1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Skkn lịch sử: Một số phương pháp phát triển tư duy phản biện của học sinh trong dạy học chủ đề: Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930

16 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930
Trường học Trường THCS&THPT Như Thanh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 55,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, việc hình thành và rèn luyện tư duy phản biện trở thành một yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều học sinh vẫn còn học sử theo lối ghi nhớ máy móc, thiếu khả năng đánh giá, so sánh và đưa ra quan điểm độc lập. Trước thực trạng đó, sáng kiến kinh nghiệm này tập trung vào việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh thông qua các hoạt động dạy học môn Lịch sử tại trường THPT, nhằm giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn biết đặt câu hỏi, phân tích vấn đề lịch sử, và bảo vệ chính kiến của bản thân một cách logic và có căn cứ.

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam đang đổi mới căn bản và toàn diện theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học, việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với người giáo viên trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là với môn Lịch sử – môn học vốn được xem là nền tảng để rèn luyện khả năng tư duy logic, tư duy hệ thống, tư duy phản biện và đạo đức công dân

Tư duy phản biện được hiểu là khả năng phân tích, đánh giá thông tin, sự kiện, hiện tượng trên nhiều chiều cạnh; biết lập luận, tranh luận, so sánh, phản bác một cách có cơ sở để hình thành quan điểm độc lập và chính kiến cá nhân Đây là một trong những năng lực cốt lõi giúp người học thích nghi với thế giới hiện đại – nơi thông tin thay đổi từng giờ và những vấn đề mang tính phức hợp ngày càng nhiều Tuy nhiên, thực tế dạy học hiện nay cho thấy học sinh vẫn còn rất thụ động trong tiếp nhận tri thức Ở nhiều lớp học, học sinh chỉ lắng nghe, ghi chép, học thuộc, chưa biết cách đặt câu hỏi, chưa dám phản biện hay thể hiện quan điểm khác biệt, chưa quen với việc phân tích và đánh giá đa chiều một vấn đề lịch sử Điều này làm hạn chế khả năng sáng tạo, tính độc lập trong tư duy và cả sự tự tin của các em khi học tập, thảo luận hay làm bài thi

Trong chương trình môn Lịch sử lớp 11 theo Chương trình giáo dục phổ thông

2018, chủ đề “Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam

từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930” có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi đây là giai đoạn chuyển tiếp mang tính bản lề của lịch sử dân tộc, là thời kỳ xuất hiện và cạnh tranh giữa hai khuynh hướng cứu nước lớn: phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản (tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) và phong trào cách mạng

vô sản do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng Việc giúp học sinh phân biệt, đánh giá, so sánh giữa hai khuynh hướng cách mạng này không chỉ đòi hỏi kỹ năng ghi nhớ sự kiện, mà còn cần kỹ năng tư duy phản biện sâu sắc để hiểu được nguyên nhân thành công – thất bại, những giá trị tiến bộ và hạn chế của từng khuynh hướng

Tuy nhiên, đây cũng là một chủ đề phức tạp về mặt nội dung và dễ gây nhầm lẫn trong nhận thức của học sinh Không ít em chỉ dừng lại ở mức ghi nhớ tên nhân vật, năm diễn ra sự kiện mà chưa hiểu được bối cảnh, tư tưởng, động cơ và tác động của mỗi khuynh hướng cách mạng Việc so sánh giữa hai khuynh hướng dân chủ tư sản và vô sản vẫn còn mơ hồ, thiếu cơ sở lập luận; nhiều học sinh lúng túng khi trả lời các câu hỏi mở, chưa có khả năng đưa ra lập luận mang tính phản biện Đây là thực trạng phổ biến tại nhiều trường THPT hiện nay, kể cả trong các kỳ thi học sinh giỏi hay thi tốt nghiệp THPT với những câu hỏi mang tính phân tích, đánh giá Mặt khác, phát triển tư duy phản biện cho học sinh thông qua chủ đề này cũng góp phần giáo dục các em về tinh thần yêu nước, trách nhiệm công dân và bản lĩnh chính trị Qua việc tìm hiểu và đánh giá các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, học sinh không chỉ học về lịch sử mà còn học được cách suy nghĩ có lý lẽ, có trách nhiệm với xã hội, biết tôn trọng sự khác biệt trong hành động yêu nước của các chí sĩ

