1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai

54 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, tỉnh đồng nai
Tác giả Nguyễn Thanh Tuấn
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Huê
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp – Phân Hiệu Đồng Nai
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Đặt vấn đề (8)
  • 2. Mục tiêu (9)
    • 2.1. Mục tiêu tổng quát (9)
    • 2.2. Mục tiêu cụ thể (9)
  • Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Cơ sở khoa học của đề tài (10)
      • 1.1.1. Tổng quan về gà Tam Hoàng (10)
      • 1.1.2. Khả năng sinh trưởng của gà Tam Hoàng (11)
      • 1.1.3. Chăm sóc nuôi dưỡng gà Tam Hoàng (12)
    • 1.2. Bệnh Cầu trùng trên gà (14)
      • 1.2.1. Định nghĩa (14)
      • 1.2.2. Lịch sử phát triển (15)
      • 1.2.3. Phân loại (15)
      • 1.2.4. Dịch tễ (17)
      • 1.2.5. Triệu chứng (18)
      • 1.2.6. Bệnh tích (18)
      • 1.2.7. Chẩn đoán (20)
      • 1.2.8. Điều trị (21)
      • 1.2.9. Các yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm cầu trùng ở gia cầm (22)
      • 1.2.10. Phòng bệnh (23)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu (23)
      • 1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (23)
      • 1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (25)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu (27)
      • 2.1.1. Đối tượng (27)
      • 2.1.2. Phạm vi nghiên cứu (27)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (27)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu sinh trưởng (28)
      • 2.3.2. Phương pháp theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng (29)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. Khả năng sinh trưởng của đàn gà Tam Hoàng khảo sát (32)
      • 3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống gà Tam Hoàng (32)
      • 3.1.2. Sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối (33)
      • 3.1.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn (36)
    • 3.2. Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở gà Tam Hoàng (37)
      • 3.2.1. Tỷ lệ nhiễm toàn đàn (37)
      • 3.2.2. Tầng số xuất hiện triệu chứng trên gà bị cầu trùng (38)
    • 1. Kết luận (43)
    • 2. Kiến nghị (43)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (44)
  • PHỤ LỤC (47)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP – PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI NGUYỄN THANH TUẤN KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN GÀ TAM HOÀNG TẠI TRẠ

Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá khả năng sinh trưởng và mức độ ảnh hưởng của bệnh cầu trùng trên gà Tam Hoàng.

Mục tiêu cụ thể

- Khảo sát tăng trọng gà Tam Hoàng qua các giai đoạn tuổi đến khi xuất bán

- Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng trên đàn gà

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Tổng quan về gà Tam Hoàng

Gà Tam Hoàng có nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc, và ban đầu được xuất khẩu qua cửa khẩu Thạch Kỳ, do đó còn được gọi là gà Thạch Kỳ Do gà Thạch Kỳ thuần chủng có năng suất không cao, các nhà chăn nuôi Hồng Kông đã lai giống này với gà Kabir (Israel) để tạo ra giống gà Thạch Kỳ lai Giống gà lai này sau đó được đưa trở lại Trung Sơn và chọn lọc qua nhiều thế hệ, tạo ra các dòng gà Tam Hoàng khác nhau về ngoại hình và năng suất.

Gà Tam Hoàng nổi bật với bộ lông, mỏ và chân màu vàng đặc trưng, đuôi đen vàng, tạo nên vẻ ngoài bắt mắt Gà con có sự khác biệt về màu lông khi mới nở, nhưng sự khác biệt này giảm dần theo tuổi Gà Tam Hoàng có thân hình chắc chắn, đầy đặn, chân ngắn, lưng bằng và đùi phát triển, ngực nở, thịt thơm ngon, đồng thời có khả năng chống chịu bệnh tật tốt.

Gà Tam Hoàng, giống gà kiêm dụng, có khối lượng trung bình từ 2-4 kg sau 3-4 tháng nuôi, với con trống nặng 2,5-4 kg và con mái 2-2,5 kg, tiêu tốn 2,2-2,5kg thức ăn cho mỗi kg tăng trọng, thịt vàng và chắc Gà bắt đầu đẻ từ 4-5 tháng tuổi, năng suất trung bình 150 trứng/con/năm (khoảng 68 tuần tuổi).

1.1.1.3 Một số dòng gà Tam Hoàng tại Việt Nam

Gà Tam Hoàng dòng 882 nổi bật với màu lông vàng rơm thuần nhất và chân da vàng, gà trống có dáng vóc cường tráng, mào đơn, chân thấp hơn gà Tàu Nuôi theo phương thức bán công nghiệp trong 3,5 tháng, gà đạt khối lượng bình quân 1,75 kg, tiêu tốn 2,75 kg thức ăn cho mỗi kg tăng trọng, năng suất trứng đạt 145-

Gà Tam Hoàng 882-2 vượt trội với kích thước lớn hơn và năng suất trứng cao hơn, đạt 160-170 quả/mái/năm Gà Tam Hoàng 882-3 đạt trọng lượng trung bình 1.9-2.0 kg/con chỉ sau 3 tháng nuôi, tương đương năng suất trứng 160-170 quả/mái/năm.

Hình 1.1 Gà Tam hoàng 882 và 882-3

Gà Ma Hoàng, giống gà có năng suất thịt trứng tương đương gà Tam Hoàng, được ưa chuộng nhờ màu lông vàng sẫm và điểm rằn giống gà ta.

Gà Jiang có kích thước nhỏ hơn so với gà Tam hoàng, đạt khối lượng khoảng 1.4 - 1.5 kg/con sau 3 tháng Gà tiêu thụ khoảng 2.85kg thức ăn cho mỗi kg tăng trọng, nổi bật với chất lượng thịt thơm ngon và tỷ lệ thịt ức, thịt đùi cao, mang lại giá trị kinh tế tốt.

1.1.2 Khả năng sinh trưởng của gà Tam Hoàng

Theo Trần Đình Miên và cộng sự (1992), sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ thông qua đồng hóa và dị hóa, dẫn đến sự tăng trưởng về chiều dài, chiều cao, bề ngang và khối lượng của cơ thể, dựa trên yếu tố di truyền Quá trình này chủ yếu là sự tích lũy dần protein, với tốc độ tích lũy và tổng hợp các chất quyết định mức độ sinh trưởng.

Tốc độ hợp protein phản ánh hoạt động của gen điều khiển sinh trưởng cơ thể, bao gồm sự tăng trưởng của thịt, xương và da.

Gà Ri có khối lượng cơ thể lúc mới sinh khoảng 35g \$(Sử An Ninh và cs, 2003)\$ Dòng gà 882 có màu lông vàng hoặc lốm đốm đen, với con trống nặng 1,4 – 1,45 kg và con mái nặng 1,2 kg ở 11 tuần tuổi \$(Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2002)\$ Dòng Jiangcun lông vàng tuyền có trọng lượng thấp hơn một chút, với con trống đạt 1,3 kg và con mái khoảng 1kg ở cùng độ tuổi; nếu được nuôi tốt, dòng Jiang có thể đạt 1,8 kg/con ở 11-12 tuần tuổi.

