1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bàn về kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay

28 765 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay
Tác giả Ngô Thị Phượng Liên
Người hướng dẫn TS. Chu Thành
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Đề án môn học
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 251 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bàn về kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦUĐối tượng của kế toán là tài sản và sự vận động của tài sản Ở mức độ kháiquát nhất thì đó là tài sản lưu động, tài sản cố định Ở mức độ chi tiết hơn thì đó làcác loại tài sản: tiền, nợ phải thu, các khoản đầu tư, hàng tồn kho, tài sản cố định,v.v… Ở mức độ chi tiết hơn nữa là: tiền gì? ở đâu? nợ phải thu ở đối tượng nào?trong hạn thanh toán hay quá hạn? khoản đầu tư vào đối tượng nào? hiệu quả đầu tư

ra sao? cụ thể từng thứ hàng tồn kho ở mức độ nào, chất lượng như thế nào? phùhợp vơi mục đích kinh doanh hay không? v.v… Cứ như vậy, tuỳ thuộc vào yêu cầuquản lý cụ thể mà chi tiết hơn nữa các đối tượng kế toán, nhằm cung cấp các thôngtin phục vụ cho hoạt động quản lý và điều hành tổ chức

Với các yêu cầu của kế toán: phản ánh chính xác, phản ánh trung thực, phảnánh kịp thời và các yêu cầu cụ thể khác Những yêu cầu này lại chính là do nhu cầu

sử dụng thông tin đặt ra Xét theo đối tượng sử dụng thông tin thì nhu cầu sử dụngthông tin gồm: Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng bên ngoài doanhnghiệp và các đối tượng bên trong doanh nghiệp Mục dích sử dụng thông tin củacác đối tượng này có khác nhau, nên nhu cầu thông tin của các đối tượng này cũngkhác nhau Các đối tượng bên ngoài sử dụng các thông tin để phục vụ cho việc racác quyết định liên quan đến mối quan hệ kinh tế, giữa doanh nghiệp và các đốitượng này hoặc là phục vụ cho mục tiêu quản lý kinh tế của Nhà nước Các đốitượng bên trong doanh nghiệp thì sử dụng các thông tin này phục vụ cho hoạt độngquản lý và điều hành doanh nghiệp Nhu cầu thông tin khác nhau sẽ quy định nhữngnội dung thông tin khác nhau Những nội dung thông tin có thể được cung cấp bởinhững kênh thông tin khác nhau Nhưng nếu những thông tin được cung cấp từ mộtkênh thì phải có tính thống nhất, tính hệ thống nghĩa là đối chiếu được và cần thiếtphải đối chiếu, nhằm tăng cường tính chính xác, tính trung thực của thông tin

Kênh thông tin kế toán cung cấp những thông tin về tình hình kinh tế tàichính của doanh nghiệp cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, thìcác thông tin này phải có chung điểm xuất phát là hệ thống chứng từ ban đầu.Nhưng có sự khác nhau về xử lý thông tin thu thập được từ chứng từ ban đầu để cho

Trang 2

ra các thông tin với nội dung phù hợp nhu cầu thông tin Điều này có nghĩa làphương pháp sử dụng trước hết là phương pháp kế toán, sau đó là kết hợp cácphương pháp khác để có thể xử lý thông tin, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cụthể khác nhau Ví dụ:

- Cái gì làm cho tỷ lệ hàng bán bị trả lại cao?

- Cái gì gây ra vấn đề chất lượng sản phẩm không tốt?

- Những thông tin về giao hàng kịp thời ở đâu?

- Hồ sơ nào sẽ ghi nhận các đối thủ cạnh tranh?

- Cách phân khúc thị trường và các khách hàng tiềm năng nhất là gì?

- Loại cassette nào đưa đến lợi tức cao nhất?

- Chi phí cho việc giới thiệu sản phẩm mới sẽ là bao nhiêu ?”