Trang 2

đương thời và rút ra bài học vận dụng trong thời đại ngày nay Điều này cũng phù hợp với mục tiêu hình thành “con người Việt Nam toàn diện” mà ngành giáo dục đang hướng đến

Với vai trò là một giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử tại trường THCS&THPT Như Thanh, tôi nhận thức rõ tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học

để giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn rèn luyện tư duy phản biện Tôi

đã trăn trở, tìm tòi và thử nghiệm nhiều cách tiếp cận khác nhau để giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức lịch sử, đặc biệt trong những chủ đề có độ mở cao như: các phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX Trên cơ sở đó, tôi quyết định lựa chọn đề

tài: “Một số phương pháp phát triển tư duy phản biện của học sinh trong dạy học chủ đề: Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930” làm sáng kiến kinh nghiệm trong năm học 2024–

2025 Tôi hy vọng đề tài này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn tại đơn vị mình, mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với đồng nghiệp đang giảng dạy môn Lịch sử trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học

- Nâng cao hiệu quả giảng dạy chủ đề “Khuynh hướng dân chủ tư sản…” qua việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh

- Đề xuất một số phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cụ thể nhằm khuyến khích học sinh suy nghĩ độc lập, phân tích, lập luận và phản biện

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh lớp 11 trường THCS&THPT Như Thanh – Thanh Hóa, khi học chủ đề

“Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX đến 1930”

- Các phương pháp và hình thức dạy học nhằm phát triển tư duy phản biện của học sinh trong môn Lịch sử

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát, điều tra thực trạng quá trình học tập của học sinh

- Phương pháp phân tích tài liệu, sách giáo khoa, chương trình giáo dục phổ thông 2018

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thiết kế, tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát triển tư duy phản biện

- Phương pháp tổng hợp, rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

a) Tư duy phản biện và vai trò của tư duy phản biện trong giáo dục

Tư duy phản biện (Critical Thinking) là một dạng tư duy bậc cao, thể hiện khả

năng phân tích, đánh giá, phản hồi thông tin một cách khách quan và logic, từ đó đưa ra quan điểm cá nhân có cơ sở và khả năng tự điều chỉnh nhận thức của bản thân Theo Bloom và Anderson trong thang tư duy nhận thức, tư duy phản biện

Trang 3

nằm ở những cấp độ tư duy cao nhất như: phân tích (analyze), đánh giá (evaluate)

và sáng tạo (create) Đây là năng lực không thể thiếu của người học trong thế kỷ XXI – thời đại của thông tin và toàn cầu hóa

Trong chương trình giáo dục phổ thông mới (ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT), việc phát triển năng lực tư duy phản biện đã được xác định là một trong những mục tiêu cốt lõi Theo đó, học sinh không chỉ học để biết, mà còn học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình Trong môn Lịch sử, tư duy phản biện giúp học sinh:

- Đặt câu hỏi có chiều sâu, không thụ động tiếp nhận kiến thức

- So sánh, đối chiếu giữa các sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử

- Đưa ra lập luận mang tính logic, biết đánh giá một sự kiện dưới nhiều góc nhìn khác nhau

- Biết phản bác, bảo vệ quan điểm cá nhân bằng dẫn chứng xác thực, lập luận

rõ ràng

Như vậy, phát triển tư duy phản biện không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động mà còn hình thành năng lực tư duy độc lập, bản lĩnh cá nhân – những phẩm chất cần thiết của công dân toàn cầu trong tương lai

b) Dạy học môn Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực

Môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã chuyển mạnh từ

“truyền thụ kiến thức một chiều” sang phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh Nội dung chương trình được thiết kế theo hướng tinh giản, tích hợp, tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, khám phá, phân tích và đánh giá vấn đề lịch sử một cách chủ động Theo đó, giáo viên không chỉ đóng vai trò là người cung cấp tri thức, mà còn là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập, đối thoại, tranh luận và tổng kết kiến thức bằng chính khả năng tư duy của mình

Dạy học Lịch sử hiện nay phải đảm bảo giúp học sinh hình thành các năng lực cốt lõi sau:

- Năng lực tìm hiểu lịch sử: qua việc sử dụng nguồn sử liệu, tài liệu lịch sử và

phương tiện học tập hiện đại để nghiên cứu vấn đề

- Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử: thể hiện qua việc nhận biết, so sánh,

phân tích, đánh giá các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử

- Năng lực vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn: học sinh có thể liên hệ,

rút ra bài học, bài vận dụng từ các sự kiện lịch sử vào đời sống xã hội hiện nay

Trong đó, năng lực tư duy phản biện là thành phần quan trọng, xuyên suốt cả

quá trình dạy học Nếu không hình thành năng lực này, học sinh sẽ học Lịch sử một cách khô cứng, máy móc, và thiếu tính vận dụng thực tế

c) Chủ đề “Khuynh hướng dân chủ tư sản từ đầu thế kỷ XX đến 1930” – chất liệu phù hợp để phát triển tư duy phản biện

Chủ đề “Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam

từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930” là một nội dung mang tính mở, có chiều sâu, nhiều yếu tố để phân tích, đánh giá Học sinh cần tìm hiểu các nhân vật tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, các tổ chức cách mạng như Duy Tân hội, Đông Du, Việt

Trang 4

Nam Quang phục hội, Hội phục Việt, Tân Việt Cách mạng Đảng…, cũng như lý tưởng, con đường đấu tranh, phương pháp cách mạng và kết quả hoạt động của họ Đây là cơ hội để giáo viên tổ chức cho học sinh:

- So sánh hai khuynh hướng cách mạng lớn: dân chủ tư sản và vô sản (do Nguyễn Ái Quốc đại diện)

- Đánh giá nguyên nhân thất bại của khuynh hướng dân chủ tư sản từ nhiều yếu tố như: lý luận, đường lối, giai cấp lãnh đạo, sự hậu thuẫn của quần chúng

- Phản biện những quan điểm khác nhau về vai trò, đóng góp của các nhà yêu nước đầu thế kỷ XX

- Trình bày chính kiến cá nhân một cách tự tin, có lập luận và tôn trọng sự khác biệt

Như vậy, chủ đề không chỉ giúp học sinh học kiến thức lịch sử mà còn rèn luyện

kỹ năng nhận diện vấn đề, phân tích, so sánh, tổng hợp, lập luận – chính là biểu hiện

rõ nét của năng lực tư duy phản biện

d) Vai trò của giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động phát triển tư duy phản biện

Trong môi trường học tập hiện đại, giáo viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người tổ chức, điều phối các hoạt động học tập Việc phát triển

tư duy phản biện đòi hỏi giáo viên:

- Sử dụng câu hỏi mở, tình huống lịch sử, phiếu học tập, tài liệu đa chiều để khơi gợi tranh luận

- Tạo điều kiện để học sinh trình bày chính kiến, so sánh và phản biện các ý kiến khác nhau

- Lựa chọn phương pháp phù hợp như: dạy học theo trạm, dạy học theo dự án, thảo luận nhóm, debate (tranh biện), sơ đồ tư duy, diễn đàn phản biện Khi giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, học sinh sẽ dần hình thành năng lực tư duy phản biện một cách tự nhiên, bền vững và có chiều sâu

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử tại trường THCS&THPT Như Thanh, tôi nhận thấy một thực tế đáng lưu tâm: mặc dù chương trình đã có nhiều thay đổi theo định hướng phát triển năng lực, nhưng trong thực tiễn, phần lớn học sinh vẫn tiếp cận môn Lịch sử theo lối học thụ động, ghi nhớ máy móc, chưa hình thành được

tư duy phản biện một cách rõ nét Đặc biệt, với những chủ đề có hàm lượng kiến thức lý luận cao như “Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930”, học sinh thường gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu sâu vấn đề, so sánh, đánh giá và đưa ra lập luận cá nhân

a) Thực trạng nhận thức và kỹ năng tư duy phản biện của học sinh

Qua quá trình giảng dạy và khảo sát đầu năm học đối với hai lớp khối 11 (lớp 11C1 và 11C2 – năm học 2023–2024), tôi nhận thấy một số tồn tại sau:

- Học sinh có xu hướng tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chủ yếu học

thuộc lòng sự kiện, nhân vật, con số, chưa biết đặt câu hỏi “tại sao”, “như thế nào”

để hiểu bản chất sự kiện

Trang 5

- Khả năng diễn đạt, trình bày vấn đề còn hạn chế: Khi được yêu cầu so sánh

giữa các khuynh hướng cách mạng, nhiều học sinh chỉ nêu được điểm giống nhau chung chung, chưa biết phân tích các tiêu chí cụ thể như: giai cấp lãnh đạo, lực lượng tham gia, mục tiêu, đường lối, phương pháp, kết quả…