1.1.3 Chăm sóc nuôi dưỡng gà Tam Hoàng

Chăm sóc nuôi dưỡng gà:

Một số thuốc bổ trợ và kháng sinh dùng trong quá trình chăn nuôi khảo sát gà:

Bảng 1.1 Chương trình dùng thuốc và bổ trợ Ngày tuổi Hoạt chất thuốc Công dụng Liều lượng

Enrofloxacin + Men tiêu hóa Úm gà, giảm tiêu chảy thương hàn, E.coli, CRD

Men tiêu hóa, phân khô, giảm mùi- kích tăng trọng

Sáng: Vitamin K Cầm máu, chống xuất huyết 1g/1L nước uống Sáng: Men tiêu hóa (Bacillus subtilis Đường lactose)

Men tiêu hóa, phân khô, giảm mùi- kích tăng trọng

Trưa: Vitamin C Tăng cường sức đề kháng, chống stress

Kháng sinh điều trị và phòng bệnh trên đường hô hấp

Uống 2 lần, mỗi lần 2ml/10 lít

Doxy Fort (Acetyl salicylic acid Paracetamol)

Phòng điều trị bệnh trên đường hô hấp

Bromhexine Long đờm sát trùng đường hô hấp

Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, kích thích tăng trưởng và đề kháng

Khôi phục và cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột

Tăng khả năng tiêu hóa

Cung cấp đầy đủ canxi cho gà phát triển khung xương, lông, và đề kháng

Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, kích thích tăng trưởng và đề kháng

Sau 21 ngày Định kỳ phòng một số kháng sinh Enrofloxacin, Amoxicillin, ofloxacin Và bổ trợ các loại vitamin, khoáng, men, điện giải Ghi chép lại quy trình của trại chăn nuôi Nguyễn Thị Chín

Ngày tuổi Vaccine Phòng bệnh Liều Cách dùng

Tả và viêm phế quản truyền nhiễm

Inaktif Tả 0.5 ml/ con Tiêm ức

10 Vaksimune POX Đậu 1 giọt/ con Chủng màng cánh

+ Gumboro 1 giọt/ con Nhỏ miệng

16 H5N1 RE6 (RTD) Cúm 0.25 ml/ con Tiêm dưới da cổ

Tả và viêm phế quản truyền nhiễm

1 liều/com Pha nước cho uống

+ Gumboro 1 liều/con Pha nước cho uống

Tả và viêm phế quản truyền nhiễm

1 liều/con Pha nước cho uống

Trại chăn nuôi Nguyễn Thị Chín tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện nhiệt độ, ẩm độ và mật độ nuôi theo quy trình chuẩn Trong tuần đầu, gà được cho ăn 6-8 lần mỗi ngày, sau đó giảm xuống 6 lần/ngày từ ngày thứ 8 Việc kiểm tra thường xuyên sức khỏe đàn gà, lượng thức ăn, và điều chỉnh quây úm, máng ăn uống phù hợp với từng giai đoạn là rất quan trọng Gà được uống nước bằng máng tự động từ ngày 18 và kết thúc giai đoạn úm khi đạt 20 ngày tuổi, đồng thời đảm bảo thời gian chiếu sáng phù hợp để gà phát triển đồng đều.

Gà được nuôi bằng thức ăn công nghiệp hỗn hợp dạng viên của Emivest Feed Mill, đảm bảo tiêu chuẩn dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển và được tiêm phòng đầy đủ theo lịch trình (tham khảo Bảng 1.2 và Bảng 3).

Bệnh Cầu trùng trên gà

Bệnh cầu trùng gà (Emiriois) là bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm gây ra trên gà bởi nhóm nguyên sinh động vật Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidia, họ Eimeria

Cầu trùng ký sinh gây rối loạn tiêu hóa và tổn thương tế bào thượng bì, dẫn đến giảm hấp thu dinh dưỡng và ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất, làm giảm tăng trọng và gây còi cọc ở gà Sức đề kháng giảm do bệnh cầu trùng tạo điều kiện cho các bệnh khác bùng phát, đặc biệt phổ biến ở các mô hình nuôi gà công nghiệp và bán công nghiệp.

Bệnh được phát hiện cách đây hơn 370 năm tên Coccidiosis Trong lĩnh vực thú y, bệnh được phát hiện cách đây hơn 370 năm, ban đầu bệnh là Coccidiosis Năm

Năm 1863, Rivolta phát hiện ký sinh trùng trong phân gà đi tiêu ra máu, sau đó được Eimeria xác định là nguyên sinh động vật sinh sản theo bào tử, thuộc lớp Sporozoa, bộ Coccidia, họ Eimeria và được gọi là Coccidiosis Tại Việt Nam, bệnh cầu trùng được nghiên cứu từ những năm 70 khi chăn nuôi gà công nghiệp phát triển, và các nhà khoa học đã phát hiện hầu hết các loại cầu trùng gây bệnh như mô tả trên thế giới Bệnh cầu trùng có mặt ở khắp nơi có gà.

Bảng 1.3 Phân loại cầu trùng gây bệnh ở gà

STT Loài Tác giả, năm mô tả Hình dạng Kích thước

Màu sắc Thời gian sản sinh bào tử (giờ) Vị trí ký sinh

X (9,5 - 24,8) Không Xanh nhạt 18 - 48 Manh tràng

Vỏ hơi xù xì 30 - 48 Giữa ruột non

X (12,7-16,3) Có Không màu 13 - 17 Đầu ruột non

X (10,1 - 15,3) Có Không màu 18 - 21 Tá tràng

5 Eimeria Mitis Tyzzer, 1929 Hơi tròn (11 – 19)

X (10 – 17) Có Không màu 24 Ruột non, Ruột già

X (18,1-24,2) Không Không màu 24 Ruột già, Cuối ruột non

X (14,3-29,5) Có Không màu 48 Đầu ruột non

X (14,8-19,4) Không Không màu 24 - 36 Đầu ruột non

Nguồn: Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Định Lân, (2001).

1.2.4 Dịch tễ Động vật cảm thụ: các loại gia cầm đều nhiễm bệnh, lứa tuổi nhiễm bệnh từ 5 ngày tuổi trở đi Bệnh thường xảy ra ở những đàn gà 10 - 90 ngày tuổi, nhưng nặng nhất là ở gà 18 - 45 ngày tuổi (Lê Văn Năm, 2006) Thời gian nung bệnh là 4 - 5 ngày

Cầu trùng Eimeria có tính chuyên biệt cao, thể hiện rõ qua việc E.tenella ký sinh ở màng niêm mạc manh tràng gà, còn E.acervulina sống trong tá tràng gà, phản ánh quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng với ký chủ, cơ quan và mô bào cụ thể.

Hình 1.2 Vòng đời của cầu trùng

Nguồn: tác giả Bích Liên, (2017) Con đường và cơ chế gây bệnh:

Cơ chế cơ học của noãn nang bắt đầu khi chúng xâm nhập cơ thể vật nuôi qua đường tiêu hóa, sau đó tấn công và phá hủy tế bào nhung mao ruột, gây tổn thương cơ giới cho tổ chức ruột.

Cơ chế hóa học: cầu trùng tiết ra các độc tố và các men dung giải mô ruột, gây độc cho cơ thể, (Lê Văn Năm, 2003)

Thể cấp tính của bệnh xảy ra khi gà nhiễm một lượng lớn nang trứng độc lực cao, dẫn đến các triệu chứng như khát nước, uể oải và giảm ăn sau 4-5 ngày Gà bệnh thích chỗ ấm, xù lông, cánh xệ, và không phản ứng với kích thích, sau đó bỏ ăn uống, tiêu chảy ra máu và màng giả, mào trắng bệch Gà con thường chết sau 6-7 ngày nhiễm bệnh với tỷ lệ tử vong rất cao, thường là 100%.

