Các hình ảnh Xquang về thoái hóa cột sống cổ Chuyên đề “ Hình ảnh Xquang thoái hóa cột sống cổ” với 2 mục tiêu sau: 1. Nắm được tổng quan về thoái hóa cột sống cổ. 2. Mô tả các đặc điểm hình ảnh Xquang của thoái hóa cột sống cổ. 1. Tổng quan về thoái hóa cột sống cổ 1.1 Giải phẫu và chức năng cột sống cổ Cột sống của con người có năm vùng giải phẫu riêng biệt: cổ, ngực, thắt lưng, xương cùng và xương cụt. Tuy nhiên, cột sống cổ là một khu vực có tầm quan trọng tiềm tàng do gần với đầu, chứa tủy sống trên và các động mạch đốt sống góp phần vào tuần hoàn sau của não. Bảy đốt sống cổ, kết hợp với sụn, nhiều dây chằng và cơ, tạo nên một cấu trúc tinh vi và linh hoạt cho phép nhiều chuyển động đầu/cổ. Tương tự như các vùng khác của cột sống, đốt sống cổ cũng có các đĩa đệm xen kẽ để hấp thụ lực sốc và tính linh hoạt. Ngoài ra, nó chứa một ống sống rộng hơn nhiều để chứa tủy sống, mạch máu, màng não và rễ thần kinh.[15] Về đặc điểm chung, bảy đốt sống cổ của con người có thân dẹt, bề ngang phía trước dày hơn phía sau tạo nên cột sống cổ. Cấu tạo của cột sống cổ sẽ bao gồm 2 phần: - Cột sống cổ trên có 2 đốt sống cổ đầu tiên là đốt số 1 (Đốt đội) và đốt số 2 (Đốt trục) với đặc điểm chung là có nhiều trục quay. Tuy nhiên, cấu tạo của 2 đốt sống có sự khác biệt nhất định so với những đốt sống còn lại. - Cột sống cổ dưới có 5 đốt sống còn lại với thân đốt sống phía trước và cung đốt sống ở phía sau. Bảy đốt sống cổ có một số đặc điểm như sau: Đầu tiên, cuống tách ra từ phần sau của mặt bên thân đốt sống cổ và khuyết sống trên-dưới đều có độ sâu ngang bằng nhau. Các đốt mảnh, hình vuông, chiều rộng lớn hơn chiều cao, đỉnh của mỏm gai tách làm hai củ. Mỏm ngang thì dính vào thân và cuống qua 2 rễ giới hạn và có một lỗ được gọi là lỗ ngang để cho mạch đốt sống chui ngang qua. Đỉnh của mỏm ngang tách ra thành củ trước đốt sống cổ và củ sau đốt sống cổ còn mặt trên của mỏm ngang có rãnh thần kinh gai sống. Bên cạnh mỏm ngang, có một bộ phận gọi là mỏm khớp có diện khớp phẳng nằm ngang. Trong đó, diện trên nhìn lên trên và ra sau còn diện dưới nhìn xuống dưới và ra trước. Lỗ của đốt sống cổ có hình tam giác và rộng hơn ở các lỗ đốt sống ngực hay thắt lưng để thực hiện chức năng chứa đoạn phình cổ của tủy gai và thích ứng với biên độ di động lớn của đoạn sống cổ. Đặc biệt, nếu hỏi về đặc trưng quan trọng nhất để xác định một đốt sống cổ thì đó chính là lỗ ngang.[19]
Trang 1HÌNH ẢNH XQUANG THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ 1
NỘI DUNG 3
1 Tổng quan về thoái hóa cột sống cổ 3
1.1 Giải phẫu và chức năng cột sống cổ 3
1.2 Nguyên nhân của thoái hóa cột sống cổ 10
1.3 Sinh lý bệnh của thoái hóa cột sống cổ 10
1.4 Triệu chứng thoái hóa cột sống cổ 12
1.4.1 Lâm sàng 12
1.4.2 Cận lâm sàng 13
1.5 Chẩn đoán xác định 14
2 Đặc điểm hình ảnh Xquang của thoái hóa cột sống cổ 14
KẾT LUẬN 23
Trang 3Hình 1 Hình ảnh các đốt sống cổ 4
Hình 2 Cấu trúc đốt sống cổ C1 và C2 6
