TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN BÀI TẬP LỚN ĐỀ TÀI: Nêu tính thống nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
BÀI TẬP LỚN
ĐỀ TÀI:
Nêu tính thống nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát
triển? Nêu ví dụ minh họa?
Giảng viên bộ môn : ĐỒNG THỊ TUYỀN
Sinh viên : NGUYỄN THÀNH ĐẠT
Lớp : F Triết học Mác – lê -nin_1.2(15FS).1_LT
Hà Nội, tháng 7 năm 2022
Trang 3Trang 1
Nguyễn Thành Đạt
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
Phần I: Phép biện chứng duy vật và những nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật 3
1 Phép biện chứng duy vật 3
1.1 Chủ nghĩa duy vật – Chủ nghĩa duy vật biện chứng 3
1.2 Phép biện chứng – phép biện chứng duy vật 5
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 6
2.1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến 6
2.2 Tính chất của các mối liên hệ 7
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 9
2.4 Vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vào thực tiễn 10
3 Nguyên lý về sự phát triển 10
3.1 khái niệm sự phát triển 10
3.2 Tính chất của sự phát triển 11
3.3 Ý nghĩa phương pháp luận 12
3.4 Vận dụng nguyên lý về sự phát triển vào thực tiễn 13
Phần II: Tính thống nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật 14
1 Nguyên nhân và kết quả 1.1 khái niệm 14
1.2 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả 14
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận 15
2 Nội dung và hình thức 15
2.1 Định nghĩa 15
2.2 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức 16
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 16
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 4
Trang 2
Nguyễn Thành Đạt
LỜI NÓI ĐẦU
Khi nghiên cứu Triết học Mác – Lênin, không thể không nhắc đến phép biện chứng duy vật, bởi đây là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin, được coi là “khoa học về mối liên hệ phổ biến” và cũng là “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” Từ những nhận định trên, chúng ta có thể thấy rõ rằng, nguyên lí về “mối liên hệ phổ biến” luôn được gắn liền với phép duy vật biện chứng, và giữa hai nguyên lí
cơ bản của phép biện chứng duy vật thì “mối liên hệ phổ biến” có thể được coi
là nguyên lí cơ bản nhất, then chốt nhất Như vậy, có thể khẳng định rằng, mọi
sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan trong thế giới này đều có mối liên hệ với nhau, từ những phần tử vật chất nhỏ nhất như nguyên tử, phân tử, cho đến các hiện tượng xã hội mang tính vĩ mô, thuộc các phạm trù khác nhau như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã khẳng định, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất – thế giới vật chất, tồn tại trong mối liên hệ thống nhất biện chứng, tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau, chúng luôn vận động biến đổi
và phát triển không ngừng Do đó, để cải tạo thế giới, con người phải có nhận thức đúng về quá trình vận động, phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Những vấn đề này đã được phép biện chứng duy vật Mác xít nói chung, nguyên lý về sự phát triển nói riêng làm rõ Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc trưng phổ quát nhất của thế giới, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có sự vận động và phát triển Phát triển là những cái mới ra đời thay thế cái cũ, những vẫn trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của cái cũ, cải tạo và phát triển chúng hợp lý để nó trở thành điều kiện, tiền đề vững chắc cho cái mới phát triển nhanh, mạnh, vững hơn Phát triển là đặc trưng phổ biến, phát triển là một tất yếu khách quan Hơn nữa mọi nhận thức và thực tiễn trong cuộc sống đều phát triển Giống như các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử đã có sự phát triển, xuất hiện cái mới phù hợp, hoàn chỉnh hơn
Nhận thấy được tầm quan trong của hai nguyên lý cơ bản của phép biện
chứng duy vật, em quyết định chọn đề tài: “Nêu tính thống nhất giữa hai
nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển? ”
NỘI DUNG
PHẦN I: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ
Trang 5Trang 3
Nguyễn Thành Đạt
BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Phép biện chứng duy vật
1.1 Chủ nghĩa duy vật – Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Như chúng ta đã biết, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó Các vấn đề cơ bản của triết học được chia thành hai mặt Một là, giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Hai là, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