Thể á cấp tính của bệnh Gumboro có triệu chứng lâm sàng tương tự thể cấp tính nhưng nhẹ hơn và kéo dài hơn, kèm theo biến đổi máu như giảm hồng cầu và bạch cầu Gà bệnh có thể co giật hoặc liệt nhẹ chân, cánh, đặc biệt gà con có triệu chứng thần kinh điển hình như rướn cổ, duỗi thẳng cánh và chân Bệnh kéo dài 7-10 ngày với tỷ lệ chết khoảng 50% ở gà bệnh.

Bệnh cầu trùng mãn tính ở gà kéo dài hàng tháng, thường gặp ở gà 4-6 tuần tuổi hoặc gà trưởng thành Triệu chứng tương tự thể cấp tính nhưng không rõ ràng, kéo dài vài tuần đến vài tháng Gà gầy còm, chân và cánh có thể bị liệt nhẹ, năng suất trứng giảm 15-25%, đôi khi bị kiết lỵ và tỷ lệ chết thấp.

1.2.6 Bệnh tích Điển hình của bệnh là: xuất huyết và hoại tử niêm mạc ruột (Thành ruột có nhiều tụ điểm xuất huyết) Nếu do E tenella ký sinh, manh tràng sưng rất to, bên ngoài có màu nâu đen hoặc đen, trong lòng manh tràng chứa đầy máu tươi lẫn trong chất chứa màu đen, máu có thể đông thành những cục lổn nhổn, vì thế phân gà luôn lẫn máu

Hậu môn ướt, lông bết, xung quanh cơ vòng hậu môn có những điểm xuất huyết, (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2001)

Hình 1.3 Phân gà nhiễm cầu trùng

Hình 1.4 Bệnh tích trên đường ruột gà bị nhiễm cầu trùng

Nguồn: PGS.TS Lê Văn Thọ, cố vấn kỹ thuật công ty liên doanh Bio-Pharmachemie

Gà bị ốm thường sau 10 -14 ngày tuổi, bệnh tích nặng nhất từ 18 - 45 ngày tuổi, từ 45 - 90 ngày tuổi luôn ở thể mãn tính, sau 90 ngày tuổi là thể mang trùng

Khi mới nhiễm cầu trùng, gà thường uống nhiều nước, trở nên chậm chạp, xù lông và sã cánh Phân gà có lẫn máu, thậm chí là máu tươi, là dấu hiệu đặc trưng của bệnh.

Mổ khám bệnh tích là phương pháp chẩn đoán quan trọng, đặc biệt chú ý đến manh tràng và ruột Các dấu hiệu đặc trưng bao gồm niêm mạc xung huyết, xuất huyết (từng điểm hoặc lan tràn), và thành ruột mỏng do tế bào biểu mô bong tróc Dịch nhày fibrin màu vàng nâu và các nốt sần hoại tử màu trắng đục cũng có thể được tìm thấy trong ruột.

Chẩn đoán phòng thí nghiệm, chẩn đoán bằng xét nghiệm phân:

Để chẩn đoán bệnh cầu trùng ở gà, biện pháp chủ yếu là tìm noãn nang cầu trùng thông qua các xét nghiệm Các phương pháp phổ biến bao gồm phương pháp phù nổi Willis (1927), phương pháp Darling (cho kết quả phát hiện số gà con ốm cao nhất và nhiều noãn nang), và phương pháp Fullerbon (đơn giản, kinh tế, độ chính xác cao).

Bên cạnh đó, tiến hành chẩn đoán phân biệt với các bệnh Histomonosis, bệnh Trichomonas, bệnh xoắn khuẩn, bệnh tiêu chảy phân trắng

Hình 1.5 Noãn nang cầu trùng qua kính hiển vi

Để điều trị bệnh cầu trùng hiệu quả, cần tuân thủ nguyên tắc điều trị kéo dài ít nhất 3-4 ngày với liều lượng thuốc đủ mạnh để tiêu diệt mầm bệnh theo hướng dẫn của nhà sản xuất Do chu kỳ sinh học của cầu trùng kéo dài 3-5 ngày, nên sau khi điều trị, cần duy trì liều phòng trong 3 ngày, nghỉ 3 ngày, và lặp lại cho đến khi gia cầm đạt miễn dịch tự nhiên Lưu ý, tránh sử dụng vitamin nhóm B trong quá trình điều trị vì chúng có thể thúc đẩy sự phát triển của cầu trùng.

Giai đoạn 1: Gà từ 1 - 3 tuần tuổi chúng đang nằm trong giai đoạn phát triển thể

Schizont, hay shizont 2,3, đại diện cho giai đoạn đầu trong sự phát triển của cầu trùng bên trong tế bào biểu bì của vật chủ, có thể bị tác động bởi các chế phẩm như sulfadoxin, amprolium, và diaveridin.

Giai đoạn 2 (20-39 ngày tuổi) là thời điểm quan trọng với nhiều thay đổi sinh lý ở gà, đòi hỏi việc thay đổi thuốc để đối phó với tình trạng cầu trùng kháng thuốc Do đó, nên sử dụng các chế phẩm có tác dụng kép: vừa phòng ngừa, vừa điều trị cầu trùng hiệu quả.

15 ngăn ngừa các hiện tượng nhiễm chủng mới hoặc kế phát Những thuốc đặc trị hoặc đáp ứng 2 nhu cầu trên là các chế phẩm có sulfamid, amprolium, rigecoccin

Một số hóa dược điều trị cầu trùng:

Tình hình nghiên cứu

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Jordan F T W, (1990) đã ghi nhận có 7 loài gây bệnh cho gà là: E brunetti, E

17 tenella, E acervulina, E maxima, E mitis, E praecox và E hagani Loài E hagani được mô tả đầu tiên vào năm 1938 Bảy loài cầu trùng kể trên phân bố ở nhiều nơi trên thế giới

Loài E acervulina và loài E maxima thường thấy ở bệnh cầu trùng gà, đặc biệt

E tenella tác nhân gây bệnh cao và phổ biến Ayssiwede và cs, (2011), đã nghiên cứu so sánh khả năng mẫn cảm của các giống gà đối với cầu trùng Các tác giả nhận thấy các giống gà địa phương ít mẫn cảm với cầu trùng hơn so với các giống gà nhập Những con gia cầm bị nhiễm một lượng nhỏ hợp bào Eimeria cho thấy khả năng chống lại sự tái nhiễm và khả năng kháng này đã tăng lên sau lần nhiễm thứ hai (Rose và Long, 1962)

Trong một đàn gà, việc nhiễm đồng thời nhiều loài *Eimeria* là điều thường thấy, đặc biệt là sự kết hợp của *E acervulina*, *E maxima* và *E tenella*, theo quan sát từ các mẫu chất độn chuồng ở Hoa Kỳ (Schwarz et al., 2009).

Bệnh cầu trùng, đặc biệt phổ biến ở gia cầm non, gây ra bởi các loài Eimeria khác nhau, trong đó E.tenella gây bệnh mạnh nhất ở gà một tháng tuổi và E.maxima ảnh hưởng đến gà 1,5-2 tháng tuổi Gia cầm nhiễm bệnh thường biểu hiện sự sụt giảm tiêu thụ thức ăn và nước uống, kèm theo tình trạng chán nản và tụ tập Sự gián đoạn niêm mạc ruột dẫn đến giảm tăng cân và tiêu chảy, gây mất nước do cơ thể cố gắng loại bỏ sinh vật gây bệnh Tổn thương niêm mạc ruột và mất sắc tố cũng là những dấu hiệu rõ ràng trong giai đoạn sau của nhiễm trùng.

