02050007169 tóm tắt dạy và học tiếng việt và văn hóa việt nam cho học viên nước ngoài tại học viện quân y
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thùy Chi
Phản biện 1: TS Nguyễn Thị Ly Na
Phản biện 2: TS Bùi Duy Dương
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận văn thạc sĩ họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
Vào hồi 14 giờ 0 ngày 31 tháng 05 năm 2023
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo các bác sĩ và các dược sĩ tương lai phục vụ công tác y tế tại Việt Nam, Học viện Quân y còn đào tạo đội ngũ bác sĩ, dược sĩ cho quân đội Lào và Campuchia Với vai trò là một giảng viên giảng dạy tiếng Việt tại Khoa Ngoại ngữ – Học viện Quân y, tôi nhận thấy để học tập tốt và hiệu quả, các học viên nước bạn phải học và sử dụng thành thạo tiếng Việt Bên cạnh đó, những kiến thức về văn hóa Việt trong quá trình học tiếng Việt đã giúp họ hòa nhập khi sống và rèn luyện trong Học viện Quân y Để góp phần nâng cao chất lượng cho đội ngũ bác sĩ, dược sĩ tương lai cho quân đội Lào, Campuchia, các cấp lãnh đạo, quản lý nhà trường đã đặt ra yêu cầu là: phả tăng cường chất lượng dạy và học tiếng Việt Từ
những lý do trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Dạy và học tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho học viên nước ngoài tại Học viện Quân y”
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đưa ra đánh giá những vấn đề liên quan đến công tác giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam trong giảng dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài tại Học viện Quân y Từ đó, nghiên cứu này cung cấp các thông tin và số liệu cho các lực lượng giáo dục trong Học viện Quân y về công tác giảng dạy tiếng Việt và văn hóa cho học viên nước ngoài; từ đó góp phần nâng cao trình độ tiếng Việt và khả năng hòa nhập cho học viên nước ngoài tại Học viện Quân y
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về công tác đào tạo tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho học viên Lào và Campuchia tại Học viện Quân y Cụ thể: các yếu tố tham gia vào công tác đào tạo tiếng Việt như: chương trình đào tạo, giáo trình, giảng viên và học viên; một số nội dung của văn hóa Việt qua giáo trình và phương pháp giảng dạy văn hóa Việt
Trang 43.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc dạy và học tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho học viên nước ngoài tại Học viện Quân y trong giai đoạn từ năm 2018 – 2022
4 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tài liệu
5.2 Phương pháp quan sát và tham gia
5.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu khác: thủ pháp thống kê, phân loại; thủ pháp so sánh
5 Đóng góp của luận văn
- Chỉ ra thực trạng của công tác đào tạo tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho học viên nước ngoài ở Học viện Quân y
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Việt
và văn hóa Việt Nam cho học viên nước ngoài ở Học viện Quân y
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì luận văn có 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Khảo sát việc dạy và học tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho học viên nước ngoài tại Học viện Quân y
