Sầm Sơn (Thanh Hoá): tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch
Trang 1Mục lục
Trang
DANH MỤC HÌNH 3
DANH MỤC ẢNH 4
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU 9
Chương 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 18
1.1 Quan ®iÓm c¬ b¶n vÒ du lịch và tµi nguyªn du lÞch 18
1.1.1 Quan điểm về du lịch 18
1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch 20
1.1.3 Các loại tài nguyên du lịch 21
1.2 Phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên môi trường
25 1.2.1 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững 25
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững 27
Chương 2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN Ở SẦM SƠN (2000 – 2008) 30
2.1 Quá trình phát triển du lịch Sầm Sơn 30
2.1.1 Vị trí địa lý……….30
2.1.2 Quá trình phát triển du lịch Sầm Sơn 32
2.2 Tiềm năng du lịch Sầm Sơn 37
2.2.1 Vị trí du lịch 37
2.2.2 Tài nguyên du lịch ở Sầm Sơn 39
2.3 Thực trạng phát triển du lịch Sầm Sơn 68
2.3.1 Cơ sở hạ tầng 68
2.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 70
Trang 22.3.3 Sản phẩm du lịch hiện có ở Sầm Sơn 76
2.3.4 Lao động phục vụ du lịch 78
2.3.5 Khách du lịch đến Sầm Sơn 79
2.3.6 Doanh thu du lịch 84
2.3.7 Những hạn chế của du lịch Sầm Sơn theo quan điểm phát triển bền vững 86
Chương 3 §Þnh híng vµ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SẦM SƠN 92
3.1 Định hướng phát triển du lịch Sầm Sơn 92
3.1.1 Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa 92
3.1.2 Phương hướng phát triển du lịch Sầm Sơn 93
3.2 Dự báo các chỉ tiêu phát triển 95
3.2.1 Cơ sở dự báo 95
3.2.2 Các chỉ tiêu cụ thể 95
3.3 Giải pháp phát triển du lịch Sầm Sơn 100
3.3.1 Giải pháp về quy hoạch phát triển du lịch 100
3.3.2 Giải pháp đối với kinh tế du lịch theo hướng chuyên nghiệp 102
3.3.3 Giải quyết vấn đề mùa du lịch 103
3.3.4 Giải pháp huy động và sử dụng nguồn vốn 104
3.3.5 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước 111
3.3.6 Giải pháp xây dựng thương hiệu du lịch cho Sầm Sơn 112
3.3.7 Giải pháp tăng cường biện pháp tuyên truyền, quảng bá du lịch 114
3.3.8 Giải pháp phát triển du lịch bền vững……… 115
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118
Trang 3DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1 Vị trí Sầm Sơn trong tỉnh Thanh Hóa 8
Hình 2.1.Sơ đồ du lịch Thanh Hoá ………… 33
Hình 2.2 Sơ đồ thị xã SầmSơn……… … 38
Hình 2.3 Sơ đồ tài nguyên du lịch tại Sầm Sơn……… …… 41
Hình 2.4 Sơ đồ các điểm du lịch phục vụ lễ hội 100 năm du lịch Sầm Sơn 61
Hình 2.5 Cơ cấu cơ sở lưu trú ở Sầm Sơn (2005) (xét theo quymô)……… 72
Hình 2.6 Cơ cấu khách du lịch đến Sầm Sơn năm 2008……… 81
Hình 2.7 Cơ cấu doanh thu du lịch Sầm Sơn các năm 2000, 2005, 2007… 86
Hình 2.8 Kết quả thu ngân sách của du lịch Sầm Sơn 2000 -2007……… 86
Hình 3.1 Các tuyến du lịch ở thị xã Sầm Sơn……… 106
Trang 4DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1 Toàn cảnh Sầm Sơn (Ảnh chụp từ vệ tinh)
Ảnh 2 Bình minh trên biển Sầm Sơn
Ảnh 3 Ngư dân đánh bắt hải sản phục vụ du lịch
Ảnh 4 Đền Độc Cước
Ảnh 5 Lầu Nghinh Phong
Ảnh 6 Bãi biển Sầm Sơn lúc cao điểm
Ảnh 7 Thuyền cứu hộ bảo đảm an toàn cho du khách
Ảnh 16 & 17 Khai mạc lễ hội 100 năm du lịch Sầm Sơn
Ảnh 18 Tuyến đường Hồ Xuân Hương
Ảnh 19 Lễ khai mạc hội chợ thương mại Sầm Sơn 2007 Ảnh 20 & 21 Khu du lịch sinh thái Quảng Cư
Ảnh 22 Du khách đá bóng trên bãi biển
Ảnh 23 Khách du lịch đốt lửa trại, vui chơi trên biển
Ảnh 24 Thả diều trên biển – trò chơi thú vị của du khách
Ảnh 25 Xe đạp đôi – phương tiện dạo biển ưa thích của giới trẻ
Trang 5Ảnh 26 Trung đường đền Độc Cước bị tu sửa không đúng bản gốcẢnh 27 Tượng Phật bà Quan Âm dựng không phép trên núi Cổ GiảiẢnh 28 Hiện tượng bán hàng rong trên bãi biển
Ảnh 29 Rác thải trên bãi biển
Ảnh 30 Rác thải theo dòng đổ ra biển ở bãi tắm D
Ảnh 31 Kim tiêm rải rác trên bờ biển
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Tr ang Bảng 2.1: Nhiệt độ mặt nước biển tại một số bói biển 43
Bảng 2.2: Một số loại hải sản phục vụ khỏch du lịch 48
Bảng 2.3: Đỏnh giỏ tổng hợp cỏc loại tài nguyờn du lịch tự nhiờn đối với sự phỏt triển du lịch ở Sầm Sơn 67
Bảng 2.4: So sỏnh cơ sở lưu trỳ giai đoạn 1994 - 1999 và 2000 - 2005 ở Sầm Sơn 70
Bảng 2.5: Hiện trạng khỏch sạn ở Thanh Hoỏ và Sầm Sơn năm 2005 71
Bảng 2.6: Cơ sở lưu trỳ ở Sầm Sơn phõn theo cấp quản lý (2005) 73
Bảng 2.7: Cỏc cơ sở lưu trỳ phõn theo loại hỡnh kinh doanh phục vụ năm 2007 .73
Bảng 2.8: Cỏc cơ sở lưu trỳ phõn theo chất lượng dịch vụ năm 2007 74
Bảng 2.9: Lao động trực tiếp trong ngành du lịch Sầm Sơn giai đoạn (2000 - 2005) .79
Bảng 2.10: Số lượt khỏch du lịch đến Sầm Sơn từ 2001 – 2005 79
Bảng 2.12: Doanh thu du lịch Sầm Sơn cỏc năm 2000, 2005, 2007 84
Bảng 3.1: Dự kiến cỏc chỉ tiờu kinh tế du lịch Sầm Sơn từ 2009 – 2015 96
Bảng 3.2: Dự bỏo về chỉ tiờu khỏch du lịch, ngày khỏch phục vụ và doanh thu du lịch Sầm Sơn từ 2009 – 2015 97
Bảng 3.3: Dự kiến cỏc mức chi tiờu cho một ngày khỏch đến Sầm Sơn 97
Bảng 3.4: Dự bỏo cơ cấu doanh thu khỏch nội địa đến Sầm Sơn (2006–2015) .98
Trang 7Bảng 3.5: Dự kiến các nguồn vốn đầu tư đến 2015 99 Bảng 3.6: Dự báo về lao động du lịch Sầm Sơn (2010-2015) 99
Danh môc ch÷ viÕt t¾t
1 CNH- HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Trang 8Hình 1 VỊ TRÍ SẦM SƠN TRONG TỈNH THANH HÓA
Trang 9Nguồn: Phòng Địa chính thị xã Sầm Sơn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu du lịch ngàycàng trở nên không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người, đặc biệt
là ở các nước phát triển Sự tăng trưởng mạnh mẽ của du lịch đã thu hút mộtlực lượng lao động đông đảo trên khắp thế giới, mang lại lợi ích to lớn vềnhiều mặt, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của tất cả các ngành kinh tế, tạo
ra tích lũy ban đầu cho nền kinh tế quốc dân, là phương tiện quan trọng đểthực hiện giao lưu giữa các nền kinh tế và văn hoá Phát triển du lịch còn tạo
ra sự tiến bộ xã hội, tình hữu nghị hoà bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa cácdân tộc Đối với nhiều quốc gia, du lịch thực sự đã trở thành “con gà đẻ trứngvàng” và là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Trong bối cảnh chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang có xuhướng chuyển dịch cơ cấu từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang nềnkinh tế phát triển Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp Vì vậy, việc nghiêncứu về tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Sầm Sơn sẽ có tácdụng thực tiễn to lớn trong việc phát triển du lịch ở Thanh Hoá nói chung, vàcác điểm du lịch tương tự trong cả nước
Bên cạnh đó, mặc dù du lịch Việt Nam có nhiều tài nguyên thiên nhiên
và nhân văn độc đáo song đến nay vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềmnăng Trước tình hình như vậy, du lịch Việt Nam đang tìm hướng đi cho mình
là xây dựng biểu tượng của một đất nước thanh bình, thân thiện, đánh thứctiềm năng của dải bờ biển dài và đẹp chạy dọc đất nước Trong đó, Sầm Sơnlại là một điểm du lịch biển quen thuộc có lịch sử khai thác hàng trăm năm
Trang 10nên việc tìm ra giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch biển Sầm Sơn là hết sứccần thiết.
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau lễ hội 100 năm du lịch SầmSơn (2007), Sầm Sơn đã có những đổi mới và chuyển biến tích cực tạo rađiểm nhấn cho một địa danh hấp dẫn đối với du khách Mặt khác, những thayđổi trong cách thức tổ chức hoạt động du lịch cũng góp phần quan trọng thúcđẩy kinh tế – xã hội Sầm Sơn, cũng như ngành kinh tế du lịch Thanh Hóaphát triển, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá -hiện đại hoá, đồng thời tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, tăng thungân sách cho nhà nước và mở rộng hợp tác kinh tế, giao lưu văn hoá, pháttriển xã hội giữa Sầm Sơn – Thanh Hoá với các tỉnh trong cả nước Tuynhiên, tốc độ tăng trưởng và phát triển du lịch Sầm Sơn những năm qua cònchậm, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh sẵn có Hiện tượng khách
du lịch có ấn tượng thiếu thiện cảm với du lịch Sầm Sơn vẫn còn khá phổbiến, thậm chí có nhiều ý kiến phê phán gay gắt trên các phương tiện thôngtin đại chúng về những vẫn đề còn tồn tại trong các mùa du lịch ở Sầm Sơn.Không những thế, hiện nay sự vươn lên của nhiều địa danh du lịch mới, đặcbiệt là du lịch biển ở các địa phương trong cả nước đang đặt Sầm Sơn trướcthách thức của sự cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi địa danh du lịch này phải nhanhchóng củng cố và làm mới mình để thu hút du khách
Vì những lí do trên, việc nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và đề ranhững giải pháp phát triển du lịch Sầm Sơn trong thời gian tới là vấn đề cấpbách nhằm đưa ngành kinh tế du lịch Sầm Sơn phát triển theo hướng chuyênnghiệp và bền vững, khắc phục những thiếu sót trong cách thức tổ chức, phục
vụ, xây dựng thương hiệu riêng cho biển Sầm Sơn Do vậy tác giả đã chọnvấn đề: “Sầm Sơn (Thanh Hóa): tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển
du lịch” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Mục đích - yêu cầu
2.1 Mục đích:
Trang 11Tỡm hiểu và đỏnh giỏ được tiềm năng du lịch của thị xó Sầm Sơn Phõntớch thực trạng phỏt triển du lịch tại Sầm Sơn: những thành quả đó đạt được vànhững mặt cũn hạn chế trong giai đoạn 2000 - 2008, so sỏnh với một số nămtrước Từ đú tiếp tục tỡm ra những giải phỏp thỳc đẩy du lịch Sầm Sơn phỏttriển nhanh chúng và mạnh mẽ hơn, xứng đỏng với tiềm năng vốn cú của thị
xó du lịch biển này
2.2.Yờu cầu:
Trờn cơ sở tập hợp đầy đủ cỏc tài liệu và số liệu cú liờn quan, sử dụng tổnghợp cỏc phương phỏp nghiờn cứu để rỳt ra cỏc kết luận khoa học cú ý nghĩa lýluận và ý nghĩa thực tiễn
Cỏc kết luận khoa học rỳt ra phải đảm bảo gúp phần giải quyết những lợiớch trước mắt và lợi ớch lõu dài, trỏnh làm xỏo trộn quỏ mức đời sống kinh tế
xó hội của địa phương, đảm bảo sự cõn bằng tự nhiờn và mụi trường sinh thỏicủa điểm du lịch này
3 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề t i ài
Nghiờn cứu về du lịch đó được cỏc nhà khoa học trờn thế giới và Việt Namngày càng quan tõm Việc nghiờn cứu thực trạng cỏc địa điểm du lịch, tuyếnđiểm du lịch, khả năng khai thỏc cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch trở thànhnhững nội dung cơ bản của ngành địa lý và ngành du lịch Trờn thế giới đó cúnhững cụng trỡnh khoa khoa học đỏnh giỏ cỏc tổng thể tự nhiờn phục vụ giảitrớ nh: L.I Mukhina (1973) đưa ra những phương phỏp, nguyờn tắc ứng dụng
để tiến hành một cụng trỡnh đỏnh giỏ tổng thể tự nhiờn cũng như cỏc thànhphần của chỳng, E.N Pertxik chỉ ra những nguyờn tắc, phương phỏp điều tra,đỏnh giỏ tài nguyờn trong quy hoạch vựng kinh tế núi chung và quy hoạchvựng du lịch núi riờng, Porojnik đó tổng quan lý luận về địa lý du lịch Một sốnhà địa lý cảnh quan của trường Đại học tổng hợp Matxcơva như E.DXmiarnova, V.B Nhefedova, L.V Xvittrenco tiến hành nghiờn cứu cỏc vựngthớch hợp cho mục đớch nghỉ duỡng trờn lónh thổ Liờn Xụ trước đõy Nhà địa
lý B.N.Likhanov, 1973 đó xỏc định tài nguyờn nghỉ ngơi giải trớ theo lónh thổ
Trang 12phục vụ khai thác cho du lịch Hai nhà kinh tế học R.Lanquar và R.Hollie đưa
ra những phương pháp marketing thu hút khách du lịch trong cuốn Marketing
du lịch (Bản dịch từ tiếng Pháp), Nxb Thế giới, năm 1992 [41, tr.20]
Ở Việt Nam, thời gian gần đây có các công trình: luận văn phó tiến sĩKhoa học kinh tế, Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội, 1993 của Doãn QuangThiện nghiên cứu về Đổi mới cơ chế quản lý kinh doanh du lịch nước ta, luận
án phó tiến sĩ khoa học kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội,
1996 của Vũ Đình Thuý nghiên cứu những điều kiện và giải pháp chủ yếu đểphát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Những đề tài
và dự án đó đã phân tích cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ du lịch, đánh giátổng hợp các dạng tài nguyên phục vụ cho mục đích du lịch, dự báo nhu cầu
du lịch, đÒ ra chiến lược phát triển du lịch, cơ chế quản lý kinh doanh dulịch
Bên cạnh đó, ở tầm vi mô, các địa phương đã có triển khai xây dựngquy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch trên cơ sở dự báo của Viện Nghiêncứu phát triển du lịch Việt Nam và căn cứ vào tình hình thực tế như:
Lạng Sơn, Hải Phòng, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá đặc biệt là phát triển
du lịch biển - một tiềm năng rất lớn nhưng chưa được khai thác đúng mức
Đối với vấn đề khai thác và phát triển du lịch Sầm Sơn cũng đã có một sốnhà nghiên cứu, nhà báo trong nước và địa phương đề cập tới, song chủ yếu mớidừng lại ở mức độ biên khảo, tuỳ bút, điểm tin, giới thiệu về phong cảnh SầmSơn với du khách Le Breton trong cuốn “Tỉnh Thanh Hoá” cũng đã nhắc tớicảnh đẹp Sầm Sơn [22, tr.16] Hoàng Tuấn Phổ trong cuốn “Thắng cảnh SầmSơn”, xuất bản năm 1983 đã đi sâu giới thiệu về những cảnh đẹp và phong tụctập quán truyền thống, những huyền thoại, sự tích của đất và người Sầm Sơn[38] Đặc biệt năm 1991, cuốn sách “Đường về Sầm Sơn” của tác giả Lữ Giang
do nhà xuất bản Văn hoá xuất bản bắt đầu chú ý tới những nét đổi mới trongviệc khai thác du lịch ở mảnh đất Sầm Sơn [18]