Từ những phân tích trên em đã mạn dạn lựa chọn đề tài “Bàn về Kế toán quản trị trong các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay”, cùng với sự hướng dẫn

của thầy giáo Chu Thành, em hi vọng có thể trau dồi kiến thức về vấn đề tầm quantrọng của Kế toán quản trị trong doanh nghiệp, từ đó đưa ra một số nhận xét vàphương hướng cho các doanh nghiệp trong bước đường hội nhập với thế giới

Sinh viên thực hiện Ngô Thị Phượng Liên

Trang 3

I- Những vấn đề trong kế toán quản trị

1 Các khía cạnh trong kế toán quản trị

Hệ thống kế toán quản trị giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêuchiến lược của tổ chức, nó bao gồm việc cung cấp thông tin để hỗ trợ cho việc sảnxuất các sản phẩm với chi phí thấp, chất lượng được giữ vững, giao hàng đúng hạn

và khuyến khích việc sáng kiến,

Hệ thống kế toán quản trị hướng vào quy trình sản xuất chủ yếu là hướng vàoviệc đo lường tính toán kết quả của quy trình sản xuất, theo từng bộ phận tham giatrong quy trình nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng

Với hệ thống kế toán hướng vào quy trình sản xuất sẽ giúp nhà quản trịdoanh nghiệp trên các khía cạnh sau:

- Thứ nhất là hiểu được mối quan hệ nhân quả Ví dụ, cái gì làm phát sinh chiphí; tại sao các hoạt động này không sinh lợi

- Thứ hai là nhận diện những hoạt động không làm tăng thêm giá trị ví dụnhư nhận diện những công việc thừa hay những hoạt động không đáp ứng yêu cầucủa khách hàng từ đó có thể tổ chức lại quá trình sản xuất cho hợp lý

- Thứ ba là hiểu được mối quan hệ giữa các sự kiện trong chuỗi các sự kiện,

ví dụ thông tin kế toán quản trị có thể chỉ ra ảnh hưởng của nhà cung cấp hay nhàphân phối đến giá trị sản phẩm hay dịch vụ mà khách hàng phải trả

- Thứ tư là tách biệt các tác động bên trong và bên ngoài tổ chức, ví dụ kếtoán quản trị có thể chỉ ra bộ phận nào của quá trình sản xuất cản trở khả năng sảnxuất và đưa đến sự bất mãn cho khách hàng

Hệ thống kế toán quản trị còn có tác động đến hành vi của các cá nhân trong

tổ chức là do cách thức đo lường của kế toán quản trị có thể làm ảnh hưởng đếncách cư xử của con người trong tổ chức, biểu hiện ở chỗ:

- Làm thay đổi nhận thức: Cái mà được đo lường, tính toán, thường được nổibật và người ta thấy rõ vật đó hơn Vì vậy thông thường các quyết định sẽ được đưa

ra sau khi đã có sự đo lường tính toán cụ thể Ví dụ như các tính toán về chi phí cho

Trang 4

việc bảo vệ môi trường sẽ làm cho nhà quản trị nghiêng về phía quyết định muathiết bị không thải khí hại môi trường dù giá cả có đắt hơn

- Khuyến khích các hành vi đúng đắn: Khi một khoản được tính toán thì đó làdấu hiệu của mong muốn thay đổi thái độ và hành vi, ví dụ khi tính toán tỷ lệ việcgiao hàng đúng hạn là dấu hiệu của sự mong muốn giao hàng đúng hạn nhiều hơn

và sau khi tính toán được tỷ lệ này sẽ dẫn đến hành vi lựa chọn nhà cung cấp có uytín về thời hạn giao hàng

- Thay đổi thái độ và sự mong đợi: Việc tính toán là cơ sở cho sự đánh giá cókhuynh hướng làm thay đổi thái độ và sự kỳ vọng của mỗi cá nhân Ví dụ thiết lậpđịnh mức thời gian cho một công việc, chính là thiết lập mục tiêu cho sự kỳ vọngđạt được mục tiêu thời gian Khi đạt được định mức, người ta sẽ nhớ lại những cốgắng những kỳ vọng đã qua và lại cố gắng để đạt thành tích cao hơn, nhưng nếu nhưkhông đạt định mức thì thành tích có thể thấp hơn trong kỳ tới

- Thay đổi quan điểm: Người ta thường có khuynh hướng giải thích nguyênnhân của sự thành công gắn với quyết định và hành động của họ, nhưng lại giảithích nguyên nhân của sự thất bại lại gắn với các yếu tố khách quan nằm ngoài sựkiểm soát của họ Do vậy mà người ta có thể thay đổi quan điểm bởi sự tính toáncủa kế toán quản trị và dẫn đến sự thay đổi về hành vi