Chương 3: Đánh giá về việc dạy và học tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho học viên nước ngoài; đề xuất nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt
và văn hóa Việt Nam cho học viên nước ngoài tại Học viện Quân y
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý thuyết của việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
1.1.1 Ngôn ngữ thứ hai
Ngôn ngữ thứ hai còn gọi là ngôn ngữ đích, ngoại ngữ – đó là ngôn ngữ mà một người nào đó đang học và muốn thông qua quá trình học tập để thụ đắc được ngôn ngữ này Ngôn ngữ thứ hai được chúng ta học ở trường lớp, với sự hướng dẫn, giảng dạy của giáo viên thông qua hệ thống giáo trình và các giáo cụ học tập
Trang 5Đồng thời, sự tác động của ngôn ngữ thứ nhất và các yếu tố khác (hoàn cảnh gia đình và định kiến xã hội đối với ngôn ngữ thứ hai, vấn đề sức khỏe, tuổi tác, tâm lý, quan điểm sống động cơ học tập của bản thân, các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ học tập) cũng có ảnh hưởng nhất định đến quá trình học tập ngôn ngữ thứ hai
1.1.2 Lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai
Thụ đắc và học tập là hai hình thức của việc tiếp nhận một ngoại ngữ Vai trò của quá trình thụ đắc ngôn ngữ là giúp người học giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ một cách trôi chảy, tự nhiên còn học tập lại giúp người học
có khả năng nắm vững các quy tắc của ngôn ngữ Như vậy, học và thụ đắc
là hai quá trình cần được hỗ trợ cho nhau để hoàn thiện năng lực ngoại ngữ; tuy nhiên quá trình thụ đắc tự nhiên cần được chú trọng hơn để đạt mức độ sử dụng ngoại ngữ thành thạo như bản ngữ
1.1.3 Cơ sở của việc dạy - học tiếng Việt như một ngoại ngữ
1.1.3.1 Định nghĩa về việc dạy – học tiếng Việt như một ngoại ngữ
Dạy – học tiếng Việt cho người nước ngoài là hoạt động tổ chức cho người nước ngoài nắm vững tri thức về tiếng Việt và có kỹ năng
sử dụng tiếng Việt nhằm mục đích nhận thức và giao tiếp
1.1.3.2 Phương pháp dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
Hiện nay có 5 phương pháp phổ biến nhất với việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Phương pháp ngữ pháp – dịch, phương pháp trực tiếp, phương pháp nghe nhìn, phương pháp giao tiếp và phương pháp tích hợp Các phương pháp trên được xây dựng và áp dụng trong những hoàn cảnh khác nhau; tuy nhiên, hoạt động trong giảng dạy ngôn ngữ thứ hai vẫn có những đặc điểm và nguyên tắc chung
1.1.3.3 Cơ sở về quá trình dạy và học
Yếu tố thứ nhất: Người dạy
Yếu tố thứ hai: Người học
Yếu tố thứ ba: Phương pháp học liệu
1.2 Cở sở lý thuyết về dạy văn hóa thông qua dạy ngôn ngữ
Trang 61.2.1 Định nghĩa về văn hóa
Nội dung văn hóa Việt Nam trong giảng dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài gồm có những yếu tố thuộc về điểm nhìn văn hóa, những quan điểm mà người Việt đã sáng tạo và được đồng thuận ứng xử trong cộng đồng Trong học tập tiếng Việt, người nước ngoài phải tiếp nhận được và trải nghiệm những hiểu biết ấy trong môi trường bản ngữ
1.2.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ vô cùng mật thiết, và không thể tách rời Đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Văn hóa là một yếu tố góp phần hình thành hệ thống ngôn ngữ Văn hóa còn giúp việc truyền tải ngôn ngữ (giao tiếp) trở nên hiệu quả hơn Phạm Đăng Bình (2013) đã phân tích, trong quá trình giao tiếp gồm
có 3 thành tố [50, tr 461]: (1) Nguồn tin và nguồn phát (có thể là một), (2) Nguồn nhận và nơi nhận (có thể là một), (3) Mã
Giao tiếp có thể diễn ra theo hai dạng là trực tiếp và gián tiếp, trong đó, mô hình hóa quá trình giao tiếp trực tiếp như sau:
Phát/ nói -> nhận/ nghe Hiểu
1.2.3 Sự cần thiết của yếu tố văn hóa trong dạy học ngoại ngữ
Có thể khẳng định rằng văn hoá là một yếu tố cần thiết của dạy học ngôn ngữ trong đó có dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ Việc giảng dạy một ngôn ngữ cũng có nghĩa là đang dạy về những đặc trưng văn hoá
mà ngôn ngữ đó biểu hiện Vì vậy, việc giáo viên nhận ra các yếu tố văn hoá chứa đựng bên trong các hình thái và cách dùng của ngôn ngữ, xem chúng là một phần thiết yếu của dạy và học ngoại ngữ là hết sức quan trọng Trong hoạt động dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ hiện nay, người học không chỉ có nhu cầu học về tiếng Việt mà còn muốn có được những hiểu biết về văn hóa Việt Vì vậy, khi người học vừa có kỹ năng về ngôn ngữ, vừa có kiến thức về văn hóa thì người đó sẽ đạt hiệu quả rất cao trong giao tiếp, tránh được những hiểu lầm hay những xung đột không đáng có xảy ra Từ ý nghĩa quan trọng đó, văn hoá cần được xem là nội dung trọng tâm của việc dạy học ngoại ngữ
Trang 71.2.4 Sự phản ánh văn hóa qua ngôn ngữ
Từ thực tiễn giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, chúng tôi nhận thấy nhiều từ tiếng Việt trong các giáo trình có ý nghĩa gắn liền với văn hóa, chuyển tải thông tin văn hóa Cụ thể như sau: Từ xưng hô, Từ chỉ vị trí, Tính biểu cảm của từ
hệ vô cùng chặt chẽ và không thể tách rời Giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài chính là là dạy về những đặc trưng văn hoá Việt Nam được biểu hiện trong tiếng Việt Vì vậy, việc giáo viên nhận ra các yếu tố văn hoá Việt chứa đựng bên trong các hình thái và cách dùng của ngôn ngữ,
và đặt đó là một phần thiết yếu của dạy và học là hết sức quan trọng Trong hoạt động dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ hiện nay, người học không chỉ có nhu cầu học về tiếng Việt mà còn muốn có được những hiểu biết về văn hóa Việt Vì vậy, khi người học vừa có kỹ năng về ngôn ngữ, vừa có kiến thức về văn hóa thì người đó sẽ đạt hiệu quả rất cao trong giao tiếp, tránh được những hiểu lầm hay những xung đột không đáng có xảy ra Từ ý nghĩa quan trọng đó, văn hoá cần được xem là nội dung trọng tâm của dạy học ngoại ngữ
Trang 8Chương 2: KHẢO SÁT VIỆC DẠY - HỌC TIẾNG VIỆT VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI TẠI
HỌC VIỆN QUÂN Y 2.1 Giới thiệu khái quát về công tác giảng dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài tại Học viện Quân y
2.2 Thực trạng dạy và học tiếng Việt của học viên nước ngoài tại Học viện Quân y
2.2.1 Chương trình giảng dạy
2.2.1.1 Chương trình tiếng Việt dự khóa
Trong giai đoạn này, phần lớn thời gian trong tuần (khoảng 8-9 buổi/tuần), học viên nước ngoài học tiếng Việt Thời gian đào tạo Dự khóa là khoảng 1 năm cho cả ngành y khoa và dược học với 3 học
phần tương đương với 3 bậc: bậc 1 (trình độ A1), bậc 2 (trình độ A2) và bậc 3 (trình độ B1) theo khung năng lực tiếng Việt cho
người nước ngoài Riêng học viên Dự khóa ngành Y khoa được đào tạo thêm 6 tháng tiếng Việt sau B1 Về cấu trúc chương trình, chương trình Tiếng Việt Dự khóa chia làm 3 học phần: học phần 1, học phần
2, học phần 3 tương đương với trình độ A1, A2, B1 Tổng thời gian của chương trình bao gồm 1480 tiết, trong đó: HP1 có 572 tiết, HP2
có 404 tiết, HP3 có 504 tiết
2.2.1.2 Chương trình tiếng Việt chuyên ngành
Sau khi hoàn thành chương trình tiếng Việt dự khóa, học viên nước ngoài học tiếng Việt chuyên ngành Nội dung kiến thức của chương trình tiếng Việt chuyên ngành gồm một số nội dung khái quát các chủ đề y học đại cương như: các khoa điều trị, các khoa y học lâm sàng, y học cơ bản, các bộ phận cơ thể người, cách điều trị, cách
sử dụng thuốc cho một số bệnh đơn giản…
a Chương trình dành cho học viên ngành y: gồm 210 tiết tương
đương với 8 học phần
b Chương trình dành cho học viên ngành dược: gồm 160 tiết
tương đương với 4 học phần
Trang 92.2.2 Giáo trình
2.2.2.1 Khảo sát về giáo trình được sử dụng
2.2.2.1.1 Giáo trình được sử dụng cho chương trình dự khóa
1 Tiếng Việt cơ sở, Nguyễn Việt Hương (chủ biên)
2 Bộ sách Tiếng Việt thực hành, Đoàn Thiện Thuật (chủ
biên)
- Tiếng Việt trình độ A tập 1, tập 2, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), tương đương với trình độ A1, A2
- Tiếng Việt trình độ B, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên)
- Tiếng Việt trình độ C, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên)
(Chương trình tiếng Việt B1 bao gồm nội dung cuốn tiếng Việt trình độ B và 1 – 8 trong cuốn tiếng Việt trình độ C)
3 Bài đọc tiếng Việt nâng cao (dành cho người nước ngoài),
Hwang Gwi Yeon, Trịnh Cẩm Lan, Nguyễn Khánh Hà
2.2.2.1.2 Tiếng Việt chuyên ngành
2.2.2.2 Nhận xét về các giáo trình
a Về ưu điểm:
- Các giáo trình được biên soạn bài bản, chuẩn mực Ngôn từ trong các giáo trình đều trong sáng, chính xác, dễ hiểu Các giáo trình cung cấp lượng
từ vựng từ phổ thông đến chuyên ngành, phù hợp với từng trình độ, …
- Phần lớn các giáo trình đều có sự phân chia cụ thể, rõ ràng các phần trong bài học như hội thoại, phần giải thích ngữ pháp và phần bài tập và bài luyện
- Cách giải thích ngữ pháp tương đối rõ ràng và dễ hiểu
- Hệ thống bài tập trong các giáo trình phong phú Dữ liệu trong các bài tập tương đối đa dạng, phổ biến, gần gũi với đời sống, vì thế, học viên thực hành và tiếp thu khá thuận lợi
- Các giáo trình đều có những bài học giới thiệu về Việt Nam
b Về nhược điểm:
- Việc cung cấp từ vựng chủ yếu là cung cấp theo chủ điểm với các phương pháp như: phương pháp trực quan (tranh, ảnh), phương pháp thuần ngôn ngữ (bài hội thoại, bài đọc), phương pháp dịch (đối
Trang 10dịch song ngữ Việt - Anh)… Những phương pháp này khiến người học thụ động trong việc tiếp cận từ và giải nghĩa từ (ví dụ: người học thường phụ thuộc vào từ điển, hoặc chỉ biết nghĩa của từ trong một ngữ cảnh nhất định, hoặc quên nhanh nghĩa của từ ngay sau khi học…)
- Các giáo trình trên không có sự cân đối về số lượng các dạng bài tập theo các kỹ năng
2.2.3 Đội ngũ giảng viên
Nhìn chung, tất cả các giảng viên dạy tiếng Việt ở Học viện Quân y đều là những người có trách nhiệm cao, tâm huyết với nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ lý luận và năng lực
sư phạm 100% giảng viên dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài ở Học viện Quân y đều tốt nghiệp các chuyên ngành ở các trường Đại học liên quan đến ngôn ngữ và văn học Chính vì thế, các giảng viên đều có kiến thức cơ bản về ngôn ngữ học và tiếng Việt, đồng thời cũng nắm được các phương pháp dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Tuy nhiên, các học viện, nhà trường trong quân đội có các quy định mang tính đặc thù; do vậy ngoài các giờ lên lớp, giảng viên vẫn phải thực hiện các chế độ của đơn vị Bên cạnh đó, các giảng viên được đào tạo các ngành ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung và ngành văn học và không được đào tạo chuyên sâu về tiếng Việt cũng như phương pháp giảng dạy tiếng Việt Mặc khác, số lượng giờ học của học viên nước ngoài trong giai đoạn dự khóa là khá nhiều (khoảng 8 buổi/ tuần) trong khi
số lượng giảng viên tham gia giảng dạy lại quá ít (5 giảng viên)
2.2.4 Về học viên
Theo thống kê, học viên nước ngoài đến Học viên Quân y học tập phần lớn ở trình độ đại học với hai chuyên ngành y và dược; trong đó chuyên ngành Y chiếm số lượng chủ yếu Học viên nước ngoài ở Học viên Quân Y có quốc tịch Lào và Campuchia, cụ thể số lượng học viên Campuchia nhiều hơn số lượng học viên Lào Về giới tính, do đặc thù của quân đội nên số lượng học viên nam chiếm tỷ lệ cao hơn học viên nữ Về tuổi tác, phần lớn học viên ở độ tuổi từ 18 – 22 tuổi, số ít trên 30 tuổi
Trang 11Có thể nói, học viên nước ngoài luôn có sự giúp đỡ nhiệt tình từ nhà trường và giáo viên trong quá trình học tập tại trường Học viên luôn chủ động, tích cực trong quá trình học trên lớp và ngoài trường học Môi trường sống, học tập và giao tiếp tại Việt Nam, thuận lợi cho quá trình học tiếng Việt của học viên
* Khó khăn
- Trình độ học viên không đồng đều
- Số lượng học viên trong một lớp khá đông (khoảng 30 học viên/lớp)
- Sự khác biệt so với ngôn ngữ mẹ đẻ
- Trong quá trình học, nhiều học viên sợ hãi, rụt rè
2.3 Nội dung văn hóa Việt Nam qua các giáo trình dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài ở Học viện Quân y
2.3.1 Các chủ đề văn hóa được thể hiện các bài đọc
Một là, các chủ đề văn hóa khá phong phú và đa dạng; tuy nhiên không đầy đủ và cũng không đồng đều trong các giáo trình Điều đó cho thấy các chủ đề có nội dung văn hóa Việt Nam không đồng đều và cũng chưa đầy đủ trong các giáo trình; nội dung văn hóa Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức, chưa phản ánh được mục tiêu truyền tải văn hóa trong tiếng Việt Hai là, một số chủ đề quan trọng nhưng chưa được các tác giả biên soạn giáo trình quan tâm như: văn hóa mặc (trang phục) và văn hóa ở Qua khảo sát, các giáo trình không có bài đọc này viết về trang phục truyền thống của Việt Nam như: áo dài, áo tứ thân… hay nhà ở của người Việt Điều này là một thiếu sót lớn khi giảng dạy cho người nước ngoài về Việt Nam
2.3.2 Các chủ điểm giao tiếp trong các giáo trình
Thứ nhất, các giáo trình mới chỉ nhấn mạnh vào một số yếu tố văn hóa như: văn hóa du lịch, văn hóa lịch sử, phong tục – lễ hội, ẩm thực… các yếu tố văn hóa khác như: văn hóa mặc và ở chưa được quan tâm Thứ hai, các giáo trình đã cung cấp các chủ điểm giáo tiếp khá đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu giao tiếp của học viên, tuy nhiên, các chủ đề được phân bố ở các giáo trình chưa đồng đều và chưa bám sát tình hình thực tế
Trang 12Thứ ba, kiến thức văn hóa trong giáo trình phần lớn chỉ giới thiệu
về văn hóa Việt Nam, các bài hội thoại chủ yếu chỉ dừng lại ở việc giới thiệu ngữ pháp (đặc biệt là trình độ A) mà chưa được khai thác trong các nghi lễ thể hiện sự khéo léo trong giao tiếp của người Việt
về các chuyên ngành y, dược góp phần cung cấp lượng từ ngữ và thông tin cho học viên học các môn chuyên ngành Về đội ngũ giảng viên, các giảng viên dạy tiếng Việt ở Học viện Quân y có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ tốt, có tác phong và thái độ cầu thị, nhiệt tình trong công việc Học viên nước ngoài đến từ Lào, Campuchia có
độ tuổi trong thời gian nhập học khác nhau Họ luôn nhận được sự giúp đỡ của cán bộ và giảng viên Tuy nhiên, trong quá trình học tiếng Việt, họ gặp một vài khó khăn Bên cạnh đó, chương hai luận văn còn khảo sát về sự biểu hiện văn hóa Việt nam qua các giáo trình dạy tiếng Việt cho học viên nước ngoài ở Học viện Quân y Luận văn khảo sát hai yếu tố: các chủ đề văn hóa được thể hiện trong các bài đọc, các chủ điểm giao tiếp trong giáo trình
Chương 3: ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT
VÀ VĂN HÓA VIỆT CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI TẠI HỌC VIỆN QUÂN Y
3.1 Khảo sát về đánh giá của học viên về việc dạy-học tiếng Việt
và văn hóa Việt cho học viên nước ngoài tại Học viện Quân y
Trang 133.1.1 Thông tin học viên
Về độ tuổi: 17 học viên từ 18-20 tuổi (chiếm 34%), 22 học viên từ
20-25 tuổi (chiếm 44%), 5 học viên từ 25-30 tuổi (chiếm 12%), 6 học viên trên 30 tuổi (chiếm 10%)
Về giới tính: 38 học viên nam (chiếm 76%) và 12 học viên nữ (chiếm 24%)
Về khóa học: 14 học viên lớp DK 56LK (chiếm 28%), 12 học viên
lớp 55LK + Dược 15 (chiếm 24%), 12 học viên lớp 54LK + Dược 14
(chiếm 24%), 12 học viên lớp 53LK + Dược 13 (chiếm 24%)
Về quốc tịch: 37 học viên Campuchia (chiếm 74%), 13 học viên Lào
(chiếm 16%)
3.1.2 Kết quả khảo sát trả lời nội dung câu hỏi
3.1.2.1 Kết quả đánh giá của học viên về việc dạy – học tiếng Việt
a Về chương trình đào tạo
Về thời gian giảng dạy chương trình tiếng Việt dự khóa, kết
quả khảo sát cho thấy có 70% (34 học viên) cho rằng thời gian học
đủ để cung cấp kiến thức và rèn luyện các kỹ năng thực hành tiếng Việt; 22% (11 học viên) cho rằng thời gian học quá ngắn, học viên không đủ thời gian để ôn luyện và thực hành các kỹ năng và 4% (8 học viên) không có ý kiến [Phụ lục 1.1]
Về thời gian giảng dạy chương trình tiếng Việt chuyên ngành, theo bảng khảo sát có 82% (41 học viên) cho rằng thời gian
học đủ để cung cấp kiến thức và rèn luyện các kỹ năng thực hành tiếng Việt chuyên ngành; 12% (4 học viên) cho rằng thời gian học quá ngắn, học viên không đủ thời gian để tiếp thu kiến thức và thực hành các kỹ năng liên quan đến tiếng Việt chuyên ngành y – dược và 6% (3 học viên) không có ý kiến [Phụ lục 1.2]
b Về giáo trình
(1) Giáo trình tiếng Việt ở giai đoạn dự khóa
Những nội dung kiến thức trong chương trình tiếng Việt dự khóa đáp ứng khoảng 30%-80% nhu cầu giao tiếp và thực hành tiếng Việt cho học viên
(2) Giáo trình tiếng Việt chuyên ngành