- Tâm lý e ngại khi bày tỏ quan điểm cá nhân: Học sinh chưa quen với việc

phản biện, tranh luận, nhiều em lo sợ bị đánh giá hoặc trả lời sai, dẫn đến ngại phát biểu ý kiến trái chiều trong lớp

- Chưa biết cách sử dụng lập luận logic để bảo vệ quan điểm, thiếu dẫn chứng

lịch sử xác thực khi trình bày chính kiến cá nhân

- Kết quả kiểm tra phần tự luận hoặc các câu hỏi mở chưa cao: Trong bài kiểm

tra giữa kỳ năm học trước, ở câu hỏi “Phân tích nguyên nhân thất bại của khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX Liên hệ thực tiễn hôm nay”, chỉ khoảng 20% học sinh đạt mức điểm từ 7 trở lên, phần lớn các bài làm chỉ dừng ở mức liệt kê thông tin, chưa có phân tích chiều sâu

b) Nguyên nhân của thực trạng

Những tồn tại trên xuất phát từ cả phía học sinh, giáo viên và điều kiện tổ chức dạy học:

Về phía học sinh:

- Đa số các em quen với lối học “hỏi – đáp” một chiều, thiếu kỹ năng phản biện, chưa có thói quen tìm hiểu vấn đề theo hướng mở

- Một bộ phận học sinh chưa thực sự yêu thích môn Lịch sử, chưa thấy được tính ứng dụng, dẫn đến học để thi, học qua loa, thiếu động lực

- Thiếu kỹ năng diễn đạt, ngôn ngữ sử dụng khi tranh luận chưa mạch lạc, hạn chế vốn từ chuyên môn lịch sử

Về phía giáo viên:

- Giáo viên nhiều khi còn nặng về truyền thụ kiến thức, ít chú trọng tổ chức các hoạt động học tập phát triển tư duy phản biện

- Một số tiết dạy vẫn theo phương pháp thuyết trình truyền thống, chưa khai thác hết tiềm năng các phương pháp như debate, trò chơi lịch sử, dạy học theo trạm, sử dụng tài liệu đa chiều…

- Chưa xây dựng được hệ thống câu hỏi gợi mở, tình huống tranh luận hấp dẫn

để khơi gợi sự phản biện từ học sinh

Về điều kiện tổ chức dạy học:

- Lớp học đông học sinh, thời lượng tiết học hạn chế nên khó triển khai các hình thức thảo luận nhóm chuyên sâu

- Học sinh còn thiếu thiết bị học tập (máy tính bảng, tài liệu số…) để tra cứu thông tin lịch sử phục vụ lập luận

- Tâm lý phụ huynh và học sinh còn đặt nặng môn thi tốt nghiệp, dẫn đến ưu tiên các môn thi tổ hợp, làm giảm đầu tư thời gian cho môn Lịch sử

c) Hệ quả đối với chất lượng dạy học

Với thực trạng trên, việc dạy học các chủ đề lịch sử có tính chất lý luận – so sánh như “Khuynh hướng dân chủ tư sản…” gặp rất nhiều khó khăn

Trang 6

Kết quả là:

- Học sinh khó ghi nhớ sâu kiến thức vì không có hoạt động xử lý thông tin, tư

duy logic

- Không phát triển được kỹ năng giải quyết vấn đề, lập luận, phản biện –

những năng lực cần thiết trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và cuộc sống

- Chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, không phát huy được vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình học tập

Từ những lý do trên, việc nghiên cứu và đề xuất các phương pháp phù hợp để phát triển tư duy phản biện cho học sinh, nhất là trong dạy học các chủ đề có tính chất lý luận – phân tích như “Khuynh hướng dân chủ tư sản…” là yêu cầu cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử theo hướng phát triển năng lực học sinh trong thời kỳ đổi mới giáo dục toàn diện hiện nay

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Để nâng cao hiệu quả dạy học chủ đề “Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930” và phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh, tôi đã mạnh dạn áp dụng 4 nhóm giải pháp sau đây:

2.3.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở, kích thích tư duy phản biện

Lý do lựa chọn giải pháp:

Tư duy phản biện không thể phát triển nếu giáo viên chỉ đặt ra các câu hỏi kiểm tra trí nhớ, có câu trả lời duy nhất Muốn học sinh suy nghĩ sâu sắc, lập luận chặt

chẽ, giáo viên cần thiết kế hệ thống câu hỏi mở, đa chiều, có nhiều cách tiếp cận và không có sẵn đáp án tuyệt đối.