Tất cả những biểu hiện trên cho thấy: Các tính toán của kế toán quản trị đãtạo ra các biến số tác động về tâm lý – xã hội và kết quả của nó là làm thay đổi hành

vi của con người trong tổ chức Những hành vi của cá nhân trong tổ chức sẽ tạo ragiá trị văn hóa của một tổ chức Giá trị văn hóa của tổ chức bao gồm : Lòng tin vàgiá trị đạo đức, quan điểm phân phối lợi ích kinh tế, và biểu tượng của tổ chức Đâychính là những biến số văn hoá bị tác động bởi việc tính toán của kế toán quản trị

Như vậy một hệ thống kế toán quản trị tốt giúp cho việc ra các quyết định,giúp hiểu biết quá trình sản xuất kinh doanh, khuyến khích các hành vi thích hợp,phản ánh giá trị đạo đức và lòng tin Và tất cả những cái đó nhằm đạt mục tiêu chiếnlược: Chất lượng, thời gian và giá cả Điều này cũng có nghĩa là kế toán quản trị tự

Trang 5

nó không phải là điểm kết thúc, nó là công cụ quan trọng để đạt mục tiêu chiến lượccho tổ chức

Và từ đó có thể hiểu về Kế toán quản trị như sau:

- Về bản chất: Kế toán quản trị là một quá trình đo lường thông tin trong quátrình sản xuất

- Về phạm vi: Kế toán quản trị gồm các thông tin tài chính như giá phí, thôngtin tác nghiệp như tỷ lệ sản phẩm hỏng v.v…

- Về mục đích: Kế toán quản trị giúp cho tổ chức đạt mục tiêu chiến lượcnhưng đó không phải là mục tiêu lập báo cáo tài chính hay báo cáo thuế

- Về thuộc tính: Kế toán quản trị gồm ba thuộc tính: Kỹ thuật, hành vi ứng xử

và văn hóa

Hệ thống kế toán là một cơ chế chính thức có chức năng thu thập, tổ chức vàchuyển giao thông tin về các hoạt động của doanh nghiệp Hệ thống kế toán tàichính với với chức năng công khai thông tin được chuẩn hoá bởi quy định của nhànước Ngược lại, hệ thống kế toán quản trị nội bộ không bị kiểm soát mà phụ thuộcvào nhu cầu của ban quản trị

Những người sử dụng thông tin kế toán bao gồm:

- Các đối tác bên ngoài như nhà đầu tư hay chính phủ cần thông tin kế toántài chính để ra các quyết định đối với công ty

- Những người điều hành công ty chịu trách nhiệm lập kế hoạch ngắn hạn vàkiểm soát các hoạt động thường nhật và những người đứng đầu công ty chịu tráchnhiệm quyết định các chính sách, chiến lược dài hạn hoặc không mang tính thườngnhật như: đầu tư thiết bị, định giá sản phẩm và dịch vụ, lựa chọn sản phẩm cần chútrọng của công ty Thông tin họ cần là kế toán quản trị

Như vậy, có thể định nghĩa "kế toán quản trị" là quá trình xác định, đo lường, tổng hợp, phân tích, chuẩn bị, giải thích và chuyển giao thông tin giúp cho những người điều hành kinh doanh đạt được mục tiêu của doanh nghiệp

Kế toán quản trị đi sâu phân tích các luồng thông tin kế toán trong chuỗi giátrị của tổ chức kinh doanh Chuỗi giá trị được hiểu là chuỗi các hoạt động sản xuất

Trang 6

kinh doanh tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp Cáchoạt động này có thể bao gồm:

- Nghiên cứu & phát triển

2 Sự khác biệt giữa Kế toán quản trị và Kế toán tài chính

Do đặc thù của KTQT là cung cấp thông tin cho nhà quản trị để ra quyết địnhquản lý kịp thời, nên việc phân loại chi phí trong KTQT khác với KTTC

Trong KTTC, chi phí thường được phân loại theo đối tượng chịu chi phí hoặctheo chức năng của chi phí

Trong KTQT thường phân loại chi phí theo mục đích sử dụng thông tin củanhà quản trị, tức là tách riêng các chi phí mà chúng sẽ biến động ở mức hoạt độngkhác nhau hoặc sắp xếp theo nhu cầu của một số nhà quản trị cá biệt có trách nhiệm

về chi phí đó và có thể kiểm soát chúng

Cách phân loại chi phí chủ yếu sử dụng trong KTQT là phân loại chi phítrong mối quan hệ với khối lượng hoạt động (số lượng sản phẩm hoàn thành, số giờmáy hoạt động ) Theo cách phân loại này, các chi phí được phân thành chi phíbiến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp, khái quát qua bảng 1.2

Trang 7

- Chi phí biến đổi (biến phí) là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sựthay đổi của mức độ hoạt động Có loại CPBĐ tỷ lệ thuận trực tiếp với biến độngcủa mức hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp nhưng có CPBĐ chỉ thay đổi khi mức hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng như chiphí lao động gián tiếp, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị

- Chi phí cố định (định phí) là những khoản chi phí mà tổng số không thayđổi khi có sự thay đổi mức độ hoạt động, nhưng chi phí trung bình của một đơn vịhoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động Chi phí

cố định không thay đổi về tổng số trong phạm vi phù hợp của mức độ hoạt động (ví

dụ như chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ không thay đổi trong phạm vikhối lượng sản xuất từ 0 đến 2.000 tấn) nhưng nếu mức độ hoạt động tăng vượt quáphạm vi phù hợp đó thì chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ tăng vì phảiđầu tư thêm máy móc thiết bị sản xuất

- Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của CPCĐ

và CPBĐ (như chi phí điện thoại, Fax, chi phí thuê phương tiện vận chuyển vừatính giá thuê cố định, vừa tính giá thuê theo quãng đường vận chuyển thực tế )

KTTC không phân chia chi phí theo tiêu thức này nhưng nó lại rất cần thiếtcho KTQT, giúp nhà quản trị có cách nhìn nhận chi phí, sản lượng và lợi nhuận để

có quyết định quản lý phù hợp về số lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, về giábán sản phẩm trong từng giai đoạn cụ thể về việc nhận đơn đặt hàng mới với giáthấp hơn giá đang bán

Trang 8

Bảng 1.2: Khái quát phân loại theo cách ứng xử của chi phí

Khoản mục chi phí TK Biếnphí Địnhphí hỗn hợpChi phí Ghichú

2 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 621 x - -

- Phần vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ được coi là định phí

Trang 9

(2) Chi phí dụng cụ sản xuất: Được coi là chi phí hỗn hợp, nó là chi phí vềcông cụ, dụng cụ dùng để sản xuất tạo ra sản phẩm.

Là biến phí: Nếu một khuôn mẫu đúc sử dụng có định lượng số sản phẩm sảnxuất, vượt quá số sản phẩm này phải thay khuôn

Là định phí: Nếu căn cứ vào thời gian sử dụng một mẫu, khuôn để thay màkhông quan tâm đến lượng sản phẩm sản xuất của một khuôn mẫu

(3) Chi phí dịch vụ thuê ngoài: Loại chi phí này bao gồm nhiều nội dung tuỳtheo phương thức trong hợp đồng thuê, có thể là định phí, hay chi phí hỗn hợp

(4) Chi phí vật liệu bao bì của chi phí bán hàng: Là chi phí hỗn hợp

Là biến phí: thay đổi theo lượng hàng hoá tiêu thụ như: vật liệu dùng cho bảođảm, hoặc dùng cho sửa chữa TSCĐ ở khâu bán hàng…

(5) Thuế và lệ phí của chi phí quản lý: Gồm nhiều loại thuế và lệ phí khácnhau

Là biến phí: Gồm các lệ phí và thuế tính theo kết quả kinh doanh

Là định phí: Gồm thuế môn bài, thuế vốn, thuế nhà đất

Cả hai hệ thống kế toán đều có chức năng cung cấp thông tin cho nhà quản trịnhằm mục đích điều hành doanh nghiệp Tuy nhiên, KTQT có một số khác biệt sovới KTTC thông thường:

- Kế toán quản trị không bắt buộc phải thực hiện trong doanh nghiệp Tuỳtheo nhu cầu thực tế, doanh nghiệp có thể duy trì hoặc không duy trì hệ thống báocáo này Kế toán quản trị hiện chỉ sử dụng trong các tập đoàn và các công ty có qui

mô vừa trở lên

- Mục tiêu của báo cáo nhằm cung cấp thêm các thông tin chi tiết về một hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Báo cáo của kế toán quản trị chỉ sử dụng trong phạm vi doanh nghiệp,không công bố ra ngoài

- Kỳ lập báo cáo kế toán quản trị có thể không cố định

Trong KTTC thì giá phí lịch sử được sử dụng để phản ánh, tập hợp chi phísản xuất phát sinh liên quan đến sản phẩm sản xuất trong kỳ, còn trong kế toán

Trang 10

quản trị, tùy theo mục tiêu, yêu cầu và khả năng quản lý mà việc phản ánh, tập hợpchi phí sản xuất của sản phẩm sản xuất trong kỳ có thể lựa chọn một trong 3 cáchsau: sử dụng giá phí lịch sử, sử dụng kết hợp giá phí lịch sử với giá phí dự toán, sửdụng giá phí tiêu chuẩn Tuy nhiên, việc sử dụng giá phí tiêu chuẩn sẽ đáp ứng tốtmục tiêu kiểm soát chi phí để hạ giá thành sản phẩm

Ngoài ra, nội dung chi phí sản xuất trong KTTC và KTQT cũng có nhữngđiểm khác biệt cần được phân định để tránh sự đồng nhất về giá thành sản phẩm

Có thể mô tả sự giao thoa về chi phí sản xuất của kế toán tài chính và kế toán quảntrị qua sơ đồ Chi phí sản xuất

Xuất phát từ những khác biệt này cũng như sự khác biệt về mục tiêu cungcấp thông tin của KTTC và KTQT nên cần phải xác lập quy trình kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm để phù hợp với vai trò, mục tiêu trong việccung cấp thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho các đối tượng sửdụng khác nhau, đặc biệt là cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp

- Đối với KTTC: Kế toán tài chính xử lý những số liệu lịch sử, cung cấpthông tin quá khứ thông qua việc phản ánh từ các chứng từ vào tài khoản, sử dụngcác yếu tố chi phí ban đầu để xác lập các chỉ tiêu kinh tế mang tính pháp lý, do đó,

kế toán tài chính sẽ cung cấp thông tin chi phí theo yếu tố và nhận định tính hợp lýcủa các chi phí này (thông tin đầu vào) Mặt khác, KTTC phải cung cấp công khaicác chỉ tiêu kinh tế tài chính, cụ thể:

+ Giá thành thực tế

+ Chi phí sản xuất dở dang thực tế

Nhằm phục vụ cho việc xác định kết quả hoạt động kinh doanh và lập báocáo tài chính (Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theomột trong hai phương pháp: phương pháp lập theo chức năng và phương pháp theoyếu tố chi phí)

- Đối với KTQT: Sử dụng cả số liệu lịch sử và số liệu ước tính nhằm cungcấp các thông tin hướng về tương lai nên sẽ cung cấp thông tin chi phí theo khoảnmục, phân tích chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức để đánh giá

Trang 11

trách nhiệm, ngoài ra còn đảm bảo yêu cầu cung cấp thông tin nhanh trong kỳ Do

đó, cần phải:

+ Xây dựng hệ thống định mức chi phí khoa học

+ Quy định cụ thể việc phân loại chi phí

+ Hoàn thiện các kỹ thuật tính giá thành ước tính và đánh giá sản phẩm dởdang

+ Xây dựng các giải pháp xử lý chênh lệch cuối kỳ

Việc xác định rõ vai trò, mục tiêu, nội dung và phương pháp của KTTC vàKTQT trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không chỉ đáp ứngthông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng khác nhau đặc biệt là cho các nhà quảntrị doanh nghiệp để hoạch định, kiểm soát quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh, mà còn có tác dụng quan trọng cho việc giảng dạy kế toántrong nhà trường khi giải quyết mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quảntrị trong vấn đề kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong điều kiện hệ thống

kế toán doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chưa có sự phân định rõ ràng giữa kếtoán tài chính và kế toán quản trị

