02050007180 nội dung quản trị sản xuất chương trình Áp dụng công nghệ thực tế Ảo tại truyền hình cáp việt nam 02050007180 nội dung quản trị sản xuất chương trình Áp dụng công nghệ thực tế Ảo tại truyền hình cáp việt nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÍ VĂN MẠNH
QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH
ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THỰC TẾ ẢO TẠI TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG
Hà Nội – Năm 2023
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÍ VĂN MẠNH
QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH
ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THỰC TẾ ẢO TẠI TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG
Chuyên ngành: Quản trị báo chí truyền thông
Mã số: Thí điểm
Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng khoa học
TS.Vũ Tuấn Anh TS Đỗ Anh Đức
Hà Nội – Năm 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Tuấn Anh
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, đáng tin cậy và chưa được công bố ở bất kỳ những công trình đã được ông bố trước đây
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
Hà Nội, ngày tháng năm 2023
Tác giả luận văn
Phí Văn Mạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau những năm tháng học tập nghiên cứu, tôi đã hoàn thành được luận văn thạc sĩ với đề tài: Quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Vũ Tuấn Anh (Học viện Ngoại giao) người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, để luận văn của tôi hoàn thiện hơn về mặt nội dung, hình thức và đúng tiến độ
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, các giảng viên
đã tận tình giảng dạy, chỉa sẻ, cung cấp kiến thức và tạo điều kiện để tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn tới các Lãnh đạo, các PV, BT, KTV Ban biên tập Truyền hình cáp Việt Nam - VTV, Khối sản xuất nội dung thể thao - VTVcab, Phòng thiết kế đồ họa – Trung tâm Mỹ thuật – VTV đã hỗ trợ thu thập và xử lý thông tin, giúp tôi có được những kết quả khảo sát thực tế trong luận văn này
Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các tài liệu chuyên nghành của nhiều tác giả ở các Trường Đại học, Viện nghiên cứu …Tuy nhiên, sẽ không tránh khỏi sơ suất, cũng như sự hiểu biết vẫn còn hạn hẹp Rất mong nhận được sự đóng góp của Hội đồng, thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp để công trình nghiên cứu hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2023
Tác giả luận văn
Phí Văn Mạnh
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ TIẾNG ANH 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 10
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn: 13
3.1 Mục đích nghiên cứu 13
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4.1 Đối tượng nghiên cứu 13
4.2.Phạm vi nghiên cứu 13
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 14
5.1 Cơ sở lý luận 14
5.2 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 15
6.1.Ý nghĩa lý luận 15
6.2.Ý nghĩa thực tiễn đóng góp của đề tài 15
7 Kết cấu của luận văn 16
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THỰC TẾ ẢO 17
1.1 Các khái niệm có liên quan đến đề tài 17
1.1.1 Truyền hình 17
1.1.2 Chương trình truyền hình 17
1.1.3 Quản trị 18
1.1.4.Sản xuất chương trình truyền hình 19
Trang 61.1.5 Thực tế ảo 20
1.1.6 Thực tế ảo 3D theo thời gian thực (3D Realtime ) 1.2 Vai trò của quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo 21 1.2.1 Giúp cho thông tin trong chương trình trở nên sinh động hơn 21
1.2.2 Tạo sự chú ý của khán giả 22
1.2.3 Giúp tăng uy tín thương hiệu kênh 22
1.2.4 Tình hình các chương trình truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Việt Nam 23
1.3 Chủ thể, khách thể và đối tượng quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo 24
1.3.1 Chủ thể quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo 24
1.3.2 Khách thể và đối tượng quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo 26
1.4 Yêu cầu của quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo 27
1.4.1 Yêu cầu về nội dung quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo 27
1.4.2 Yêu cầu về phương pháp quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo 30
1.5 Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THỰC TẾ ẢO TẠI 34
TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM 34
2.1 Giới thiệu về Truyền hình cáp Việt Nam và Bản tin TGTT 34
2.1.1 Khái quát về Truyền hình cáp Việt Nam – VTVcab 34
2.1.2 Khái quát về chương trình Bản tin Thế giới thể thao 35
2.2 Khảo sát cách thức quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 38
2.2.1 Về chủ thể quản trị sản xuất chương trình Bản tin TGTT 38
2.2.2 Khách thể và đối tượng quản trị sản xuất chương trình Bản tin TGTT 39
Trang 72.3 Yêu cầu của quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
tại Truyền hình cáp Việt Nam 41
2.3.1 Yêu cầu về nội dung quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 41
2.3.2 Yêu cầu về phương pháp quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 57
2.3.2.1 Quản trị sản xuất dựa trên các văn bản hành chính 57
2.3.2.2 Quản trị sản xuất bằng hệ thống tổ chức và báo cáo phản hồi 58
2.3.2.3 Quản trị sản xuất chương trình bằng chế độ kiểm tra, giám sát 59
2.3.2.4 Quản trị sản xuất chương trình bằng nội quy làm việc của nhóm và chế độ khen thưởng, kỷ luật 59
2.4 Đánh giá chung về quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 62
2.4.1 Thành công và nguyên nhân thành công 62
2.4.1.1 Thành công 62
2.4.1.2 Nguyên nhân thành công 65
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 66
2.4.2.1 Hạn chế 67
2.4.2.2 Nguyên nhân hạn chế 69
2.5 Tiểu kết chương 2 70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THỰC TẾ ẢO TẠI TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM 71
3.1 Một số vấn đề đặt ra trong quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 71
3.1.1 Nhận thức về vai trò việc quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam của các bộ phận liên quan cần nâng cao hơn nữa để tăng chất lượng chương trình 71
3.1.2 Một bộ phận đội ngũ quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam chưa được đào tạo chuyên sâu 71
Trang 83.1.3 Đội ngũ sản xuất đồ họa sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
tại Truyền hình cáp Việt Nam còn hạn chế 72
3.1.4 Môi trường truyền thông số và sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ truyền hình đặt ra yêu cầu mới trong quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 73
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 73
3.2.1 Nâng cao nhận thức và năng lực quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 73
3.2.2 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 74
3.2.3 Giải pháp cụ thể với đội ngũ sản xuất đồ họa công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 75
3.2.3.1 Nguồn nhân lực 75
3.2.3.2 Lựa chọn phương pháp làm việc 75
3.2.3.3 Giải pháp chuyên môn 76
3.2.4 Nghiên cứu sự đón nhận của công chúng và tác động của quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 76
3.2.5 Đón đầu xu hướng công nghệ sẵn sàng cho những chuyển đổi mới về quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam 77
3.2.5.1 Xu hướng sản xuất các trận đấu V-League áp dụng công nghệ thực tế ảo 78 3.2.5.2 Xu hướng sản xuất các trận đấu võ tổng hợp MMA áp dụng công nghệ thực tế ảo 81
3.2.5.3 Xu hướng các chương trình sản xuất tại Truyền hình cáp Việt Nam áp dụng công nghệ thực tế ảo hỗn hợp, thực tế mở rộng, tiến tới “vũ trụ ảo” 83
3.3 Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 92
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ TIẾNG ANH
1 2D,3D Realtime Công nghệ thực tế ảo theo thời gian thực
3 3D Graphic System Thiết kế và thể hiện đồ họa không gian 3 chiều
9 GWI Chỉ số khảo sát đánh giá Website toàn cầu
13 Media Management Quản lý nội dung
14 Metaverse Vũ trụ ảo - Vũ trụ kỹ thuật số
18 OpenAI Hãng công nghệ trí tuệ nhân tạo
19 OTT: Over The Top Giải pháp cung cấp nội dung trên nền tảng
21 Real-time interactivity Tương tác thời gian thực
Trang 1022 Serie A Giải bóng đá Italia
23 Studio Automation System Trường quay tự động
25 Virtual Advertising Công nghệ quảng cáo ảo
26 Vizrt Công ty cung cấp giải pháp cho ngành công
nghiệp truyền thông kỹ thuật số
27 V-League Các trận đấu giải bóng đá Vô địch quốc gia