Để giải quyết câu hỏi thứ nhất, triết học đã được chia thành hai trường phái lớn: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Còn đối với câu hỏi số hai, quan điểm
về nhận thức thời kì bấy giờ đã được chia thành hai trường phái: nếu khả tri luận bao hàm những quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức của con người thì bất khả tri luận lại gồm những quan điểm phủ nhận khả năng đó
Đi sâu hơn phân tích về chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, lịch sử hình thành và phát triển của triết học đã ghi nhận hai luồng ý kiến trái chiều đối với việc giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của môn khoa học này, một bên
là các nhà duy vật với quan điểm: “Bản chất thế giới là vật chất, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất là cái có trước và quyết định ý thức”; một bên là các nhà duy tâm với quan điểm ngược lại hoàn toàn khi cho rằng “Bản chất thế giới là ý thức, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, ý thức quyết định vật chất” Học thuyết của các nhà duy vật và các nhà duy tâm đều được hợp thành các môn phái khác nhau, là nội dung nghiên cứu cũng như phát triển của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt chiều dài lịch sử
Một mặt, nguồn gốc hình thành nên chủ nghĩa duy tâm chính là từ nhận thức
và xã hội: đó là sự xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức và thường gắn với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp thống trị, áp bức, bóc lột nhân dân lao động Bên cạnh đó, chủ nghĩa duy
Trang 6Trang 4
Nguyễn Thành Đạt
tâm cũng có sự gắn bó mật thiết và mối quan hệ tương đồng với tín ngưỡng, tôn giáo, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển Hai hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy tâm là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan Nếu chủ nghĩa duy tâm chủ quan chỉ thừa nhận “ý thức của con người là tính thứ nhất” và phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chỉ khẳng định
“ hiện tường là phức hợp những cảm giác của cá nhân”, thì chủ nghĩa duy tâm khách quan ngoài việc cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức còn cho rằng ý thức ấy là tinh thần khách quan, ý thức khách quan có trước, tồn tại độc lập với thế giới tự nhiên và con người, được thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau như
“ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần tuyệt đối” hay “lý tính thế giới”
Mặt khác, chủ nghĩa duy vật lại có nguồn gốc từ thực tiễn và sự phát triển của khoa học Cho nên, chủ nghĩa duy vật ưu việt hơn vì nó gắn liền với thực tại khách quan và là sự khái quát hóa tri thức của nhân loại trong nhiều lĩnh vực, được coi
là hệ thống tri thức lý luận chung nhất gắn với lợi ích của các lực lượng xã hội tiến bộ, định hướng cho các lực lượng này trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng gắn liền với sự phát triển của nhân loại nói chung cũng như sự kế thừa của các tiến bộ khoa học nói riêng
Và chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng chính là hình thức phát triển cao nhất, hiện đại nhất, tân tiến nhất của chủ nghĩa duy vật, do hai nhà tư tưởng vĩ đại C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập,được V.I.Lênin kế thừa, bảo vệ và phát triển Đây có thể coi
là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học
Tóm lại, chủ nghĩa duy vật nói chung và chủ nghĩa duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng có nhiệm vụ giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên nền tảng thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng, nếu thế giới quan duy vật là cơ
sở gắn liền với thực tiễn và thực tại khác quan thì phương pháp biện chứng (hay còn gọi là phép biện chứng) ở đây là gì? Đây là câu hỏi mà chúng ta sẽ cùng tìm
hiểu tiếp sau đây
Trang 7Trang 5
Nguyễn Thành Đạt
1.2 Phép biện chứng – phép biện chứng duy vật
Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta được làm quen với khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa, vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong cả tự nhiên, xã hội
và tư duy Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan – biện chứng của thế giới vật chất và biện chứng chủ quan – sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn Như vậy, phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan và cũng đối lập với phép siêu hình – phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập và bất biến Theo quan điểm của Mác, cũng như của Hêghen thì phép biện chứng bao gồm cái mà ngày nay người ta gọi là lý luận nhận thức(hay nhận thức luận)
Phép biện chứng, tính đến ngày nay, đã tiến bộ và phát triển qua ba giai đoạn,
ba trình độ cơ bản Thứ nhất là phép biện chứng chất phác thời cổ đại, xuất hiện trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại Thứ hai là phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, xuất phát từ Cantơ và hoàn thiện ở Hêghen
Và cuối cùng là phép biện chứng duy vật, trình độ tiến bộ nhất của phép biện
chứng được nghiên cứu và phát triển đến ngày nay Đây cũng là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa
Mác – Lênin; là “khoa học về mối liên hệ phổ biến” và cũng là “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và tư duy” Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có hai đặc trưng cơ bản Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin
là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng thế giới quan duy vật khoa học
Đây có thể nói là một sự khác biệt, một bước tiến rất lớn về trình độ phát triển so với nhiều tư tưởng biện chứng đã từng có trong lịch sử triết học, bởi, có thể nói
Trang 8Trang 6
Nguyễn Thành Đạt
một phần nguyên nhân là do sự tiến bộ trong trình độ khoa học – kỹ thuật – công nghệ của xã hội loài người, do con người đã đạt được rất nhiều phát minh, thành tựu mới, vượt xa những tư tưởng, học thuyết đã được thừa nhận trước đây Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, do đó nó không chỉ dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới Đây có thể nói không chỉ là mục tiêu của Triết học Mác – Lênin mà còn là mục tiêu chung của các môn, các ngành nghiên cứu khoa học nhằm thỏa man nhu cầu cũng như ý chí của con người, giúp con người nhận thức
và từ đó cải tạo, phát triển thế giới Phép biện chứng duy vật được coi là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong cả lĩnh vực nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn
Từ những đặc điểm cơ bản trên cũng như từ sự nghiên cứu phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, người đọc phần nào hiểu được vai trò của hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
và nguyên lý về sự phát triển
Vậy, khi sử dụng phép biện chứng duy vật cũng như hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật để nghiên cứu một lĩnh vực nhất định, nó sẽ đem lại kết quả như thế nào, ví dụ như trong vấn đề về tính thông nhất giữa hai nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật chính là nội dung chính mà bài tiểu luận này sẽ nghiên cứu và đưa ra câu trả lời
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2.1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện
Trang 9Trang 7
Nguyễn Thành Đạt
tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên
hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng Đó là các mối liên hệ giữa các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định Đồng thời, cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù
là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn
bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự hiên, xã hội và tư duy
2.2 Tính chất của các mối liên hệ
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất
cơ bản của các mối liên hệ
- Tính khách quan của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng)
là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
VD: Mối liên hệ giữa con vật cụ thể (một cái riêng) với quá trình đồng hóa- dị hóa; biến dị - di truyền; quy luật sinh học; sinh – trưởng thành – già – chết -> (cái chung) -> cái vốn có của con vật đó, tách rời khỏi mối liên hệ đó không còn
là con vật, con vật đó sẽ chết Mối liên hệ đó mang tính khách quan, con người không thể sáng tạo ra được mối liên hệ đó, mà có thể nhận thức, tác động
Trang 10Trang 8
Nguyễn Thành Đạt
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống
mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
VD: Không gian và thời gian; sự vật, hiện tượng; tự nhiên, xã hội, tư duy đều
có mối liên hệ, chẳng hạn quá khứ, hiện tại, tương lai liên hệ chặt chẽ với nhau
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Quan điểm biện chứng của chù nghĩa Mác - Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú,
đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thì cũng có những tính chất
và vai trò khác nhau Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật, hiện tượng nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên
hệ bản chất và hiện tượng, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ trực tiếp
và gián tiếp, v.v của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối