1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI GIÓNG Ở XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

91 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến đổi của lễ hội Gióng ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Tác giả Ngô Trâm Anh
Người hướng dẫn ThS. Nghiêm Xuân Mừng
Trường học Học viện Hành chính và Quản trị công
Chuyên ngành Quản lý văn hóa
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI GIÓNG Ở XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI GIÓNG Ở XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI GIÓNG Ở XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI GIÓNG Ở XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Xuất phát từ những điều đó, với tư cách là một sinh viên khoa Quản lý phát triển xã hội, cùng với sự quan tâm đối với vấn đề gìn giữ di sản văn hóa dân tộc trong thực tiễn, tôi lựa chọn

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ CÔNG

KHOA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI GIÓNG Ở XÃ PHÙ LINH,

HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Giảng viên hướng dẫn : ThS Nghiêm Xuân Mừng

Sinh viên thực hiện : Ngô Trâm Anh

Hà Nội - 2025

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp “Biến đổi của lễ hội Gióng ở

xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực, có trích dẫn rõ ràng và đúng quy định

Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2025

Sinh viên

Ngô Trâm Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy tại khoa Quản lý phát triển xã hội, Học viện Hành chính và Quản trị công đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến

đề tài Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Nghiêm Xuân Mừng, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các cá nhân, tập thể

đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

“Biến đổi của lễ hội Gióng ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”

Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GS.TS Giáo sư tiến sỹ

OCOP One commune one product

(mỗi xã một sản phẩm) PGS.TS Phó giáo sư tiến sỹ UBND Ủy ban nhân dân UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn

hóa của Liên Hợp Quốc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

2.1 Những nghiên cứu về lễ hội và biến đổi lễ hội ở Việt Nam 2

2.2 Các công trình nghiên cứu về lễ hội Gióng 4

3 Mục đ ch nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Những đóng góp của khóa luận 7

8 Bố cục khóa luận 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG, LỄ HỘI GIÓNG XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 9

1.1 Một số khái niệm cơ bản 9

1.1.1 Lễ hội 9

1.1.2 Lễ hội truyền thống 10

1.1.3 Biến đổi văn hóa 10

1.1.4 Biến đổi lễ hội 11

1.1.5 Biến đổi lễ hội truyền thống 12

1.2 Đặc điểm, giá trị của lễ hội truyền thống 12

1.2.1 Đặc điểm của lễ hội truyền thống 12

1.2.2 Giá trị của lễ hội truyền thống 14

1.3 Khái quát về xã Phù Linh và lễ hội Gióng 17

1.3.1 Khái quát về xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 17

1.3.2 Khái quát về lễ hội Gióng tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn cổ truyền 19

Tiểu kết chương 1 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI LỄ HỘI GIÓNG XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 23

2.1 Các biến đổi trong lễ hội Gióng xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn 23

2.1.1 Phần lễ 23

2.1.2 Phần hội 26

Trang 6

2.1.3 Quy mô lễ hội 30

2.1.4 Công tác quản lý và tổ chức lễ hội 31

2.2 Đánh giá những tích cực và hạn chế trong sự biến đổi của lễ hội Gióng tại xã Phù Linh 32

2.2.1 Những biến đổi tích cực 32

2.2.2 Những điểm hạn chế 34

2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi trong lễ hội Gióng tại xã Phù Linh 36

2.3 Những tác động đến sự biến đổi lễ hội 43

2.4 Những tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội và du lịch 45

Tiểu kết chương 2 47

CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA NHẰM PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA LỄ HỘI GIÓNG XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 48

3.1 Xu hướng biến đổi của lễ hội Gióng xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn trong thời gian tới 48

3.2 Định hướng quản lý và phát triển lễ hội Gióng tại xã Phù Linh 52

3.3 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy lễ hội Gióng tại xã Phù Linh 56 3.3.1 Giải pháp nhằm quản lý và tổ chức lễ hội theo hướng bền vững 56

3.3.2 Giải pháp phát triển lễ hội gắn với du lịch và quản lý di sản 64

Tiểu kết chương 3 68

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 74

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần, bắt nguồn và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, là sự giao lưu, tiếp biến văn hóa mang tính cộng đồng Lễ hội truyền thống chứa đựng tất cả những khát vọng, những ước muốn tâm linh vừa thiêng liêng, vừa trần tục của một cộng đồng dân cư sinh sống Giống như ―Con người có tổ có tông, như cây

có cội như sông có nguồn‖, lễ hội truyền thống vừa là hình thức để tưởng nhớ

công lao của cha ông đi trước, vừa là để gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc

Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa phong phú và đa dạng Trong những yếu tố văn hóa cổ truyền của người Việt, không thể không nhắc tới lễ hội, một thành tố văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Một trong những lễ hội tiêu biểu của vùng châu thổ Bắc Bộ phải kể đến là lễ hội Gióng xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Đây là lễ hội nhằm tưởng nhớ và tôn vinh Thánh Gióng - vị anh hùng dân tộc gắn liền với truyền thuyết đánh giặc Ân cứu nước Tuy không nổi tiếng như lễ hội Gióng ở Phù Đổng (Gia Lâm) nhưng lễ hội Gióng ở Phù Linh lại mang nét đặc trưng riêng, thể hiện mối quan hệ văn hóa

vùng và cộng đồng cư dân vùng trung du miền núi phía Bắc Thủ đô

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh của đô thị hóa, lễ hội Gióng ở Phù Linh đã và đang có nhiều biến đổi mạnh mẽ so với trước Sự biến đổi này đặt ra những vấn đề lớn cho công tác quản lý văn hóa ở địa phương: Làm sao để lễ hội phát triển phù hợp với bối cảnh mới mà không mất đi tính truyền thống? Hoặc làm sao để cộng đồng người dân giữ được vai trò chủ thể văn hóa trong lễ hội?

Mặt khác, đối với đề tài biến đổi văn hóa và biến đổi lễ hội hiện nay, mặc

dù không còn là một hướng nghiên cứu mới những vẫn rất cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhằm chỉ ra những quy luật, đặc điểm của sự biến đổi Nghiên cứu sự biến đổi của lễ hội Gióng ở Phù Linh (Sóc Sơn, Hà Nội) không chỉ thấy được biến đổi của một lễ hội cụ thể mà còn thấy được sự vận hành của nó trong dòng chảy hiện đại cùng với những đặc điểm, vấn đề cần lưu ý trong xây dựng

Trang 8

nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hôm nay

Xuất phát từ những điều đó, với tư cách là một sinh viên khoa Quản lý phát triển xã hội, cùng với sự quan tâm đối với vấn đề gìn giữ di sản văn hóa

dân tộc trong thực tiễn, tôi lựa chọn đề tài “Biến đổi của lễ hội Gióng ở xã Phù

Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp, nhằm tìm

hiểu quá trình biến đổi đó diễn ra như thế nào, nguyên nhân từ đâu, và nêu lên một số giải pháp góp phần phát huy giá trị lễ hội một cách bền vững trong bối cảnh hiện đại

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về lễ hội và biến đổi lễ hội ở Việt Nam

Ở Việt Nam, lễ hội là một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong mỗi cộng đồng cư dân và là đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu Chính vì vậy, cho đến nay, đã có rất nhiều công trình, tài liệu, bài viết, bài nghiên cứu về lễ hội Về

sách, có thể kể đến: Lễ hội một nét đẹp sinh hoạt văn hóa cộng đồng của tác giả

của Hồ Hoàng Hoa (1988) [13] đã đề cập đến tính mĩ học dân tộc trong lễ hội Việt Nam Đây là kết quả của một tiến trình nghiên cứu lâu dài kết hợp với những chuyến đi thực địa quan sát tại chỗ nhiều lễ hội Việt dưới góc độ tìm nhiểu chức năng và đặc biệt là những biểu hiện đa dạng của cái đẹp trong lễ hội

Tác giả Ngô Thị Kim Doan (2003) trong cuốn Những lễ hội Việt Nam tiêu biểu, đã tiếp cận vấn đề phân loại và giới thiệu khá chi tiết về một số lễ hội

chính ở các vùng miền trên đất nước Việt Nam, như tết Nguyên đán, lễ hội Giỗ

tổ Hùng Vương, lễ hội Gióng, lễ hội Chùa Hương, lễ hội Gò Đống Đa, lễ hội đua Voi… [10]

Cuốn Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ do Nguyễn Quang Lê (Chủ biên) (2001) đã trình bày một

cách khái quát và tổng quan về điều kiện tự nhiên và cư dân vùng châu thổ Bắc

Bộ và các loại hình lễ hội của người Việt, như lễ hội lịch sử văn hóa, lễ hội tôn giáo, lễ hội nghề nghiệp, hội làng [16]

Cuốn Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam - Các tỉnh phía Bắc do

PGS.TS Hoàng Lương biên soạn (2011) [18] gồm bốn phần: Lý thuyết chung về

Trang 9

lễ hội truyền thống các dân tộc ở Việt Nam; Một số lễ hội tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam; Những giá trị của lễ hội tiêu biểu các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam Sách đề cập một cách có hệ thống, toàn diện những nghi thức, nghi lễ và nội dung của các lễ hội, các hình thái tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam Qua đó, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của

lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng để từ đó biết trân trọng, kế thừa phát huy những cái hay, nét đẹp của chúng, góp phần xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Nghiên cứu về quản lý lễ hội, tác giả Bùi Hoài Sơn công bố công trình

Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt (2009) [23] Công trình đã khái quát hệ

thống văn bản của Nhà nước ta về quản lý lễ hội, đánh giá các ưu, nhược điểm về công tác quản lý lễ hội, đồng thời cũng đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế đó

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh trong công trình Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam [15] đã chỉ rõ: Lễ hội không phải một hiện tượng văn hóa

bất biến mà nó có sự thay đổi qua thời gian Sự biến đổi và tiếp tục của các lễ hội chính là sự hài hòa của nó đối với không gian và thời gian nhất định Tác giả cũng

đã thừa nhận sự trường tồn của lễ hội cổ truyền, các nhà nghiên cứu không quan niệm lễ hội là sự luyến tiếc quá khứ, để lưu giữ, huyền thoại và cô lập con người

Cuốn Giáo trình Quản lý lễ hội sự kiện do PGS.TS Cao Đức Hải chủ biên

(2014) [12] đề cập một cách hệ thống về khái niệm, nguồn gốc, phân loại, vai trò của lễ hội; Những nội dung và kỹ năng cơ bản trong công tác quản lý lễ hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay đồng thời nêu lên quy trình và các cách thức tổ chức lễ hội và sự kiện

Giáo trình Lễ hội dân gian do PGS.TS Lê Trung Vũ, GS.TS Lê Hồng

Lý, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm đồng chủ biên (2014) [22] là tài liệu dùng cho học viên cao học Tài liệu giới thiệu một cách có hệ thống về lễ hội dân gian bao gồm thuật ngữ, nguồn gốc hình thành lễ hội, sự vận động của lễ hội dân gian qua các thời kỳ, tinh hình nghiên cứu và phân loại lễ hội ở Việt Nam Công trình cũng đề cập đến nội dung chu trình, tính chất, đặc điểm, chức năng,

Trang 10

giá trị của lễ hội dân gian và các quan điểm, lý thuyết tiếp cận lễ hội dân gian ở Việt Nam

Cuốn sách Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại là công

trình tuyển tập các bài viết của 25 nhà khoa học ở trong và ngoài nước tại Hội thảo ―Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại‖ được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 8 đến 13 tháng 3 năm 1993[21] do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

ấn hành Các bài viết trong công trình này đẫ đề cập đến những thay đổi mạnh

mẽ của lễ hội Việt Nam từ sau Đổi mới (1986) ở Việt Nam

Tác giả Lê Hồng Lý (2008) trong công trình―Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội, tín ngưỡng‖, [19] lại tiếp cận vấn đề biến đổi lễ hội, tín ngưỡng dưới góc độ quản lý văn hóa Trong công trình này, sau khi điểm qua một số sinh hoạt văn hóa nổi trội của cộng đồng cư dân ven biển, tác giả cho rằng trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố trong lễ hội truyền thống cư dân ven biển Việt Nam đang dần dần biến đổi theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực;

từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội nói riêng, văn hóa cư dân ven biển nói chung

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có thể mang tính lý luận về lễ hội,

có thể đi vào những lễ hội cụ thể các vùng miền và cả những công trình nghiên cứu về biến đổi lễ hội Đó là nguồn tư liệu phong phú để tác giả kế thừa trong khóa luận của mình, tiếp cận nghiên cứu biến đổi lễ hội Gióng ở xã Phù Linh (Sóc Sơn, Hà Nội)

2.2 Các công trình nghiên cứu về lễ hội Gióng

Công trình ―Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại‖ đăng trên Tạp chí Di sản Văn hóa số 34 (năm 2012) là một trong những tài liệu chuyên sâu, có giá trị học thuật cao trong hệ thống nghiên cứu về lễ hội Gióng Với cách tiếp cận liên ngành giữa dân tộc học, lịch sử văn hóa và bảo tồn di sản, bài viết đã chỉ ra tính biểu tượng đa tầng của hội Gióng, đồng thời làm rõ cơ chế vận hành của một lễ hội có sự tham gia đông đảo và phân công rạch ròi giữa các cộng đồng làng xã Đặc biệt, việc phân tích chi tiết từng lễ vật, nghi thức và vai trò cộng đồng đã giúp lý giải đầy đủ

Trang 11

hơn về lý do lễ hội này được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Bích Ngọc (2013), mang tên

Khai thác các giá trị văn hóa của lễ hội đền Sóc để phục vụ du lịch, tiếp cận vấn

đề dưới góc nhìn quản lý và phát triển văn hóa địa phương [20] Tác giả tập trung vào khảo sát hệ thống lễ vật, nghi thức rước, cùng với cấu trúc tổ chức phần lễ – phần hội tại đền Sóc Qua đó, khóa luận đề xuất các định hướng cụ thể nhằm phát huy giá trị văn hóa của lễ hội trong du lịch tâm linh, bao gồm xây dựng tuyến du lịch văn hóa, nâng cấp không gian tổ chức lễ hội và tạo lập sản phẩm đặc trưng từ biểu tượng Thánh Gióng

Bài viết ―Phát triển tiềm năng du lịch tâm linh tại đền Gióng‖ đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ – Đại học Thái Nguyên, số 163 (tháng 3, năm 2016) [24] Dựa trên kết quả khảo sát tại thực địa và phỏng vấn du khách, nhóm tác giả đã phân tích những thuận lợi và hạn chế trong việc xây dựng sản phẩm

du lịch gắn với lễ hội Gióng Tác phẩm không chỉ nhấn mạnh tiềm năng tâm linh của di tích đền Sóc mà còn đưa ra nhiều khuyến nghị mang tính khả thi về mặt

tổ chức không gian, truyền thông, và phát huy vai trò cộng đồng trong việc phát triển du lịch văn hóa bền vững

Nhìn chung, cho đến nay, đã có nhiều công trình đề cập đến lễ hội nói chung và lễ hội Gióng nói riêng Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về biến đổi lễ hội Gióng ở Phù Linh (Sóc Sơn, Hà Nội) Vì vậy, khóa luận của tác giả được thực hiện, hi vọng sẽ góp một cách nhìn và tiếng nói mới từ góc độ của sinh viên ngành văn hóa học đổi với lễ hội này

3 Mục đ ch nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu thực trạng của sự biến đổi lễ hội Gióng, khóa luận đánh giá tác động của sự biến đổi này đối với cộng đồng địa phương và bản sắc văn hóa truyền thống, từ đó có thể đưa ra những tham khảo cho các nhà chuyên môn và các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương về bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội cổ truyền trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay

Trang 12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan các tài liệu liên quan đến đề tài, làm cơ sở lý luận và tham khảo cho đề tài

- Khảo sát thực trạng sự biến đổi của lễ hội Gióng tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

- Phân tích, đánh giá thực trạng sự biến đổi lễ hội Gióng, so sánh lễ hội Gióng hiện nay với trước đây để chỉ ra những biến đổi của lễ hội, những điểm biến đổi tích cực cũng như hạn chế, từ đó đưa ra những nhận định và khuyến nghị với các nhà chuyên môn, các cơ quản quản lý

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu sự biến đổi của lễ hội Gióng trên các khía cạnh: cấu trúc lễ hội, quy mô lễ hội, yếu tố quản lý, tổ chức lễ hội, thành phần tham gia lễ hội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu biến đổi lễ hội Gióng trong 15 năm trở lại, đây là thời gian quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, cuộc cách mạng 4.0 đang bắt đầu diễn ra trên phạm vi thế giới, trong đó có Việt Nam Trong bối cảnh đó, các lễ hội cổ truyền Việt Nam cũng chịu nhiều tác động ảnh hưởng và có những biến đổi mạnh so với trước

+ Phạm vi không gian: Đề tài khảo sát nghiên cứu lễ hội Gióng tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Tác giả đã tiến hành thu thập,

tổng hợp các nguồn tài liệu liên quan tại thư viện, bao gồm các công trình nghiên cứu về lễ hội, giáo trình, sách báo làm cơ sở lý luận và tham khảo cho đề tài Đồng thời trong quá trình khảo sát, diền dã từ thực tế, tác giả cũng thu thập được các tài liệu do địa phương cung cấp Từ đó, tác giả đã tiến hành xử lý, phân tích nguồn tài liệu phục vụ cho việc viết khóa luận

Trang 13

- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: Được tác giả vận dụng để tìm

hiểu về đặc điểm, giá trị và những nét đặc sắc của lễ hội Gióng Thực hiện phương pháp này,tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế, quan sát tham dự lễ hội, phỏng vấn người dân, người tổ chức lễ hội và cán bộ văn hóa địa phương nhằm

có những tư liệu và cứ liệu khoa học từ thực địa cho việc hoàn thành khóa luận

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được sử dụng nhằm thu thập thông tin

định tính từ các đối tượng liên quan trực tiếp đến lễ hội, bao gồm: cán bộ văn hóa xã, thành viên Ban tổ chức lễ hội, người cao tuổi và người dân tham gia lễ hội Tác giả đã tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc, tập trung vào các nội dung như: cảm nhận về sự thay đổi của lễ hội, vai trò của cộng đồng trong tổ chức lễ hội, cũng như những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển đổi nghi thức tổ chức Kết quả phỏng vấn là nguồn tư liệu thực tiễn quan trọng, giúp làm rõ nguyên nhân và tác động của các biến đổi lễ hội từ góc nhìn chủ thể văn

hóa

7 Những đóng góp của khóa luận

- Đóng góp về mặt lý luận: Khóa luận sau khi hoàn thành sẽ góp phần bổ sung vào kho tư liệu nghiên cứu về biến đổi lễ hội truyền thống Việt Nam trongbối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa

- Đóng góp về mặt thực tiễn: Các giải pháp, khuyến nghị được đề xuất trong đề tài có thể ứng dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Gióng nói riêng và giá trị văn hóa của

lễ hội nói chung Ngoài ra kết quả nghiên cứu của khóa luận còn là tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức có quan tâm trong việc tìm hiểu và bảo tồn giá trị văn hóa tại địa phương, đặc biệt trong công tác giáo dục văn hóa cộng đồng và

Trang 14

Chương 2: Thực trạng biến đổi lễ hội Gióng xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

Chương 3: Những vấn đề đặt ra nhằm phát huy giá trị của lễ hội Gióng xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG, LỄ HỘI GIÓNG XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Một số khái niệm cơ bản

sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh” [11, tr 674]

Trong cuốn “Quản lý lễ hội và sự kiện” nhóm tác giả đã cho rằng: “Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định” [12, tr 14] Trong cuốn “Lễ hội Việt nam trong sự phát triển du lịch” tác giả Dương Văn Sáu cũng đã khẳng định: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại đồng thời là dịp thể hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội”

Từ những định nghĩa, quan niệm trên, có thể rút ra nhận định rằng: Lễ hội

là một thể thống nhất không thể tách rời, lễ hội là một trong những hoạt động

―văn hóa cao‖, ―hoạt động văn hóa nổi trội‖ trong đời sống con người, hoạt động

lễ hội là hoạt động của cộng đồng hướng tới xử lý các mối quan hệ của chính cộng đồng đó Hoạt động này diễn ra với những hình thức và cấp độ khác nhau, nhằm thỏa mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt và lâu dài của các tầng lớp

Trang 16

người, thỏa mãn những nhu cầu của các cá nhân và tập thể trong môi trường mà

họ sinh sống

1.1.2 Lễ hội truyền thống

Theo định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa truyền thống là các tập quán

và biểu tượng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hội thì được lưu giữ

từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lưu truyền giữa các thế hệ và có một tầm quan trọng đặc biệt” [12, tr 5] Những năm gần đây, trong bối cảnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam Lễ hội truyền thống Việt Nam xuất phát từ nền văn minh lúa nước với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và độc đáo Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa nông nghiệp, vì vậy lễ hội truyền thống Việt Nam chủ yếu là lễ hội nông nghiệp, cội nguồn sâu

xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp

Trong xã hội nông nghiệp thì lễ hội cổ truyền thường gắn với chu kì sản xuất nông nghiệp lúa nước, được tổ chức theo mùa vào thời điểm kết thúc một chu kì sản xuất cũ và mở đầu cho một chu kỳ sản xuất mới, nhằm đáp ứng được nhu cầu thưởng thức các giá trị văn hóa tinh thần của người người nông dân sống tại các làng xã nước ta Lễ hội thể hiện khát vọng của người nông dân mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, con cháu đông đàn, vật thịnh nhân khang và khát vọng vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ Lễ hội truyền thống còn thể hiện sự giao lưu và giao thoa văn hóa tín ngưỡng - tôn giáo trong tiến trình phát triển của nền văn hóa dân tộc

Như vậy có thể hiểu: lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, có từ lâu đời, tồn tại cho đến ngày nay hoặc được phục dựng lại, được hình thành trong hình thái văn hóa lịch sử riêng biệt, được truyền lại trong các cộng đồng dân cư với tư cách là phong tục, tập quán và

có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đồng

1.1.3 Biến đổi văn hóa

Trang 17

Biến đổi văn hóa là một quá trình mang tính quy luật, diễn ra trong mọi xã hội

và ở mọi giai đoạn lịch sử Theo quan điểm của nhiều học giả trong lĩnh vực văn hóa học và xã hội học, biến đổi không chỉ là sự thay đổi ngẫu nhiên mà là sự chuyển dịch có hệ thống các giá trị, chuẩn mực, và thiết chế văn hóa trong mối tương tác với điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử cụ thể

Theo Nguyễn Quang Lê, ―Biến đổi tức là sự thay đổi so với cái gốc trước của nó‖ [17, tr.14] Tác giả Bùi Xuân Đính cho rằng ―Biến đổi là những thay đổi của một hiện tượng, sự vật so với thời điểm ban đầu, do những nguyên nhân khác

nhau, được hiểu theo hai nghĩa: Biến đổi vĩ mô là những thay đổi diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn và trong khoảng thời gian dài Biến đổi vi mô là

những biến đổi nhỏ, diễn ra trong thời gian ngắn, được tạo ra từ một lĩnh vực nào

đó của đời sống và sức biến đổi của nó nhìn chung không lớn, phạm vi không gian hẹp‖ [11, tr.22]

Theo các tác giả Nguyễn Thị Phương Châm và Đỗ Lan Phương: Biến đổi văn hóa là ―quá trình thay đổi các dạng thức văn hóa, các thành tố văn hóa tạo nên màu sắc mới cho một tổng thể văn hóa và trong quá trình đó có sự tác động, can thiệp ở các mức độ khác nhau của các động thái kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là quá trình hội nhập, hiện đại hóa và toàn cầu hóa‖ [9, tr.54] Trong quá trình này, các yếu tố trong một hệ thống luôn có sự vận động không ngừng, trong đó có những yếu tố văn hóa mất đi, có yếu tố văn hóa được sinh ra và cũng

có yếu tố văn hóa được cơ cấu lại, được sáng tạo trên cơ sở của nền tảng truyền thống và tất cả những điều đó tạo nên tính đan xen phức tạp nhưng thú vị của khái niệm biến đổi văn hóa hiện nay‖.[9,tr.54] Và như vậy, nói đến sự biến đổi không thể không nói đến sự vận động Vận động chính là kết quả của sự biến đổi đối với các sự vật, hiện tượng nói chung và đối với văn hóa nói riêng Hệ quả của sự biến đổi văn hóa chính là sự thay đổi ít hay nhiều so với cái gốc ban đầu của nền văn hóa ấy

1.1.4 Biến đổi lễ hội

Từ các quan niệm về sự biến đổi văn hóa đã nêu ở trên, có thể nhận thấy,

lễ hội là một thành tố của văn hóa Cho nên nói đến biến đổi văn hóa cũng có thể

Trang 18

bao gồm biến đổi lễ hội Ở đây có điểm khác biệt là nội hàm hẹp hơn, chỉ nói đến biến đổi lễ hội Và như vậy có thể đưa ra quan niệm về biến đổi lễ hội như sau: Biến đổi lễ hội là sự vận động, thay đổi, chuyển đổi các yếu tố trong bản thân lễ hội so với trạng thái ban đầu của nó Trong quá trình biến đổi, các yếu tố trong tổng thể hệ thống lễ hội luôn có sự vận động không ngừng, trong đó có những yếu tố văn hóa mất đi, có yếu tố văn hóa được sinh ra và cũng có yếu tố văn hóa được cơ cấu lại, được sáng tạo trên cơ sở của nền tảng truyền thống.Và cũng giống như khái niệm biến đổi văn hóa, biến đổi lễ hội cũng được xem là một quy luật tất yếu của nền văn hóa

1.1.5 Biến đổi lễ hội truyền thống

Biến đổi lễ hội truyền thống được hiểu là quá trình thay đổi về cấu trúc, nội dung, hình thức tổ chức và ý nghĩa xã hội của lễ hội truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng trong bối cảnh mới Những biến đổi này có thể xuất phát từ các yếu tố nội sinh như sự thay đổi trong nhận thức, lối sống của cộng đồng, hoặc từ các yếu tố ngoại sinh như tác động của chính sách quản lý văn hóa, sự phát triển của du lịch, truyền thông đại chúng và quá trình toàn cầu hóa

Biến đổi lễ hội truyền thống có thể mang lại những tác động tích cực như làm phong phú thêm các hình thức sinh hoạt văn hóa, thu hút sự quan tâm của công chúng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương Tuy nhiên, nếu không được định hướng và quản lý hợp lý, những biến đổi này cũng có thể dẫn đến những hệ lụy tiêu cực như làm mai một giá trị văn hóa truyền thống, thương mại hóa lễ hội, làm mất đi tính thiêng và bản sắc văn hóa của cộng đồng

1.2 Đặc điểm, giá trị của lễ hội truyền thống

1.2.1 Đặc điểm của lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống là những lễ hội ra đời từ xa xưa và được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp cho đến hiện nay So với lễ hội hiện đại, lễ hội truyền thống có ba đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng, nó mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ

Trang 19

hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính ―tục‖, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò Trám (Phú Thọ) là điển hình Tính tâm linh và linh thiêng của lễ hội nó quy

định ―ngôn ngữ‖ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa, vượt lên thế

giới hiện thực, trần tục của đời sống thường ngày Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng, diễn xướng cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương) trong Hội Tản Viên… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này tạo nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội

Thứ hai: Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống

và tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như

tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này

Thứ ba: Chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân

và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc Nói cách khác không có lễ hội nào

lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội

Ba đặc điểm trên quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các

loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival

Lễ hội cũng như bất cứ một hiện tượng văn hóa, xã hội nào cũng đều chịu

sự tác động bối cảnh kinh tế - xã hội đương thời và nó cũng phải tự thích ứng biến đổi theo Tuy nhiên, với loại hình lễ hội truyền thống thì ba đặc trưng nêu

Trang 20

trên là thuộc về bản chất, là yếu tố bất biến, là hằng số, chỉ có những biểu hiện

của ba đặc tính trên là có thể biến đổi, là khả biến để phù hợp với từng bối cảnh

xã hội Khẳng định điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc phục hồi, bảo tồn và phát huy lễ hội trong xã hội hiện nay Việc phục dựng, làm mất

đi các đặc trưng trên của lễ hội cổ truyền thực chất là làm biến dạng và phá hoại các lễ hội đó

1.2.2 Giá trị của lễ hội truyền thống

Khi nước ta cũng như ở nhiều nước khác đã bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng lễ hội cổ truyền vẫn tồn tại thậm chí còn bùng phát mạnh

mẽ Để vẫn thu hút và lôi cuốn con người xã hội hiện đại như hôm nay, có thể thấy lễ hội cổ truyền đã có nhiều giá trị và vai trò trong cộng đồng Có kể khái quát các giá trị cơ bản của lễ hội truyền thống như sau:

1.2.2.1.Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng

Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng - quôc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ chính lễ hội

là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng

Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (cộng hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm)… Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng

Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng định ―cái cá nhân‖, ―cá tính‖ của mình thì không vì thế cái ―cộng đồng‖

bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ

Trang 21

hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kêt cộng đồng ấy

1.2.2.2 Giá trị giáo dục cội nguồn

Tất cả mọi lễ hội truyền thống đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam -

―uống nước nhớ nguồn‖, ―ăn quả nhớ người trồng cây‖ Chính vì thế, lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - du lịch

Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá, toàn cầu hóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, môi trường; với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc đáo đang bị mai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoà mình vào với môi trường thiên nhiên; trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoá của mình trong cái chung của văn hoá nhân loại Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền là một biểu tượng,

có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại

1.2.2.3.Giá trị cân bằng đời sống tâm linh của con người

Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng - chân thiện mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là ―cuộc đời thứ hai‖, đó là trạng thái

―thăng hoa‖ từ đời sống trần tục, hiện hữu

Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp, các hoạt động của con người dường như được ―chương trình hoá‖ theo nhịp hoạt động của máy móc, căng thẳng và đơn điệu, ồn ào, chật chội nhưng vẫn cảm thấy cô đơn Một đời sống

Trang 22

như vậy tuy có đầy đủ về vật chất nhưng vẫn khô cứng về đời sống tinh thần và tâm linh, một đời sống chỉ có dồn nén, ―trật tự‖ mà thiếu sự cởi mở, xô bồ, ―tháo khoán‖ Tất cả những cái đó hạn chế khả năng hoà đồng của con người, làm thui chột những khả năng sáng tạo văn hoá mang tính đại chúng Một đời sống như vậy không có ―thời điểm mạnh‖, ―cuộc sống thứ hai‖, không có sự ―bùng cháy‖ và ―thăng hoa‖

Trở về với văn hoá dân tộc, lễ hội cổ truyền con người hiện đại dường như được tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hoá dân tộc, tận hưởng những giây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả - chân thiện mỹ, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng, con người có thể phô bày tất cả những gì là tinh tuý đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức

ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳn ngày thường Tất cả đó là trạng thái ―thăng hoa‖ từ đời sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực Nói cách khác, lễ hội đã thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục của đời sống hiện thực

1.2.2.4.Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng

ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong ―thời điểm mạnh‖ của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hoà trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của mình

Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hội phát triển, khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của con người đã phần nào tách biệt

1.2.2.5.Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa

Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc Ví dụ: các làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan ; các điệu múa xanh tiền, con đĩ đánh bồng,

Trang 23

múa rồng, múa lân ; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cải lương ; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, trò trám được ra đời và duy trì trong lễ hội suốt hàng nghìn năm qua

Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội,

mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi

―xuân thu nhị kỳ‖, ―tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ‖, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa

mở hội Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi con người, một ―bảo tàng sống‖ về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan ; các điệu múa xanh tiền, con đĩ đánh bồng, múa rồng, múa lân ; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cải lương ; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, trò trám sẽ ra đời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua Và như vậy thì dân tộc và văn hoá dân tộc sẽ đi đâu,

về đâu, sẽ còn mất ra sao?

Điều này càng cực kỳ quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, thì làng xã và lễ hội Việt Nam lại gánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Trên đây là những vai trò cơ bản của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại Chính vì vậy, sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội hơn bao giờ hết cần phải được quan tâm nghiên cứu, nhìn nhận và đánh giá, từ đó nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1.3 Khái quát về xã Phù Linh và lễ hội Gióng

1.3.1 Khái quát về xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

Phù Linh là xã nằm ở phía bắc huyện Sóc Sơn Phù Linh đã có nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính Trước Cách mạng tháng Tám, các làng,

ấp của Phù Linh ngày nay đều thuộc các tổng khác nhau như Phổ Lộng, Tiên Dược, Trung Giã, Sau cách mạng, việc thiết lập hệ thống chính quyền mới đã

Trang 24

dẫn đến sự ra đời của xã Phù Linh năm 1946 gồm các thôn: Xuân Đoài, Phù Mã,

Vệ Linh, Đạc Đức, Thanh Lại Năm 1948, xã tiếp nhận thêm 2 thôn mới là Thanh Quang, Thanh Trì; đồng thời sáp nhập với xã Lạc Long để tạo thành một

xã mới Sau năm 1954, xã Lạc Long được tách ra thành 2 xã Tiên Dược và Phù Linh Năm 1960, xã tiếp nhận thêm thôn Thái Ninh từ xã Hồng Kỳ Cuối năm

1963, một loạt các thôn là Thanh Lại, Thái Ninh, Thanh Quang, Thanh Trì đã hợp nhất thành thôn Cộng Hòa và giữ nguyên cho đến hiện nay Như vậy, Phù Linh ngày nay có 4 đơn vị hành chính thôn là Xuân Đoài, Phù Mã, Cộng Hòa và

Vệ Linh (đã sáp nhập Đạc Đức vào)

Xã Phù Linh có vị trí địa lý:

- Phía bắc giáp xã Hồng Kỳ

- Phía đông giáp xã Tân Minh

- Phía nam giáp thị trấn Sóc Sơn

- Phía tây giáp xã Nam Sơn, Minh Phú

Về lịch sử, Vào đời vua Hùng thứ 6, Phù Linh theo truyền thuyết là nơi lưu lại chiến tích của Thánh Gióng trong công cuộc chống lại giặc Ân xâm lược

Để ghi nhớ công ơn Thánh Gióng, người dân Phù Linh đã lập đền thờ ông tại chân núi Sóc Truyền thống đó được tiếp nối trong những giai đoạn lịch sử tiếp theo, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp Nhân dân Phù Linh

đã cùng nghĩa quân Đề Thám xây dựng căn cứ ở gò Đồng Cao (thôn Thanh Lại)

và đánh phục kích nhiều trận

Đầu năm 1946, xã đã có 3 đảng viên đầu tiên là đồng chí Đào Duy Nhân, Nguyễn Đoan Hồng, Hoàng Cương và tổ chức thành lập chi bộ Đảng đầu tiên do đồng chí Đào Duy Nhâm làm Bí thư Từ đây, nhân dân Phù Linh tiếp tục cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp và Mỹ, tiến hành những bước đi đầu tiên trong công cuộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Về diện tích và dân số, Xã Phù Linh có diện tích 14,05 km2 Dân số của

xã năm 2012 là 9.526 người, mật độ dân số là 661 người/km2

Về di tích lịch sử, Sóc Sơn có Đền Gióng tọa lạc tại núi Vệ Linh (núi Sóc) Ngôi đền này đã được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng, có một miếu nhỏ thờ Phù Đổng Thiên Vương và chùa Non nước Sau này vào đời vua

Trang 25

Lê Đại Hành, trên đường hành quân chống quân Tống, ông cùng quân đội đã ghé vào miếu thờ và làm lễ cầu Thánh Gióng với mong muốn thắng lợi, đem lại bình yên cho nhân dân Và sau đó, nhân dân ta đã giành thắng lợi Để bày tỏ lòng biết ơn, vua Lê Đại Hành đã cho xây dựng lại miếu thờ uy nghi và tráng lệ hơn trước đây.Trải qua quá trình tu sửa cùng xây dựng, hiện nay Đền Gióng gồm có: Đền Mẫu, Đền Trình, Đền Thượng, chùa Đại Bi, chùa Non Nước, Hòn

đá Trồng, Tượng đài Thánh Gióng cùng rất nhiều bia đá

1.3.2 Khái quát về lễ hội Gióng tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn cổ truyền

1.3.2.1 Nguồn gốc lễ hội

Lễ hội Gióng là một trong những lễ hội truyền thống lớn và tiêu biểu của người Việt, tôn vinh Thánh Gióng - vị anh hùng huyền thoại được nhân dân suy tôn là một trong ―Tứ bất tử‖ của tín ngưỡng dân gian Lễ hội này không chỉ mang giá trị văn hóa – lịch sử sâu sắc mà còn là biểu tượng cho tinh thần thượng

võ, lòng yêu nước và sự cố kết cộng đồng trong đời sống tinh thần người Việt

Trong số các lễ hội Gióng được tổ chức tại nhiều địa phương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, hai địa điểm tiêu biểu nhất là làng Phù Đổng (Gia Lâm) – nơi Thánh Gióng sinh ra và xã Phù Linh (Sóc Sơn) - nơi Thánh hóa và bay về trời Mỗi nơi có một cách thức tổ chức lễ hội riêng, phản ánh đặc trưng văn hóa

và lịch sử của từng địa phương, tạo nên một chỉnh thể văn hóa thống nhất nhưng

Cụm di tích nơi tổ chức lễ hội bao gồm: đền Hạ (nơi thờ mẹ Thánh Gióng), đền Trung (thờ các tướng lĩnh), đền Thượng (thờ Thánh Gióng hóa thần), chùa Đại Bi, chùa Non Nước, và các dấu tích liên quan đến truyền thuyết như dấu chân ngựa trên núi đá, giếng nước, hang ngựa, v.v

Trang 26

1.3.2.2 Cấu trúc của lễ hội

Cũng giống như các lễ hội cổ truyền ở Việt Nam, lễ hội Gióng ở Phù Linh (Sóc Sơn) bao gồm hai phần, phần lễ và phần hội

Phần lễ - không gian thiêng kết nối truyền thống với huyền thoại, được tổ

chức trọng thể, tái hiện mối liên kết tâm linh giữa cộng đồng với Thánh Gióng –

vị thần bảo hộ Nét đặc sắc của phần lễ nằm ở nghi thức rước lễ vật từ các thôn làng trong xã, với sự phân công rõ ràng, phản ánh tính cố kết cộng đồng bền

chặt trong cấu trúc làng xã cổ truyền

Các phần lễ gồm có :

- Thôn Vệ Linh rước giò hoa tre – tượng trưng cho vũ khí thiêng mà Gióng dùng đánh giặc

- Thôn Yên Sào dâng cỏ voi – tượng trưng cho thức ăn ngựa sắt

- Thôn Đan Tảo rước trầu cau – biểu trưng cho lòng trung thành và lễ nghĩa

- Thôn Xuân Dục mang theo cầu húc – hình cầu đỏ biểu tượng cho mặt trời, sự sinh sôi và phồn thực

- Thôn Đức Hậu rước ngà voi, thôn Yên Tàng rước hình tượng cô Tướng – hình nộm nữ tướng giặc bị đánh bại

- Ngoài ra còn có voi chiến – biểu tượng cho uy lực quân sự dưới trướng Thánh Gióng

Các đoàn rước được tổ chức theo nghi lễ cổ truyền, có đội hình, đội ngũ

rõ ràng, cờ lọng nghiêm trang, tiếng trống chiêng rộn ràng, phục trang truyền thống bắt mắt Từ mỗi thôn, lễ vật được rước bằng kiệu, do trai tráng khỏe mạnh đảm nhiệm, tiến về đền Thượng – nơi thờ Thánh Gióng – theo trục thiêng nối ba ngôi đền: Hạ, Trung và Thượng

Tại đền Thượng, các lễ vật được dâng lên Thánh bằng nghi thức tế lễ trang nghiêm, do các cụ cao niên và bô lão uy tín thực hiện Tiếng nhạc lễ vang lên trầm hùng, khói hương quyện với tiếng khấn nguyện tạo nên một không gian linh thiêng, thi vị và giàu cảm xúc tâm linh Toàn bộ phần lễ như một nghi thức giao tiếp giữa con người – thần linh, giữa quá khứ – hiện tại, giữa cộng đồng –

di sản

Phần hội - không gian cộng đồng gắn kết và sáng tạo:Ngay sau phần lễ

Trang 27

là phần hội - mang màu sắc vui tươi, sôi động, thể hiện sinh khí văn hóa dân gian bản địa Phần hội là không gian giao lưu, tái hiện các hoạt động cộng đồng truyền thống, khơi dậy ký ức văn hóa dân gian và khẳng định vai trò của lễ hội như một ―trường học xã hội không lời‖ – nơi lưu giữ và truyền dạy các hình thái

văn hóa phi vật thể

Các trò chơi dân gian đặc sắc bao gồm:

- Kéo co – biểu tượng của sự đoàn kết và sức mạnh cộng đồng

- Đấu vật – thể hiện tinh thần thượng võ và sức khỏe thanh niên

- Thi nấu cơm – trò chơi tái hiện kỹ năng sinh hoạt tập thể và khéo léo trong nếp sống dân dã

- Múa rồng, múa lân, biểu diễn võ thuật cổ truyền – tạo bầu không khí sôi động, hào hứng và mang đậm màu sắc lễ hội mùa xuân

Nổi bật trong phần hội là hai nghi thức độc đáo:

- ―Chém tướng‖: một trò diễn dân gian mô phỏng lại cảnh Thánh Gióng đánh tan quân giặc, thể hiện qua việc xé hình nộm cô Tướng – biểu tượng của cái ác bị tiêu diệt Trò diễn này giàu tính biểu tượng, vừa mang tính diễn xướng vừa có vai trò giáo dục

- ―Tung hoa tre phát lộc‖: sau khi dâng giò hoa tre, người rước tung các

bó hoa vào đám đông, tạo nên cảnh tranh lộc nhộn nhịp Người dân tin rằng ai bắt được lộc sẽ gặp may mắn cả năm Dưới góc nhìn văn hóa học, đây là nghi thức phân phát phúc lành, mang đậm dấu ấn tâm linh – phồn thực của cư dân nông nghiệp Việt cổ

Phần hội không chỉ thỏa mãn nhu cầu giải trí, vui chơi, mà còn là không gian gắn kết các thế hệ, giúp người trẻ hiểu và yêu thêm những giá trị truyền thống, đồng thời là dịp để cộng đồng thể hiện bản sắc, vai trò và sức sáng tạo trong sinh hoạt văn hóa thường niên

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến lễ hội và biến đổi văn hóa, biến đổi lễ hội, đặc điểm, vai trò của lễ hội cổ truyền trong đời sống đương đại làm cơ sở lý luận cho toàn bộ đề tài Tác giả cũng đã giới thiệu khái quát về xã Phù Linh, địa bàn nghiên cứu và lễ hội Gióng ở xã

Trang 28

Phù Linh, đối tượng nghiên cứu Đó là những kết quả bước đầu qua tổng hợp các tài liệu để trên cơ sở đó làm tiền đề cho việc nghiên cứu thực trạng biến đổi

lễ hội Gióng ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong chương 2

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI LỄ HỘI GIÓNG XÃ PHÙ LINH,

HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Các biến đổi trong lễ hội Gióng xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn

2.1.1 Phần lễ

Lễ hội Gióng đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn) diễn ra hằng năm vào ngày 6–8 tháng Giêng âm lịch, tái hiện sự kiện Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân và bay về trời tại núi Sóc Phần lễ gồm chuỗi nghi thức truyền thống do các dòng họ và thôn làng địa phương đảm nhiệm: lễ dâng hương, rước bài vị, rước lễ vật như giò hoa tre, giò trầu cau (các lễ vật tượng trưng cho vũ khí và lương thực khao quân) lên đền Thượng, cùng với nghi thức tế lễ cổ truyền trang nghiêm

Nghi thức truyền thống cốt lõi của lễ hội Gióng tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn về cơ bản vẫn được bảo lưu từ xưa đến nay Lễ hội gắn liền với truyền thuyết Thánh Gióng về trời tại núi Sóc, nên diễn trình lễ mang đậm màu sắc tín ngưỡng và tính chất ―trận trận – khải hoàn‖ Trước 2010, các nghi lễ chính bao gồm: lễ khai quang (tắm tượng Thánh Gióng) diễn ra lúc nửa đêm mùng 5 rạng ngày mùng 6 tháng Giêng; lễ dâng hương và rước các lễ vật thánh lên đền Thượng (đền thờ Thánh Gióng); nghi thức chém tướng giặc (tượng trưng Thánh Gióng đánh giặc Ân); và tục ―cướp lộc‖ hoa tre cầu may sau khi dâng lễ Các lễ vật truyền thống do bảy thôn đảm nhiệm, theo thứ tự bất biến ghi trên bia đá cổ: đứng đầu luôn là giò hoa tre của thôn Vệ Linh, kế đến là voi chiến, trầu cau, ngà voi, cỏ voi, kiệu tướng… Tập tục ―phân vai‖ rước lễ vật này có tính ổn định cao, được dân các làng tự nguyện tuân thủ nghiêm ngặt qua nhiều thế hệ Điều đó thể hiện vai trò chủ thể văn hóa của cộng đồng địa phương đối với lễ hội – đúng như yêu cầu bảo tồn tính đích thực mà UNESCO đề ra

Từ 2010 đến 2025, nhìn chung phần lễ của hội Gióng đền Sóc vẫn giữ nguyên các nghi thức truyền thống căn bản, đảm bảo ―kịch bản, quy trình của lễ hội cam kết với UNESCO không có gì thay đổi‖ Đêm mùng 5 Tết vẫn cử hành

lễ khai quang tắm tượng, ngày mùng 6 tổ chức lễ rước 8 lễ vật truyền thống và

Trang 30

lễ tế trang nghiêm tại sân Rồng đền Sóc Tuy nhiên, có một số điều chỉnh và bổ sung đáng kể nhằm phù hợp với bối cảnh mới Về trình tự nghi lễ, năm 2010 ban

tổ chức đã tham khảo ý kiến các nhà nghiên cứu để sắp xếp lại thứ tự đoàn rước cho hợp lý hơn về ý nghĩa: Sau thôn Vệ Linh rước giò hoa tre, thay vì rước trầu cau ngay, đoàn rước voi chiến sẽ được nối tiếp bởi rước ngà voi, cỏ voi, rồi mới đến rước trầu cau – thể hiện mạch ―ra trận trước, mừng công sau‖ Sự thay đổi nhỏ này nhận được đồng thuận của cộng đồng, cho thấy khả năng thích ứng linh hoạt mà không phá vỡ quy ước truyền thống Ngoài ra, một số nghi thức cổ xưa

đã được lược bỏ trong lịch sử trước giai đoạn này (ví dụ: tục rước ―trải‖ – rước hình nhân bằng kiệu thuyền rồng – đã bị loại bỏ từ sau 1992 do không phù hợp với ý nghĩa nhân văn của Thánh Gióng) Những yếu tố nghi lễ lạc hậu như phân biệt ―dân tế đền Hạ, quan tế đền Thượng‖ thời phong kiến cũng đã xóa bỏ từ sau

1945, phản ánh tinh thần bình đẳng trong lễ hội mới

Từ sau năm 2010, công tác bảo tồn và phục dựng nghi lễ truyền thống được chú trọng Các lễ phục, đạo cụ cổ truyền đã được phục chế hoặc thay mới phù hợp với nguyên gốc lịch sử (ví dụ: phục hồi trang phục tướng sĩ, vũ khí tre ngựa – những đạo cụ từng bị hư hại) Thành phố Hà Nội đã hỗ trợ kinh phí và chuyên môn nhằm duy trì tính chân thực của phần lễ: năm 2010, chính quyền hỗ trợ thay thế trang phục, binh khí cũ hỏng và cải thiện cơ sở vật chất phục vụ nghi lễ Nhờ đó, nhiều nghi thức từng gián đoạn bởi chiến tranh hoặc biến động

xã hội nay được khôi phục đầy đủ Cộng đồng địa phương và các nghệ nhân nắm giữ di sản cũng nhận được sự quan tâm: chính quyền tiến hành kiểm kê danh sách ―những người thực hành lễ hội‖ (các ông hiệu cờ, hiệu trống, phường

Ải Lao, những người rước lễ vật…) để có chính sách đãi ngộ, động viên họ tiếp tục gìn giữ nghi lễ truyền thống Đây là biểu hiện tích cực cho thấy phần lễ đang được bảo tồn có hệ thống và chuyên nghiệp hơn, đáp ứng yêu cầu ―giữ hồn cốt‖

di sản trong bối cảnh hiện đại Bên cạnh đó, công tác truyền thông về lễ hội được đẩy mạnh giúp cộng đồng hiểu rõ giá trị và ý nghĩa các nghi lễ: từ năm

2011, đài truyền hình Hà Nội mở chuyên mục định kỳ giới thiệu hội Gióng trong mùa lễ hội (từ tháng Giêng đến tháng Tư âm lịch); các ấn phẩm sách, băng đĩa

Trang 31

về Thánh Gióng cũng được phát hành, góp phần giáo dục truyền thống và quảng

bá rộng rãi nghi lễ Nhờ những nỗ lực này, nhận thức của cộng đồng về di sản được nâng lên, lớp trẻ tại Sóc Sơn dần ý thức hơn về nguồn gốc lịch sử và giá trị tâm linh của lễ hội mà cha ông truyền lại

Tuy nhiên, phần lễ cũng đối mặt với không ít biến đổi tiêu cực trong giai đoạn vừa qua Một thách thức lớn là hiện tượng ―sân khấu hóa‖ nghi lễ – tức nguy cơ trình diễn nghi thức như một show phục vụ du khách, làm mất đi tính thiêng và sự tham gia tự nhiên của cộng đồng Sau khi được vinh danh, hội Gióng trở nên nổi tiếng, kéo theo nhu cầu ―phải hoành tráng xứng tầm di sản‖ Một bộ phận người dân và nhà quản lý có xu hướng muốn phóng đại quy mô, thêm thắt nghi thức lạ nhằm thu hút công chúng Cách ―nâng tầm‖ lễ hội này đã được cảnh báo là sẽ nhanh chóng làm biến dạng di sản Thực tế, tại hội Gióng Sóc Sơn, chính quyền địa phương thời gian đầu sau vinh danh đã can thiệp sâu

để ―làm đẹp‖ phần lễ: huy động đông đảo lực lượng an ninh, bố trí lễ đài, kịch bản chặt chẽ, vô tình biến nghi lễ cộng đồng thành một sự kiện hành chính Hệ quả là vai trò của cộng đồng địa phương suy giảm trong phần lễ Người dân tuy vẫn thực hành các nhiệm vụ truyền thống (dâng lễ, tế lễ) nhưng mọi quyết định lớn đều do Ban tổ chức chỉ đạo theo kịch bản soạn sẵn Quyền tự chủ vốn có của dân làng trong việc điều hành lễ tục bị hạn chế hơn so với trước Mặt khác, để tăng tính ―trật tự‖ và ―văn minh‖, một số tập tục cổ truyền bị điều chỉnh Điển hình là tục ―tán lộc‖ và cướp lộc (phát tán lộc Thánh cho dân chúng) vốn là cao trào phần lễ từ xưa Tục này mang ý nghĩa chia lộc may mắn đầu năm, nhưng trong bối cảnh đương đại đã bị đám đông lợi dụng thành hành vi tranh cướp phản cảm Những năm sau 2010, đặc biệt giai đoạn 2015–2017, mỗi dịp kết thúc nghi lễ tế Thánh, hàng nghìn người dân và du khách đã ùa vào cướp lộc hoa tre, giò trầu cau tạo nên cảnh hỗn loạn, xô đẩy nghiêm trọng Lực lượng công an, bảo vệ phải căng mình lập hàng rào nhưng vẫn không ngăn nổi cảnh hàng trăm thanh niên vượt rào lao vào đoạt lộc bất chấp tất cả

Đứng trước nguy cơ bạo lực và phản cảm, từ năm 2018 ban tổ chức đã quyết định bỏ tục ―cướp lộc‖ công khai: thay vì rước giò hoa tre, trầu cau từ đền

Trang 32

Thượng xuống đền Hạ để dân tranh cướp, nay các lễ vật được dâng kín trong hậu cung và phân phát tượng trưng sau, hạn chế tối đa cảnh giẫm đạp Biện pháp này giúp chấm dứt được cảnh hỗn loạn, khôi phục sự tôn nghiêm cho phần lễ Song, một số ý kiến lo ngại việc điều chỉnh nghi thức cổ truyền sẽ ảnh hưởng tính nguyên bản Dẫu ban tổ chức khẳng định các thôn làng vẫn chuẩn bị lễ vật đầy đủ ý nghĩa tâm linh, chỉ thay đổi cách thức phát lộc, thì rõ ràng lễ hội đã mất

đi một sinh hoạt dân gian lâu đời (tục cướp lộc) – cho dù đó là mất mát cần thiết nhằm giữ hình ảnh lễ hội văn minh Ngoài ra, phần lễ cũng chịu tác động bởi môi trường đô thị hóa: không gian thiêng (đền, rừng, bãi đất luyện quân dưới chân đê) bị thu hẹp dần bởi cơ sở hạ tầng du lịch Nếu không cẩn trọng, việc bê tông hóa cảnh quan có thể phá vỡ không gian văn hóa của lễ hội May mắn là nhờ sự lên tiếng của các nhà quản lý di sản, đến nay cảnh quan chính của khu di tích đền Sóc (đền Thượng, giếng Mẫu, bãi đánh trận giả, lũy tre làng…) vẫn được giữ gìn khá nguyên vẹn Tổng kết lại có thể thấy, phần lễ hội Gióng ở Phù Linh giai đoạn 2010–2025 đã được chuyên nghiệp hóa đáng kể trong tổ chức nhằm bảo tồn giá trị cốt lõi, nhưng cũng nảy sinh những hệ quả như giảm quyền

tự chủ cộng đồng và phải thỏa hiệp giữa giữ truyền thống với điều chỉnh nghi thức để phù hợp với bối cảnh mới

2.1.2 Phần hội

Bên cạnh phần lễ mang tính tâm linh, phần hội của lễ hội Gióng bao gồm các hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí và gắn kết cộng đồng diễn ra sau hoặc xen kẽ nghi thức tế Trong giai đoạn sau 2010, phần hội tại đền Sóc Sơn có nhiều biến chuyển tích cực thể hiện sự phong phú và hấp dẫn hơn trước Ban tổ chức lễ hội Sóc Sơn đã chủ trương phục hồi và phát triển các trò chơi dân gian, trình diễn nghệ thuật truyền thống trong khuôn khổ lễ hội, nhằm tái hiện không khí hội làng xưa và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của du khách Từ năm

2016 - 2018, cùng với việc điều chỉnh phần lễ, huyện Sóc Sơn đã bổ sung nhiều hoạt động văn hóa: tổ chức thi kéo mỏ (một hình thức kéo co truyền thống được công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia), hội thi nấu cơm cần sự khéo léo và tinh thần đoàn kết, mời các làng quan họ Bắc Ninh về biểu diễn dân ca

Trang 33

phục vụ người đi hội Những hoạt động này được dàn dựng công phu nhưng vẫn đậm màu sắc dân gian, giúp khách thập phương trải nghiệm sâu hơn về văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ Nhờ truyền thông hiệu quả, lượng du khách về trẩy hội Sóc Sơn tăng lên đáng kể sau khi di sản được vinh danh Điều này mang lại một

số lợi ích kinh tế – xã hội: người dân địa phương có cơ hội kinh doanh dịch vụ (bán hàng lưu niệm, ẩm thực, trông giữ xe), nâng cao thu nhập; địa phương quảng bá được hình ảnh, thu hút khách du lịch về với di tích lịch sử Sóc Sơn Mặt khác, chính quyền đã chú trọng nâng cấp hạ tầng phục vụ lễ hội: quy hoạch bãi gửi xe, lắp đặt biển chỉ dẫn, duy trì vệ sinh môi trường, đảm bảo an ninh trật

tự Nhờ đó, phần hội diễn ra ngày càng văn minh, an toàn và chuyên nghiệp hơn

Có thể nói, so với trước 2010 khi hội Gióng Sóc Sơn còn khá khiêm tốn thì đến năm 2025, phần hội đã mang tầm vóc một festival văn hóa tại địa phương với nhiều sự kiện hấp dẫn, góp phần lan tỏa giá trị di sản tới công chúng đương đại

Tuy nhiên, tương tự phần lễ, mặt trái của những biến đổi trong phần hội cũng bộc lộ không ít Sự gia tăng du khách và hoạt động thương mại kéo theo nguy cơ thương mại hóa lễ hội Không gian thiêng quanh đền nay thấp thoáng bóng dáng chợ quê mùa lễ hội với hàng dài sạp bán đồ lưu niệm, đồ ăn thức uống Nếu thiếu quản lý, nhiều hàng quán có thể chèo kéo, ―chặt chém‖ du khách, làm xấu hình ảnh lễ hội Thực tế, ban tổ chức đã phải quán triệt và cho các hộ kinh doanh ký cam kết không chèo kéo, không ―thét giá‖ để tránh hiện tượng tiêu cực ―mua thần bán thánh‖ vì vụ lợi Một hiện tượng khác là sân khấu hóa quá đà trong phần hội Việc đưa các tiết mục biểu diễn chuyên nghiệp vào lễ hội, nếu không tiết chế, có thể lấn át sinh hoạt truyền thống của cộng đồng Thay

vì dân làng tự vui chơi, tự diễn xướng như xưa, nhiều hoạt động hội giờ đây thành chương trình do ban tổ chức đạo diễn Một số trò chơi có tính thiêng trước kia (ví dụ tục cướp lộc) bị loại bỏ, trong khi trò chơi mới dù vui tươi nhưng mang tính trình diễn phục vụ khách nhiều hơn là nghi lễ cộng đồng sống Nguy

cơ ―phô diễn văn hóa‖ để chiều lòng du khách có thể khiến lễ hội mất dần bản sắc Chính các nhà quản lý văn hóa cũng nhìn nhận: mô hình phát triển lễ hội thành sản phẩm du lịch đại chúng tiềm ẩn nguy cơ tầm thường hóa di sản, biến

Trang 34

lễ hội thiêng thành một sự kiện giải trí thuần túy Đối chiếu với bài học lễ hội Chùa Hương bị biến dạng vì thương mại hóa, không nên chạy theo khai thác du lịch bằng mọi giá tại hội Gióng Thay vào đó, cần đặt lợi ích văn hóa, tâm linh lên hàng đầu, để lễ hội tồn tại bình yên trong cộng đồng như vốn có Bên cạnh vấn đề thương mại hóa, phần hội cũng chứng kiến sự suy giảm vai trò chủ thể của người dân Khi khách thập phương tràn về đông, người dân bản địa không còn là trung tâm của hội làng mình nữa mà trở thành ―người phục vụ‖ (tổ chức, giữ trật tự, bán hàng…) Tiếng nói của cộng đồng địa phương trong việc quyết định nội dung phần hội có thể bị lu mờ trước yêu cầu ―phục vụ số đông‖ và chỉ đạo của chính quyền Điều này có thể dẫn tới tâm lý thờ ơ ở thế

hệ trẻ địa phương – họ dự lễ hội như một công việc ―phải làm‖ hơn là niềm tự hào văn hóa

Bên cạnh đó nếu lớp trẻ không cảm nhận được giá trị di sản, họ sẽ dần xa rời lễ hội, đặt ra thách thức cho tính bền vững của việc kế thừa Hiện tượng này

đã được ghi nhận: dù thực hành lễ hội hàng năm, nhiều thanh niên Sóc Sơn chưa hiểu đầy đủ về di sản của chính mình, tham gia chủ yếu do bổn phận Đây là một nguy cơ âm thầm cần được khắc phục bằng cách tăng cường giáo dục di sản trong cộng đồng Tóm lại, phần hội lễ hội Gióng (đền Sóc) sau 2010 có sự mở rộng và hiện đại hóa, góp phần phát huy giá trị văn hóa nhưng đồng thời đối mặt với hệ lụy thương mại hóa, sân khấu hóa và giảm tính cộng đồng Thách thức đặt ra cho công tác quản lý là làm sao dung hòa phát triển và bảo tồn, để phần hội vừa hấp dẫn, mới mẻ vừa không đánh mất hồn cốt dân gian

Cùng với việc giữ vững phần lễ, phần hội của lễ hội Gióng Sóc Sơn đã có thêm nhiều yếu tố mới sau năm 2010, làm phong phú trải nghiệm cho người tham gia Trước 2010, phần hội chủ yếu gồm các trò chơi dân gian truyền thống

do dân làng tổ chức như múa rối nước, đánh đu, chọi gà, đánh cờ người, hát chèo, ca trù… diễn ra ngay tại sân đền và khu vực lân cận Các hoạt động này mang đậm tính dân dã và tự phát, tạo không khí vui tươi, nhưng quy mô chưa lớn và ít có sự dàn dựng công phu Giai đoạn đó chưa xuất hiện nhiều yếu tố hiện đại hoặc thương mại; du lịch lễ hội cũng còn mang tính tự phát, chưa có các

Trang 35

dịch vụ quy mô

Từ năm 2010 trở đi, đặc biệt sau khi di sản Hội Gióng được quảng bá rộng rãi, phần hội đã phát triển đa dạng hơn với sự bổ sung cả về nội dung trò chơi lẫn hình thức tổ chức Ban tổ chức duy trì và mở rộng các trò chơi dân gian truyền thống (đi cà kheo, đi cầu thăng bằng, đập niêu, thi nấu cơm, kéo co…), đồng thời lần đầu tiên đưa vào trình diễn một số di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của địa phương khác, ví dụ nghi thức Kéo Mỏ của xã Xuân Thu (Sóc Sơn) được giới thiệu tại hội Gióng 2023 Những cuộc thi được tổ chức bài bản hơn: năm 2023, hội thi đấu vật truyền thống được cải tiến theo hướng mở rộng đối tượng (du khách có thể đăng ký tham gia trực tiếp tại chỗ thay vì chỉ có các đô vật địa phương) Bên cạnh trò húc cầu (đấu cướp cầu mang tính biểu tượng nông nghiệp phồn thực) được khôi phục và nâng tầm thành cuộc thi, các hoạt động sân khấu hóa, biểu diễn nghệ thuật cũng được tổ chức xuyên suốt những ngày hội Huyện Sóc Sơn huy động các đội văn nghệ địa phương biểu diễn hát chèo, hát văn, múa rồng, trống hội… tạo không khí lễ hội tưng bừng cả ngày lẫn đêm

Có thể thấy rõ rằng, phần hội đã được kịch bản hóa và chuyên nghiệp hóa hơn trước rất nhiều

Ngoài ra một yếu tố mới nổi bật nữa là sự gắn kết lễ hội với phát triển du lịch và các hoạt động kinh tế văn hóa Khu di tích đền Sóc những năm qua được đầu tư trở thành điểm du lịch của Hà Nội (được công nhận năm 2021), do đó trong dịp lễ hội, nhiều dịch vụ du lịch và sự kiện phụ trợ được lồng ghép Chẳng hạn, năm 2024 huyện Sóc Sơn còn tổ chức ―Lễ hội mua sắm‖ ngay trước thềm hội Gióng, với 120 gian hàng trưng bày nông sản, sản phẩm OCOP địa phương phục vụ du khách Không gian lễ hội vì thế mở rộng thêm khu ẩm thực và thương mại, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách thập phương Mặc dù điều này giúp quảng bá đặc sản và tăng nguồn thu, một số ý kiến lo ngại về nguy cơ thương mại hóa lễ hội nếu hoạt động mua bán lấn át phần lễ tâm linh Tuy nhiên, nhìn chung các yếu tố mới (trò chơi mới, hoạt động trình diễn, du lịch…) đã góp phần hấp dẫn giới trẻ và kết nối lễ hội truyền thống với đời sống đương đại, giúp

lễ hội Gióng đền Sóc vừa bảo tồn được giá trị xưa, vừa có sức sống hiện đại

Trang 36

2.1.3 Quy mô lễ hội

Trước năm 2010, lễ hội Gióng ở Phù Linh (Sóc Sơn) chủ yếu mang tính lễ hội làng – hội vùng với phạm vi tương đối hẹp Lễ hội diễn ra hàng năm vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch tại khu di tích đền Sóc, có sự tham gia của cư dân các thôn xung quanh và khách hành hương địa phương Mặc dù đã được phục dựng từ năm 1992 sau thời gian đứt quãng, lễ hội thời kỳ này vẫn giữ tính chất gần gũi, dân dã; số người tham dự chưa quá đông, chủ yếu là người dân huyện Sóc Sơn và vùng lân cận Chính quyền địa phương có tham gia hỗ trợ nhưng quy mô tổ chức chưa ở tầm cỡ quốc gia hay quốc tế Các sự kiện phụ trợ (như trò chơi dân gian) vẫn mang tính tự phát, do cộng đồng tự quản là chính

Từ sau 2010 đến 2025, quy mô lễ hội Gióng Sóc Sơn đã mở rộng rõ rệt Cột mốc quan trọng là cuối năm 2010, UNESCO đã ghi danh Hội Gióng đền Sóc (Sóc Sơn) và đền Phù Đổng (Gia Lâm) vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Sự kiện này đưa lễ hội Gióng từ hội làng trở thành một lễ hội tầm cỡ quốc gia và quốc tế, thu hút sự quan tâm lớn của công chúng

và du khách thập phương Giai đoạn 2010–2025 chứng kiến số lượng người tham gia tăng đột biến, có năm lên đến hàng triệu du khách về trảy hội đền Sóc đầu xuân Lễ hội Gióng đền Sóc đã trở thành một sự kiện văn hóa – tín ngưỡng lớn bậc nhất Thủ đô mỗi dịp Tết, nằm trong hệ thống du lịch lễ hội của Hà Nội Quy mô đoàn rước và các hoạt động cũng ngày càng lớn; lễ hội Gióng Phù Linh hiện sánh ngang về quy mô với lễ hội Gióng Phù Đổng – vốn được đánh giá là một trong những lễ hội lớn nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ Đặc biệt, sự tham gia của chính quyền và các ban ngành ngày càng sâu rộng: UBND huyện Sóc Sơn trực tiếp đứng ra tổ chức lễ hội hàng năm, huy động nguồn lực công an, y tế, thanh niên tình nguyện… để đảm bảo an ninh và an toàn cho hàng vạn người dự hội Nhờ sự đầu tư và quản lý chuyên nghiệp hơn, lễ hội Gióng đền Sóc giai đoạn sau 2010 không chỉ giữ vững quy mô hội vùng mà còn vươn tầm thành điểm đến du lịch văn hóa đặc biệt của Hà Nội, thu hút cả du khách quốc tế

Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô cũng mang lại những thách thức Lượng khách tăng đột biến gây áp lực lên cơ sở hạ tầng và công tác tổ chức Chẳng hạn,

Trang 37

tình trạng ùn tắc giao thông, thiếu bãi đỗ xe, quá tải dịch vụ những năm gần đây buộc địa phương phải có phương án khắc phục kịp thời Mặt tích cực là quy mô lớn giúp quảng bá mạnh mẽ hình ảnh lễ hội và góp phần phát triển kinh tế – du lịch địa phương; mặt trái là nguy cơ thương mại hóa, phát sinh dịch vụ tự phát

có thể ảnh hưởng đến không gian thiêng của lễ hội nếu không được kiểm soát chặt chẽ

2.1.4 Công tác quản lý và tổ chức lễ hội

Trước năm 2010, lễ hội Gióng Phù Linh chủ yếu do cộng đồng địa phương tự quản dưới sự hướng dẫn của các bô lão và chính quyền xã Ban tổ chức lễ hội thường là người của làng, hoạt động dựa trên luật tục và kinh nghiệm truyền thống hơn là quy chế pháp lý chặt chẽ Công tác kiểm soát lễ hội thời kỳ này tương đối lỏng: chưa có phân luồng giao thông rõ ràng, dịch vụ trông giữ xe tự phát, hàng quán có thể lấn chiếm không gian hội Lễ hội ít nhiều mang tính tự nhiên, chưa có kịch bản văn bản hóa chi tiết Thực tế, mãi đến năm

1994, huyện Sóc Sơn mới mời các nhà nghiên cứu soạn kịch bản dàn dựng lễ hội trên cơ sở tập quán truyền thống, và sau đó áp dụng quản lý theo kịch bản này Song nhìn chung, trước 2010 lễ hội vẫn đậm tính tự quản dân gian, vai trò quản lý nhà nước còn mờ nhạt

Giai đoạn 2010–2025 chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác

tổ chức và quản lý lễ hội Gióng ở Sóc Sơn Sau khi được vinh danh di sản nhân loại, chính quyền thành phố Hà Nội và huyện Sóc Sơn đã đặt ra những cam kết bảo tồn cụ thể Nhà nước ban hành Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản Hội Gióng (2011–2015), đồng thời phê duyệt Đề án phát huy giá trị không gian lễ hội Gióng tại Sóc Sơn và Gia Lâm Theo đó, bộ máy quản lý di sản được kiện toàn: huyện thành lập Ban Quản lý khu di tích đền Sóc, phân công nhiệm vụ cho các phòng ban liên quan để phối hợp tổ chức hội Gióng hàng năm Ban Tổ chức lễ hội do một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện làm trưởng ban, chịu trách nhiệm toàn diện từ lên kế hoạch, duyệt kịch bản đến điều phối thực thi Các lực lượng công an, quân đội, y tế, tình nguyện viên… được huy động với quân số đông (gần 300 công an) để giữ trật tự, bảo vệ lễ vật và hướng dẫn du khách

Trang 38

Đặc biệt, sau các sự cố cướp lộc 2015–2016, công tác quản lý được thắt chặt và đổi mới Ban tổ chức ban hành quy định cấm du khách mang gậy gộc vào khu lễ hội, lập hàng rào an ninh quanh khu vực rước lễ, huy động đội bảo vệ

lễ vật đông đảo Tuy nhiên, nhận thấy biện pháp này chỉ giải quyết phần ngọn

mà chưa trị dứt điểm gốc rễ tâm lý đám đông ham ―cướp lộc‖, từ 2018 huyện Sóc Sơn đã mạnh dạn cải tổ nghi thức để giảm tải áp lực quản lý Hướng tiếp cận mới là ―phòng ngừa từ xa‖: thay vì bố trí lực lượng hùng hậu ngăn cản cướp lộc vừa tốn kém, vừa có nguy cơ xô xát, họ loại bỏ luôn tình huống có thể gây tranh cướp Kết quả là công tác tổ chức sau 2018 nhẹ nhàng hơn mà hiệu quả hơn, không còn cảnh hỗn loạn phải can thiệp Ban tổ chức còn chủ động ứng phó với lượng khách tăng cao bằng cách phân tán hoạt động ra nhiều điểm trong không gian di sản như trò chơi, biểu diễn rải rác khắp khu vực, nhằm tránh tập trung quá đông người một chỗ Công tác đảm bảo an toàn phòng dịch nhất là giai đoạn 2020–2022, vệ sinh môi trường cũng được địa phương chú trọng lồng ghép vào kế hoạch lễ hội

Mặt khác, việc kịch bản hóa lễ hội ngày càng chi tiết giúp cho lễ hội diễn

ra trật tự, trang nghiêm hơn, nhưng cũng đặt ra bài toán cân bằng với tính tự nhiên Ban tổ chức phải luôn lắng nghe ý kiến cộng đồng để tránh hành chính hóa lễ hội một cách khiên cưỡng Thực tế cho thấy, những điều chỉnh hợp lý (như thay đổi thứ tự đoàn rước, bỏ tục cướp lộc) đều được dân làng ủng hộ khi được giải thích thấu đáo Có thể nói, giai đoạn 2010–2025, vai trò quản lý nhà nước trong lễ hội Gióng Phù Linh đã được khẳng định rõ Sự kết hợp giữa cộng đồng và chính quyền giúp lễ hội vận hành đúng quy định, phù hợp thuần phong

mỹ tục, đồng thời vẫn giữ được hồn cốt văn hóa Đây là hướng quản lý tích cực, góp phần bảo tồn bền vững lễ hội trong bối cảnh hội nhập và du lịch hóa