32 Tracking Hệ thống tương tác nhận biết chuyển động của
Camera
Trang 11
11 THĐPT Truyền hình Đa phương tiện
12 TT SXNDTT Trung tâm sản xuất nội dung thể thao
13 TT&TT Thông tin truyền thông
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Truyền hình cuối thế kỷ XX đã giữ vai trò quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu thông tin, giải trí, nâng cao văn hóa, trải nghiệm thế giới của đại chúng và được xem là vị thống soái của các phương tiện truyền thông
Tại Việt Nam, truyền hình đã thâm nhập vào cộng đồng khi nhiều khán giả (có
sự gần gũi về địa lý, có cùng sở thích, do không có đủ điều kiện để sở hữu một chiếc tivi riêng ) quần tụ tại những khu vực chung (trong các phòng khách, tại các điểm sinh hoạt văn hóa tập thể, ở những quán cà phê ) và cùng nhau thưởng thức những nội dung truyền hình hấp dẫn như một trận bóng đá gay cấn hay một bộ phim dài tập với một câu chuyện có nhiều diễn tiến hấp dẫn
Những năm đầu của thế kỷ XXI, khoa học kĩ thuật thế giới có nhiều bước tiến quan trọng, đặc biệt những phát minh mới về công nghệ truyền dẫn, các thiết bị phát
và thu sóng truyền hình đã tạo ra một môi trường lý tưởng cho truyền hình tiếp tục phát triển
Ở lĩnh vực nội dung cho truyền hình, các nhà sản xuất đã kịp thời nắm bắt cơ hội và mở rộng sáng tạo thêm nhiều chương trình mới nhằm đáp ứng các đặc thù khác biệt (được chi phối bởi nhiều yếu tố như nhu cầu sở thích, độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa ) của từng nhóm khán giả Số lượng các kênh truyền hình dành cho nhóm đối tượng khán giả chuyên biệt đã thực sự bùng nổ
World Wide Web (WWW) ra đời, dần trở nên phổ biến khắp thế giới kể từ những năm cuối của thế kỷ XX và nhiều kênh truyền thông điện tử tức thời, sống động xuất hiện - đã đưa việc trải nghiệm và tiếp nhận thông tin của loài người lên một tầm cao mới
Và khi truyền hình tiếp tục phát triển khi các chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo đã làm khán giả thỏa mãn hơn, công chúng được tiếp nhận thông tin vô cùng đa dạng đặc sắc
Ở Việt Nam, ứng dụng công nghệ thực tế ảo trong báo chí truyền hình vẫn còn rất mới mẻ, thậm chí chưa có nhiều công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu Tuy nhiên, công nghệ thực tế ảo đang dần trở nên phổ biến ở nước ta, được nghiên
Trang 13cứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong đó lĩnh vực truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo đã được triển khai từ năm 2013 tại Truyền hình Quốc Phòng Việt Nam Năm 2015, áp dụng tại Truyền hình Việt Nam Năm 2017, công nghệ thực tế ảo được đưa vào sử dụng tại Truyền hình cáp Việt Nam
Trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, đa nền tảng như hiện nay, thì truyền hình đang bị suy yếu Do vậy đòi hỏi các sản phẩm truyền hình luôn phải được đổi mới về nội dung và công nghệ sản xuất để tạo ra chương trình truyền hình
có chất lượng cao, với những bước tiến đột phá, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi cao của công chúng Với bối cảnh đó thì việc áp dụng công nghệ thực tế ảo vào sản xuất các chương trình truyền hình được coi là giải pháp phụ hợp
Chương trình truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo là một dạng chương trình sử dụng công nghệ đồ họa để tạo ra những trải nghiệm thú vị, mới mẻ cho khán giả, khi đưa khán giả hòa nhập vào mội trường mô phỏng với những hình ảnh rất sống động
Đây là những chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo để tạo ra những không gian ảo, hoặc kết hợp giữa không gian thật và không gian ảo mang đến cảm giác rất thật, rất sống động cho người xem Trên thế giới công nghệ thực tế ảo được
sử dụng nhiều trong các sản phẩm truyền hình để cung cấp những sản phẩm mới lạ cho người xem, cuốn hút, đặc biệt là với các chương trình giải trí, thể thao, chương trình trò chơi hoặc thậm chí các chương trình thời sự
Quy trình sản xuất chương trình truyền hình vốn đã đòi hỏi những yêu cầu nghiêm ngặt, thì nay áp dụng công nghệ thực tế ảo thì còn đòi hỏi yêu cầu cao hơn, nghiêm ngặt hơn để vừa tạo ra chương trình chất lượng mà vẫn giữ an toàn thông tin và đảm bảo hình thức thể hiện
Ở Việt Nam hiện nay công nghệ thực tế ảo đã được áp dụng trong các sản phẩm truyền hình, tạo ra một xu thế mới, mởi ra cơ hội cho các đài truyền hình trong việc tạo ra nhiều sản phẩm hấp dẫn, có tính tương tác cao, có sức cạnh tranh tốt Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng các chương trình dạng này chưa phổ biến và phát triển mạnh mẽ như nhiều quốc gia khác Về chất lượng, bên cạnh những chương trình được đầu tư sản xuất nghiêm túc, thì vẫn còn tồn tại không ít sản phẩm
Trang 14chưa thực sự chuyên nghiệp, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của công chúng xem truyền hình Mặc dù các đài truyền hình, trong đó có Truyền hình cáp Việt Nam đã nhìn thấy tiềm năng, sức mạnh của công nghệ thực tế ảo trong các chương trình mang lại, nhưng khi triển khai còn nhiều lúng túng Quản trị sản xuất chương trình truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo cũng đang đặt ra nhiều vấn đề khi việc sản xuất chương trình dạng này có thể đối mặt với nhiều thách thức
Vì vậy trong khuôn khổ luận văn tác gải muốn khảo sát thực trạng quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam Từ đó rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn, có thể đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng sản xuất chương trình, cũng như dự báo xu hướng phát triển
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các luận văn về báo chí truyền hình thể thao mới thấy có đề tài “Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình trên kênh VTVcab 23 - Thể thao Golf HD Truyền hình cáp Việt Nam” Luận văn đề cập một số vấn đề cơ bản về tổ chức sản xuất chương trình trên kênh truyền hình chuyên biệt
Nhưng đó là trên kênh Golf, một kênh truyền hình chuyên biệt về môn thể thao đánh Golf Tuy nhiên đó là môn thể thao vẫn chưa có tính gần gũi phổ cập, lượng công chúng yêu thích môn này ở Việt Nam còn ít Do vậy cũng kén khán giả, hơn nữa đề tài cũng chưa đề cập tới việc áp dụng công nghệ thực tế ảo trong sản xuất chương trình truyền hình thể thao
Dương Xuân Sơn (2009), Giáo trình Báo chí Truyền hình, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội Giáo trình đã chỉ ra những lý thuyết căn bản về Truyền hình Trong đó có nói sâu về phim tài liệu truyền hình, một thể loại gần gũi với chương trình truyền hình chuyên đề
Trần Bảo Khánh (2007), Sản xuất chương trình truyền hình, Nxb Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội Cuốn sách đã nói sâu về việc tổ chức sản xuất một chương trình truyền hình, bao gồm đầy đủ các thể loại: Tin, phóng sự truyền hình, chương trình truyền hình thực tế Theo tác giả, dựa vào phương thức tác nghiệp các chương trình truyền hình có thể chia thành 2 nhóm: Chương trình phát sóng trực tiếp và chương
Trang 15trình phát sóng qua băng từ Cuốn sách cung cấp những kiến thức sâu sắc về các khâu để cho ra đời một sản phẩm báo chí truyền hình hoàn chỉnh
Phạm Thị Sao Băng (2005), Giáo trình Công nghệ sản xuất chương trình truyền hình Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Giáo trình đã cung cấp những lý
thuyết và thực tiễn sản xuất chương trình truyền hình trong giai đoạn chuẩn bị bùng
nổ thông tin Cuốn giáo trình đã đề cập đến những vấn đề về chương trình truyền hình, quy trình và công nghệ sản xuất chương trình truyền hình, công nghệ phân phối các chương trình truyền hình, một số thiết bị cần có để phục vụ cho khâu sản xuất tiền kỳ và hậu kỳ Tuy nhiên so với hiện nay thì công nghệ đã có những thay đổi lớn do áp dụng các công nghệ mới
Bùi Chí Trung – Đinh Thị Xuân Hòa (2015), Truyền hình hiện đại những lát cắt 2015-2016, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách đã phản ánh thực tế thị trường
truyền hình mới với sự ra đời của những phương thức truyền thông mới mẻ đã làm thay đổi dần cách tiếp nhận thông tin của công chúng, của khán giả truyền hình Công chúng ngày càng thông minh và họ cũng muốn được tiếp cận với những sản phẩm truyền hình thông minh, hiện đại hơn Vậy họ có thể tiếp cận những sản phẩm
đó bằng cách nào? Và để đáp ứng nhu cầu chính đáng của công chúng thời hiện đại những người sản xuất cần phải làm ra những sản phẩm như thế nào? Công nghệ và sản phẩm truyền hình hiện đại có gì giống và khác so với hình thức truyền thống?