Hình 3 Giải phẫu bình thường của cột sống cổ dưới 8
Hình 4 Phim chụp X-quang cột sống cổ bình thường ở người trưởng thành trẻ tuổi 16
Hình 5 Phân loại trượt đốt sống thoái hóa cổ 19
Hình 6 Ba loại gai xương liên quan đến thoái hóa cột sống 20
Hình 7 Chụp X-quang cột sống cổ bên cho thấy tỷ lệ Torg-Pavlov tại C5 20
Hình 8 Xquang thoái hóa cột sống cổ của bệnh nhân nam 40 tuổi 21
Hình 9 Xquang thoái hóa cột sống cổ của bệnh nhân nữ 70 tuổi 22
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối với cột sống, thoái hóa cột sống cổ là bệnh lý thường gặp, có tỷ lệ mắcbệnh cao và đứng sau thoái hóa cột sống thắt lưng Các nghiên cứu đã cho thấyrằng đây là một quá trình lão hóa tự nhiên, xuất hiện ở phần lớn những ngườisau 40 tuổi và có nhiều yếu tố liên quan đến bệnh như tuổi, giới tính, nghềnghiệp.[22]
Thoái hóa cột sống cổ là một bệnh lý mãn tính bao gồm một loạt các thayđổi thoái hóa ảnh hưởng đến tất cả các thành phần của cột sống cổ bao gồm đĩađệm, thân đốt sống, các khớp và dây chằng Từ đó gây ra những biến đổi hìnhthái ở cột sống cổ như mất đường cong sinh lý, hẹp khoảng gian đốt sống, phìđại mẫu bán nguyệt, hình thành các gai xương, đặc biệt là các gai mọc nganglàm hẹp lỗ gian đốt sống và lỗ động mạch, hay tiến triển thành thoát vị đĩađệm Chính những biến đổi tại chỗ đó là nguyên nhân gây kích thích hoặc chèn
ép vào rễ thần kinh cổ, động mạch đốt sống, tủy cổ tạo nên những triệu chứnglâm sàng thoái hóa cột sống cổ rất đa dạng.[22, 23]
Theo nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu thực hiện bởi Giáo sưChristopher J L Murray và Viện đo lường và đánh giá sức khỏe, Đại họcWashington những năm 1990 – 2019, trên 369 loại bệnh ở 204 quốc gia, đau cổ
là nguyên nhân gây mất đi số năm sống do bệnh tật trên toàn cầu xếp hàng thứ
19 ở nhóm dân số độ tuổi 25-49, và xếp thứ 32 ở độ tuổi 50-74 Theo nghiên cứucủa Kokubun (1996) về dịch tễ ở một quận vùng Đông Bắc Nhật Bản với dân số2,26 triệu người, tỷ lệ bệnh nhân phải phẫu thuật do bệnh lý tủy cổ hằng năm là5,7 người / 100.000 dân, trong đó có 27% do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, 11%
do vôi hóa dây chẳng dọc sau và những nguyên nhân khác
Trước đây, nhiều bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ không được chẩn đoán
và điều trị đúng, một số bệnh nhân bị chèn ép tủy nặng đã bị tàn phế Chính vì
Trang 5vậy, vai trò của chẩn đoán hình ảnh là rất quan trọng trong việc phát hiện vàquản lý bệnh Hiện nay có nhiều kỹ thuật hình ảnh được sử dụng để chẩn đoáncũng như đánh giá các biến chứng của bệnh thoái hóa cột sống cổ Trong đó,Xquang thường quy được chỉ định đầu tiên và có giá trị nhất định, đặc biệt trongđánh giá cấu trúc xương.[22] Việc chẩn đoán sớm thoái hóa cột sống cổ dựa vàolâm sàng và Xquang thường quy giúp ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọngcủa bệnh.[23] Do đó, em làm chuyên đề “ Hình ảnh Xquang thoái hóa cột sốngcổ” với 2 mục tiêu sau:
1 Nắm được tổng quan về thoái hóa cột sống cổ.
2 Mô tả các đặc điểm hình ảnh Xquang của thoái hóa cột sống cổ.
Trang 6NỘI DUNG
1 Tổng quan về thoái hóa cột sống cổ
1.1 Giải phẫu và chức năng cột sống cổ
Cột sống của con người có năm vùng giải phẫu riêng biệt: cổ, ngực, thắtlưng, xương cùng và xương cụt Tuy nhiên, cột sống cổ là một khu vực cótầm quan trọng tiềm tàng do gần với đầu, chứa tủy sống trên và các độngmạch đốt sống góp phần vào tuần hoàn sau của não Bảy đốt sống cổ, kết hợpvới sụn, nhiều dây chằng và cơ, tạo nên một cấu trúc tinh vi và linh hoạt chophép nhiều chuyển động đầu/cổ Tương tự như các vùng khác của cột sống,đốt sống cổ cũng có các đĩa đệm xen kẽ để hấp thụ lực sốc và tính linh hoạt.Ngoài ra, nó chứa một ống sống rộng hơn nhiều để chứa tủy sống, mạch máu,màng não và rễ thần kinh.[15]
Về đặc điểm chung, bảy đốt sống cổ của con người có thân dẹt, bề ngangphía trước dày hơn phía sau tạo nên cột sống cổ Cấu tạo của cột sống cổ sẽbao gồm 2 phần:
- Cột sống cổ trên có 2 đốt sống cổ đầu tiên là đốt số 1 (Đốt đội) và đốt số 2(Đốt trục) với đặc điểm chung là có nhiều trục quay Tuy nhiên, cấu tạo của 2đốt sống có sự khác biệt nhất định so với những đốt sống còn lại
- Cột sống cổ dưới có 5 đốt sống còn lại với thân đốt sống phía trước và cungđốt sống ở phía sau
Bảy đốt sống cổ có một số đặc điểm như sau:
Đầu tiên, cuống tách ra từ phần sau của mặt bên thân đốt sống cổ vàkhuyết sống trên-dưới đều có độ sâu ngang bằng nhau Các đốt mảnh, hìnhvuông, chiều rộng lớn hơn chiều cao, đỉnh của mỏm gai tách làm hai củ.Mỏm ngang thì dính vào thân và cuống qua 2 rễ giới hạn và có một lỗ đượcgọi là lỗ ngang để cho mạch đốt sống chui ngang qua Đỉnh của mỏm ngangtách ra thành củ trước đốt sống cổ và củ sau đốt sống cổ còn mặt trên của
Trang 7mỏm ngang có rãnh thần kinh gai sống Bên cạnh mỏm ngang, có một bộphận gọi là mỏm khớp có diện khớp phẳng nằm ngang Trong đó, diện trênnhìn lên trên và ra sau còn diện dưới nhìn xuống dưới và ra trước Lỗ của đốtsống cổ có hình tam giác và rộng hơn ở các lỗ đốt sống ngực hay thắt lưng đểthực hiện chức năng chứa đoạn phình cổ của tủy gai và thích ứng với biên độ
di động lớn của đoạn sống cổ Đặc biệt, nếu hỏi về đặc trưng quan trọng nhất
để xác định một đốt sống cổ thì đó chính là lỗ ngang.[19]
Hình 1 Hình ảnh các đốt sống cổGiải phẫu đặc điểm 7 đốt sống cổ:
Cột sống cổ trên: Cột sống cổ trên bao gồm đốt đội (đốt atlas) (C1) và đốt trục
(C2). Hai đốt sống đầu tiên này khá khác biệt so với phần còn lại của cột sống cổ Đốt atlas khớp ở phía trên với xương chẩm (khớp atlanto-occupial) và ở phía
Trang 8dưới với xương trục (khớp atlantoaxial) Khớp atlantoaxial chịu trách nhiệmcho 50% tổng số vòng xoay cổ; khớp atlanto-occupial chịu trách nhiệm cho50% động tác gấp và duỗi Các đặc điểm riêng biệt của giải phẫu C2 và cáckhớp của nó làm phức tạp việc đánh giá bệnh lý của nó.[19]