Đây là giải pháp nền tảng, dễ triển khai, nhưng có hiệu quả cao trong việc khơi gợi hứng thú học tập, phát triển khả năng phân tích, đánh giá và lập luận của học sinh – những biểu hiện đặc trưng của tư duy phản biện

Cách thực hiện:

1 Xây dựng hệ thống câu hỏi theo cấp độ tư duy (dựa vào thang Bloom cải tiến):

Cấp độ Dạng câu hỏi gợi mở ví dụ Mục tiêu phát

triển tư duy phản biện

Hiểu Em hiểu thế nào về khái niệm “khuynh hướng

Phân tích So sánh điểm giống và khác nhau giữa tư

tưởng cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.

Phân tích – So sánh

Đánh giá Theo em, vì sao khuynh hướng dân chủ tư sản

thất bại? Nguyên nhân khách quan hay chủ đánh giáPhản biện –

Trang 7

quan là quan trọng hơn?

Liên hệ,

vận dụng có ý nghĩa gì đối với thế hệ trẻ ngày nay? Tinh thần yêu nước của các chí sĩ đầu thế kỷ XX sử với thực tiễnGắn bài học lịch

2 Đặt câu hỏi trước – trong – sau bài học:

- Trước khi dạy: Đặt câu hỏi gợi mở để khơi dậy hứng thú, ví dụ:

“Trong các lựa chọn đấu tranh chống Pháp đầu thế kỷ XX, nếu là người dân đương thời, em sẽ chọn theo ai: Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh? Vì sao?”

- Trong bài học: Đặt câu hỏi phân tích, phản biện để học sinh tranh luận:

“Em có đồng tình với quan điểm của Phan Bội Châu: ‘Chỉ có bạo động mới giành được độc lập’ không? Vì sao?”

Sau bài học: Yêu cầu học sinh phản tư, liên hệ thực tiễn: “Từ thất bại của các

phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, em rút ra được bài học gì cho thanh niên Việt Nam hôm nay?”

3 Tổ chức hoạt động “Hỏi để phản biện”:

Giao nhiệm vụ cho học sinh đặt câu hỏi ngược cho bạn:

+ Học sinh A trình bày quan điểm của Phan Châu Trinh

+ Học sinh B đặt câu hỏi chất vấn: “Nếu cải cách thì có đủ thời gian không khi

dân tộc đang bị đô hộ?”

+ Học sinh A trả lời, giáo viên nhận xét, bổ sung.

Ví dụ minh họa cụ thể trong dạy học chủ đề:

Nội dung bài học: Khuynh hướng dân chủ tư sản và các phong trào yêu nước

đầu thế kỷ XX

Tình huống lớp học:

Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm:

- Nhóm 1: Đại diện tư tưởng Phan Bội Châu

- Nhóm 2: Đại diện tư tưởng Phan Châu Trinh

Câu hỏi gợi mở dành cho cả lớp:

1 Hai chí sĩ này đều yêu nước, nhưng lại chọn hai con đường khác nhau Nếu là người dân đương thời, em sẽ chọn theo ai? Vì sao?

2 Em đánh giá thế nào về quan điểm của Phan Châu Trinh: “Muốn cứu nước phải cứu dân, muốn cứu dân phải giáo dục dân”?

3 Liệu có thể kết hợp hai khuynh hướng để đạt hiệu quả cao hơn không?

Hoạt động học sinh thực hiện:

- Mỗi nhóm nêu quan điểm, nhóm kia phản biện lại.

- Sau mỗi lượt tranh luận, giáo viên đặt câu hỏi phụ: “Giả sử em là nhà lãnh đạo năm 1910, với hoàn cảnh đất nước khi đó, em có thể làm khác họ không?”

Hiệu quả đạt được:

- Học sinh trở nên chủ động, hào hứng hơn trong tiết học.

- Các em biết cách tư duy nhiều chiều, đưa ra nhận xét sắc bén, có dẫn chứng

rõ ràng

Trang 8

- Kỹ năng trình bày, diễn đạt và tự bảo vệ quan điểm được cải thiện rõ rệt.