Cuốn sách là đáp án, là những góc nhìn đa chiều về truyền hình hiện đại trong giai đoạn đó, truyền hình truyền thống và đặc biệt chú tâm vào nội dung truyền hình hiện đại, truyền hình trong tương lai Mỗi góc nhìn đó về truyền hình sẽ được luận giải bởi những lát cắt khác nhau
Trần Bảo Khánh – Bùi Chí Trung (2021), Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách trình bày cách thức tổ chức
sản xuất các chương trình truyền hình chuyên đề, mối liên kết giữa các khâu trong quá trình sản xuất, sáng tạo tác phẩm, chương trình truyền hình chuyên đề Giới thiệu các kỹ năng, phương pháp tìm kiếm ý tưởng, phân tích và xây dựng khung định dạng chương trình Đây là một trong số ít các nghiên cứu cụ thể về chương trình truyền hình chuyên đề
Trang 16Vũ Quang Hào (2020), Nghĩ đột phá cho format báo chí, Nxb Thông tin và
truyền thông, Hà Nội Trong cuốn sách này, tác giả đã ngiên cứu, thiết kế hàng trăm format chương trình mới cho các loại hình báo chí khác nhau Trong đó những format cho bản tin, chương trình truyền hình được tác giả thiết kế, giới thiệu trong cuốn sách đều đề cập tới những lý thuyết mới, kỹ thuật sản xuất hiện đại mà tác giả
có cơ hội được học tập, tiếp thu và chắt lọc từ những nền báo chí tiên tiến, cũng như
từ thực tiễn báo chí trong nước
Nguyền Hoàng Quốc Việt (2022), Báo cáo Trí tuệ nhân tạo và những tác động của nó đối với nghành truyền hình, Đại Học Huế Báo cáo đã cho thấy tác
động mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo được ứng dụng trong báo chí nói chung và truyền hình nói riêng Đồng thời tác giả cũng chỉ ra hướng đi phù hợp với các tòa soạn hiện nay đó là xu hướng kết hợp với các hãng chuyên cung cấp giải pháp công nghệ Điều này làm thay đổi cách làm báo theo hướng tích cực hơn
Một số luận văn có liên quan đến đề tài như: Vũ Thanh Hường (2003), Tổ chức sản xuất các chương trình trò chơi truyền hình, Khoa báo chí, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tạ Văn Dương (2012), Tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề ở Đài phát thanh – truyền hình địa phương, Học viên Báo chí và Tuyên truyền
Nguyễn Đức Dũng (2013), Tổ chức sản xuất ký sự truyền hình ở các Đài phát thanh và Truyền hình miền Đông Nam Bộ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Vũ Thị Hương Trà (2016), Nâng cao chất lượng các chương trình đối thoại tọa đàm trên Kênh truyền hình Quốc Phòng Việt Nam Học viên Báo chí và Tuyên truyền
Những cuốn sách, giáo trình, công trình nghiên cứu nêu trên đều có góc độ tiếp cận, cách nhìn khác nhau và đều đề cập những vấn đề lý luận truyền thông đa phương tiện, sản xuất chương trình truyền hình, nâng cao chất lượng sản phẩm báo chí, truyền thông trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện Các tác giải cũng đề cập nhiều đến tòa soạn đa phương tiện dưới nhiều góc độ khác nhau, cả về lý luận
và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về vấn đề sản xuất chương trình truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo Vì thế tác
Trang 17giả muốn tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo, phân tích thực trạng này ở Truyền hình cáp Việt Nam, chỉ ra nguyên nhân, hạn chế, rút ra các vấn đề đang đặt ra, từ đó đề xuất các giải pháp quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực
tế ảo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây: Thứ nhất, khảo sát quy trình sản xuất chương trình truyền hình khi áp dụng công nghệ thực tế ảo
Thứ hai, tổng hợp, phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu liên quan để xây dựng khung lý luận cho đề tài
Thứ ba, một số vấn đề tồn tại, giải pháp để cải tiến quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Chương trình Bản tin Thế giới thể thao trên Truyền hình cáp Việt Nam
Với tính chất đặc thù của Truyền hình cáp Việt Nam là chiến lược ưu tiên phát triển sản xuất mảng thể thao Nhóm kênh thể thao là xương sống của hệ thống nôi dung Đồng thời trên kênh thể thao, thì chương trình Bản tin Thế giới thể thao (TGTT) là chủ lực Do vậy trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu quản trị quy trình sản xuất chương trình truyền hình về thể thao áp dụng công nghệ thực
Trang 18tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam Cụ thể là chương trình Bản tin Thế giới thể thao, trực tiếp 20h hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Khi thực hiện luận văn, tác giả sử dụng lý luận chung mang tính hệ thống về loại hình báo chí truyền hình, xu hướng phát triển của truyền hình ở Việt Nam, hệ thống lý thuyết về chương trình truyền hình, chất lượng của chương trình truyền hình, chương trình truyền hình chuyên về thể thao và cách thức quản trị quy trình sản xuất của nó Từ đó, vận dụng vào việc khảo sát, phân tích sự phát triển của chương trình truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả thực hiện những phương pháp nghiên cứu chính sau đây
Phương pháp phân tích tài liệu: Thực hiện trong quá trình khảo sát nghiên cứu các tài liệu khoa học, giá trình, các văn bản Phương pháp này được sử dụng để
hệ thống hóa những vấn đề về lý luận báo chí, truyền hình tạo cơ sở lý thuyết cho
đề tài nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp, phân tích nội dung: Các chương trình Bản tin TGTT trong khoảng thời gian nghiên cứu
Trang 19Phương pháp phỏng vấn sâu: Để làm sáng tỏ những vấn đề trong phạm vi của luận văn, tác giả nhận thấy các phỏng vấn sâu là phương pháp cần thiết được sử dụng Luận văn đã thực hiện hơn 12 cuộc phỏng vấn và 30 câu hỏi với các kỹ thuật viên (KTV) chuyên gia, nhà báo, lãnh đạo có kinh nghiệm về sản xuất nội dung, về công nghệ đồ họa, trực tiếp tham gia vào quy trình quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam, bằng phương thức phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua thư điện tử
Phương pháp quan sát thực chứng: Tác giả trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo để tạo ra chương trình Bản tin TGTT tại Truyền hình cáp Việt Nam Nhằm tạo cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1.Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa thêm khung lý luận về báo chí truyền hình, cụ thể là về quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam
Đồng thời nêu ra những yêu cầu cần thiết đối với người làm báo truyền hình
để tối ưu hóa việc thực hiện quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo, cũng như dự báo xu hướng phát triển trong tương lai
6.2.Ý nghĩa thực tiễn đóng góp của đề tài
Đề xuất một số giải pháp nhằm thay đổi những mặt hạn chế của quản trị quy trình sản xuất chương trình theo lối truyền thống để có thể đáp ứng tối đa yêu cầu sản xuất chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện và công nghệ mới liên tục thay đổi theo xu hướng phát triển của thế giới Từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu và tâm lý tiếp nhận thông tin của công chung hiện đại
Kết quả đạt dược của luận văn sẽ giúp ích cho việc phát triển nghề của những người làm báo truyền hình, tối ưu hóa quá trình sản xuất chương trình truyền hình cũng như chương trình truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam
Đây cũng là tài liệu giúp các Đài truyền hình tham khảo về việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo trong xu thế mới
Trang 207 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
Chương 2 Thực trạng quản trị sản xuất chương trình tại Truyền hình cáp Việt Nam
Chương 3 Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THỰC TẾ ẢO 1.1 Các khái niệm có liên quan đến đề tài
1.1.1 Truyền hình
Theo cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình”, của tác giả Dương Xuân Sơn
[31, tr 8], thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ''ở xa'' còn “videre” là ''thấy được'', còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại “Televidere”
có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là “Television”, tiếng Nga gọi là “Tелевидение” Như vậy, dù có phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa
Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ truyền hình đã làm cho cuộc sống như được
cô đọng lại làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung
Tóm lại, khái niệm truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện
1.1.2 Chương trình truyền hình
Theo Luật Báo chí 2016, chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp
Trang 22ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả
Theo cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình”, của tác giả Dương Xuân Sơn
[31, tr 95], thuật ngữ chương trình “program” trong chương trình truyền hình được hiểu gồm các chương trình như: chương trình “Thời sự”, “Vì an ninh Tổ quốc”, chương trình “Kinh tế”, “Văn hóa”, “Quân đội”, “Phụ nữ”, “Thiếu nhi”,
“Trò chơi (show games)”,… được phân bổ theo các kênh chương trình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể qua tin, bài, tác phẩm truyền hình
Đối với một Đài truyền hình quá trình sản xuất bắt đầu bằng việc sáng tạo các tác phẩm truyền hình Một đài truyền hình thường bao gồm có các bộ phận: lãnh đạo quản lý, biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên Trong đó phóng viên là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm báo chí truyền hình Các tác phẩm báo chí truyền hình này thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực và trách nhiệm xã hội của nhà báo truyền hình Uy tín, ảnh hưởng của một Đài truyền hình trước hết được quy định bởi khả năng nắm bắt thực tiễn, phát hiện những vấn đề nổi cộm, có ý nghĩa và phản ánh chúng một cách kịp thời tới công chúng khán giả, góp phần nâng cao nhận thức, mở rộng hiểu biết và định hướng tư tưởng cho công chúng
Các tác phẩm tin, bài được phát qua các chương trình truyền hình đều có sự lựa chọn, sắp xếp bố trí hợp lý để giúp khán giả tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống, có chiều sâu
Khái niệm chương trình truyền hình trong luận văn này được hiểu là tập hợp các tin, bài trên báo hình theo một chủ đề trong thời lượng nhất định, có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc
1.1.3 Quản trị
Thuật ngữ quản trị được giải thích bằng nhiều cách khác nhau và chưa có một định nghĩa nào được tất cả mọi người chấp nhận hoàn toàn Mary Parker Follett cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác” Có nghĩa là những nhà quản trị đạt được các mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ không phải hoàn thành công việc bằng chính mình
Trang 23Trong khi đó, tác giả Koontz và O’Donnell thì cho rằng: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế
và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” Một định nghĩa giải thích tương đối rõ nét về quản trị được James Stoner và Stephen Robbins trình bày như sau: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” Từ tiến trình trong định nghĩa này nói lên rằng các công việc hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát phải được thực hiện theo một trình tự nhất định Khái niệm trên cũng chỉ ra rằng tất cả những nhà quản trị phải thực hiện các hoạt động quản trị nhằm đạt được mục tiêu mong đợi Một hình ảnh khác có thể giúp chúng ta khẳng định sự cần thiết của quản trị qua câu nói của C Mác trong bộ Tư Bản: “Một nghệ sĩ chơi đàn thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có người chỉ huy, người nhạc trưởng” Tóm lại: Quản trị là tiến trình phối hợp hiệu quả các hoạt động của mọi người trong một tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra bằng việc phối hợp các nguồn lực với nhau
1.1.4 Sản xuất chương trình truyền hình
Theo cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình”, của tác giả Dương Xuân Sơn
[31, tr 97], chương trình truyền hình thường được biết đến là một đơn vị nội dung được phát sóng trên truyền hình Đồng thời, đây là còn là phương thức giao tiếp của truyền hình với khán giả, là một nội dung có giới hạn về thời gian Tại mỗi chương trình được phát sóng trên vào một khung giờ định sẵn, những nội dung phát sóng cần tuân thủ quy định về chủ đề và phạm vi để được phép phát sóng lên sóng truyền hình địa phương hoặc quốc gia
Như vậy sản xuất chương trình truyền hình là một phân đoạn sáng tạo và thực hiện sản xuất nội dung, dự định phát sóng trên truyền hình có đầy đủ các yếu tố sau:
Trang 24Biên tập, kịch bản, điều độ sản xuất, sản xuất tiền kỳ, sản xuất hậu kỳ, kiểm tra và duyệt nội dung, phát sóng
Hình 1.1 Sơ đồ mô tả quy trình sản xuất chương trình truyền hình kiểu truyền thống
(Nguồn: Giáo trình báo chí truyền hình)
và hiển thị trên màn hình máy tính hoặc qua kính thực tế ảo.Trong thế giới đó, bạn
có thể điều khiển và di chuyển đồ vật xung quanh bằng bộ điều khiển xúc
Theo tài liệu “Thiết kế đồ họa 3D”, tác giả Nguyễn Khắc Phú [25, tr 48], là
hình ảnh được tạo ra dưới dạng không gian ba chiều có tính tương tác với đối tượng,môi trường xung quanh theo đúng tiến trình thời gian thực Là phương pháp
sử dụng các hệ thống đồ họa hoạt động song song với các hệ thống phát sóng, các hình ảnh đồ họa sẽ được chèn trực tiếp lên sóng hoặc bị làm chậm một quãng thời gian tương đối nhỏ trước khi được chèn lên sóng Công nghệ đồ họa thực tế ảo thời gian thực phát triển nhanh chóng từ khi quá trình số hóa được triển khai rộng rãi,
Trang 25nhất là trong lĩnh vực truyền hình, công nghệ số làm cho sự phức tạp về thiết bị giảm đi, các khó khăn trong việc đấu nối, tích hợp giữa hệ thống đồ họa và hệ thống phát sóng cũng giảm đi đáng kể
Tóm lại: Thực tế ảo VR là một hệ thống giúp mô phỏng các đồ họa máy tính, tạo ra một thế giới như thật Với công nghệ thực tế ảo VR, môi trường được tạo ra một cách sinh động và thực hiện tương tác với người dùng trong thời gian thực
1.1.6 Thực tế ảo 3D theo thời gian thực (3D Realtime )
Theo báo cáo “Thực tế ảo xu thế đào tạo mới trong thời đại 4.0”, tác giả Trần Anh Tú - Đại học Kinh tế Quốc dân [28, tr 37], là hình ảnh được tạo ra dưới dạng
không gian ba chiều có tính tương tác với đối tượng,môi trường xung quanh theo đúng tiến trình thời gian thực Là phương pháp sử dụng các hệ thống đồ họa hoạt động song song với các hệ thống phát sóng, các hình ảnh đồ họa sẽ được chèn trực tiếp lên sóng hoặc bị làm chậm một quãng thời gian tương đối nhỏ trước khi được chèn lên sóng Công nghệ đồ họa thời gian thực phát triển nhanh chóng từ khi quá trình số hóa được triển khai rộng rãi, nhất là trong lĩnh vực truyền hình, công nghệ
số làm cho sự phức tạp về thiết bị giảm đi, các khó khăn trong việc đấu nối, tích hợp giữa hệ thống đồ họa và hệ thống phát sóng cũng giảm đi đáng kể
Trước sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, sự gia tăng các dịch vụ video trực tuyến, sự tăng trưởng nhanh chóng về số lượng thiết bị di động và xu hướng sử dụng video trực tuyến qua thiết bị kết nối Internet, các đơn vị truyền hình đã nhanh chóng ứng dụng các trường quay ảo được hỗ trợ bởi đồ hoạ 3D theo thời gian thực, điều khiển tự động hóa trường quay Các công nghệ mới như VR/AR ,3D Realtime được sử dụng trong sản xuất truyền hình mang lại trải nghiệm khác biệt đến với người xem, tăng tính chân thực và sống động cho từng chương trình