Atlas (C1) và axis (C2) là hai đốt sống cổ đầu tiên và được đặt tên riêng
do các đặc điểm giải phẫu đặc biệt của chúng Chúng nằm ở chỗ nối xương sọ vàđốt sống của cột sống, nơi đáy hộp sọ gặp cột sống Atlas hình vòng không cóthân và gai, có khả năng chịu trách nhiệm hỗ trợ đầu Trong khi hoạt động cùngnhau, atlas và axis chủ yếu cho phép cột sống xoay, uốn cong và duỗi; và do đóđược coi là đoạn linh hoạt nhất của toàn bộ cột sống
Đốt sống Atlas là một đốt sống hình vòng độc đáo không có thân đốtsống, khớp với chẩm ở trên và trục ở dưới bằng các lồi cầu tương ứng trên cáckhối bên của nó Trong khi ở khía cạnh giữa, quá trình odontoid của trục hoặcdens khớp với cung trước của trục như khớp giữa atlantoaxial Quá trìnhodontoid của trục hoặc dens là phần còn lại của thân C1 đã hợp nhất với thântrục và trở thành một bản sắc duy nhất cho C2 Khớp giữa atlantoaxial này chophép đầu xoay tự do mà không liên quan đến thân Một dây chằng ngang chạyphía sau dens và bám vào bất kỳ khối bên nào của đốt sống atlas, ngăn ngừa trậtkhớp trước của đốt sống atlas trên trục. [9, 16]
Trang 9của đốt sống này lồi ra và tạo thành củ sau, phía trên sát với khối bên sẽ córãnh động mạch đốt sống.
Đốt sống cổ 2 (còn được gọi là đốt sống trục)
Đốt sống cổ 2 là đốt dày và khỏe nhất trong các đốt sống cổ Đốt cómột mỏm mọc lên trên thân được gọi là “răng” Mỏm răng có hình tháp vàcao 1,5cm được coi như thân của đốt đội dính vào đốt trục để làm trục chođốt đội quay Ở phía trước răng, đốt sống cổ 2 có diện khớp trước để khớpvới hố răng của đốt đội (đốt sống số 1) và có một diện khớp sau để khớp vớidây chằng ngang của đốt đội.[5]
Hình 2 Cấu trúc đốt sống cổ C1 và C2
Cột sống cổ dưới:
Ngược lại với đốt sống cổ trên, tất cả năm đốt sống ở cột sống cổdưới đều có thân đốt sống với bề mặt lõm trên và lồi dưới Quá trìnhmóc là một đặc điểm đặc trưng của đốt sống cổ dưới, khớp với vùnglõm của thân đốt sống trên liền kề Quá trình khớp này cung cấp thêm
sự ổn định và ngăn ngừa tình trạng trượt đốt sống cổ(spondylolisthesis) Ngoài ra, C7 có thân đốt sống lớn hơn một chút
và lỗ đốt sống nhỏ hơn so với các đốt sống cổ khác và không chứađộng mạch đốt sống Có các mặt dưới và các mỏm gai, nó giống vớiđốt sống ngực nên được gọi là đốt sống chuyển tiếp [3, 20]
Trang 10Các khớp đốt sống trong cột sống tích hợp các lỗ đốt sống vào mộtống liên tục được gọi là ống sống, trong khi các lỗ đốt sống hìnhthành ở cả hai bên của mỗi cặp đốt sống Lỗ đốt sống hoặc lỗ thầnkinh được giới hạn bởi khía trên và khía dưới của các đốt sống tươngứng và hoạt động như một đường thoát cho các rễ thần kinh cột sống.Trong số tám cặp dây thần kinh cột sống cổ, rễ C1-C7 thoát khỏi ốngsống qua khía trên của các đốt sống cổ tương ứng và C8 qua khía dướicủa đốt sống C7.