Trang 13Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tìm thấy thông tin về Sầm Sơn quanhững cuốn sách viết về phong cảnh xứ Thanh, sách về lễ hội, các bài báotrên tạp chí Du lịch Việt Nam (1995, 1996, 2007, 2008), báo Thanh Hoá,trang web của tỉnh Thanh Hoá và Sầm Sơn nh: Cuốn Du lịch Bắc miền Trung– Nhà xuất bản Thuận An – Nghệ An - Thanh Hoá - các tác giả: Trần QuốcChấn, Lê Văn Hà, Lê Hoà, Trần Hoàng, Trần Minh Siêu, Trần Đức Anh Sơn,Nguyễn Quang Trung Tiến, Mai Khắc Ứng, cuốn Đền Độc Cước của Kim
Lữ, cuốn Những thắng tích của xứ Thanh của Hương Nao, Nguyễn Văn Hảo– Lê Thị Vinh với cuốn Di sản văn hoá xứ Thanh – Nxb Thanh niên, 2003 Đặc biệt năm 2007 để chuẩn bị cho lễ hội 100 năm Sầm Sơn, Ban tuyên giáotỉnh uỷ Thanh Hoá đã xuất bản cuốn “Sầm Sơn xanh vẫy gọi” nêu khái quátlịch sử phát triển du lịch Sầm Sơn, những hình ảnh đẹp và những bài viết vềSầm Sơn ở các lĩnh vực thơ, văn, báo chí, âm nhạc [6]
Bên cạnh đó, việc đi sâu nghiên cứu du lịch biển nói chung, du lịch SầmSơn nói riêng, như một đối tượng khoa học trong thời gian gần đây cũng đã bắtđầu được các nhà khoa học quan tâm như: Hiện trạng, định hướng và giải phápphát triển du lịch ở điểm du lịch Sầm Sơn (Thanh Hoá) – Luận văn thạc sĩ địa lýcña Mai Duy Lục (1999), luận văn thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Thị Hồng Lâm(2005): Kinh tế du lịch ở Thanh Hoá - Thực trạng và giải pháp, luận văn thạc
sĩ Kinh tế của Vũ Đình Quế (2008): Kinh tế du lịch ở Sầm Sơn, tỉnh ThanhHoá Viện nghiên cứu phát triển du lịch (2005) đã đưa ra Dự báo xu hướngphát triển du lịch đến 2010 và quy hoạch chi tiết khu du lịch sinh thái – văn hoánúi Trường Lệ Uỷ ban nhân dân thị xã Sầm Sơn cũng đã tổ chức nghiên cứuhoạt động du lịch Sầm Sơn, nêu đề án đổi mới tổ chức và quản lý dịch vụ du lịchSầm Sơn giai đoạn 2007 – 2010, quy hoạch kinh tế – xã hội thị xã Sầm Sơn đến2015
Từ lịch sử nghiên cứu đề tài, có thể thấy Sầm Sơn đã và đang trở thànhđối tượng nghiên cứu ngày càng nhiều của các nhà khoa học địa lý, kinh tế,
du lịch, trở thành đề tài hấp dẫn trong sáng tác của giới văn nghệ sĩ Tuy vậy,
Trang 14những nghiờn cứu về Sầm Sơn mới chỉ dừng lại ở việc nghiờn cứu nhỏ lẻ,dưới hỡnh thức giới thiệu quảng bỏ du lịch, Nếu cú nghiờn cứu sõu về tiềmnăng thực trạng du lịch Sầm Sơn thỡ thời gian cũng đó cỏch đõy hàng chụcnăm hoặc chỉ nghiờn cứu ở gúc độ kinh tế Trước thực tại đú, việc cú mộtcụng trỡnh nghiờn cứu du lịch Sầm Sơn dưới gúc dộ lien ngành, nhằm chỉ rathành cụng và tồn tại, đề ra giải phỏp phỏt triển du lịch trong giai đoạn mới làhết sức cần thiết.
4 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
Bằng cỏc phương phỏp nghiờn cứu khoa học, tiến hành phõn tớch, đỏnhgiỏ về tiềm năng phỏt triển du lịch Sầm Sơn
Phõn tớch thực trạng phỏt triển du lịch thị xó Sầm Sơn (Thanh Hoỏ)giai đoạn 2000 – 2008 Trong đú làm rừ những thành tựu cũng như những mặtcũn tồn tại của sự phỏt triển du lịch Sầm Sơn, phõn tớch những nguyờn nhõndẫn tới yếu kộm của hoạt động du lịch tại đõy, dự bỏo xu thế phỏt triển du lịchSầm Sơn tầm nhỡn 2015
Đề ra giải phỏp khoa học nhằm phỏt triển du lịch Sầm Sơn trong nhữngnăm sau, hướng tới sự phỏt triển bền vững
5 Giới hạn và phạm vi nghiờn cứu
5.1 Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung nghiờn cứu tiềm năng, thực
trạng phỏt triển du lịch Sầm Sơn từ năm 2000 - 2008 và cỏc giải phỏp gúpphần thỳc đẩy phỏt triển du lịch ở Sầm Sơn theo hướng nhanh, mạnh, bềnvững
5.2 Phạm vi lónh thổ nghiờn cứu: Đề tài nghiờn cứu trong phạm vi
lónh thổ thị xó Sầm Sơn
6 Phương phỏp luận và phương phỏp nghiờn cứu
6.1 Phương phỏp luận: Nghiên cứu đề tài, chúng tôi dựa trên cơ sở
hệ thống phơng pháp luận sau:
6.1.1 Quan điểm tổng hợp:
Trang 15Do hoạt động du lịch cú liờn quan tới nhiều đối tượng như: Cỏc tàinguyờn du lịch, cỏc nhu cầu xó hội…, hỡnh thức của chỳng lại thay đổi từ nơinày đến nơi khỏc nên khụng cú quan điểm tổng hợp thỡ khụng giải thớch đượccỏc vấn đề nảy sinh.
6.1.2 Quan điểm lịch sử: Mỗi sự vật trong đời sống và trong tự nhiờn
luụn luụn vận động theo trỡnh tự thời gian Đặc điểm của đối tượng vào mộtthời điểm nào đú là kết quả của quỏ trỡnh chuyển hoỏ lõu dài, và ở một mức
độ nào đú cũng cho biết được tương lai của nú Hoạt động du lịch cũng khôngnằm ngoài quy luật vận động đó, vì vậy muốn rút ra bài học kinh nghiệm, dự
đoán đợc xu hớng phát triển, đề ra giải pháp hữu hiệu phải áp dụng quan điểmlịch sử để phân tích tình hình hoạt động du lịch trớc đó
6.1.3 Quan điểm lónh thổ: Mỗi hệ thống lónh thổ du lịch luụn luụn
gắn với một lónh thổ nhất định Hệ thống đú bao hàm những bộ phận lónh thổnhỏ hơn, cú liờn hệ mật thiết với nhau và đồng thời lại là một bộ phận của một
hệ thống lónh thổ lớn hơn Du lịch gắn với sự dịch chuyển của con ngườitrong khụng gian Mỗi điểm du lịch cú một khụng gian cụ thể, do đú quanđiểm lónh thổ trong nghiờn cứu du lịch thực sự cần thiết, khụng thể thiếuđược
6.2 Cỏc phương phỏp nghiờn cứu cụ thể:
Mỗi ngành khoa học cú thể sử dụng các phương phỏp nghiờn cứu khỏcnhau với những ưu thế và hạn chế nhất định Trong quỏ trỡnh nghiờn cứu,chỳng tụi đó sử dụng các phương phỏp nghiờn cứu khoa học cụ thể:
6.2.1 Phương phỏp tổng hợp, đối chiếu so sỏnh:
Thụng qua những số liệu, tài liệu, phương phỏp đối chiếu so sỏnh giỳpcho việc đỏnh giỏ thực trạng phỏt triển du lịch Sầm Sơn so với tỡnh hỡnh phỏttriển du lịch của cả nước Cũng bằng phương phỏp này cho phộp đỏnh giỏ đầy
đủ tiềm năng phỏt triển du lịch tại Sầm Sơn
6.2.2 Phương phỏp biểu đồ, thống kờ: Cỏc số liệu thống kờ trong
nghiờn cứu du lịch là rất phổ biến: diễn biến của khỏch du lịch hàng năm, diễn
Trang 16biến của số lượng buồng phũng…Bằng phương phỏp phõn tớch biểu đồ, phõntớch cỏc bảng thống kờ cho phộp rỳt ra nhiều kết luận quan trọng của hoạtđộng du lịch Cỏc loại biểu đồ, đồ thị là những hỡnh thức biểu hiện sự vật trựcquan sinh động.
