên cứu quốc tế và qua chương trình đó chúng ta không bị trở ngại pháp lý
và có thể trở thành một phần của
phát minh Việt Nam có những ưu điểm hợp tác khoa học Quốc tế như
Trang 18môi trường dịch tễ, lâm sàng đa
dạng; về kinh tế, những chi phí về sản xuất và nghiên cứu ở Việt Nam rất thấp sao với những nước kỹ
nghệ cao Ngoài ra, chúng ta cũng
có nhiều tiềm năng hấp thu và phát triển công nghệ cao
Kết luận:
Việc ứng dụng thành công phương pháp SB để tổng hợp Artemisinin chứng tỏ tầm quan trọng của việc triển khai SB thành một chiến lược khoa học để kháng bệnh sốt rét trên toàn cầu Theo tiến trình đó, SB
cần được cứu xét trong nhu cầu
Trang 19ứng dụng mũi nhọn khoa học để phát triển khoa học và y tế ở Việt Nam Trong định hướng xa hơn, khi đã làm quen và thiết lập được nền tảng SB (SB platform), chúng
ta tạo được khả năng để triển khai những đề tài rộng lớn khác như năng lượng và môi trường