Singh.U.M(1996-1997) đã nghiên cứu và chế tạo vacxin cầu trùng mới bao gồm

E Maxima, E Acervulina, E Necatrix, E Tenella và đã sử dụng thử nghiệm tại Trung Quốc Lee (Canada) đang nghiên cứu các loại vacxin cầu trùng mới với các loài Eimeria.spp tại chỗ có hiệu quả

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Một số nghiên cứu khả năng sinh trưởng trên gà Tam Hoàng

Giống gà Tam Hoàng được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam lần đầu năm

1993 và được nuôi ở Quảng Ninh Kết quả nuôi thích nghi ở đây cho thấy khối lượng

Gà Tam Hoàng 90 ngày tuổi đạt bình quân 0,81 kg/con, tiêu tốn 4,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng và năng suất trứng đạt 131 quả/mái/năm Sau đó, gà Tam Hoàng được nuôi khảo sát thích nghi tại nhiều cơ sở giống của nhà nước và tư nhân để nhân giống.

Gà lai F 1(Hồ -LP) có khối lượng lúc 12 tuần tuổi là 1997g (Bùi Hữu Đoàn,

Gà Lương Phượng có khối lượng cơ thể đạt 2,0-2,57kg/con ở 12 tuần tuổi (Nguyễn Huy Đạt và cs, 2000), cao hơn so với gà lai Đông Tảo x Tam Hoàng, vốn chỉ đạt 1683,95-1646,8g (Nguyễn Đăng Vang và cs 1999).

Nghiên cứu của Đào Văn Khanh (2002) chỉ ra sự khác biệt về khối lượng cơ thể giữa các giống gà thịt lông màu Kabil, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên, với gà Tam Hoàng đạt 1108-1316g ở tuần tuổi thứ 8 Tỷ lệ thịt xẻ của gà Tam Hoàng ở 63-70 ngày tuổi dao động từ 77,63 - 80,50%, và tỷ lệ thịt đùi lớn hơn thịt ức Gà Tam Hoàng tiêu tốn khoảng 2,88 - 3,06 kg thức ăn cho 1kg tăng trọng cơ thể.

Nghiên cứu của Phạm Hùng (1979) về gà nuôi tại các tỉnh miền Nam (TP.HCM, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai) xác định được 8 loài khác nhau.

Cầu trùng ở gà do các loài Eimeria như *E tenella, E necatrix, E mivati, E mitis, E maxima, E hagani, E brunetti, E acervulina* gây ra Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà thay đổi theo lứa tuổi, cao nhất ở gà 4-5 tuần tuổi (93%).

100 %, gà mái đẻ có tỷ lệ nhiễm 40 - 60 %

Nghiên cứu của Hồ Thị Thuận (1984) tại Sông Bé cho thấy sự hiện diện của 5 loài cầu trùng ở gà công nghiệp, bao gồm *E tenella*, *E brunetti*, *E mitis*, *E maxima* và *E necatrix* Bệnh cầu trùng xuất hiện sớm ở gà 4 tuần tuổi và đạt đỉnh điểm từ tuần 4 đến tuần 7, trong đó *E tenella* là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất với các bệnh tích rõ rệt.

Nghiên cứu năm 1993 của Lương Tố Thu cho thấy furazolidone không hiệu quả trong việc phòng bệnh cầu trùng cho gà con Điều tra của Hoàng Thạch (1997) tại TP.HCM xác định 6 loài cầu trùng gây bệnh cho gà, với tỷ lệ nhiễm cao nhất ở gà 5-8 tuần tuổi Dương Công Thuận (1978) cũng ghi nhận tình hình nhiễm cầu trùng tại các cơ sở chăn nuôi ở miền Bắc.

Xí nghiệp gà Đông Anh (Hà Nội) áp dụng mô hình nuôi gà trong chuồng thông thoáng tự nhiên, đảm bảo vệ sinh tốt và sử dụng tik ouran để phòng bệnh Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà được ghi nhận như sau: 4% ở gà 2-4 tuần tuổi, 24% ở gà 5-8 tuần tuổi và cao nhất ở giai đoạn 9-13 tuần tuổi.

Tình trạng nhiễm cầu trùng ở gà tại Xí nghiệp gà Thành Tô (Hải Phòng) cho thấy tỷ lệ nhiễm cao nhất ở gà từ 2-4 tuần tuổi (46,9-93%), giảm dần ở giai đoạn 5-8 tuần (32%) và thấp nhất ở gà mái đẻ (13,2%), mặc dù triệu chứng lâm sàng không rõ ràng.

Nghiên cứu của Bạch Mạnh Điều và cộng sự (2001) về vaccine nhược độc từ oocyst cầu trùng gà (E.tenella, E.maxima, E.acervulina) cho thấy gà thải oocyst bình thường sau 5 ngày uống vaccine Vaccine chiếu xạ 15 Krad tạo miễn dịch tốt nhất, bảo hộ kéo dài 35 ngày.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng Đề tài được tiến hành trên 5.000 con gà giống Tam Hoàng 1 ngày tuổi

2.1.2.1 Phạm vi về không gian Địa điểm tiến hành thí nghiệm: Trại bà Nguyễn Thị Chín, xã Cây Gáo, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Chuồng gà thí nghiệm được thiết kế khép kín với hệ thống cảm biến nhiệt tự động duy trì nhiệt độ ổn định 22-24°C, đảm bảo môi trường sống lý tưởng cho gà Hệ thống chuồng trại tự động hóa hoàn toàn từ khâu vệ sinh đến cung cấp thức ăn, nước uống, giúp giảm thiểu công sức và tăng hiệu quả quản lý Mọi phương tiện ra vào đều phải trải qua quy trình tiêu độc, khử trùng nghiêm ngặt, bảo vệ đàn gà khỏi các tác nhân gây bệnh Thiết kế mái tôn kết hợp hiên bạt và hệ thống phông bạt linh hoạt giúp điều chỉnh nhiệt độ, tránh mưa gió, tạo môi trường ấm áp và khô ráo Nền chuồng sử dụng lớp trấu dày 5-7 cm, vừa tạo độ thông thoáng, vừa hạn chế mùi hôi và sự phát triển của côn trùng, đảm bảo vệ sinh và sức khỏe cho đàn gà.

2.1.2.2 Phạm vi về thời gian

Thực hiện đề tài từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2023

Theo dõi trên đàn gà tam hoàng 5000 con một ngày tuổi tại một trại gà ở Trảng Bom – Đồng Nai.

Nội dung nghiên cứu

Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà Tam Hoàng

Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà Tam Hoàng

Phương pháp nghiên cứu

Thời gian khảo sát bắt đầu lúc gà 1 tuần tuổi đến 8 tuần tuổi

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu sinh trưởng

Để đảm bảo năng suất và sức khỏe đàn gà 5.000 con, việc theo dõi và duy trì sự đồng đều về tuổi, nguồn gốc, chế độ chăm sóc, và quy trình thú y phòng bệnh là vô cùng quan trọng.

Các chỉ tiêu năng suất sinh trưởng và tỷ lệ loại thải từ 1-8 tuần tuổi được theo dõi thường xuyên Tiêu tốn thức ăn cũng được tính toán theo phương pháp nghiên cứu gia cầm thông thường Năng suất sinh trưởng được theo dõi hàng tuần, từ tuần 1 đến hết tuần 8.

Sức sống và khả năng kháng bệnh của đàn gà được xác định thông qua tỷ lệ nuôi sống, tính bằng cách đếm số gà chết hàng ngày và áp dụng công thức tính tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi, giúp đánh giá sức khỏe tổng thể của đàn gà.