6.2.3 Phương phỏp thực địa: Chỳng tụi tiến hành khảo sỏt, điền dó
thực tế, điều tra xó hội học (phát phiếu điều tra thái độ của 100 du khách tạiđiểm du lịch Sầm Sơn) để thu thập cỏc thụng tin cần thiết, nhằm rút ra nhữngkết luận chính xác, nõng cao ý nghĩa thực tiễn của luận ỏn
6.2.4 Phương phỏp dự bỏo: Để tỡm ra những định hướng phỏt triển
du lịch nhằm khai thỏc cú hiệu quả cỏc tiềm năng du lịch tại Sầm Sơn rất cần
cú sự dự bỏo: Dự bỏo số lượng khỏch, số giường phũng cần xõy dựng thờm,
dự bỏo số vốn cần đầu tư, dự báo về số lợng lao động trong ngành du lịch…Vỡvậy phải sự dụng nhiều phương phỏp dự bỏo khỏc nhau: phương phỏp quỏntớnh, phương phỏp kịch bản, …
6.2.5 Phương phỏp nghiên cứu liờn ngành và khu vực học
Khác với khoa học chuyên ngành lấy lĩnh vực hoạt động của con ngờilàm đối tợng nghiên cứu (ngôn ngữ, chính trị, văn học, lịch sử ) Phơng phápliên ngành lấy không gian văn hoá làm đối tợng tìm hiểu với mục đích đạt tớinhững nhận thức tổng hợp về một không gian, trong đó mối liên hệ mật thiếtgiữa các lĩnh vực hoạt động của con ngời và quan hệ tơng tác giữa con ngờivới điều kiện tự nhiên đợc nghiên cứu một cách đầy đủ áp dụng phơng phápliên ngành vào nghiên cứu du lịch Sầm Sơn có nghĩa là không đơn thuầnnghiên cứu dới góc độ của địa lý, du lịch hay kinh tế mà kết hợp nhiều ngànhkhoa học khác nhau (địa lý, du lịch, kinh tế, văn học, lịch sử ) nhằm đạt đợcnhận thức tổng hợp về điểm du lịch này, thấy đợc mối quan hệ qua lại giữacon ngời và tài nguyên du lịch, mối qua hệ giữa yếu tố tự nhiên và giá trị nhânvăn
7 Đúng gúp của luận văn
Luận văn đó phõn tớch những số liệu mới về lượng khỏch, cơ sở lưu trỳ,doanh thu du lịch ở Sầm Sơn trong giai đoạn từ 2000 – 2008, từ đú rỳt ranhững kết luận mới về thực trạng và định hướng phỏt triển trong tương lai
Trang 17Ngoài ra, luận văn cũng nêu lên biện pháp thu hút khách du lịch đếnSầm Sơn trên cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch hiện có,
đó là: bên cạnh mục tiêu lâu dài là không ngừng nâng cấp cơ sở hạ tầng, vậtchất kỹ thuật cho ngành du lịch thì biện pháp trước mắt chính là tích cựctuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân địa phương, xâydựng văn hoá du lịch và đào tạo lao động du lịch theo hướng chuyên nghiệp
Bên cạnh đó, luận văn còn nhấn mạnh tới biện pháp phát triển du lịchSầm Sơn theo hướng bền vững – nét mới mà phần lớn các công trình nghiêncứu về du lịch Sầm Sơn chưa đề cập tới Yêu cầu phát triển bền vững ở SầmSơn là xu hướng tất yếu nhằm khắc phục thực trạng ô nhiễm môi trường vànhững hiện tượng xâm phạm di tích phục vụ hoạt động du lịch ở Sầm Sơn,bảo tồn các giá trị vật chất và nhân văn tốt đẹp cho thế hệ mai sau
Là công trình nghiên cứu du lịch theo hướng liên ngành, lần đầu tiênluận văn đã kết hợp phương pháp và kiến thức của nhiều ngành khoa học: dulịch, kinh tế, địa lý, văn học, lịch sử áp dụng vào nghiên cứu du lịch SầmSơn Vì vậy, những kết luận về tiềm năng và thực trạng du lịch được nhìnnhận tổng hợp, không đơn thuần là số liệu kinh tế mà dựa trên cả cơ sở phântích những giá trị nhân văn và biến đổi xã hội, biến đổi thiên nhiên trước ảnhhưởng của hoạt động du lịch Các giải pháp mà luận văn đưa ra cũng chủ yếunhấn mạnh đến việc kết hợp giải pháp cần thiết trước mắt là xây dựng văn hóa
du lịch với giải pháp lâu dài là đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ du lịch, đào tạo du lao động du lịch có chiều sâu, phát triển du lịch theohướng bền vững
8 Bè côc cña luËn v¨n
Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn, tµi liÖu tham kh¶o vµ phô lôc, luËn v¨n
®-îc cấu trúc thµnh 3 ch¬ng như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch và phát triển du lịch bền vững.Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Sầm Sơn (2000–2008)
Trang 18Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch Sầm Sơn.
Ch¬ng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN chung vÒ DU LỊCH vµ ph¸t triÓn
du lÞch bÒn v÷ng 1.1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1.1.1.Quan điểm về du lịch
Về khái niệm du lịch, các nhà khoa học đã có nhiều định nghĩa khácnhau E.Gure Freuler người Đức (1905) cho rằng: Du lịch với ý nghĩa hiện đạicủa từ này là một hiện tượng mà thời đại chúng ta, dựa trên cơ sở tăng nhucầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi môi trường xung quanh, dựa vào sựphát sinh, phát triển các tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên [dẫn theo41,tr.2]
Tại hội nghị quốc tế về du lịch do Liên hợp quốc tổ chức tạiRôma (21/8 – 5/9/1963), các nhà khoa học đã thống nhất định nghĩa: Dulịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng mà các hoạt động kinh tế bắtnguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cá thể ở bên ngoài nơi ở thườngxuyên của họ và trong nước họ với một mục đích hoà bình, nơi họ đến lưu trúkhông phải là nơi làm việc của họ [dẫn theo 41, tr.2]
Một định nghĩa khác được phổ biến hơn là định nghĩa của I.I.Pirôginoic, 1985 như sau: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trongthời gian rỗi có liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi
cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinhthần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá và thể thao kèm theo việc sử dụngcác giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá [dẫn theo 41, tr.11] Định nghĩa nàycủa I.I Pirôginoic được các tác giả nghiên cứu sử dụng phổ biến ở Liên Xô cũ
và Đông Âu Tính chính xác và khoa học của định nghĩa này được thể hiện ở
Trang 19chỗ: nhìn nhận du lịch từ góc độ người tham gia du lịch, một yếu tố quyếtđịnh của quá trình du lịch.
Hiệp hội quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union ofOfficial Travel Oragnization: IUOTO) cho rằng: Du lịch được hiểu là hànhđộng du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên của mìnhnhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề haymột việc kiếm tiền sinh sống [dẫn theo 41, tr.2]
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du kháchthì: khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên
để thoả mãn sinh họat cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế [dẫn theo
41, tr.3]
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: du lịch là một trongnhững hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ mộtnước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc
Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm
vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợpvới các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầukhác
* Bản chất du lịch:
Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách:
Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội củaloài người đến một giai đoạn phát triển nhất định Chỉ trong hoàn cảnh kinh tếthị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng thời gian rỗi
do tiến bộ của khoa học - công nghệ, phương tiện giao thông và thông tinngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch củacon người Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn để cảm nhận những giátrị vật chất và tinh thần có tính văn hoá cao
Xét từ góc độ các quốc sách phát triển du lịch:
Trang 20Dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch để hoạch định chiến lược pháttriển du lịch, định hướng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn Lựachọn các sản phẩm du lịch độc đáo và đặc trưng từ nguồn nguyên liệu trên,đồng thời xác định phương hướng qui hoạch xây dựng cơ sở vật chất - kỹthuật và cơ sở hạ tầng dịch vụ tương ứng.