II Kế toán quản trị trong doanh nghiệp Việt nam hiện nay

1 Mục đích

Tại nhiều quốc gia, áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp không hềmới, nhưng tại Việt Nam, kế toán quản trị chỉ thực sự được tìm hiểu vào đầu nhữngnăm 90 và được nghiên cứu có hệ thống từ năm 1999 Khảo sát tại các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh cho thấy, đến nay kế toán quản trị chỉ tồn tại dưới hai

mô hình

Với những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có hệ thống quản lý chủ yếu

dựa trên nền tảng chuyên môn hoá từng bộ phận hoạt động sản xuất kinh doanh,

từng hoạt động quản lý, thì nội dung kế toán quản trị được xây dựng theo hướngcung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế tài chính theo từng bộ phậnchuyên môn hoá để phục vụ cho việc hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và raquyết định của nhà quản lý ở từng cấp quản trị

Trang 12

Với những doanh nghiệp có hệ thống quản lý chủ yếu dự trên nền tảng từng

quá trình hoạt động (được hiểu là bao gồm tất cả các công đoạn, bộ phận như

nghiên cứu và phát triển sản phẩm, sản xuất, dịch vụ, thiết kế, tiến trình sản xuất,sản phẩm, marketing, phân phối, dịch vụ sau phân phối hoặc bao gồm một nhómcông đoạn, bộ phận gắn kết nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh), thì nội dung

kế toán quản trị được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tìnhhình kinh tế tài chính theo từng quá trình hoạt động để phục vụ cho việc hoạch định,

tổ chức, phối hợp thực hiên, đánh giá hiệu quả của từng nhóm thực hiện quá trìnhhoạt động (những người có chuyên môn khác nhau cùng thực hiện một quá trìnhkinh doanh) Cụ thể là:

- Phân loại, kiểm soát, đánh giá chi phí theo từng quá trình hoạt động

- Dự toán ngân sách của từng quá trình hoạt động và đánh giá hiệu quả củatừng nhóm thực hiện quá trình

- Thu thập, phân tích dữ liệu để xây dựng thông tin thích hợp, phục vụ choviệc lựa chọn từng quá trình hoạt động và phối hợp thực hiện của nhóm thực hiệnquá trình

- Phân tích, dự báo các chỉ số tài chính của thưo từng quá trình hoạt động

2 Phương pháp tiến hành

Phương pháp để tiến hành kế toán quản trị gồm :

1 Phương pháp lập chứng từ: Chứng từ là giấy tờ chứng minh sự phát sinhhoặc hoàn thành nghiệp vụ kinh tế Chứng từ được lập phục vụ cho cả KTTC vàKTQT Do vậy ngoài những nội dung cơ bản của chứng từ để phục vụ yêu cầu kếtoán tổng hợp trên TK cấp 1,cấp 2 (những nội dung này đã được quy định trong hệthống chứng từ do nhà nước ban hành), kế toán còn phải căn cứ vào yêu cầu kế toánchi tiết trên TK cấp 3, 4 v.v… và sổ chi tiết để quy định thêm các nội dung ghi chéptrên chứng từ để phục vụ yêu cầu này Chứng từ sau khi lập được chuyển cho bộphận kế toán tài chính và kế toán quản trị (mỗi bộ phận một liên) để làm căn cứhạch toán

Trang 13

2 Phương pháp đánh giá: Là dùng tiền biểu hiện giá trị tài sản Nguyên tắcđánh giá của KTTC là giá gốc (giá thực tế) Trong kế toán quản trị, tài sản cũngđược đánh giá theo giá gốc, để đối chiếu số liệu giữa kế toán tài chính và kế toánquản trị Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin nhanh phục vụ yêu cầuquản lý tức thời, cần thiết phải sử dụng giá ước tính (giá hạch toán) trong kế toánquản trị.