Để xác định sinh trưởng tích lũy của gà, ta cân trọng lượng (g) của 100 con gà ngẫu nhiên từ các vị trí khác nhau trong chuồng ở các tuần tuổi nhất định Quá trình này được lặp lại 5 lần, mỗi lần cân 20 con, để đảm bảo tính chính xác và đại diện cho toàn đàn.

Khối lượng tích lũy được tính B =

Trong đó: B: Sinh trưởng tích lũy (g/con)

Công thức tính tốc độ tăng trưởng tuyệt đối, một chỉ số quan trọng trong nông nghiệp và chăn nuôi, được xác định bằng hiệu số giữa khối lượng cơ thể tại thời điểm cân sau (Pn) và khối lượng cơ thể tại thời điểm cân trước (P1) Khoảng thời gian giữa hai lần cân (tn - t1), tính bằng ngày, cũng là yếu tố then chốt để đánh giá tốc độ tăng trưởng này.

Khối lượng bình quân của gà qua các tuần tuổi tăng lên thêm so với tuần 1 được tích lũy dần lên

Sinh trưởng tuyệt đối: Là mức tăng khối lượng một ngày tính theo trung bình của một tuần tuổi, tính bằng g/con/ngày

Tỷ lệ nuôi sống(%) = Số con gà cuối kỳ x 100

Số con gà đầu kỳ

Trong đó: A: Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

(thời điểm cân sau, tính bằng ngày).

Hiệu quả sử dụng thức ăn: Phương pháp xác định tiêu tốn/kg tăng khối lượng

Hàng ngày, cần cân chính xác lượng thức ăn cung cấp cho gà theo một khung giờ cố định Để tính toán lượng thức ăn thực tế mà gà đã tiêu thụ, cần thu gom và cân lại lượng thức ăn thừa còn lại trong máng vào ngày hôm sau, từ đó xác định lượng thức ăn thu nhận hàng ngày.

Lượng TATN (g/con/ngày) = 𝐿ượ𝑛𝑔 𝑡ℎứ𝑐 ă𝑛 𝑐ℎ𝑜 ă𝑛 (𝑔) − 𝐿ượ𝑛𝑔 𝑡ℎứ𝑐 ă𝑛 𝑡ℎừ𝑎 (𝑔)

𝑆ố 𝑔à (𝑐𝑜𝑛) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (FCR):

2.3.2 Phương pháp theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng

2.2.3.1.Theo dõi biểu hiện triệu chứng lâm sàng:

Theo dõi sát sao tình trạng đàn gà để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường như thay đổi trong mức độ ăn uống, hoạt động và đặc điểm phân, giúp người chăn nuôi kịp thời điều chỉnh và can thiệp, đảm bảo sức khỏe tối ưu cho đàn gà.

Triệu chứng cầu trùng ở gà thường gặp nhất ở giai đoạn 3-7 tuần tuổi, với biểu hiện như gà kêu nhiều, ăn ít, uống nhiều nước, xệ cánh, xù lông và đi phân sệt màu đỏ nâu hoặc có máu tươi, đặc biệt manh tràng sưng to là bệnh tích điển hình Ngoài ra, viêm ruột non (tá tràng) cũng là một dạng biểu hiện, gây tiêu chảy thất thường với phân màu nâu sậm hoặc lẫn máu, tá tràng sưng to, thành ruột dày cộm và xuất hiện các chấm trắng, ruột phình to từng đoạn.

Bệnh tích ở thể kết hợp thì manh tràng và tá tràng đều sưng to và có màu đỏ sậm

2.2.3.2 Phương pháp cận lâm sàng

Mang mẫu bệnh phẩm xét nghiệm tại công ty VIPHAVET

Phương pháp thu lấy mẫu phân nghi nhiễm cầu trùng:

Mẫu phân cần mới và sạch, thu thập ngẫu nhiên từ nhiều vị trí trong chuồng, sau đó cho vào túi nilon riêng có ghi chú rõ ràng Mẫu phải được gửi đi xét nghiệm ngay hoặc bảo quản lạnh ở 2-4°C để đảm bảo kết quả chính xác.

Để lấy mẫu phân gia súc, sử dụng túi nilon sạch hoặc găng tay bảo hộ để lấy trực tiếp phân từ trực tràng hoặc phân mới thải Mẫu phân được đựng trong lọ miệng rộng hoặc túi nilon sạch, tuân thủ theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bệnh động vật (2018) về lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm Mẫu cần được bảo quản lạnh bằng bao gói đá khô và lấy ít nhất 5 mẫu mỗi ngày trong 3 ngày cuối tuần để đem đi xét nghiệm.

Tỷ lệ nhiễm cầu trùng được xác định theo công thức

Tỷ lệ nhiễm cầu trùng(%) = Số mẫu nhiễm x 100

Liệu pháp điều trị của trại

+ Gà dưới 50 ngày tuổi thì dùng kháng sinh chứa Sulfamonomethoxine hoặc Toltrazuril, gà trên 50 ngày tuổi sử dụng kháng sinh có chứa Diclazuril

+ Sử dụng Vitamin K nếu thấy phân lẫn máu

+ Sử dụng kháng sinh điều trị kế phát bệnh khác: Bio-Amoxicilin thành phần Amoxicillin Trihydrate 50 % + Colistin Sulfat

+ Giải độc gan thận sau khi điều trị kháng sinh: Phoretic thành phần Ethanol amino phosphoric acid 10 % và Heparin chứa Sobitol 35 %

Để điều trị cầu trùng hiệu quả cho gà, cần sử dụng thuốc liên tục trong 3-5 ngày đầu, sau đó cho gà nghỉ và giải độc gan trong 2 ngày Tiếp tục dùng thuốc thêm 3-5 ngày nữa để loại bỏ hoàn toàn cầu trùng, ngăn ngừa tái phát bệnh.

Hiệu quả điều trị được xác định theo công thức:

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được trong quá trình khảo sát được nhập và xử lý trên phần mềm Excel 2016

Tỷ lệ khỏi bệnh (%) = Số con điều trị khỏi x 100

Tổng số con nhiễm bệnh

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Khả năng sinh trưởng của đàn gà Tam Hoàng khảo sát

3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống gà Tam Hoàng

Tỷ lệ nuôi sống theo giai đoạn là một chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng thích nghi và chống chịu bệnh tật của gà, từ đó giúp đưa ra các giải pháp chăm sóc và phòng bệnh hợp lý Đây là tỷ lệ nuôi sống cộng dồn từ đầu kỳ nuôi đến cuối giai đoạn theo dõi, được sử dụng để theo dõi và cải thiện hiệu quả chăn nuôi.

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà (n=5.000)

Tuần tuổi Tỷ lệ nuôi sống/tuần (%) Tỷ lệ nuôi sống/giai đoạn (%)

Tỷ lệ nuôi sống theo giai đoạn từ 1 - 8 tuần tuổi của gà đạt 96,23 % Tỷ lệ nuôi sống của gà Tam Hoàng theo tuần (Bảng 3.1) tương đối cao từ 99,18 – 99,88 % Từ 1

Giai đoạn 4 tuần tuổi đầu tiên là thời điểm tỷ lệ sống của gà thấp nhất do hệ tiêu hóa và miễn dịch chưa hoàn thiện, khiến gà dễ mắc bệnh tiêu chảy và tử vong Từ tuần thứ 3 trở đi, tỷ lệ nuôi sống tăng lên, cho thấy khả năng thích nghi tốt hơn với môi trường.