Năm đốt sống cổ tạo nên cột sống cổ dưới, C3-C7, tương tự nhaunhưng rất khác so với C1 và C2 Mỗi đốt sống có thân đốt sống lõm ở
bề mặt trên và lồi ở bề mặt dưới Thiết kế này tạo điều kiện cho khớpnối với các đốt sống liền kề Trên bề mặt phía trên của thân đốt sống
có các mấu nhô lên hoặc móc gọi là mấu móc, mỗi mấu này khớp vớimột vùng lõm ở mặt bên dưới của thân đốt sống phía trên
Các khớp mỏm móc-tebral này dễ thấy nhất ở gần cuống vàthường được gọi là khớp Luschka. Người ta tin rằng chúng là kết quảcủa những thay đổi thoái hóa ở vòng, dẫn đến nứt vòng và tạo thànhkhớp. Các khớp này có thể phát triển các gai xương, có thể làm hẹp lỗliên hợp đốt sống Các khớp mỏm móc-tebral rất quan trọng đối với
sự ổn định của cột sống nhưng cũng là vị trí phổ biến cho những thayđổi thoái hóa Sự hình thành gai xương ở các khớp này có thể dẫn đếnhẹp lỗ liên hợp đốt sống, có khả năng gây chèn ép rễ thần kinh, tìnhtrạng phổ biến ở các tình trạng như thoái hóa đốt sống cổ.[13]
Các nghiên cứu nhấn mạnh rằng những thay đổi thoái hóa ở cáckhớp này thường bắt đầu ở tuổi trung niên và tiến triển theo tuổi tác,dẫn đến các triệu chứng như đau và các khiếm khuyết thần kinh dochèn ép thần kinh.[12]
Trang 11Sự phát triển của gai xương có thể ảnh hưởng đến các cấu trúcgần đó, bao gồm dây thần kinh cột sống và động mạch đốt sống, làmphức tạp thêm các biểu hiện lâm sàng.[12]
Các mỏm gai của C3-C6 thường chẻ đôi, tạo thành điểm bámcho dây chằng và cơ, trong khi mỏm gai của C7 thường không chẻđôi và hơi phình ở phần cuối, khiến nó trở thành điểm mốc giải phẫunổi bật.[19]
Hình 3 Giải phẫu bình thường của cột sống cổ dưới
Dây chằng
Cột sống có một số dây chằng có mặt trên khắp cột sống Nhưng có một sốdây chằng là duy nhất và chỉ có ở cột sống cổ Dây chằng dọc trước và sau (baophủ thân đốt sống), dây chằng vàng (nối các phiến xương) và dây chằng liên gai
Trang 12(nối mỏm gai) có mặt ở mọi mức đốt sống, trong khi dây chằng gáy (nối đầumỏm gai và cung cấp sự bám dính cho các cơ) và dây chằng ngang của đốt trụchỉ có ở cột sống cổ Dây chằng của cột sống cổ có thể được nhóm lại thành dâychằng ngoài và trong Ví dụ về dây chằng ngoài là dây chằng chẩm-atlanto, dâychằng chẩm-atlanto trước và dây chằng dọc trước Ví dụ về dây chằng trong làdây chằng ngang, dây chằng phụ, dây chằng cánh, dây chằng phụ atlantoaxial
và màng tectorial [17]
Đĩa đệm
Đĩa đệm đốt sống cổ tạo điều kiện cho chuyển động, truyền trọng lượng vàcung cấp sự ổn định cho cột sống Mỗi đĩa đệm có bốn phần, nhân nhầy trungtâm, được bao quanh bởi vòng xơ, và hai tấm cuối, được gắn vào thân đốt sống.Đĩa đệm đốt sống dày hơn ở phía trước và sự dày lên này chịu trách nhiệm chotình trạng cong sinh lý của cổ.[8]
Các chuyển động của cột sống cổ
Sự linh hoạt của cột sống cổ cung cấp một phạm vi chuyển động rộng, baogồm uốn cong, duỗi, xoay và uốn cong sang ngang Khớp atlantoaxial cung cấp50% tất cả các chuyển động xoay cổ Bên cạnh đó, khớp atlantooccipital đónggóp 50% chuyển động uốn cong và duỗi cổ
Uốn cong: Sự uốn cong về phía trước của cột sống cổ Nó xảy ra khi nhìnxuống dưới
Duỗi: Uốn cong về phía sau hoặc duỗi thẳng cột sống cổ Ví dụ: thực hiệncông việc trên cao
Xoay: Xoay đầu, cùng với cột sống cổ, sang một bên Ví dụ: Nhìn vàovai
Trang 13 Gập bên: Gập cột sống cổ sang bên phải hoặc bên trái.[18]
Chức năng của cột sống cổ
Cột sống cổ đóng nhiều vai trò ở vùng đầu-cổ, bao gồm:
Bảo vệ tủy sống: Đây là một bó sợi thần kinh là phần tiếp theo của thân
não Tủy sống đi qua một ống trong cột sống được gọi là ống sống Cộtsống cổ bảo vệ tủy sống khỏi sự chèn ép bên ngoài
Hỗ trợ cho đầu: Cột sống cổ giữ đầu ở đúng vị trí và chịu trọng lượng
của đầu
Hỗ trợ cung cấp máu lên não: Cột sống cổ chứa động mạch đốt sống
trong lỗ ngang và giúp chúng đưa máu lên não
Hỗ trợ các chuyển động Đầu-Cổ: Cột sống cổ và cơ cổ cung cấp phạm
vi chuyển động rộng rãi ở vùng này [4]
1.2 Nguyên nhân của thoái hóa cột sống cổ
− Quá trình lão hóa của tổ chức sụn, tế bào và tổ chức khớp và quanh khớp(cơ cạnh cột sống, dây chằng, thần kinh…)
− Tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp.[23]
1.3 Sinh lý bệnh của thoái hóa cột sống cổ
Thoái hóa đốt sống cổ là một căn bệnh phổ biến đặc trưng bởi tình trạnghao mòn mãn tính và những thay đổi thoái hóa ảnh hưởng đến cột sống cổ,dẫn đến nhiều hội chứng lâm sàng khác nhau như đau cổ trục, bệnh tủy cổ vàbệnh lý rễ thần kinh cổ Sinh lý bệnh của sự phát triển các biến đổi ở cổ rất đadạng, với những thay đổi về sinh lý bình thường và cơ chế bệnh sinh củathoái hóa đĩa đệm [21]
Trang 14Cơ chế bệnh sinh của thoái hóa đốt sống cổ liên quan đến một chuỗi thoáihóa tạo ra những thay đổi cơ học sinh học ở cột sống cổ, biểu hiện là sự chèn
ép thứ phát của các cấu trúc thần kinh và mạch máu Sự gia tăng tỷ lệ chondroitin thúc đẩy những thay đổi ở ma trận proteoglycan dẫn đến mấtnước, protein và mucopolysaccharides trong đĩa đệm Sự khô của đĩa đệmkhiến nhân nhầy mất đi tính đàn hồi khi nó co lại và trở nên xơ hơn Khi nhânnhầy mất khả năng duy trì tải trọng chịu lực một cách hiệu quả, nó bắt đầuthoát vị qua các sợi của vòng xơ và góp phần làm mất chiều cao đĩa đệm, dâychằng lỏng lẻo, cong vênh và chèn ép cột sống cổ Với sự khô của đĩa đệmhơn nữa, các sợi vòng trở nên tổn thương cơ học hơn dưới tải trọng nén, tạo
keratin-ra những thay đổi đáng kể trong sự phân bổ tải trọng dọc theo cột sống cổ.Kết quả là đảo ngược độ cong sinh lý bình thường của cổ Sự tiến triển của
gù khiến các sợi vòng và Sharpey bong ra khỏi các cạnh thân đốt sống, dẫnđến sự hình thành xương phản ứng Các gai xương hoặc gai xương này cóthể hình thành dọc theo các rìa bụng hoặc lưng của cột sống cổ, sau đó có thểnhô vào ống sống và lỗ liên đốt sống Hơn nữa, sự gián đoạn trong sự cânbằng tải dọc theo cột sống tạo ra tải trọng trục lớn hơn lên các khớp mỏmmóc và khớp mặt, gây ra phì đại hoặc mở rộng các khớp và đẩy nhanh quátrình hình thành gai xương vào lỗ thần kinh xung quanh Những thay đổithoái hóa này dẫn đến mất độ cong sinh lý và chuyển động của cổ, cũng nhưgiảm đường kính ống sống [7, 11]
1.4 Triệu chứng thoái hóa cột sống cổ
1.4.1 Lâm sàng
Biểu hiện rất đa dạng, thường gồm bốn hội chứng chính sau:
− Hội chứng cột sống cổ: đau, có thể kèm theo co cứng vùng cơ cạnh cộtsống cổ cấp hoặc mạn tính; triệu chứng đau tăng lên ở tư thế cổ thẳng hoặc