3 Phương pháp tài khoản: Là phương pháp tập hợp hệ thống hoá nghiệp vụkinh tế theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ nhằm phản ánh và giám đốc thườngxuyên từng đối tượng kế toán Trong KTQT các TK được sử dụng để theo dõi từngđối tượng, đây là đối tượng của kế toán tài chính được chi tiết hoá, theo yêu cầucung cấp thông tin của nhà quản lý doanh nghiệp

4 Phương pháp ghi sổ kép là cách ghi nghiệp vụ kinh tế vào TK kế toán, thểhiện được mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán

5 Phương pháp tính giá thành : Là phương pháp xác định chi phí trong mộtkhối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành sản xuất Trong kế toán quản trịviệc tính giá thành được tiến hành theo yêu cầu hạch toán nội bộ

6 Phương pháp lập báo cáo nội bộ theo yêu cầu cung cấp thông tin của cácnhà quản lý doanh nghiệp theo các cấp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp

Như vậy phương pháp kế toán quản trị cũng là phương pháp kế toán nóichung, nhưng có các đặc điểm riêng để phù hợp với tính chất thông tin của KTQT,

đó là :

-Tính đặc thù nội bộ của các sự kiện

-Tính linh hoạt, tính thích ứng với sự biến biến đổi hàng ngày của các sưkiện

-Tính chất phi tiền tệ được chú trọng nhiều hơn trong các chỉ tiêu báo cáo -Tính dự báo ( phục vụ việc lập kế hoạch )

-Tính pháp lý đối với tài liệu và tính hướng dẫn ở thông tin trên báo cáo quảntrị

-Không có tính chuẩn mực chung

Trang 14

Trên cơ sở mục tiêu và yêu cầu quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp, để xácđịnh nội dung kế toán quản trị trong từng doanh nghiệp cụ thể Nội dung này mangtính đặc thù của từng doanh nghiệp, nhưng có thể khái quát thành các nội dung sau :

° Kế toán chi tiết tài sản cố định: Gồm việc hạch toán về số lượng, giá trị, cácthông số kỹ thuật, thời gian khấu hao, mức khấu hao, sự biến động về số lượng, vềgiá trị do nhượng bán, do thanh lý, do chuyển nội bộ, do điều chuyển theo lệnh cấptrên v.v…

° Kế toán chi tiết vật tư, hàng hoá, thành phẩm: Gồm việc hạch toán theo sốlượng và giá trị của từng thứ, từng nhóm, theo từng kho (nơi quản lý)

° Kế toán chi tiết nợ phải thu, nợ phải trả theo từng đối tượng nợ, từng nghiệp

vụ phát sinh nợ và thanh toán nợ, theo dõi kỳ hạn thanh toán nợ, hạch toán chi tiếtkhoản nợ bằng ngoại tệ và bằng đồng Việt Nam

° Kế toán chi phí phát sinh theo từng đối tượng hạch toán, theo nội dung kinh

tế, theo khoản mục giá thành Xác định giá thành sản xuất cho các đối tượng tínhgiá thành

° Kế toán chi tiết nguồn vốn kinh doanh theo các đối tượng góp vốn

° Kế toán chi phí và thu nhập theo từng bộ phận trong doanh nghiệp, theo yêucầu hạch toán nội bộ

° Lập các báo cáo nội bộ theo định kỳ (do các nhà quản lý doanh nghiệp quyđịnh và báo cáo nhanh theo yêu cầu đột xuất để phục vụ yêu cầu ra quyết định củacác nhà quản lý trong doanh nghiệp

° Thu thập và xử lý thông tin để phục vụ yêu cầu ra các quyết định ngắn hạn

và dài hạn

° Lập dự toán để phục vụ chức năng giám sát quá trình sản xuất kinh doanh Những nội dung trên đã bao gồm nội dung kế toán chi tiết mà lâu nay hệthống kế toán doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện, nhưng ở mức độ ghi nhận sựkiện, chưa tổng hợp thành các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý Ngoài ra cònnhững nội dung mang tính tài chính để phục vụ yêu cầu lập kế hoạch thì hầu nhưchưa thực hiện Điều này chấp nhận được với một nền kinh tế mang tính bao cấp,

Ngày đăng: 31/01/2013, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 : Khái quát phân loại theo cách ứng xử của chi phí - Bàn về kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay
Bảng 1.2 Khái quát phân loại theo cách ứng xử của chi phí (Trang 8)
Sơ đồ 1: Mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất. - Bàn về kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay
Sơ đồ 1 Mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất (Trang 17)
Sơ đồ 2: Mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung theo bộ phận. - Bàn về kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay
Sơ đồ 2 Mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung theo bộ phận (Trang 18)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w