4 gà bị mắc bệnh cầu trùng nên số lượng gà chết cao hơn các giai đoạn khác ngày khác

Tỷ lệ nuôi sống của gà khảo sát cao hơn so với một số nghiên cứu trước đây trên dòng gà Tam Hoàng Tỷ lệ sống của gà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như con giống, kỹ thuật nuôi dưỡng, điều kiện khí hậu và phương thức nuôi Để tăng tỷ lệ nuôi sống, cần có quy trình nuôi thích hợp và áp dụng an toàn sinh học trong chăn nuôi.

3.1.2 Sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối

Sinh trưởng tích lũy, chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng tăng khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn tuổi, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất thịt và hiệu quả kinh tế Khối lượng cơ thể không chỉ là thước đo sức khỏe và trình độ chăm sóc mà còn thể hiện phẩm chất dòng, giống Tốc độ sinh trưởng tích lũy nhanh giúp rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí thức ăn, và nâng cao hiệu quả kinh tế, tuy nhiên, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc, thời tiết và khả năng thích nghi của giống.

Bảng 3.2 Khả năng sinh trưởng của gà (n = 100) Tuần tuổi

Khối lượng trung bình- Sinh trưởng tích lũy (g)

Tăng trọng bình quân -sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

Hình 3.1 Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Tam Hoàng

Kết quả nghiên cứu cho thấy khối lượng bình quân cơ thể gà tăng nhanh từ 34,30g (1 ngày tuổi) lên 1.454g (8 tuần tuổi) So với nghiên cứu của Thạch Trực (2010) trên gà Lương Phượng, khối lượng bình quân gà lúc 54 ngày tuổi đạt 1.505,8-1.556,1g, kết quả khảo sát này thấp hơn, có thể do quy mô chuồng nuôi lớn.

Nghiên cứu về khối lượng cơ thể gà chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm số lượng cá thể và điều kiện ngoại cảnh So sánh với nghiên cứu của Thạch Trực (2010) trên gà con, khảo sát thực tế tại trại cho thấy khối lượng gà Tam Hoàng 8 tuần tuổi thấp hơn do quy mô nuôi nhốt và các yếu tố môi trường khác biệt.

Sinh trưởng tích lũy ở gà khảo sát tăng liên tục, mạnh nhất từ tuần 2 đến tuần 6, đạt 1009g Sau tuần 6, tốc độ tăng trưởng chậm lại, đặc biệt từ tuần 7 đến tuần 8, gà bắt đầu tích mỡ, báo hiệu giai đoạn vỗ béo kết thúc và chuẩn bị xuất bán.

Hình 3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của gà Tam Hoàng

Sinh trưởng tuyệt đối của gà Tam Hoàng, thể hiện qua sự tăng trọng hàng ngày, tăng dần từ 8,87g/con/ngày ở tuần 1 đến 31.00g/con/ngày ở tuần 8 Giai đoạn 1-3 tuần tuổi chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất Tuy nhiên, giai đoạn 3-4 tuần tuổi ghi nhận sự giảm tăng trọng do nhiễm cầu trùng, ảnh hưởng đến khả năng ăn và tiêu hóa Sau điều trị, sinh trưởng phục hồi từ tuần 4 (22.49 g/con/ngày) đến tuần 5 (25.57g/con/ngày) Từ tuần 7 đến 8, sinh trưởng tuyệt đối có xu hướng giảm (35.29g/con/ngày ở tuần 6 xuống 31.00g/con/ngày ở tuần 8).

Sinh trưởng tuyệt đối của gà tăng nhanh nhất từ 1 đến 6 tuần tuổi, sau đó giảm dần theo quy luật sinh trưởng của gia cầm Việc theo dõi sinh trưởng tuyệt đối giúp xác định khối lượng bình quân của gà trong từng giai đoạn, từ đó điều chỉnh chế độ chăm sóc và dinh dưỡng để tối ưu hóa hiệu quả tăng trọng.

Thời điểm kết thúc nuôi gà Tam Hoàng thương phẩm có lợi nhất thường là tuần thứ 9, tuy nhiên, thời điểm xuất bán thực tế phụ thuộc vào phương thức nuôi, mật độ, quy mô chuồng trại và thị hiếu thị trường Thông thường, người chăn nuôi xuất bán gà ở tuần thứ 8 khi nuôi chuồng kín theo quy mô công nghiệp.

3.1.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn

Hiệu quả sử dụng thức ăn, được đo bằng mức tiêu tốn thức ăn (TTTA) trên một đơn vị sản phẩm, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giống, tuổi, chất lượng thức ăn và điều kiện môi trường Trong chăn nuôi, TTTA chiếm phần lớn giá thành sản phẩm (70-80%) và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất.

Bảng 3.3 Khả năng thu nhận và tiêu tốn thức ăn của gà Tam Hoàng

Tuần tuổi Lượng thức ăn thu nhận

Tiêu tốn thức ăn (kg/kg tăng trọng)

Lượng thức ăn thu nhận (TATN) của gà tăng dần từ 11,83 g/con/ngày ở tuần 1 đến 86,76 g/con/ngày ở tuần 8 Tiêu tốn thức ăn (TTTA) tăng từ 1,33 ở tuần 1 lên 2,36 ở tuần 4, sau đó biến động và đạt trung bình 2,10 kg/kg tăng trọng trong giai đoạn 1-8 tuần tuổi.

Trong 4 tuần đầu, hệ tiêu hóa của gà chưa hoàn thiện, khả năng hấp thu dưỡng chất còn hạn chế, phù hợp với quy luật sinh trưởng tự nhiên Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (TTTA) giảm mạnh ở tuần thứ 5 do ảnh hưởng kéo dài của bệnh cầu trùng, làm giảm TTTA so với giai đoạn đầu.

Gà Tam Hoàng khảo sát cho thấy hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn so với các nghiên cứu khác, điều này có ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi để đạt hiệu quả cao nhất với hệ số TTTA (tiêu tốn thức ăn) thấp và tăng trọng nhanh nhất Các nghiên cứu trước đây trên gà Tam Hoàng và gà Ta cho thấy hệ số TTTA dao động từ 2,43 kg đến 2,86 kg ở giai đoạn 8 tuần tuổi.

Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở gà Tam Hoàng

3.2.1 Tỷ lệ nhiễm toàn đàn

Sau khi xét nghiệm, kiểm tra triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng toàn đàn

Số mẫu kiểm tra Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)

Trong tuần đầu tiên, thường không tìm thấy noãn nang Oocyst trong phân gà, điều này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (1997) cho thấy gà 1 tuần tuổi chưa nhiễm cầu trùng Tuy nhiên, noãn nang cầu trùng có thể xuất hiện trong phân gà 1 ngày tuổi do chuồng nuôi không đảm bảo vệ sinh và thời gian trống chuồng ngắn, dẫn đến noãn nang tồn tại và gà con ăn phải.

Gà con 1 tuần tuổi không mắc bệnh cầu trùng do hệ tiêu hóa chưa phát triển toàn diện, men tiêu hóa còn yếu, không đủ khả năng phá vỡ vỏ Oocyst, khiến Oocyst bị thải ra ngoài theo phân.

Gà bắt đầu có dấu hiệu bệnh từ tuần thứ 2 và đạt đỉnh điểm vào tuần thứ 3, sau đó giảm dần Triệu chứng lâm sàng xuất hiện rõ rệt ở tuần thứ 3, bao gồm ủ rũ, xù lông, kém ăn, và tiêu chảy ra máu.