Đặc tính quan trọng nhất của công nghệ thực tế ảo là tương tác thời gian thực, tức là khả năng nhận biết thế giới thực gần trùng khít với thế giới ảo
1.2 Vai trò của quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
1.2.1 Giúp cho thông tin trong chương trình trở nên sinh động hơn
Chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo phần lớn là đồ họa động Đây cũng là một đặc điểm khẳng định sự sinh động và hài hòa của đồ họa trên truyền
Trang 26hình nói chung Không giống như một số sản phẩm đồ họa hoàn chỉnh trên báo in hay báo mạng điện tử, đồ họa trên truyền hình hay trong các chương trình về kinh tế trên truyền hình có thể không xuất hiện một cách trọn vẹn trên màn hình mà chia nhỏ các thông tin và để chúng xuất hiện lần lượt
Đặc trưng về ngôn ngữ của loại hình truyền hình đã khiến công chúng tiếp thu dễ dàng những sản phẩm đồ họa hơn bởi: Đồ họa trong chương trình áp dụng công nghệ mới trên truyền hình không xuất hiện đơn lẻ mà luôn đi kèm với lời bình, nhạc nền, trình bày xúc tích vì vậy chương trình trở nên sinh động hơn
1.2.2 Tạo sự chú ý của khán giả
Một sản phẩm đồ họa trên truyền hình nói chung có thể là sự kết hợp của nhiều dạng ngôn ngữ như chữ viết, con số, hình vẽ, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động và đặc biệt là sự chuyển động mang đặc trưng của ngôn ngữ truyền hình Bên cạnh đó, Chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo trên truyền hình nói chung cũng đi kèm với lời bình và nhạc nền giúp người đọc có thể nhanh chóng tiếp nhận thông tin một cách hệ thống, toàn diện, không mất nhiều thời gian đọc hay xử lý các thông tin Công nghệ thực tế ảo trong chương trình truyền hình có khả năng dung nạp nhiều dạng thức thể hiện, khiến khán giả tiếp nhận được lượng thông tin phong phú trong khoảng thời gian nhanh chóng
Công nghệ thực tế ảo áp dụng trong sản xuất chương trình truyền hình cũng là phép thử để thay đổi trải nghiệm của khán giả truyền hình, để cảm giác nghe và nhìn thay đổi sâu tận trong trí não Thực tế ảo tạo ra các mô phỏng tương tự như thế giới thật
Tương tác mở rộng toàn diện, thói quen hành vi của khán giả đã bị xáo mòn,
đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các sản phẩm trực tuyến là sự lựa chọn hàng đầu bởi
sự tiện lợi gắn liền với thiết bị di động Thì chương trình truyền hình muốn cạnh tranh chỉ còn hướng là phải tự thayd dổi mình theo chiều hướng áp dụng yếu tổ công nghệ vào sản phẩm để thu hút sự chú ý của khán giả
1.2.3 Giúp tăng uy tín thương hiệu kênh
Khán giả và giới chuyên môn khi tiếp nhận các chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo trên truyền hình sẽ được tiếp nhận bằng cả hai giác quan là thị giác
Trang 27và thính giác, từ đó có thể nhân đôi hiệu quả tiếp nhận thông tin Vì vậy sẽ có tác động lớn đến cảm nhận và đánh giá một sản phẩm truyền hình có ứng dụng công nghệ thực tế ảo Điều đó phản ánh uy tín của đơn bị báo chí truyền hình có làm chủ được công nghệ mới để phục vụ khán giả hay không.Yếu tố này gần như quyết định
uy tín chương trình và thương hiệu của kênh
1.2.4 Tình hình các chương trình truyền hình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Việt Nam
Nước ta vẫn đang trên đà nắm bắt xu hướng công nghệ mới nhất để theo kịp
sự phát triển của thế giới Vì còn gặp nhiều hạn chế về nguồn nhân lực có chuyên môn cao, cũng như các chương trình đào tạo chính quy về thực tế ảo nên chúng ta chưa thật sự tạo được thành tựu lớn Tuy nhiên, Việt Nam đang có những bước phát triển mới, nhờ vào tinh thần ham học hỏi, biết kết hợp khéo léo giữa tri thức của nhân loại và trí tuệ của dân tộc để tạo ra những sản phẩm VR đậm chất Việt, phục
vụ cho người Việt Các sản phẩm áp dụng công nghệ thực tế ảo phục vụ cho thương mại, du lịch, giáo dục, y tế, quốc phòng …đã được đưa vào ứng dụng
Riêng trong lĩnh vực truyền hình thì hầu hết các chương trình được sản xuất
áp dụng công nghệ thực tế ảo mới chỉ xuất hiện ở một vài Đài truyền hình lớn như: Đài truyền hình Việt Nam, Truyền hình cáp Việt Nam, Truyền hình Quốc phòng, Truyền hình K+, Truyền hình HTV Tuy nhiên mức độ hiệu quả trong việc tạo ra sản phẩm là khác nhau Do nhiêu nguyên nhân, trong đó đặc biệt lưu tâm đến yếu tố nguồn nhân lực trình độ cao và chương trình đào tạo chuyên sâu cho lĩnh vực này Bên cạnh đó chi phí để triển khai công nghệ rất lớn Tại Việt Nam,VTVcab là đơn
vị truyền hình đầu tiên tại Việt Nam và thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á ứng dụng sản xuất chương trình dựa trên công nghệ thực tế ảo (VR), và đại diện của Vizrt cho biết việc đầu tư xây dựng Trung tâm Kỹ thuật sản xuất chương trình ứng dụng công nghệ hiện đại là bước đặt nền móng đầu tiên cho những công nghệ hiện đại sẽ tiếp tục được ứng dụng trong tương lai
Đài THVN là đơn vị truyền hình lớn nhất cả nước, sản xuất các chương trình lớn về số lượng cũng như quy mô Là một đơn vị mạnh dạn đầu tư các công nghệ mới vì vậy hệ thống sản xuất của Đài THVN hiện là một trong những hệ thống hiện
Trang 28đại hàng đầu của Việt Nam và ngang bằng trên thế giới Áp dụng những sản phẩm tốt, mới và hiện đại trên thế giới
Hiện nay, hệ thống sản xuất chương trình của Đài THVN đang được xây dựng chia ra nhiều mảng do nhiêu đơn vị quản lý trong đó có 2 bộ phận chính:
Sản xuất tin tức: Hệ thống được đầu tư với hệ thống lõi là Avid + Orad Đây được đánh giá là hệ thông mạnh trong sản xuất tin tức, thực hiện sản xuất tin nhanh
và mạnh mẽ, áp dụng phương thức làm tin tiên tiến, đồ họa 3D, Virtual mạnh mẽ Nhược điểm của hệ thống này là chưa có hệ thống tự động hóa trường quay dẫn đến vẫn cần nhiều nhân sự vận hành
Sản xuất chương trình chuyên đề, bình luận, tọa đàm: Hệ thống thực hiện từ công đoạn quay phim, tiền kỳ, hậu kỳ, phân phối, lưu trữ Một hệ thống tổng thể xây dựng trên hệ thống lõi tích hợp và quy trình hóa các khâu khác lại thành một quy trình công việc và quản lý xuyên suốt
Các Đài truyền hình địa phương, các công ty truyền thông gần như không có đơn vị nào triển khai được công nghệ này Điều đó khiến các công ty truyền thông cũng không mặn mà trong việc tìm hiểu về công nghệ thực tế ảo áp dụng cho sản xuất chương trình Mặc dù nhu cầu để liên kết sản xuất của các công ty này là rất lớn
Với những ý kiến tham khảo kể trên có thể thấy,trong môi trường phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì các công nghệ ứng dụng trong các lĩnh vực đều phát triển như vũ bão Các sản phẩm, ứng dụng công nghệ biến đổi rất nhanh, chu kỳ ngắn khiến các công ty hoạt động báo chí truyền thông nếu như chậm triển khai là dễ bị tụt hậu, thậm chí là mất phương hướng
1.3 Chủ thể, khách thể và đối tượng quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
1.3.1 Chủ thể quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
Chủ thể quản trị là cơ quan, tổ chức, cá nhân điều hành, chỉ đạo một hệ thống, một quá trình vận động hoặc tác động vào đối tượng quản trị nhằm đạt được mục đích đã được định trước Quản lý báo chí nói chung hiện nay có các cấp:
Trang 29Cấp Nhà nước: Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan quản lý nhà nước về báo chí Trong đó, Cục Báo chí là cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý Nhà nước và thực thi pháp luật trong lĩnh vực báo chí
Cấp cơ quan chủ quản: Theo điều 14, 15 Luật báo chí năm 2016 cơ quan chủ quản báo chí bao gồm: Cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
xã hội – nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoăc tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được thành lập cơ quan báo chí, đứng tên đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo chí, thành lập và trực tiếp quản lý cơ quan báo chí Cơ quan chủ quản báo chí có nhiệm vụ chỉ đạo cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động, tổ chức nhân
sự và chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan báo chí Người đứng đầu cơ quan chủ quản báo chí liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đối với các sai phạm của cơ quan báo chí trực thuộc
Cấp cơ quan báo chí: Chủ thể cấp cao ( cấp quản lý) thường bao gồm Tổng biên tập ( Tổng giám đốc, giám đốc), các Phó Tổng biên tập, chủ thể cấp trung, chủ thể cấp cơ sở
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam thường có các cấp: Chủ thể cấp cao, chủ thể cấp trung, chủ thể cấp cơ sở
Chủ thể cấp cao - cấp Tổng biên tập: Trưởng Ban biên tập truyền hình cáp Việt Nam là quản lý cao nhất với các nội dung báo chí xuất hiện trên các kênh sóng của Truyền hình cáp Việt Nam Tiếp theo là các Phó Trưởng Ban Cấp quản lý này dựa trên văn bản pháp luật về hoạt động báo chí và các luật chi phối khác để ban hành quy định, quy chế hoạt động, điểu hành mọi hoạt động của cơ quan báo chí như nhân sự, kỹ thuật, tài chính, các sản phẩm báo chí về nội dung, hình thức, hiệu quả tác động đến công chúng
Chủ thể cấp trung:
Cấp phòng, trưởng kênh : Gồm các Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Trưởng kênh có nhiệm vụ chịu trách nhiệm sản xuất chương trình theo chỉ đạo của
Trang 30cấp trên, tổ chức các hoạt động để thực thi các chiến lược phát triển thông tin báo chí trên các kênh được cấp trên giao phụ trách Tham mưu, tư vấn cho cấp trên về công tác báo chí, công tác kiểm soát, giám sát nội dung, để chỉ đạo, ban hành kế hoạch quản lý Một số quản lý cấp này vẫn làm nhiệm vụ chuyên môn là sản xuất các tác phẩm báo chí
Cấp giám đốc khối sản xuất nội dung: Chịu trách nhiệm sản xuất các chương trình theo định hướng, kế hoạch của các cấp điều hành Đôn đốc trực tiếp các bộ phận ở khâu sản xuất, phân phối nội dung chương trình
Chủ thể cấp cơ sở - cấp nhóm, tổ, ekip: Đó là các trưởng nhóm, tổ trưởng, trưởng kíp Đây là nhóm quản lý trực tiếp nhất trong quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam Nhiệm
vụ của họ là đưa ra các quyết định tác nghiệp trực tiếp nhằm đôn đốc, hướng dẫn, điều khiển các thành viên trong nhóm thực hiện các công việc hàng ngày theo kế hoạch, góp phần tạo ra sản phẩm, chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam chật lượng, hiệu quả Bên cạnh đó, tham gia vào cấp này còn có các nhà báo, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên Họ chịu trách nhiệm chính với bài viết, tư liệu, hình ảnh liên quan tới sản phẩm với cơ quan báo chí
1.3.2 Khách thể và đối tượng quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
Đối tượng quản trị: Là quy trình sản xuất để tạo ra chương trình truyền hình
áp dụng công nghệ thực tế ảo
Khách thể quản trị: Là đối tượng tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản trị thông tin, bao gồm: đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên, cộng tác viên của đơn vị tham gia vào hoạt động sản xuất chương trình
Khách thể quản trị: Là các yếu tố tạo nên các tác phẩm báo chí như trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ Bên cạnh đó, phương thức, cơ chế quản lý, công cụ quản trị và hiệu quả quản trị cũng được coi là khách thể quản trị
Khách thể quản trị: Là các yếu tố về con người sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các điều kiện chính để thực hiện các kế hoạch sản xuất thông tin báo chí xuất hiện trong chương trình mà cơ quan quản trị báo chí ban hành Khách thể chủ
Trang 31động và sáng tạo trong khai thác, tìm kiếm thông tin, viết bài, tạo ra sản phẩm đảm bảo về chất lượng nội dung và hình thức do chủ thể cấp cao đặt ra
Trong quá trình quản trị, các chủ thể thông qua khách thể tác động vào đối tượng quản trị, mối quan hệ này tác động qua lại và gắn bó một cách hữu cơ
1.4 Yêu cầu của quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
1.4.1 Yêu cầu về nội dung quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
Xây dựng kế hoạch quản trị sản xuất chương trình , xác định mục tiêu quản trị quy trình sản xuất chương trình
Xây dựng kế hoạch quản trị quy trình sản xuất chương trình Bản tin TGTT, xác định mục tiêu quản trị quy trình sản xuất chương trình Bản tin TGTT là khâu quan trọng cần thiết trong quy trình sản xuất các sản phẩm báo chí Dưới sự chỉ đạo, định hướng chung của Trưởng Ban, trưởng phòng, giám đốc sản xuất nội dung cho các thông tin có trong chương trình Các bộ phận trong cơ quan báo chí sẽ chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ khi có kế hoạch thông tin, có thể ngắn hạn hoặc kế hoạch đột xuất
Lập kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản trong hoạt động thông tin của các cơ quan báo chí nhằm xem xét các mục tiêu, các phương án, và cách tiến hành đăng tải thông tin Hoạt động này giúp bộ máy vận hành hiệu quả, phân định
rõ trách nhiệm , quyền hạn của từng thành viên, nó cũng tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp giữa các bộ phận trong cơ quan báo chí
Lập kế hoạch bao gồm phân công nhân lực, vật lực thực hiện kế hoạch thông tin Trưởng phòng, phó trưởng phòng, giám đốc sản xuất nội dung làm nhiệm vụ phân công phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên thực hiện công việc, đặt bài cộng tác viên Đảm bảo đúng chức trách, và tuân thủ các kế hoạch thông tin đã được cấp trên phê duyệt
Quy trình tổ chức biên tập các thông tin trên chương trình thông qua các bước
cụ thể, và đội ngũ nhân sự sẽ làm nội dung và kỹ thuật phù hợp để thực hiện các phần việc mà nội dung kịch bản yêu cầu Quy trình này thường là: Phóng viên đăng ký đề tài, duyệt kịch bản, điều độ, viết tác phẩm, biên tập, phát sóng, phản hồi
Trang 32Để thực hiện tốt quy trình này, các nhà quản lý cần thường xuyên kiểm tra hiệu quả công việc của các nhân sự thuộc bộ phân nội dung và kỹ thuật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Kế hoạch sản xuất bản tin và quy trình phát sóng phải được tuân thủ nghiêm ngặt khi thực hiện Quản trị kế hoạch sản xuất và quy trình phát sóng sẽ giúp cho cơ quan báo chí hoạt động chuyên nghiệp từ đó cho ra đời những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của công chúng Như vậy cần có sự quản trị tốt sẽ giúp thông tin trong chương trình có chất lượng tốt, ít sai sót
Quản trị nội dung sản xuất chương trình
Quản trị nội dung quy trình sản xuất chương trình để góp phận nâng cao chất
lượng Bản tin TGTT, nâng cao nhận thức của công chúng, chất lượng của bản tin được thể hiện chủ đạo bằng chất lượng của từng tin bài, của thông tin có trong bản tin, vai trò của thông tin trong bản tin Nội dung rất đa dạng , thông tin trong nước, thông tin quốc tế, tiêu điểm , nhân vật, sự kiện
Các nhà quản trị cần chú trọng thông tin để đảm bảo các yêu cầu: Thông tin nhanh chóng, kịp thời, có tính thời sự về các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Thông tin cần tin cậy, chính xác, có tính định hướng, phong phú, đa dạng và bổ ích với công chúng, thông tin cần ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu, trình bày hấp dẫn để công chúng dễ tiếp nhận
Quản trị để thông tin có chất lượng về nội dung, hình thức, đúng định hướng tuyên truyền, mang lại lợi ích, nâng cao hiểu biết cho công chúng Khi chủ thể quản trị đưa ra những chỉ đạo, định hướng, phương thức triển khai để có được những sản phẩm báo chí phù hợp thì hoạt động quản trị thông tin mới có chất lượng cao
Trong quá trình thông tin, yếu tố tin cậy, chính xác có tính định hướng cần được các nhà quản trị chú trọng, ưu tiên hàng đầu Các nội dung đề cập phải phù hợp với định hướng tuyên truyền, không đi ngược với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việc định hướng thông tin trong cơ quan báo chí cần khẩn trương, kịp thời để
có thể tổ chức triển khai hợp lý, đảm bảo chất lượng, cần dựa vào tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan báo chí, dựa vào sự kiện, vấn đề diễn ra ở thời điểm xác định mà chủ thể quản trị đưa ra định hướng thông tin đối với từng chương
Trang 33trình và nội dung sản phẩm báo chí Nhu cầu tiếp nhận thông tin của xã hội, công chúng báo chí, và năng lực, tiềm lực của cơ quan báo chí Việc định hướng là cần thiết bởi yếu tố này chi phối rất lớn đến hiệu quả thông tin đi vào cuộc sống
Quản trị hình thức sản xuất chương trình
Trong báo chí hiện đại, ngoài nội dung quy trình sản xuất chương trình, thì
hình thức cũng đóng vai trò rất quan trọng Bởi cần có cách thức thu hút sự chú ý của công chúng để họ lựa chọn thông tin theo dõi, lúc đó nội dung mới đến được với công chúng Do vậy, các nhà quản trị cần chú trọng đến thể loại, ngôn ngữ thể hiện, tần suất, vị trí chương trình, phong cách thể hiện sao cho có sự hài hòa, hợp lý, hấp dẫn và giữ được công chúng, khán giả
Thể loại trên báo chí hiện nay khá đa dạng: Nhóm thông tin sự kiện bao gồm tin, tường thuật ,ghi nhanh, nhóm thông tin vấn đề bao gồm: phỏng vấn, phóng sự, nhóm thông tin lý lẽ bao gồm: bình luận, xã luận
Tin là tác phẩm báo chí ngắn gọn, khách quan được viết và chuyển tải nhanh chóng trên bản tin Có ý nghĩa đem đến cho công chúng những thông tin nhanh nhất
Phóng sự là bài viết thể hiện một lát cắt về một vấn đề trong cuộc sống, trong
đó vai trò của tác giả và nhân chứng chiếm vị trí quan trọng
Ngôn ngữ thể hiện trên chương trình rất đa dạng, phong phú Ngoài các tin ngắn, phóng sự được thực hiện truyền thống 2D thì hiện nay còn được thể hiện bằng ngôn ngữ hình ảnh 3D, giúp trường quay, hình ảnh sinh động hơn, theo phóng cách mới lạ, hấp dẫn và dễ thuyết phục công chúng, khán giả hơn
Quản trị nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là cơ sở để đánh giá hiệu quả của hoạt động của một tổ chức, nếu một cơ quan báo chí đội ngũ nhân sự có đủ trình độ chuyên môn cao, kiến thức, kỹ năng, tâm huyết thì công việc quản lý sẽ thuận lợi, đạt hiệu quả cao Do vậy, để quản lý tốt thông tin trong chương trình cần chú trọng phát huy đồng thời sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn nhân lực trong cơ quan Nguồn nhân lực bao gồm: Phóng viên, biên tập viên, quay phim, đạo diễn, kỹ thuật viên dựng 2D, kỹ thuật vận hành hệ thống, kỹ thuật phát sóng, kỹ thuật đồ họa 3D, kỹ
Trang 34thuật âm thanh, cố vấn, cộng tác viên…các thành viên này cần thống nhất về tư tưởng, hành động, nhưng cũng phải đảm bảo khuyến khích ý kiến cá nhân của người làm báo, phát huy tinh thần sáng tạo
Trên cơ sở nguồn nhân lực, các lãnh đạo cơ quan báo chí cần xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, thân thiện, đoàn kết để động viên các thành viên, nhất là đội ngũ sáng tạo tác phẩm báo chí để họ cống hiến tạo ra các sản phẩm báo chí chất lượng, phân công đúng người, đúng việc Đảm bảo các thành viên trong tổ, nhóm nắm vững quy trình vận hành và nhiệm vụ của mình để việc quản trị quy trình sản xuất được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả
Quản trị trang thiết bị phương tiện kỹ thuật
Trong bất cứ cơ quan báo chí nào thì yếu tố trang thiết bị, kỹ thuật là những phương tiện hữu hiệu đắc lực để thực hiện trọng trách đó Với thương hiệu của cơ quan báo chí, nếu kỹ thuật, công nghệ yếu kém, cũ kỹ, lạc hậu sẽ dẫn đến tác phẩm báo chí không thể đạt chất lượng cao, hình thức sản phẩm báo chí kém hấp dẫn sẽ khiến công chúng khó có thể lựa chọn kênh, chương trình để theo dõi Do vậy, quản trị trang thiết bị máy móc kỹ thuật là công việc không thể thiếu trong một cơ quan báo chí
Quản trị hệ thống công nghệ phục vụ sản xuất
Hiện nay với sự phát triển của báo chí đa phương tiện, đa nền tảng, cũng như nhu cầu của công chúng ngày một nâng cao Điều này đòi hỏi các cơ quan báo chí luôn luôn phải nâng cấp bản thân mình một cách toàn diện Đặc biệt là yếu tố công nghệ sản xuất chương trình phù hợp, tương thích với cơ sở vật chất kỹ thuật, phù hợp với đội ngũ vận hành có trình độ Do vậy quản lý hệ thống công nghệ phục vụ sản xuất là yếu tố vô cùng quan trọng trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay để tạo ra những sản phẩm báo chí đáp ứng nhu cầu đòi hỏi cao của khán giả
1.4.2 Yêu cầu về phương pháp quản trị sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo
Quản trị thông qua văn bản hành chính
Trang 35Quản trị báo chí bằng văn bản hành chính, pháp luật, nghĩa là sử dụng luật pháp của nhà nước để điều chỉnh hoạt động giúp báo chí phát triển đúng định hướng Thông tin báo chí nói chung luôn tuân thủ theo các quy định của Luật báo chí, Luật tiếp cận thông tin và văn bản dưới luật có liên quan Các nghị định quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của cơ quan hành chính nhà nước Quản trị thông tin trong chương trình cần bám sát vào hệ thống các văn bản luật chuyên nghành giúp quá trình quản trị được dễ dàng, các thông điệp phát đi có độ chính xác cao, phù hợp với định hướng tuyên truyền, điều này có ý nghĩa quan trọng với thông tin trong chương trình
Để quản trị tốt, ngoài hệ thống luật pháp thì các cơ quan báo chí cần xây dựng, ban hành các nội quy, quy chế, các văn bản quy định đến quá trình tổ chức sản xuất, quy định chất lượng, quy định về thông tin Các văn bản được chủ thể cấp cao ban hành là căn cứ để chủ thể quản trị các cấp có trách nhiệm ban hành, thực hiện khiến các đối tượng chịu sự quản trị xác định và thực hiện đúng quyền, nghĩa
vụ của mình trong thông tin làm sao cho hiệu quả, chất lượng
Quản trị bằng hệ thống tổ chức và báo cáo phản hồi
Trong mỗi cơ quan báo chí có một hệ thống tổ chức chặt chẽ, phân công đúng người, đúng việc, đảm bảo các thành viên trong hệ thống sản xuất của đơn vị luôn phải nắm vững chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, phát luật của Nhà nước
Phương thức này quản trị trực tiếp thực hiện việc tổ chức sản xuất thông tin trong chương trình Hoạt động quản trị tác động trực tiếp lên những người sáng tạo nội dung Nếu đội ngũ thực hiện không nắm rõ bản chất hoặc không hiểu quy tình thì thông tin không được đảm bảo các yêu cầu đặt ra Việc phân chia vị trí công việc phù hợp với năng lực chuyên môn, trình độ, kinh nghiệm của từng người đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động sản xuất đạt chất lượng, gắn trách nhiệm với người thực hiện Việc tổ chức, triển khai công việc phải bám sát sự chỉ đạo của cấp trên, ngược lại cấp trên cần thường xuyên động viên, khuyến khích, khai thác tốt trình độ, năng lực của mội người, tạo sự gắn kết chặt chẽ, phối hợp
Trang 36nhịp nhàng trong đội ngũ thực hiện sản xuất qua đó xây dựng nội dung đảm bảo tính chính xác, chân thực, đầy đủ, hấp dẫn
Theo chiều ngược lại, đội ngũ chủ thể cơ sở trực tiếp sản xuất ra sản phẩm báo chí cũng cần phản phồi các cấp lãnh đạo để họ kịp thời nắm bắt những diễn biến của quá trình sản xuất Sự phản hồi này có thể bằng văn bản, bằng email hay nêu ra trong các cuộc họp giao ban Đây được coi là nội dung bắt buộc để tạo sự trao đổi, tương tác thông tin quản trị hai chiều Trường hơp cần kíp có thể thực hiện phản hồi bằng việc gặp trực tiếp hoặc điện thoại Đây là hình thức mà các cơ quan báo chí hiện nay vẫn thực hiện
Quản trị bằng chế độ kiểm tra, giám sát
Kiểm tra, giám sát để đảm bảo không có hoặc hạn chế những sai phạm xảy ra trong quá trình sản xuất Phương thức quản trị này giúp các chủ thể quản trị phát hiện kịp thời sai sót trong quá trình sáng tạo tác phẩm, phát sóng Từ việc xác định
vị trí, vai trò của thông tin cùng với nhiệm vụ cụ thể, đạo đức của nhà báo, cùng nhà quản lý xây dựng kế hoạch quản trị thông tin một cách hiệu quả đến với công chúng Từ đó sẽ tăng hiệu quả tác động của các nội dung thông tin Phương pháp quản trị này còn được thực hiện sau khi thông tin với sư phản hồi từ phía khán giả Trong quá trình quản trị chủ thể sẽ kiểm tra, giám sát thông qua hệ thống luật pháp
và văn bản dưới luật về báo chí, các quy định, quy chế do cơ quan báo chí ban hành Thông qua các đầu mối được giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chủ thể quản trị sẽ đánh giá được hiệu quả công việc quản trị sản xuất chương trình Nếu được tiển hành thường xuyên và người quản trị có năng lực, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì đây là phương pháp được cho là hiệu quả Ngược lại, không được kiểm tra, giám sát tốt sẽ làm giảm hiệu quả quản lý ở cơ quan báo chí và không thể kịp thời uốn nắn những sai lệch
Quản trị bằng chế độ khen thưởng, kỷ luật
Quản trị bằng chế độ khen thưởng, kỷ luật là sự tác động thông qua các lợi ích kinh tế gắn với hiệu quả công việc để tạo ra sự khuyến khích cần thiết trong công việc của mỗi người Để làm tốt công tác này, nhà quản trị cần thực hiện việc xây dựng chế độ định mức, thù lao phù hợp đối với từng bộ phận tham gia trong
Trang 37dây chuyền sản xuất Xây dựng chế độ khen thưởng, kỷ luật công bằng, minh bạch, cần phải làm thường xuyên nhằm khích lệ, động viên, tạo động lực, khuyến khích sáng tạo nhưng cũng cho thấy sức mạnh của quản trị nếu có những bộ phận, cá nhân không tuân thủ quy trình sản xuất
1.5 Tiểu kết chương 1
Trong chương này, bằng nhiều nguồn tài liệu và phân tích, diễn giải, tổng hợp, luận văn đã cố gắng xây dựng một hệ thống các khái niệm và hệ lý thuyết làm nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu ở chương sau
Chương này đã giải quyết được một số nội dung như sau: Hệ thống hóa một số khái niệm liên quan tới vấn đề mà luận văn đang nghiên cứu như khái niệm truyền hình, khái niệm quản trị, khái niệm sản xuất chương trình …luận văn cũng đã trình bày được vai trò của việc áp dụng công nghệ thực tế ảo vào sản xuất chương trình Đồng thời nêu được thực trạng về sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế
ảo ở Việt Nam hiện nay ra sao
Chương này cũng làm sáng tỏ vai trò của quản lý, quản trị thông tin, phân tích chủ thể các cấp quản trị, đối tượng và khách thể quản trị của thông tin báo chí Các yêu cầu về quản trị thông tin trong cơ quan báo chí Đây là những tư tưởng, quan điểm đóng vai trò cơ bản nhất cho hệ thống lý luận quản trị quy trình sản xuất chương trình áp dụng công nghệ thực tế ảo tại Truyền hình cáp Việt Nam
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH
ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THỰC TẾ ẢO TẠI TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu về Truyền hình cáp Việt Nam và Bản tin TGTT
2.1.1 Khái quát về Truyền hình cáp Việt Nam – VTVcab
Tổng Công ty Truyền hình cáp Việt Nam được thành lập năm 1995 Là đơn vị thuộc Đài truyền hình Việt Nam Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Cáp MMDS được VTV thành lập trên cơ sở được tách ra từ Trung tâm Kỹ thuật sản xuất chương trình, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là phát triển hệ thống truyền hình viba nhiều kênh MMDS, trở thành hệ thống truyền hình trả tiền nhiều kênh đầu tiên tại Việt Nam
Trải qua quá trình phát triển, từ ngày 7 tháng 9 năm 2021, VTVcab thay đổi tên gọi
và bộ nhận diện các kênh truyền hình do VTVcab sở hữu với thương hiệu ON
Công ty có chức năng cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền và các dịch vụ giá trị gia tăng trên đường truyền tín hiệu truyền hình cáp trên toàn quốc Hiện tại, VTVcab đang cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền qua 2 phương thức là truyền hình cáp và truyền hình internet (thông qua ứng dụng VTVcab ON và ON+, website vtvcab.vn)
VTVcab hiện có khoảng 2,5 triệu thuê bao trên toàn quốc, phát sóng 200 kênh, trong đó có 100 kênh chất lượng HD, hội tụ các nhóm kênh chuyên biệt về thể thao, phim truyện, giải trí, thiếu nhi, đáp ứng nhu cầu nghe nhìn và sử dụng dịch
vụ internet chất lượng cao trên đa nền tảng
Bảng 2.1 Số lượng thuê bao VTVcab giai đoạn 2017-2020 ( Nguồn.Tổng công ty truyền hình cáp Việt Nam )
Trang 39Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức VTVcab ( Nguồn: VTVcab)
Với khẩu hiệu “Sáng tạo không ngừng vươn tầm thế giới” Khi công nghệ phát triển, internet, 5G ngày càng phổ biến, người xem, đặc biệt là giới trẻ đã thay đổi cách xem Đây vừa là thách thức vừa tạo ra nhiều cơ hội để VTVcab tiếp tục tạo dựng vị thế vững chắc và xây dựng thương hiệu ngày càng vững mạnh, đóng góp vào sự phát triển chung của ngành Truyền hình trả tiền Việt Nam, trở thành tập đoàn truyền thông đa phương tiện mạnh trên tất cả các nền tảng tại Việt Nam, trở
thành nhà cung cấp nội dung sáng tạo trên nền tảng online, mạng xã hội
Xác định được vũ khí cạnh tranh mạnh nhất của VTVcab bên cạnh yếu tố kỹ thuật là nội dung chương trình, phải xây dựng và khẳng định được các kênh truyền hình trả tiền của VTVcab là hàng đâu, đảm bảo cân đối giữa các kênh sản xuất, kênh nước ngoài để chủ động và ổn định về nội dung
2.1.2 Khái quát về chương trình Bản tin Thế giới thể thao
Nắm bắt xu hướng của sự phát triển của báo chí truyền thông nói chung và của truyền hình nói riêng Đồng thời với phương châm truyền hình thể thao là mũi nhọn tích cực nhất để tập chung phát triển nội dung của Truyền hình cáp Việt Nam
Vì vậy đã có tới 5 kênh sóng chuyên biệt về sản xuất khai thác nội dung thể thao
được Truyền hình cáp Việt Nam xây dựng vận hành và phát triển
Trang 40Trong đó chương trình Bản tin Thế giới thể thao phát sóng lúc 20h hàng ngày được coi là xương sống của kênh thể thao
Bản tin Thế giới thể thao là chương trình bản tin có thời lượng 30 phút, phát sóng trực tiếp vào lúc 20h hàng ngày (trừ thứ 7, Chủ nhật) trên kênh On Football,
On Sports và On Sports News thuộc hệ thống các kênh thể thao của Truyền hình cáp Việt Nam
Đây là chương trình bản tin phản ánh tình hình thể thao trong nước và quốc
tế rất đầy đủ và đa dạng, được phát sóng lần đầu từ 2006 Trải qua rất nhiều năm tháng và nhiều lần thay đổi format theo sự phát triển của truyền hình, đến nay Bản tin Thế giới thể thao đã có cho mình một chỗ đứng vững chắc trong lòng khán giả hâm mộ thể thao cả nước
Những năm gần đây, trên kênh Thể thao TV, Bóng đá TV (Từ 7-9-2020 đổi tên thành On Sports và On Football), bản tin luôn đa dạng cách thể hiện và làm mới
bộ nhận diện, đổi mới phương pháp làm việc, cải tiến công nghệ sản xuất
Đặc biệt từ năm 2018 sau khi VTVcab áp dụng đồng bộ công nghệ thực tế ảo của hãng Vizrt, một đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ truyền hình hàng đầu thế giới thì đã mở ra một hướng sản xuất các chương trình truyền hình nói chung và bản tin thể thao nói riêng theo một cách hoàn toàn mới từ tiền kỳ cho đến hậu kỳ, quy trình chạy bản tin và thành phẩm phát sóng Góp phần xây dựng uy tín và vị thế của Truyền hình cáp Việt Nam