2.2 Đánh giá những tích cực và hạn chế trong sự biến đổi của lễ hội Gióng tại xã Phù Linh

2.2.1 Những biến đổi tích cực

Trong những năm gần đây, lễ hội Gióng đền Sóc (Phù Linh, Sóc Sơn) được tổ chức ngày càng quy củ, chuyên nghiệp hơn, vừa duy trì được bản sắc truyền

Trang 39

thống vừa ứng dụng phương pháp tổ chức hiện đại Việc bảo tồn và quảng bá di sản Gióng gắn liền với nỗ lực của chính quyền và cộng đồng địa phương UNESCO từng ghi nhận Hội Gióng là di sản ―ăn sâu trong đời sống cộng đồng‖

và cần được bảo vệ như một phần bản sắc dân tộc, do đó từ cấp quốc gia đến địa phương đã xây dựng chương trình hành động cụ thể nhằm gìn giữ và phát huy giá trị lễ hội (giai đoạn 2011–2015) Nhiều công trình trong quần thể di tích Đền Sóc và Đền Phù Đổng đã được tôn tạo, hạ tầng kỹ thuật tại khu di tích được cải thiện, ghi dấu bước tiến trong hiện đại hóa tổ chức lễ hội

Công tác tổ chức lễ hội ngày nay được chú trọng đầu tư hơn, đảm bảo an toàn và trật tự Chẳng hạn, huyện Sóc Sơn chủ động ―nâng cao chất lượng dịch

vụ, kiên quyết xử lý hàng quán bày bán sai quy định, cờ bạc trá hình‖ trong mùa

lễ hội năm 2025 Ở phía Gia Lâm, ủy ban nhân dân huyện đã thành lập Ban Quản lý Đền Phù Đổng và đầu tư gần 72 tỷ đồng để tu bổ đền đài, tôn tạo cảnh quan, đáp ứng nhu cầu của du khách và tín đồ đạo Gióng Đồng thời, công tác đảm bảo an ninh – trật tự được siết chặt; ban tổ chức lễ hội thường xuyên quán triệt lực lượng giữ gìn an ninh, phân công nhiệm vụ rõ ràng trước ngày lễ hội Nhờ vậy, những năm gần đây tình hình an toàn tại lễ hội Gióng tại Sóc Sơn về

cơ bản được giữ vững Những biện pháp quản lý chặt chẽ này cho thấy chính quyền ngày càng nâng cao vai trò trong bảo đảm trật tự, hạn chế các hành vi gây rối loạn như đốt pháo, gây lộn, qua đó tạo khung cảnh lễ hội trang nghiêm hơn

Lễ hội Gióng Sóc Sơn hiện được chú trọng quảng bá văn hóa và phát triển

du lịch bền vững Việc lưu giữ nghi lễ được kết hợp với tuyên truyền rộng rãi về giá trị lịch sử – văn hóa Nhiều hình thức truyền thông như sách, tờ gấp, chương trình truyền hình, thuyết minh du lịch… đã được sử dụng để giới thiệu về lễ hội

và truyền thuyết Thánh Gióng Đền Sóc đã được công nhận là điểm du lịch của thành phố Hà Nội theo Quyết định 573/QĐ-UBND ngày 3 tháng 2 năm 2021, với hệ thống đường giao thông, biển báo, bãi đậu xe và phòng trưng bày hiện vật được đầu tư hoàn thiện Tại Gia Lâm (Đền Phù Đổng), công tác quản lý di sản cũng phát huy qua mã QR, biển chỉ dẫn du lịch, tái hiện diễn xướng dân gian và

ẩm thực truyền thống để thu hút khách quanh năm Đây là những nỗ lực tích cực

Trang 40

trong việc kết nối lễ hội với du lịch văn hóa: không chỉ bảo tồn nghi lễ, lễ vật truyền thống, mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho địa phương Ví dụ, số lượt du khách đến Đền Sóc hàng năm tăng mạnh, giúp tạo nguồn thu và lan toả hình ảnh văn hoá Gióng ra du khách trong nước và quốc tế Nhờ vậy, giá trị di sản Gióng được quảng bá rộng rãi hơn, góp phần củng cố niềm tự hào dân tộc trong cộng đồng người Việt

Lễ hội Gióng tiếp tục là dịp khơi dậy tinh thần yêu nước và giáo dục truyền thống Việc tổ chức hội không chỉ dừng ở nghi thức cúng tế mà còn được gắn với lời dạy ―uống nước nhớ nguồn‖, giúp giáo dục thế hệ trẻ đạo lý ―phụng

sự Tổ quốc‖ và truyền thống anh hùng của cha ông Ở lễ hội Sóc Sơn, các phần

lễ trang nghiêm (rước lễ, tế lễ) được tiến hành đầy đủ, tái hiện sự tích Thánh Gióng trong phần lễ; phần hội cũng duy trì trò chơi dân gian, múa lân, hát chèo, múa rối… nhằm kích thích sự tham gia của thanh niên, học sinh Qua đây, thế hệ trẻ có cơ hội tiếp xúc sinh động với lịch sử dân tộc và cảm nhận vẻ đẹp của anh hùng Thánh Gióng Những nội dung này phản ánh sự cố gắng trong công tác tuyên truyền lịch sử và truyền thuyết Gióng, đúng theo khuyến nghị ―đẩy mạnh giảng dạy về truyền thuyết Thành Gióng và Hội Gióng trong trường học‖ của chương trình hành động quốc gia Như vậy, từ góc độ giáo dục văn hóa – lịch

sử, lễ hội Gióng Phù Linh đã phát huy tích cực trong việc thắp lên niềm tự hào dân tộc và gắn kết cộng đồng thông qua nghi lễ truyền thống

và khói trầu cau ngay khi các nghi thức tế xong Cảnh tượng này không chỉ tiềm

ẩn nguy cơ mất an toàn (dễ gây giẫm đạp, va chạm), mà còn làm biến chất nghi

Ngày đăng: 02/06/2025, 16:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững đất nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2014
2. Báo Hà Nội Mới. (2024, 15 tháng 2). ―Lễ hội Gióng đền Sóc 2024: Khai mạc muộn hơn so với mọi năm‖, https://hanoimoi.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Gióng đền Sóc 2024: Khai mạc muộn hơn so với mọi năm
Tác giả: Báo Hà Nội Mới
Nhà XB: Báo Hà Nội Mới
Năm: 2024
3. Báo Kinh tế & Đô thị. (2024, 15 tháng 2). ―Lễ hội Gióng đền Sóc năm 2024: Những điều chưa biết về sự tích 8 lễ vật‖, https://kinhtedothi.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Gióng đền Sóc năm 2024: Những điều chưa biết về sự tích 8 lễ vật
Tác giả: Báo Kinh tế & Đô thị
Nhà XB: Báo Kinh tế & Đô thị
Năm: 2024
4. Báo Người Lao Động. (2024, 15 tháng 2). ―Khai hội Gióng đền Sóc năm 2024‖, https://nld.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai hội Gióng đền Sóc năm 2024
Tác giả: Báo Người Lao Động
Nhà XB: Báo Người Lao Động
Năm: 2024
5. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết 08/NQ/TW ngày 16/1/2017 “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08/NQ/TW ngày 16/1/2017 “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2017
7. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2012). ―Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại‖. Tạp chí Di sản Văn hóa, (34), tr.45 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Nhà XB: Tạp chí Di sản Văn hóa
Năm: 2012
8. Bùi Hoài Sơn (2009), Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt
Tác giả: Bùi Hoài Sơn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2009
9. Bùi Xuân Đính (2020), Làng Việt ở Bắc Bộ truyền thống và biến đổi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt ở Bắc Bộ truyền thống và biến đổi
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2020
10. Cao Đức Hải, Nguyễn Khánh Ngọc (2014), Quản lý lễ hội và sự kiện, Giáo trình, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội và sự kiện
Tác giả: Cao Đức Hải, Nguyễn Khánh Ngọc
Nhà XB: Giáo trình
Năm: 2014
11. Hoàng Lương (2011), Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam - Các tỉnh phía Bắc, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam - Các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2011
12. Hồ Hoàng Hoa (1988). Lễ hội một nét đẹp sinh hoạt văn hóa cộng đồng, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội một nét đẹp sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin
Năm: 1988
13. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2011), Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2011
14. Lê Hồng Lý (2008), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội, tín Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội, tín
Tác giả: Lê Hồng Lý
Năm: 2008
15. Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm (2014), Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian
Tác giả: Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2014
16. Ngô Thị Kim Doan (2003), Những lễ hội Việt Nam tiêu biểu, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lễ hội Việt Nam tiêu biểu
Tác giả: Ngô Thị Kim Doan
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
17. Nguyễn Chí Bền (2010), Hội Gióng ở đền Phù Đổng và Đền Sóc, NxbThế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Gióng ở đền Phù Đổng và Đền Sóc
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NxbThế giới
Năm: 2010
18. Nguyễn Quang Lê (2001), Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ
Tác giả: Nguyễn Quang Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
19. Nguyễn Quang Lê (2018), Những biến đổi văn hóa dòng họ người Việt thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (Nghiên cứu trường hợp dòng họ Bùi ở Thịnh Liệt - Hà Nội), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi văn hóa dòng họ người Việt thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (Nghiên cứu trường hợp dòng họ Bùi ở Thịnh Liệt - Hà Nội)
Tác giả: Nguyễn Quang Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2018
20. Nguyễn Thị Phương Châm, Đỗ Lan Phương (2016), Làng ven đô và sự biến đổi văn hóa (Trường hợp làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng ven đô và sự biến đổi văn hóa (Trường hợp làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội)
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm, Đỗ Lan Phương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2016
21. Quyết định số 573/QĐ-UBND về việc công nhận điểm du lịch di tích quốc gia đặc biệt đền Sóc được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành vào ngày 03 tháng 02 năm 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 573/QĐ-UBND về việc công nhận điểm du lịch di tích quốc gia đặc biệt đền Sóc
Nhà XB: Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội
Năm: 2021

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ảnh 7: Hình ảnh người dân tới đền viếng lễ - BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI GIÓNG Ở XÃ PHÙ LINH, HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
nh 7: Hình ảnh người dân tới đền viếng lễ (Trang 90)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w