Gà càng lớn càng dễ nhiễm cầu trùng do lượng TTTA (thức ăn tiêu thụ) tăng, làm phá vỡ vỏ Oocyst và giải phóng noãn trong quá trình tiêu hóa Hoạt động mạnh của gà cũng làm máng ăn, máng uống nhiễm bẩn, cùng với lượng phân thải nhiều tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển mạnh ở nền chuồng, khiến gà nuốt phải noãn nang khi bới thức ăn Vì vậy, tỷ lệ nhiễm cầu trùng tăng theo độ tuổi của gà.

3.2.2 Tầng số xuất hiện triệu chứng trên gà bị cầu trùng:

Bảng 3.5 Bảng tần số xuất hiện triệu chứng cầu trùng (n))

Triệu chứng Số Con Tỷ lệ (%)

Phân màu hồng có màng nhầy 12 41,38

Bỏ ăn 5 17,24 Ủ rủ, lười vận động 27 93,10

Lông xù, xơ xác, phân dính hậu môn 25 86,21

Khi mắc bệnh cầu trùng, gà thường có triệu chứng đi phân sáp (48,28%) và phân có màng nhầy, màu hồng (41,38%), tương đồng với nghiên cứu của Phạm Ngọc Hà (2006) Các triệu chứng lâm sàng điển hình bao gồm ủ rũ, lười vận động (93,10%), lông xù, sơ xác và phân dính hậu môn (86,21%).

Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006), noãn nang cầu trùng xâm nhập tế bào biểu mô ruột, gây phá hủy và tiết độc tố, dẫn đến xuất huyết và tiêu chảy ở gà Gà bệnh cầu trùng thường đi tiêu phân loãng, gây mất nước và làm tăng nhu cầu uống nước để bù lại lượng nước đã mất, với tỷ lệ gà uống nhiều nước chiếm 75,86%.

Để chẩn đoán phân biệt bệnh cầu trùng ở gà với các bệnh khác, cần chú ý đến các triệu chứng lâm sàng như giảm ăn, bỏ ăn và uống nhiều nước, tuy nhiên, tỷ lệ gà bỏ ăn do cầu trùng thường thấp, chỉ khoảng 17,24%.

Để phòng và trị bệnh cầu trùng ở gà, người chăn nuôi cần chú ý đến các dấu hiệu như gà giảm ăn, lông xù xơ xác, phân dính bết ở hậu môn hoặc phân lẫn nước, bọt khí, và phân sáp trên nền chuồng, từ đó sử dụng thuốc phù hợp.

3.2.3 Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà mắc bệnh cầu trùng

Để chẩn đoán và điều trị hiệu quả bệnh cầu trùng, việc kiểm tra bệnh tích đường tiêu hóa và xác định vị trí ký sinh đặc trưng của từng loại cầu trùng là rất quan trọng, giúp xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp.

Bệnh tích ở manh tràng thường biểu hiện qua các dấu hiệu như manh tràng sưng, căng phồng Quan sát bên ngoài cho thấy manh tràng có màu sắc đậm hơn bình thường Khi mổ khám, bên trong manh tràng chứa đầy các cục máu đông.

Bệnh làm niêm mạc manh tràng xuất huyết từng đám và bị hủy hoại, vách manh tràng mỏng đi so với gà khỏe mạnh Mức độ xuất huyết tăng dần theo thời gian mắc bệnh, kèm theo máu đông tích tụ ngày càng nhiều.

Nghiên cứu bệnh tích cho thấy sự tương đồng với các ghi nhận của Williams (1997), đặc biệt là xuất huyết toàn bộ manh tràng ở giai đoạn sinh sản vô tính thứ 2 Các triệu chứng bao gồm phân lẫn máu sau 4 ngày nhiễm bệnh, gà giảm ăn, mệt mỏi nhưng uống nhiều nước, và xuất huyết manh tràng nặng nhất vào ngày thứ 5-6 sau nhiễm.

Ruột non bị bệnh có biểu hiện xuất huyết lấm tấm bên ngoài và căng phồng do chứa thức ăn không tiêu Niêm mạc ruột non có các điểm trắng (quần thể bào tử Schizont) và đỏ (xuất huyết) khi kiểm tra sau khi cắt dọc và loại bỏ chất chứa Thành ruột dày mỏng gồ ghề khiến kích thước ruột không đều.

Bệnh tích phù hợp với nghiên cứu của Williams (1997), bắt đầu bằng xung huyết, hoại tử và xuất huyết niêm mạc ruột do sinh sản vô tính và hữu tính của cầu trùng Sự phá vỡ tế bào niêm mạc gây xuất huyết lan tràn và bong tróc tế bào biểu mô Cầu trùng xâm nhập sâu vào vách ruột gây hoại tử và xuất huyết lớp hạ niêm mạc, tuyến ruột Oocyst xuất hiện trong phân từ ngày thứ 6 Thành trực tràng tăng sinh, dày lên, gồ ghề và xuất huyết niêm mạc.

Bảng 3.6 Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà Tam hoàng mắc bệnh cầu trùng

Manh tràng và ruột non Tổng

Bệnh cầu trùng ở gà Tam Hoàng gây ra các bệnh tích khác nhau trên đường tiêu hóa, với tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở manh tràng (62,07%), tiếp theo là ruột non (20,69%) và thấp nhất ở trực tràng (10,34%) Tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn khi gà đồng thời nhiễm cầu trùng ở cả manh tràng và ruột non, mặc dù tỷ lệ này tương đối thấp (6,9%).

29 con gà được mổ khám

Trong quá trình mổ khám chúng tôi thấy bệnh tích trên manh tràng được ghi nhận nhiều nhất khi gà nhỏ và giảm dần khi gà lớn

Kết luận

Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà Tam Hoàng tại huyện Trảng Bom - tỉnh Đồng Nai cho thấy:

Tỷ lệ nuôi sống gà 1 - 8 tuần tuổi đạt 96,23 %

Khối lượng cơ thể gà tăng dần theo tuần tuổi Sinh trưởng tích luỹ từ tuần 1 đến tuần

Trong giai đoạn từ tuần 1 đến tuần 3, gà tăng trưởng mạnh nhất, đạt từ 34,30g/con lên 1.454,00g/con, tuy nhiên, bệnh cầu trùng ở tuần thứ 3 làm chậm sự phát triển ở tuần thứ 4 và 5 Gà phục hồi và tăng trưởng tốt hơn ở tuần thứ 6, trước khi tốc độ tăng trưởng giảm dần từ tuần 7 đến tuần 8.

Lượng thức ăn tiêu thụ và tiêu tốn thức ăn trong giai đoạn 1-8 tuần tuổi tương ứng là 56,01g/con/ngày và 2,10 kg/kg tăng trọng

Gà mắc bệnh cầu trùng xuất hiện có triệu chứng đi phân sáp chiếm tỷ lệ là 48,28

Các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh bao gồm ủ rũ, lười vận động (93,10%), lông xù, sơ xác, phân dính hậu môn (86,21%), và phân gà có màng nhầy, màu hồng (41,38%) Các biểu hiện khác có thể thấy là uống nhiều nước (75,86%), mào, tích nhợt nhạt (24,14%), và bỏ ăn (17,24%).

Sau 8 tuần mổ khám, bệnh tích tập trung chủ yếu ở manh tràng (62,07%), ruột non (20,69%) và ít nhất ở trực tràng (10,34%) Tỷ lệ bệnh tích chung và mức độ nghiêm trọng tăng lên khi gà nhiễm đồng thời cầu trùng manh tràng và ruột non, tuy nhiên tỷ lệ này tương đối thấp, chỉ chiếm 6,9%.