- Một số học sinh mạnh dạn phát biểu ý kiến, bắt đầu tự đặt câu hỏi chất lượng

2.3.2 Tổ chức hoạt động tranh luận (Debate) và thảo luận nhóm

Lý do lựa chọn giải pháp:

Tranh luận và thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tích cực tiêu biểu nhằm phát triển năng lực tư duy phản biện, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, trình bày quan điểm cá nhân – những năng lực quan trọng được xác định trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018

Đặc biệt, trong môn Lịch sử, khi học sinh được đặt vào tình huống phải bảo vệ một quan điểm lịch sử, phản biện một cách lập luận, các em sẽ học cách nghe để hiểu, nói để thuyết phục, tư duy để bảo vệ lý lẽ – đúng tinh thần của tư duy phản

biện

Hoạt động tranh luận còn giúp học sinh hiểu sâu kiến thức, nắm được bản chất

sự kiện, phân tích lý do thành công hoặc thất bại của các phong trào yêu nước, từ đó rút ra bài học vận dụng thực tiễn

Cách thực hiện:

1 Chuẩn bị nội dung tranh luận

- Chọn nội dung phù hợp trong bài “Khuynh hướng dân chủ tư sản ”, có tính chất mở, dễ gây tranh luận

- Thiết kế câu hỏi/đề tài tranh luận mang tính lựa chọn hoặc đánh giá đa chiều.

Ví dụ:

- “Khuynh hướng cứu nước của Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh phù hợp hơn với hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX?”

- “Nguyên nhân thất bại của khuynh hướng dân chủ tư sản: Do hoàn cảnh khách quan hay do chính bản thân khuynh hướng?”

- “Nếu kết hợp được hai khuynh hướng này, liệu cách mạng Việt Nam có sớm giành thắng lợi?”

2 Tổ chức lớp học thành các nhóm tranh luận

- Chia lớp thành 2 hoặc 3 nhóm, mỗi nhóm giữ một lập trường rõ ràng:

- Nhóm A: Ủng hộ tư tưởng của Phan Bội Châu (chủ trương bạo động, liên kết với nước ngoài)

- Nhóm B: Ủng hộ tư tưởng của Phan Châu Trinh (chủ trương cải cách, nâng cao dân trí)

- (Có thể thêm Nhóm C: Trung lập – đưa ra hướng kết hợp hoặc quan điểm riêng)

- Mỗi nhóm có từ 3–5 học sinh đảm nhận vai trò: người phát biểu chính, người phản biện, người ghi chép, người tổng kết

3 Tiến hành hoạt động tranh luận trên lớp

- Giáo viên giới thiệu đề tài, quy định thời gian chuẩn bị và trình bày

- Các nhóm lần lượt trình bày quan điểm (2–3 phút), sau đó phản biện lẫn nhau (1–2 lượt)

Trang 9

- Cuối cùng, mỗi nhóm có 1 phút để kết luận, bảo vệ quan điểm.

- Cả lớp và giáo viên đánh giá, nhận xét khách quan về tính logic, lập luận, cách trình bày, cách dẫn chứng

4 Giao nhiệm vụ phản tư sau hoạt động

- Yêu cầu học sinh viết đoạn văn ngắn 5–7 dòng trả lời:

- “Sau hoạt động tranh luận, em thay đổi hay giữ nguyên quan điểm? Vì sao?”

- “Em học được gì từ các bạn khác?

Ví dụ minh họa cụ thể trong bài học:

Bài học: “Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ

XX”

Đề tài tranh luận:

“Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh: Ai có con đường cứu nước đúng đắn hơn trong bối cảnh Việt Nam lúc bấy giờ?”

Phân công nhóm:

- Nhóm A: Bảo vệ quan điểm của Phan Bội Châu

- Nhóm B: Bảo vệ quan điểm của Phan Châu Trinh

- Cả lớp là khán giả, sau khi nghe hai bên trình bày, sẽ bình chọn nhóm có lập luận thuyết phục hơn

Tranh luận:

- Nhóm A lập luận: “Việt Nam đang mất độc lập, phải giành lại chủ quyền trước rồi mới có thể cải cách Cải cách mà không có độc lập thì sẽ bị thực dân dập tắt.”

- Nhóm B phản biện: “Muốn cứu nước trước tiên phải cứu dân Dân ngu dốt thì

dù có giành độc lập cũng không thể giữ được nền độc lập đó.”

- Nhóm A đáp lại: “Không có thực lực, không có vũ trang, làm sao cải cách được khi đang bị đô hộ? Người Pháp không bao giờ để dân ta ‘tự cải cách’.”

Giáo viên kết luận:

- Cả hai khuynh hướng đều thể hiện lòng yêu nước và có giá trị lịch sử riêng Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử cụ thể, mỗi hướng đều bộc lộ mặt mạnh và hạn chế Cần đánh giá công bằng, toàn diện

Tác dụng đạt được:

- Học sinh tự tin hơn khi trình bày và bảo vệ quan điểm trước tập thể.

- Rèn luyện kỹ năng phản biện, phản bác lập luận dựa trên kiến thức lịch sử

xác thực

- Nâng cao kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm, ghi chú thông tin quan trọng.

- Góp phần giúp học sinh ghi nhớ sâu nội dung bài học, biết đánh giá khách quan các nhân vật, khuynh hướng cách mạng trong lịch sử

2.3.3 Áp dụng sơ đồ tư duy và bảng so sánh để phát triển tư duy hệ thống và phản biện

Lý do lựa chọn giải pháp:

Một trong những biểu hiện rõ nét của tư duy phản biện là khả năng phân tích,

tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh các khái niệm, sự kiện, hiện tượng lịch sử Trong khi đó, học sinh trung học phổ thông thường gặp khó khăn khi phải xử lý một khối

Trang 10

lượng thông tin lịch sử lớn, dễ bị lẫn lộn các mốc thời gian, nhân vật và kết quả phong trào

Sử dụng sơ đồ tư duy (Mindmap) và bảng so sánh là hai hình thức trực quan

hóa thông tin rất hiệu quả, giúp học sinh dễ dàng nhận diện cấu trúc nội dung, mối liên hệ giữa các yếu tố lịch sử và phát triển khả năng đánh giá – so sánh – phản biện Giải pháp này vừa phù hợp với năng lực tư duy của học sinh THPT, vừa dễ triển khai trong lớp học hiện nay, đặc biệt hiệu quả với các nội dung có tính hệ thống và đối chiếu như bài “Khuynh hướng dân chủ tư sản…”

Cách thực hiện:

1 Thiết kế sơ đồ tư duy theo các nhánh nội dung

- Giáo viên hướng dẫn học sinh tự xây dựng sơ đồ tư duy với các nhánh chính:

- Hoàn cảnh ra đời của khuynh hướng dân chủ tư sản.

- Tư tưởng đại diện: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.

- Tổ chức tiêu biểu: Duy Tân hội, Việt Nam Quang phục hội, Đông Kinh nghĩa

thục…

- Phương pháp đấu tranh, kết quả, nguyên nhân thất bại, bài học lịch sử.

Gợi ý sơ đồ tư duy đơn giản:

KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN

|

| | |

Phan Bội Châu Phan Châu Trinh Các tổ chức & hoạt động

| | |

Chủ trương Chủ trương Đông Du, Duy Tân hội

Bạo động Cải cách Tuyên truyền, vận động

Gắn với Nhật Nâng cao dân trí Kết quả thất bại

- Học sinh có thể vẽ bằng tay hoặc sử dụng phần mềm: MindMeister, Canva, XMind, Coggle nếu học online.

2 Sử dụng bảng so sánh để đối chiếu giữa hai khuynh hướng cách mạng Bảng so sánh giúp học sinh tổng hợp được đặc điểm – điểm mạnh – điểm yếu của hai khuynh hướng: Dân chủ tư sản và Vô sản (sau khi học xong bài tiếp theo).

Ví dụ bảng so sánh điền thông tin nhóm:

Tiêu chí Khuynh hướng dân chủ tư

Đại diện tiêu

biểu Phan Bội Châu, Phan ChâuTrinh Nguyễn Ái Quốc

Mục tiêu Giành độc lập dân tộc Giải phóng dân tộc, tiến lên

CNXH

Ngày đăng: 04/06/2025, 23:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh giúp học sinh tổng hợp được đặc điểm – điểm mạnh – điểm yếu của hai khuynh hướng: Dân chủ tư sản và Vô sản (sau khi học xong bài tiếp theo). - Skkn lịch sử: Một số phương pháp phát triển tư duy phản biện của học sinh trong dạy học chủ đề: Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930
Bảng so sánh giúp học sinh tổng hợp được đặc điểm – điểm mạnh – điểm yếu của hai khuynh hướng: Dân chủ tư sản và Vô sản (sau khi học xong bài tiếp theo) (Trang 10)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w