Xét từ góc độ sản phẩm du lịch: sản phẩm đặc trưng của du lịch là cácchương trình du lịch, nội dung chủ yếu của nó là sự liên kết những di tích lịch
sử, di tích văn hoá và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất
-kỹ thuật như: cơ sở lưu trú, ăn uống vận chuyển
Xét từ góc độ thị trường du lịch: Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thị
du lịch là tìm kiếm thị trường du lịch, tìm kiếm nhu cầu của du khách để “bánchương trình du lịch”
Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về du lịch nhưng điểmchung nhất là hầu hết các quan điểm đều cho rằng: du lịch là hoạt động củacon người diễn ra ngoài nơi cư trú của họ nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí,nâng cao hiểu biết mà không nhằm mục đích kinh tế
1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng “bao gồm tất cả các nguồn nguyênliệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liênquan mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển củamình” [29, tr.5]
Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn liền vớicác nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về conngười và xã hội
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung
Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch
Tài nguyên du lịch là “cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tíchcách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người cóthể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình
Trang 21thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch” [37,tr.12].
Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch.Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêuthì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu
1.1.3 Các loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch vốn rất phong phú và đa dạng, song vẫn có thể phânchia thành hai loại: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhânvăn
1.1.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm tất cả các thành phần tự nhiên, cácquá trình tự nhiên có thể phục vụ gián tiếp hoặc trực tiếp đối với sự phát triển
du lịch [16, tr.18]
Chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc giántiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch, phục vụ mục đíchphát triển du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch tự nhiên Các tài nguyên
du lịch tự nhiên luôn luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như cácđiều kiện lịch sử – văn hoá, kinh tế – xã hội và chúng thường được khai thácđồng thời với các tài nguyên du lịch nhân văn
Thuỷ văn: bề mặt nước và các bãi nông ven bờ, các điểm nước khoáng,suối nước nóng
Trang 22Sinh vật: tài nguyên sinh vật ở nước ta phục vụ mục đích du lịch được tậptrung khai thác ở: các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên và các khurừng
1.1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn lànhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sángtạo ra Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sảnphẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đềuđược coi là những sản phẩm văn hoá
Như vậy, tài nguyên du lịch nhân văn được hiểu là những tài nguyên dulịch văn hoá Tuy nhiên, không phải sản phẩm văn hóa nào cũng đều là nhữngtài nguyên du lịch nhân văn Chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục
vụ du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn Hay nói cách khác,những tài nguyên du lịch nhân văn cũng chính là những giá trị văn hoá tiêubiểu cho mỗi d©n tộc, mỗi quốc gia Thông qua những hoạt động du lịch dựatrên việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểuđược những đặc trưng cơ bản về văn hoá dân tộc, địa phương nơi mình đến
Các tài nguyên du lịch nhân văn có những đặc tính cơ bản sau:
+ Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính phổ biến
+ Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính tập trung dễ tiếp cận
+ Tài nguyên nhân văn có tính truyền đạt nhận thức nhiều hơn là hưởngthụ, giải trí
Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn: Tài nguyên du lịch nhân văn là
những sản phẩm văn hoá nên rất đa dạng và phong phú Chúng có thể phânthành những dạng chính sau:
* Các di tích lịch sử văn hoá:
Di tích lịch sử văn hoá được coi là một trong những nguồn tài nguyên
du lịch quan trọng, bao gồm: “ những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài
Trang 23liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như cógiá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trìnhphát triển văn hoá - xã hội” [16, tr.20].
Theo khái niệm trên, chỉ những di tích nào có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, nghệ thuật mới được coi là những di tích lịch sử, văn hóa Như vậymột trong những vấn đề quan trọng trong việc xác định các di tích lịch sử, vănhoá chính là việc đánh giá đúng giá trị của các di tích
- Các di sản văn hóa thế giới
Các di sản văn hoá thế giới được xác định theo 6 tiêu chuẩn:
+ Là các tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu củatài năng con người
+ Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiÕn trúc,nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định
+ Cung cấp một ví dụ tiêu biểu về một thể loại xây dựng hoặc kiến trúcphản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa
+ Cung cấp một ví dụ đặc sắc về một dạng nhà ở truyền thống nói lênđược một nền văn hoá đang có nguy cơ bị hñy hoại trước những biến độngkhông cưỡng lại được
+ Có mối quan hệ trực tiếp với những sự kiện, tín ngưỡng đáp ứngđược những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạolập cũng như về vị trí
- Các di tích lịch sử văn hoá thắng cảnh cấp quốc gia và địa phươnggồm: Các di tích khảo cổ học, các di tích lịch sử, các di tích văn hóa - nghệthuật, các danh lam thắng cảnh
* Các lễ hội:
Trong các dạng tài nguyên nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên
có giá trị phục vụ du lịch rất lớn Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóađặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc Lễ hội là một hình thứcsinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một
Trang 24dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặcliên quan đến những tín ngưỡng sinh hoạt của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần lànhững hoạt động có tính chất vui chơi giải trí Do vậy, lễ hội có tính chất caođối với du khách Bất cứ lễ hội nào cũng có hai phần chính: phần lễ và phầnhội Để tìm hiểu văn hoá Việt Nam, văn hoá làng xã cũng như văn hóa lúanước, người ta có thể tìm hiểu qua lễ hội, hoặc trực tiếp tham gia vào lễ hội.
Từ đó có thể thấy lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn rất quantrọng
* Nghề và làng nghề thủ công truyền thống
Nghề thủ công truyền thống cũng là loại tài nguyên du lịch nhân vănquan trọng và có sức hấp dẫn lớn đối với du khách Thông thường, nghề thủcông truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéoléo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm
tư tình cảm của con người Đây cũng chính là những đặc tính riêng của cácnền văn hóa và là sức hấp dẫn của các nghề và làng nghề thủ công truyềnthống
Nước ta là nước có nhiều làng nghề thủ công truyền thống, đặc biệt làcác nghề chạm khắc, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc,mây tre đan, dệt , mỗi nghề đều có lịch sử phát triển lâu đời và khá độc đáo
* Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học là những điều kiện sinh sống,những đặc điểm văn hoá, phong tục, tập quán, hoạt động sản xuất với nhữngsắc thái riêng của các dân tộc trên địa bàn cư trú của mình
Thông thường mỗi dân tộc trên thế giới có những tập tục riêng về cư trú, về
tổ chức xã hội, về sinh hoạt, trang phục và ẩm thực, ca múa nhạc Tất cả nhữngđiều đó đã làm nên nét văn hoá độc đáo, có sức thu hút khách du lịch rất lớn
Việt Nam có 54 tộc người, trong đó có tới 53 tộc người thiểu số chủ yếusinh sống và cư trú ở các vùng miền xa xôi Nhiều dân tộc còn giữ được nhữngnét sinh hoạt văn hoá truyền thống của mình như: Tày, Nùng, Dao, Mường ở
Trang 25miền Bắc, các dân tộc Chăm, Gia rai, Ê đê, Bana ở miền Trung và Tây Nguyên,dân tộc Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long đã lưu giữ được những nét truyềnthống văn hoá giá trị cao có thể khai thác phục vụ việc phát triển du lịch.
* Các đối tượng văn hoá, thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện.Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đạihọc, các thư viện lớn, các bảo tàng đều có sức thu hút đối với khách thamquan du lịch và nghiên cứu
Ngoài ra, những hoạt động mang tính sự kiện như các giải thể thao lớn,các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, các liên hoanphim quốc tế, ca nhạc quốc tế hay dân tộc học, các lễ hội điển hình cũng lànhững đối tượng hấp dẫn khách du lịch
1.2.Phát triển du lịch trong mối quan hệ bền vững với tài nguyên môi trường.
1.2.1 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững
Sự phát triển bền vững kinh tế – xã hội nói chung và của bất kỳ ngànhkinh tế nào cũng cần đạt được 3 mục tiêu cơ bản:
- Bền vững kinh tế
- Bền vững về tài nguyên và môi trường
- Bền vững về văn hoá xã hội
Đối với kinh tế, sự phát triển bền vững thể hiện ở quá trình tăng trưởngliên tục theo thời gian hoặc không có sự đi xuống xét về chỉ tiêu kinh tế
Sự phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường đòi hỏi khai thác,
sử dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu hiện tại không làm tổn hại đến khảnăng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Điều này được thể hiện ở việc
sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, đảm bảo sự đa dạng sinh học, không cónhững tác động tiêu cực đến môi trường
Đối với văn hoá xã hội thì sự phát triển bền vững cần đảm bảo đem lạilợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp
Trang 26phần nâng cao mức sống của người dân và ổn định xã hội, đồng thời bảo tồncác giá trị văn hoá.
Du lịch được coi là “ngành công nghiệp không khói” trên phạm vi toànthế giới, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, bảo tồn các giá trị vănhoá có tính toàn cầu cũng như tác động đến mọi khía cạnh về tài nguyên vàmôi trường Điều này đòi hỏi ở du lịch một sự phát triển bền vững
Vậy sự phát triển bền vững là gì?
Phát triển bền vững là một khái niệm không nằm ngoài khái niệmchung về sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội nói chung và của một ngànhkinh tế nào đó nói riêng Điều đó có nghĩa là sự phát triển du lịch bền vững “là
sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năngđáp ứng về nhu cầu du lịch của các thế hệ tương lai” [28, tr.48] Vì vậy trong quátrình phát triển phải đảm bảo được sự bền vững về kinh tế, về tài nguyên môitrường du lịch và về văn hoá xã hội
Bền vững về kinh tế trong trường hợp này là “sự phát triển ổn định lâudài” của du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào sự tăngtrưởng kinh tế của xã hội, đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là người dânđịa phương Nếu không quan tâm đến lợi ích của cộng đồng địa phương thì sẽkhông có lý do để họ bảo vệ những gì mà du khách muốn hưởng lợi từ dulịch Mức sống của người dân địa phương được cải thiện nhờ du lịch thì họ sẽ
có mọi lý do để bảo vệ nguồn thu nhập này bằng cách bảo vệ tài nguyên vàmôi trường, bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống để khách du lịch tiếp tụctới Chia sẻ lợi ích du lịch cũng là phương pháp tích cực trong công cuộc xoáđói giảm nghèo, đem lại cơ hội nâng cao mức sống cho người dân địaphương, góp phần tăng trưởng kinh tế ở những vùng còn khó khăn
Bền vững về tài nguyên và môi trường là “việc sử dụng các tài nguyênkhông vượt quá khả năng tự phục hồi của nó, sao cho đáp ứng được nhu cầuphát triển hiện tại song không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai đểđáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau” [7, tr.21]
Trang 27Sự bền vững về văn hoá là “việc khai thác đáp ứng các nhu cầu pháttriển du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoái các giá trị văn hoá truyềnthống để lại cho các thế hệ tiếp sau” [7, tr.23].
1.2.2.Các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững
1.2.2.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý
Du lịch không phải là “hàng hoá cho không” mà phải được tính vàochi phí đầu vào của sản phẩm du lịch Do đó, cần có nguồn đầu tư cần thiếtcho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên, kiểm soát và ngăn chặn sự xuống cấpcủa môi trường Muốn vậy cần:
- Ngăn chặn sự phá hoại các nguồn tài nguyên tự nhiên, các giá trị vănhoá lịch sử, truyền thống dân tộc
- Phát triển và thực thi các chính sách môi trường hợp lý trong mọi lĩnhvực của du lịch
- Đưa “ nguyên tắc phòng ngừa” vào tất cả các hoạt động và phát triểnmới
- Bảo vệ và ủng hộ việc thừa hưởng các di sản văn hoá và lịch sử củacác dân tộc, cũng như tôn trọng các quyền lợi của người dân địa phương trongviệc khai thác các tài nguyên du lịch
- Duy trì trong giới hạn “sức chứa” [7, tr.24] đã được xác định.
Để đơn giản trong việc xác định “sức chứa” của một du khách, Boullon (1985) đề xuất một công thức chung, theo đó:
Sức chứa Khu vực do du khách sử dụng
Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi cá nhân
1.2.2.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải
Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được chấtlượng chất thải từ hoạt động du lịch là một trong những nguyên nhân gây ra sự suy
=
Trang 28thoái môi trường, mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịchnói riêng và kinh tế - xã hội nói chung.
Để thực hiện tốt nguyên tắc trên đây, hoạt động du lịch cần:
Quản lý tốt để đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm nhất tài nguyên, có giảipháp nhằm giám sát và ngăn chặn tiêu thụ quá mức tài nguyên của kháchhàng
Khuyến khích việc sử dụng công nghệ mới nhằm giảm mức tiêu thụ tàinguyên và hạn chế chất thải
1.2.2.3 Phát triển gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hoá và xã hội là nhân tố đặc biệt
quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, thỏa mãn nhu cầu đa dạng củakhách du lịch, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch.Vì vậy muốnphát triển du lịch thì không thể tách rời việc bảo tồn sự đa dạng của các tàinguyên du lịch
Bảo tồn tính đa dạng của tài nguyên thiên nhiên phục vụ du lịch gồm:bảo tồn sự đa dạng của khí hậu, chủng loài động thực vật, địa hình, nguồnthực phẩm phục vụ du lịch
1.2.2.4 Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng rất cao,
vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợpvới các quy hoạch ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội nóichung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương Ngoài ra, đối với mỗi phương
án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm hạn chế cáctác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này góp phần đảm bảocho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh
tế khác cũng như với việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, gìn giữ môitrường
Trang 29Tiểu kết:
Tóm lại, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về du lịch nhưng điểmchung nhất là hầu hết các quan điểm đều cho rằng du lịch là hoạt động củacon người diễn ra ngoài nơi cư trú của họ nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí,nâng cao hiểu biết mà không nhằm mục đích kinh tế Vấn đề phát triển du lịchbền vững gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường đang trở thành vấn đề cấpbách và là xu hướng tất yếu của ngành du lịch trên toàn thế giới Trên cơ sởnhững quan điểm về du lịch, bản chất du lịch và xu thế phát triển du lịch gắnvới bảo vệ tài nguyên, môi trường, chúng ta có thể áp dụng cụ thể vào việcnghiên cứu khu du lịch Sầm Sơn
Trang 30Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở
SẦM SƠN (2000 -2008) 2.1 Quá trình phát triển du lịch Sầm Sơn
Năm 2007, Sầm Sơn có diện tích tự nhiên xấp xỉ 18km2 (1790 ha), dân
số 61.345 người Trong đó nội thị chiếm 467 ha, ngoại thị 1323 ha, ao đầmnước lợ gần 200 ha, núi Trường Lệ có diện tích khoảng 300 ha (đây là dãy núi
đá hoa cương diệp thạch hình thành cách ngày nay trên 300 triệu năm, gồm
16 ngọn, cao nhất là 84,7m, vách đứng về phía biển, núi được phủ xanh bởinhững cánh rừng thông, bạch đàn, keo lá chàm và nhiều loại cây khác Quátrình tạo sơn để lại hòn Cổ Giải, mỏm Cô Tiên, hòn Trống Mái và nhữngvườn đá đẹp huyền ảo với những truyền thuyết say đắm lòng người)
Sầm Sơn là một trung tâm du lịch của Thanh Hoá - tỉnh nằm ở vị trí địa
lý thuận lợi cho phát triển du lịch Nơi đây là cửa ngõ nối liền Bắc Bộ vớiTrung Bộ và Nam Bộ, có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi vớiđường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và đường sắt xuyên Việt, quốc lộ 10,quốc lộ 47, đường chiến lược 15A Ngoài ra, Thanh Hoá còn có 4 hệ thốngsông chính, 5 cửa lạch thông ra biển, cảng biển Nghi Sơn trong tương lai sẽtrở thành cảng nước sâu cửa ngõ của khu vực Nam Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.Giao thông giữa Sầm Sơn và các trọng điểm kinh tế, các di tích lịch sử - vănhoá của tỉnh Thanh Hoá đều rất thuận lợi và có bán kính không quá xa:
Trang 31Ảnh 1 TOÀN CẢNH SẦM SƠN (Ảnh chụp từ vệ tinh)
Nguồn: Phòng Địa chính thị xã Sầm Sơn
Trang 32Quốc lộ 47, đoạn đường từ thành phố Thanh Hoá đi Sầm Sơn dài 16km,đường được rải nhựa, rộng 12m Ngoài ra từ quốc lộ 1A có đường tỉnh lộ từnúi Chẹt về thị trấn Môi dài 14km và đi Sầm Sơn dài 7km.
Đoạn Sầm Sơn - Biện Sơn (Tĩnh Gia) dài 70 km
Sầm Sơn - Vườn quốc gia Bến En (Như Thanh): 50km
Sầm Sơn - Lam Kinh và đền thờ Lê Hoàn (Thọ Xuân): 60km
Sầm Sơn - Động Hồ Công và thành nhà Hồ (Vĩnh Lộc): 60km
Sầm Sơn - Suối cá thần Cẩm Lương (Cẩm Thuỷ): 100km
Sầm Sơn - Đền phố Cát 9 (Thạch Thành): 65km
Sầm Sơn - Đền bà Triệu (Hậu Lộc): 35 km
Sầm Sơn - Động Từ Thức (Nga Sơn): 60km…
Như vậy, chúng ta thấy rằng từ trung tâm du lịch nghỉ mát Sầm Sơn cóthể tổ chức các tour du lịch lữ hành đi về trong ngày (một điểm) hoặc vàingày (nhiều điểm) Được thiên nhiên ưu đãi, vị trí thuận lợi, lịch sử phát triểnlâu dài, lại được tỉnh Thanh Hoá dốc sức tập trung, có thể nói Sầm Sơn đangtrên đà phát triển, đóng vai trò ngày càng tích cực vào sự phát triển du lịchcủa địa phương và cả nước
2.1.2 Quá trình phát triển du lịch Sầm Sơn
2.1.2.1 Vài nét về lịch sử địa danh Sầm Sơn
Theo Địa chí Thanh Hoá, Sầm Sơn xưa có tên gọi Gầm Sơn hay Gầmthôn - là xóm cổ mà cư dân ngày xưa đã sinh sống ở dưới chân núi, cách ngàynay 2.000 - 3.000 năm Thời kỳ Bắc thuộc, dưới sự thống trị của nhà Hán,Sầm Sơn thuộc huyện Cư Phong, Thường Lạc Thời nhà Tuỳ (589 - 617),Sầm Sơn thuộc huyện Long An, Châu Ái, thời Đường (618 - khoảng 900) lạithuộc huyện Song Bình, Châu Ái [5, tr.27]
Từ năm 938, sau khi Ngô Quyền giành được độc lập, đất nước chấmdứt ách nô lệ hơn một ngàn năm Bắc thuộc và sau đó là các triều đại Đinh,Tiền Lê,
Trang 33Hình 1.2 SƠ ĐỒ DU LỊCH THANH HOÁ
Nguồn: Sở Văn hoá - thể thao - du lịch Thanh Hoá
Trang 34nhà Trần, nhà Hồ, Sầm Sơn thuộc huyện Duyên Giác - lộ Cửu Chân (sau làtrấn) Thanh Hoá.
Thời Hậu Lê (năm Quang Thuận thứ 10 – 1461), Sầm Sơn được đổithành huyện Quảng Xương Thanh Hoá
Sau năm 1954, Sầm Sơn từ một xã Quảng Tiến chia thành 4 xã: QuảngTiến, Quảng Cư, Quảng Tường, Quảng Sơn Đến năm 1958, ban quản trị thịtrấn Sầm Sơn thuộc huyện Quảng Xương được thành lập
Ngày 18 tháng 12 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) raquyết định số 157 -HĐBT thành lập thị xã Sầm Sơn gồm: thị trấn Sầm Sơn(cũ), các xã: Quảng Tiến, Quảng Tường, Quảng Cư và xóm Vinh thuộcQuảng Vinh - Quảng Xương Năm 1995, đổi xã Quảng Tường thành phườngTrung Sơn
Hiện nay, thị xã Sầm Sơn gồm 5 đơn vị hành chính: 3 phường (TrungSơn, Bắc Sơn, Trường Sơn) và 2 xã (Quảng Tiến, Quảng Cư)
Dân số của Sầm Sơn khoảng 61.345 người (2007), gần 51,6% là nữ,29.000 lao động, 15.000 học sinh từ mầm non đến THPH
2.1.2.2 Quá trình phát triển du lịch Sầm Sơn
Thời kỳ 1907 - 1954 (thời kỳ Pháp thuộc và thời kỳ kháng chiến chống Pháp).
Ngày 13 tháng 8 năm 1904: toàn quyền Đông Dương Moulef đã cóquyết định nhượng không cho sở thuế các lô đất nằm trên Sôuthou (Sầm thôn)
và Lương Niệm một số lô đất như sau: số diện tích 2.384m2, số 47, diện tích2.4772m2, số 83, diện tích 2.886m2, số 84, diện tích 4.578m2…Trên những lôđất này sẽ xây dựng các trạm y tế và trung tâm phục hồi sức khoẻ
Năm 1906, toàn quyền Đông Dương lại ký sắc lệnh cho làm con đườngtỉnh lộ 8 (nay là quốc lộ 47) từ thị xã Thanh Hoá (nay là thành phố ThanhHoá) đi Sầm Sơn dài 16 km
Cũng trong năm đó, toàn quyền Đông Dương đã ký sắc lệnh chi 50đồng Đông Dương để thành lập Sở Bưu điện Sầm Sơn
Trang 35Một năm sau, vào năm 1907 - người Pháp và triều đình nhà Nguyễnquyết định cho xây dựng nhiều biệt thự trên núi Trường Lệ để làm nơi andưỡng của quan lại bộ máy thống trị người Pháp và triều Nguyễn
Sau Cách mạng tháng 8/1945 và bước vào cuộc kháng chiến trường kỳchống thực dân Pháp xâm lược, quân dân Sầm Sơn đã thực hiện chủ trương
“Tiêu thổ kháng chiến”, “Vườn không nhà trống” của Đảng và Chính phủ, vìvậy những dinh thự xưa chỉ còn lại dấu tích
Thời kỳ 1955 - 1980
Cùng với việc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triểnkinh tế - xã hội, tổ chức Đảng và nhân dân Sầm Sơn chuẩn bị các điều kiện đểkhôi phục công tác và đón tiếp cán bộ, chiến sỹ, đồng bào miền Nam tập kết
ra Bắc theo quy định của Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam Tất cả 7 đợt từngày 15 tháng 10 năm 1954 đến ngày 1.5.1955 đã đón 1.869 thương bệnhbinh, 47.346 cán bộ, chiến sỹ, 5.922 học sinh và 1.443 gia đình cán bộ
Từ năm 1957 đến năm 1962, cùng với kế hoạch khôi phục và pháttriển kinh tế nói chung, các tổ chức Đảng, chính quyền các xã thuộc khu vựcSầm Sơn, đặc biệt là Quảng Sơn dưới sự chỉ đạo của huyện Quảng Xương vàtỉnh đã quan tâm tới việc xây dựng và thực hiện công tác phục vụ du lịch Một
số nhà nghỉ ra đời như: Khách sạn Giao Tế, khách sạn Sầm Sơn (Bộ Nộithương), nhà nghỉ Tổng Công đoàn… Trong thời gian này, lượng khách đếnSầm Sơn và tắm biển ngày càng đông Năm 1957 có 600 lượt khách, năm1959: 6000 lượt khách, năm 1960: 11.474 lượt khách, năm 1961: 27.170 vànăm 1962: 42.000 lượt khách
Đặc biệt vào tháng 7.1960, chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nghỉ dưỡng tạiSầm Sơn Người nghỉ đêm tại đền Cô Tiên, đi thăm hỏi nhân dân và cùng thamgia kéo lưới với ngư dân Sầm Sơn Trong buổi nói chuyện với cán bộ nhân dânSầm Sơn, người căn dặn: “Sầm Sơn cần phát triển du lịch để mà thu lấy tiền” [4,tr.30]
Trang 36Từ năm 1962 - 1980, với lợi thế là vùng biển đẹp nổi tiếng của cả nướcvới phong cảnh sơn thuỷ hữu tình và thực hiện lời căn dặn của chủ tịch HồChí Minh, Đảng bộ, nhân dân Sầm Sơn bắt tay vào xây dựng khu du lịch nghỉmát, tắm biển
Thị trấn Sầm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá được thành lập theo quyết định
số 50/CP ngày 19 tháng 8 năm 1963, với chức năng, nhiệm vụ phát triển dulịch, nghỉ dưỡng, tắm biển Nhưng từ năm 1964 đến năm 1975, do giặc Mỹtiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam hòng ngăn chặn sự chiviện cho chiến trường miền Nam nên việc phát triển du lịch, dịch vụ khôngthể tiếp tục thực hiện Trong thời gian này, thị trấn Sầm Sơn lại được giaonhiệm vụ tổ chức đón tiếp và điều dưỡng hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ cáchmạng trở về từ các nhà tù của Mỹ - ngụy để an dưỡng, điều trị, phục hồi sứckhoẻ
Thời kỳ 1981 - 2006
* Từ năm 1981 -1989:
Giai đoạn này, hình thức chủ yếu vẫn là du lịch nghỉ dưỡng của các tổchức công đoàn là chính, tuy nhiên năng lực đón khách đến với Sầm Sơn tăngkhá, năm sau cao hơn năm trước
* Từ năm 1990 - 2006:
Năm 1989, với sự đột phá mới của Đảng bộ tỉnh, thị xã Sầm Sơn bướcvào một thời kỳ mới với chủ trương Sầm Sơn “Sức khoẻ - Kinh tế - Bạn bè”.Kinh tế du lịch, dịch vụ nói chung, hoạt động du lịch nói riêng có bước pháttriển “bứt phá” cả về kết cấu hạ tầng (đường, điện, hệ thống cấp nước, mạnglưới bưu chính – viễn thông, cơ sở lưu trú…), cả về chất lượng và lượt kháchđến với Sầm Sơn
Tính chung trong 17 năm từ 1989 đến 2006, tốc độ tăng trưởng du lịchSầm Sơn là 16% năm, năm cao nhất lên tới 26% và kinh tế dịch vụ, du lịch,thương mại thực sự trở thành ngành kinh tế trọng điểm của thị xã, chiếm 68%GDP (riêng du lịch chiếm 40%) (2006)
Trang 37Năm 2007, được sự đồng ý của Tổng cục du lịch, Đảng bộ và nhân dântỉnh Thanh Hoá tổ chức long trọng: Lễ hội 100 năm Du lịch Sầm Sơn (1907 –2007) Lễ hội đánh dấu một chặng đường cam go của quá trình hình thành vàphát triển du lịch Sầm Sơn, đồng thời mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ vẫntiếp tục thực hiện chủ trương: “Sức khoẻ - Kinh tế - Bạn bè” nhưng vớiphương châm: “Đổi mới toàn diện hoạt động du lịch Sầm Sơn theo nghị quyếtĐại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2006 - 2010)” [6, tr.40], cũng
là thực hiện chương trình kinh tế thứ 4 của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV:Phát triển dịch vụ, du lịch Thanh Hoá đến năm 2010 và định hướng đến năm2020
2.2 TiÒm n¨ng du lÞch sÇm s¬n
2.2.1.Vị trí du lịch
Sầm Sơn là điểm du lịch có vai trò bậc nhất của tỉnh Thanh Hoá và làmột trong những trung tâm kinh tế của địa phương Đồng thời, đây cũng làđiểm du lịch quan trọng của vùng du lịch Bắc Bộ
Thanh Hoá nằm ở vị trí trung chuyển từ Bắc vào Nam, nên sự pháttriển du lịch của tỉnh có quan hệ mật thiết với sự phát triển du lịch của các địaphương lân cận và cả nước Giáp Thanh Hoá về phía Bắc là Ninh Bình - mộttỉnh rất giàu tiềm năng với nhiều điểm du lịch quan trọng như: Tam Cốc –Bích Động, nhà thờ đá Phát Diệm, cố đô Hoa Lư, vườn Quốc gia CúcPhương Ở phía Nam, Nghệ An có bãi biển Cửa Lò và khu di tích Kim Liên -Nam Đàn…Đặc biệt trong những năm gần đây, các tuyến du lịch liên vùngđang có xu hướng gia tăng, tạo nên những điều kiện phát triển cho du lịchThanh Hoá, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với sự pháttriển du lịch tại địa phương, trong đó có Sầm Sơn
Trang 38Hình 2.2: Sơ đồ thị xã Sầm Sơn
Nguồn: Phòng Địa chính thị xã Sầm Sơn.
Trang 39Các tuyến đường xuyên Á có lối thông sang nước Cộng hoà dân chủnhân dân Lào qua địa phận Thanh Hoá đang làm xuất hiện các tuyến du lịchquốc tế theo hướng Đông - Tây Như vậy, với vị trí địa lý thuận lợi trên, SầmSơn đang đứng trước những cơ hội và thách thức:
Cơ hội chính là vị trí quan trọng của Sầm Sơn ngày càng được phát huybởi kinh nghiệm phát triển du lịch lâu dài và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuậtđáng kể Du khách đã biết đến nhiều thắng cảnh nổi tiếng như: bãi biển SầmSơn, núi Trường Lệ, đền Độc Cước, hòn Trống Mái
Thách thức đầy gay gắt là sự cạnh tranh du lịch của các điểm du lịchmới của địa phương và của du lịch vùng Bắc Bộ Các điểm du lịch mớithường có sức lôi cuốn khách mạnh mẽ hơn
Trong bối cảnh chung, nhu cầu du lịch đang tăng, đời sống kinh tế xãhội của địa phương và cả nước đang phát triển theo hướng tích cực thì sựthành công trong phát triển du lịch Sầm Sơn phụ thuộc vào sự đổi mới nhữngsản phẩm du lịch, phụ thuộc vào việc tăng cường cơ sở vật chất phục vụ dulịch, khai thác đầy đủ các tài nguyên du lịch tại Sầm Sơn
2.2.2 Tài nguyên du lịch ở Sầm Sơn
2.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
a.Khí hậu
Khí hậu là yếu tố chi phối mạnh mẽ nhịp điệu trong năm Qua nghiêncứu các chỉ số khí hậu của các nhà khoa học trong nước và tổ chức du lịch thếgiới (OTM) đã đưa ra thì mức thích ứng của con người đối với khí hậu quanhiệt độ không khí và độ ẩm tương đối ở Sầm Sơn là 210 ngày/năm [61,tr.4].Đây cũng là chỉ số đạt vào loại cao ở nước ta
Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn Thanh Hoá [61, tr.4], số ngàykhông thuận lợi cho hoạt động du lịch ở Sầm Sơn trong một năm là:
Gió lốc xoáy: 11 ngày
Trang 40Ngày lạnh có nhiệt độ không khí dưới 150C: 5 ngày
Ngày bị ảnh hưởng của bão: 20 ngày
Số ngày mưa: Từ 45 ngày trở lên
Số ngày bị sương mù, sương muối: 56 ngày
Chế độ gió: Sầm Sơn là cửa ngõ đón các gió từ biển Đông thổi vào, tốc
độ gió khá mạnh, gió chủ đạo vẫn là gió Đông Nam, tốc độ trung bình 1,8m/s.Gió thổi theo 2 mùa rõ rệt, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 có gió Đông Nam– nồm Nam, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 có gió mùa Đông Bắc
Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình đạt từ 1700 đến 1800mm vớikhoảng từ 45 đến 130 ngày mưa trong năm Mưa lớn vào khoảng tháng 8, 9,10
Nắng: Hàng năm có khoảng 1700 giờ nắng, trong đó tháng 7 có nắngnhiều nhất, tháng 2 là tháng ít nắng nhất
Độ ẩm của không khí: thường xuyên đạt 85% chỉ có thời gian ngắn nhưđầu mùa hè do ảnh hưởng của gió Lào nên thời tiết hanh khô, oi bức, đầu mùađông (Tháng 11, 12) có những đợt gió lạnh độ ẩm giảm xuống (có ngày thấp
<50%)
Bão: bão ở Sầm Sơn khá mạnh, tốc độ gió đạt tới 38 - 40m/s (tươngđương cấp 13) Bão trực tiếp đổ bộ vào Sầm Sơn chủ yếu là từ tháng 6 đến hếttháng 9 (tháng 9 là tháng nhiều bão nhất)