Nhờ phát hiện bệnh sớm, tiến hành tách riêng những con bệnh và sử dụng đúng liệu pháp điều trị nên tỷ lệ khỏi bệnh đạt khá cao 93,10%.

Kiến nghị

Để đánh giá toàn diện tác động của bệnh cầu trùng lên gà Tam Hoàng, cần theo dõi liên tục khả năng sinh trưởng, sinh sản và tỷ lệ nhiễm bệnh ở các lứa gà tiếp theo.

Để nâng cao hiệu quả phòng và điều trị bệnh cầu trùng ở gà, cần **mở rộng khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh** Từ đó, xây dựng **quy trình phòng và điều trị bệnh cầu trùng hiệu quả**, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của người chăn nuôi.

Ngày đăng: 09/06/2025, 10:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Lê Thị Tuyết Minh (1994). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng ở gà Hybro HV85 từ 1 đến 49 ngày tuổi. Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp. Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng ở gà Hybro HV85 từ 1 đến 49 ngày tuổi
Tác giả: Lê Thị Tuyết Minh
Nhà XB: Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1994
12. Lê Văn Năm (2006). Bệnh cầu trùng ở gia súc - gia cầm. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu trùng ở gia súc - gia cầm
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
13. Lương Tố Thu (1993). Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng bê nghé do Eimeria phân lập ở Việt Nam. Luận án phó TS khoa học Nông nghiệp. tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng bê nghé do Eimeria phân lập ở Việt Nam
Tác giả: Lương Tố Thu
Năm: 1993
14. Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga và Nguyễn Mạnh Hùng (1999). Khả năng sản xuất của gà Đông Tảo nuôi tại Thụy Phương.Chuyên san chăn nuôi gia cầm. Hội chăn nuôi Việt Nam. tr. 114 - 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của gà Đông Tảo nuôi tại Thụy Phương
Tác giả: Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga, Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: Hội chăn nuôi Việt Nam
Năm: 1999
16. Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng (2000). Nghiên cứu chọn lọc, nhân giống gà Lương Phượng Hoa tại trại chăn nuôi Liên Ninh. Báo cáo kết quả Nghiên cứu Khoa học 1999- 2000, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả Nghiên cứu Khoa học 1999- 2000
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng
Nhà XB: Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc
Năm: 2000
19. Nguyễn Thị Mai (1997). Tình hình nhiễm cầu trùng tại xí nghiệp gà Phúc Thịnh và thử nghiêm thuốc phòng trị. Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm cầu trùng tại xí nghiệp gà Phúc Thịnh và thử nghiêm thuốc phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Năm: 1997
20. Phạm Hùng (1978). Hội nghị Khoa học kỹ thuật chăn nuôi - thú y các tỉnh phía nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Khoa học kỹ thuật chăn nuôi - thú y các tỉnh phía nam
Tác giả: Phạm Hùng
Năm: 1978
21. Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001), Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2001
22. Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006). Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 148 - 142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2006
23. Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006). Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 148 - 142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2006
25. Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992). Chọn giống và nhân giống gia súc. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 40 - 41 - 84 - 99 - 116 .Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1992
1. Chambers J. R. (1990). Genetic of grouth and meat production in chicken. Poultry breeding and genetic, RD Cawford ed Elsevier Amsterdam. pp. 627 - 628 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poultry breeding and genetic
Tác giả: J. R. Chambers
Nhà XB: Elsevier Amsterdam
Năm: 1990
2. Chapman, H.D. (2005). Perspectives for the control of coccidiosis in poultry bychemotherapy and vaccination. Proceedings of the IXth International Coccidiosis Conference, Foz do Iguassu, September 19- 23, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proceedings of the IXth International Coccidiosis Conference
Tác giả: H.D. Chapman
Năm: 2005
3. Coccidiosis.http://attra. ncat. Org/attar-pub/PDF/coccidiosis.pdf. www. Saxonet. De/coccido2.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coccidiosis
4. Fanatico, A. (2006). Parasite management for natural and organic poultry Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasite management for natural and organic poultry
Tác giả: A. Fanatico
Năm: 2006
7. Johannes Kaufmann (1996). Parasitic infections of domestic animals. A diagnostic manual, Birkhauser Verlag, Basal, Boston and Berlin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasitic infections of domestic animals. A diagnostic manual
Tác giả: Johannes Kaufmann
Nhà XB: Birkhauser Verlag
Năm: 1996
8. Jordan, F., Pattison, M., Alexander, D and Faragher,T.(2002). Parasitic diseases. In: PoultryDisease. 5thed. Hong Kong: W.B. Saunders. Pp. 405-420 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poultry Disease
Tác giả: Jordan, F., Pattison, M., Alexander, D, Faragher, T
Nhà XB: W.B. Saunders
Năm: 2002
17. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Thị Mai (1994) Khác
18. Nguyễn Phúc Khánh , Trần Ngọc Bích và Nguyễn Hồ Bảo Trân (2015), Khảo sát tình hình nhiễm bệnh cầu trùng và chỉ tiêu sinh lý máu trên đàn gà ở quận bình thủy, thành phố cần thơ, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ số 36 tr.1-5 Khác
24. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996). Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú Tạp chí Khoa học Thú y. tr.43 - 47 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Gà Tam hoàng 882 và 882-3 - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 1.1. Gà Tam hoàng 882 và 882-3 (Trang 11)
Bảng 1.1. Chương trình dùng thuốc và bổ trợ  Ngày tuổi  Hoạt chất thuốc  Công dụng  Liều lượng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Bảng 1.1. Chương trình dùng thuốc và bổ trợ Ngày tuổi Hoạt chất thuốc Công dụng Liều lượng (Trang 12)
Bảng 1.2. Quy trình vaccine - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Bảng 1.2. Quy trình vaccine (Trang 13)
Hình 1.2. Vòng đời của cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 1.2. Vòng đời của cầu trùng (Trang 17)
Hình 1.4. Bệnh tích trên đường ruột gà bị nhiễm cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 1.4. Bệnh tích trên đường ruột gà bị nhiễm cầu trùng (Trang 19)
Hình 1.3. Phân gà nhiễm cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 1.3. Phân gà nhiễm cầu trùng (Trang 19)
Hình 1.5. Noãn nang cầu trùng qua kính hiển vi - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 1.5. Noãn nang cầu trùng qua kính hiển vi (Trang 21)
Hình 3.1. Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Tam Hoàng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 3.1. Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Tam Hoàng (Trang 34)
Hình 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Tam  Hoàng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Tam Hoàng (Trang 35)
Bảng 2: Chương trình chiếu sáng (chuồng kín) - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Bảng 2 Chương trình chiếu sáng (chuồng kín) (Trang 47)
Bảng 3: Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn gà Tam Hoàng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Bảng 3 Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn gà Tam Hoàng (Trang 48)
Bảng 4: Theo dõi lượng thức ăn và khối lượng cơ thể của gà - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Bảng 4 Theo dõi lượng thức ăn và khối lượng cơ thể của gà (Trang 49)
Hình 2. Sơ đồ trại - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 2. Sơ đồ trại (Trang 53)
Hình 1. Cổng trại  Hình 3. Kết cấu chuồng nuôi - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 1. Cổng trại Hình 3. Kết cấu chuồng nuôi (Trang 53)
Hình 4: Một số hình ảnh mổ khám xem bệnh tích của gà mắc bệnh cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng tại trại nguyễn thị chín, trảng bom, Đồng nai
Hình 4 Một số hình ảnh mổ khám xem bệnh tích của gà mắc bệnh cầu trùng (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm