1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn từ thực tiễn văn học việt nam góp thêm một tiếng nói phương pháp luận vào cuộc thảo luận quốc tế về vấn Đề nho giáo và nữ quyền

13 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn từ thực tiễn văn học việt nam góp thêm một tiếng nói phương pháp luận vào cuộc thảo luận quốc tế về vấn đề nho giáo và nữ quyền
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 176,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo họ, thực ra, Nho gián có tiểm nắng của một học thuyết nữ quyền, hay Nho giáo quyền Coml is feminism, Nếu như trước đây, khi phân tích vẫn để Nho giáo và phụ srữ, người ta chỉ xu

Trang 1

2B NHM Vi NAM 0c THEO SNH HUCNC UBN NCANH

nữ quyển có khi di đôi với cảm hứng khẳng định chính Lão Trang mới là học thuyết nữ quyển! Dường như vẫn để nữ quyền là điểm yếu của Nhơ giáo, có thể dùng nó để hạ gục Nho giáo

Tuy nhiên, trong bai cảnh Nha giáo nhiệt hiện nay, khi mà những giá tri Nho giáo đã và đang đượt xem xết lại, khi mà chủ trương phục hưng Nho học như là một hệ thống giá trị tinh than truyền thẳng được nhiễu học giả Trang Quốc và nước ngoài quan tâm, đã xuất hiện không ít công trình

bênh vực Nho giáo trong vẫn để phụ nữ Nhiễu học giả hiện nay cho rằng

việc kết tội Nho giáo đản áp phụ nữ là kết quả của cách nhìn Âu châu trung, tâm luận (Euocentrism), hay là kết quả của việc lấy hệ giá bị của nam

giới để áp đặt cho phụ nữ Theo họ, thực ra, Nho gián có tiểm nắng của

một học thuyết nữ quyền, hay Nho giáo quyền (Coml

is feminism), Nếu như trước đây, khi phân tích vẫn để Nho giáo và phụ srữ, người ta chỉ xuất phát Lừ khái niệm sex - giới tính (sex được dịch sang,

Trung văn là †#;j| tính biệt) thì nay nhiền nhà nghiên cứn để xuẪt kh,

gender - giải tính xót trên phuang diện xã lội (gender được địch sang 'n văn là š-‡È BÚ xả hội H

họ mang tính

em

nh: biệt, Những điều đáng tiếc là việc biện luận của thuyết nhiều hơn là thực tiễn Chẳng hạn, Sam Crane cho

rằng phụ nữ cham sóc gia đình nhiều hơn nam giới mà đạo Nho lẫy gia

đình suy ra đạo đức xã hội, vậy thì phụ nữ gần với đạo Nhân hơn" Một cách hệ thông, tông trình “Nho giáo và phụ nữ: một cách giải thích về mật til hoc Confiaiunism ard women: a philosophical iarterpretation” da phan tích

dao Nhân của Khẳng Tử, phân tích mô hình Hiết học Âm - Dương và mô

hình không gian Nội - Ngoại để cho thầy sự phân công nam nữ ở rung, Quốc về phương điện vấn hóa - xã hội là hợp lý Tác gid LiHsiang Lisa Roscnlee nêu lên 4 nhiệm vụ của chuyên luận này: 1) nghiền cửu nguồn

gỗc Nho giáo và dan Nhân; 2) nghiên cứu sơ đề tư duy của người Trung,

1 Xem “Bàn về quan niệm nữ tính trong, triết bọc Trung, Quốc - hoãng, dương cho tu tưởng tôn sùng nữ tính của Dạo gia, Dạo giáo” của Lý Tố Bình, zE##£TP [lô th BE s4:

Ei‡rk9.Â:—-5)-ã)55, ìEErRESLAEHEIUTATB ], hapienwluseufiamda.conuproducL

frre 4420105.1/

2 Xen bài CliI Heisleatte và Vương Chữnh, "Lịch sử Trung Quốc: ait phic trù hữu

dụng trong việc phân tích si khát Liệt giới tiên pluươnng điện xã Lối” TC Khoa lượt xã

trội, Thường Hài, Ba ERG PATE 3| & FER|3BIIÑ— 'uM]al 28%, L8,

N-12/2008

3 Xem Sam Crane “Phụ nữ khiến cho nam giới biết thể nào là những lý tưởng Nho

ido" “Women show up men on Confucianism ideals" China Daily, 08/10/2006

4 Chu tie get 1 Hisnang Ta Rosenlee, State Tanverstty of New York, 206,

378 |

Trang 2

28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE

Quấc do Nho giáo trình hày như âm/đương, nội ngoại để ứng dụng vào tìm hiển vị trí người phụ nữ; 3) nghiên cứn quan hệ qua lại giữa Nha giáo và

hệ thắng giới của Trung Quốc, vai trò của Nho giáo trong biện minh và duy

trì cầu trúc gia đình phụ quyên của xã hội Trung Quốc, xem xét người phục

nữ không phải như là nạn nhân mã là người cùng tham gia đuy tr thực tiễn phân biệt giới ở Trung Quốc tức xem xết người phụ nữ không phải

như một thực thể tụ nhiên mà là một thực thể văn hóa; 4) đi ra ngoài sự

phê phân một chiều các yếu tô phân biệt giới của Nho giáo và giải cau trac

chính sách về giới, đưa ra điểm nhìn cho phép tình bày việc giải phóng

phụ nữ gắn liển với các bước xây dựng một nền nũ quyền Nho giáo ( tr3-4)

Những người phê phán Nho giáo đá chọn một để tài khó chịu là quan

niệm nghiệt ngã về trình tiết của Nha giáo đỗi với plu nit, chỉ ra bất công,

đối với phụ nữ, nhất là cách nhìn mang tinh điển chế hóa (canonization) đối với người phụ nữ quả phụ (không khuyến khích họ tái gid) va dé cao mẫn người nhụ nữ thủ tiết và tuần tiết (1# #M°*) qua kiểu truyện về liệt

nữ (Š\ % f£) khá phổ biến ở rung Quốc! Cả Phan Khẩi ở Việt Nam và

Lâm Ngữ Đường ở Trung Quốc đểu dẫn câu nói nổi bêng của một nhân

vật Tống Nho là Trình Di “chết đói là chuyện rất nhỏ, thất tết là chuyện rất lớn" (R2 25,278) như là bằng chứng điển hình nhất về sự

đân áp của Nho giáo đối với phụ nữ Có thể nói đây là chỗ khó khăn cho những người bảo vệ Nho giáo như một hệ thông giá trị vò

chứng kiến tính thiểu thuyết phục của Rosenlee hiện mình cho sự sông bái người quả phụ không Hải gid (cult of widowhood) và tuc bé chan phy nit (practice of footbinding) bằng cả một

sơ đồ văn hóa tru tiên cho sự sản sinh ra con trai kế thừa đông doi “Nối rộng ra, sự phân biệt giới tính ở Trung Quốc có thể giải thích như là sự

nhắn mạnh lagich của sự nối déi tông đường đi liền với giả định tầng sự

đến lượt

ng la có thể

ác luận cứ tiện hộ Li-Hsiang Lisa

nổi dõi này chỉ có thể thực hiện qua con đường nam giới, Điều nà

mrủnh lại có lên hệ với đạo hiểu trong gia đình kiểu Nho giáo và nghỉ (hức

thé cũng tổ tiền” (r 152) Nhưng cất nghĩa như thế là suy luận lý thuyết

chứ không đề cập đến thực tế ứng xử của Nho gia đối với vấn đề trình tiết

của người phụ nữ luy vậy, về phía những người phê phán Nho giáo đối

1 Nem Ritual L, Dayb: “Những pluụ Hữ trì, Hiểu trong sử sách Trung Quốc thể

ky XI", Richaod 1 Davis, Chaste and bitial Women ist Chinese Historical Waitiugs ot

Hloventh Castury, lownid of the Annem Onortal Society, VoLI21, No (Apre Tus, 27001), pp 04-218)

| 379

Trang 3

2B NHM Vi NAM 0c THEO SNH HUCNC UBN NCANH

với nữ quyền lại đường như quên một thực tế là chính trong xã hội nam quyển có sự ủng hộ của Nho giáo, vẫn có khả năng xuất hiện tư tưởng bảo

vệ nữ quyển

2 Giải quyẾt vẫn đề

Bai viết của chúng tôi không đi vào các vẫn đề lý luận và thực tiễn của Nha giáo Trung Quốc vốn được các nhà nghiên cứu để cập tật nhiễn nhưng hiện vẫn chưa đạt được sự nhất trí (các quan niệm gây tranh luận

như “tam cương”, “tông nhất chỉ đưang", vẫn để ấm - dương, nội ngoại,

liệt nữ, “chết đói sự nhỏ, thất tiết sự đại”, quan niệm phụ nữ thủ tiết là của

Nho gia hay Pháp gia ) mà trong khuôn khổ hạn hẹp, chỉ khảo sát một

số hiện tượng của vấn học Việt Nam thế kỷ XIX đấu thể kỷ XX nhằm qua

đó, cổ gắng nêu lên một vẫn để có tính chất phương pháp luận nghiên cứu

Who gido chung, Văn học Việt Nam thé ky XVII đến đầu thẻ kỷ XX có thể cấp thơ chúng ta một nguồn tư Tiện phong phú để suy nghĩ về vẫn đễ nữ quyền và

Nho giáo Trong khuẩn khổ một xã hội Nha giáo nam quyền, thực tế sáng,

tác văn học giai đoạn này cho thấy chủ nghĩa nư quyền đã xuấi hiện bên

cạnh đông lư lưởng chống nữ quyền Iruyền thông,

Về phương diện tư tướng, có thể nói thể kỷ XVII và XIX, trong đời

sắng tư tưởng ở Việt Nam, Nho giáo vần là hệ tư tưởng thống trị Hiện nay,

chưa có nhiễu công trình khảo cửa về tính chất Nho giáo giai đoạn này

Theo quan điểm của Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), một nhà nho yên nước, củng là một nhà khoa bằng lớn ở đầu thể kỷ XX, Nho giáo Việt Nam

ở thời gian này chính là Tông Nho Nói chính xác hơn, ông cho rằng tit

thuộc Minh trở về sau, tức quãng từ đẳn thế kỹ XV trở đi, cái học Tổng Nho

đã nhập làm một với cái học khoa cử mà tư xưng là cái học Khẳng Mạnh và cho đến mãi đầu thế kỷ XX, Nho giáo ở Việt Nam vẫn là Tổng Nho “Triển 1ê trở đi, chả ưa có một thứ học Tống Nho với văn khoa cử", Ông kịch liệt

đã kích phê phán Hồi Huy Bích (1744-1818), người đã biên soạn loại sách

tôm tất kinh điển Nho học (gọi là Hết vẫn) cho sĩ tử đi thì “Lối học Tông,

Nho và khoa cừ bôi lọ lên sách sót của Thánh hiển đã bao nhiêu đời đến

1ˆ Huỳnh Thức Kháng, “Lối học khơa cử và lối bục Tổng Nho

‘Mauluklving?”, bàn tiên báo Trổng dân, ñ bạ ở cuối sáuh ° Tiội Châu, Nhà sách Khải Gòn, (9/4, tr PAO

phái Hà học đạu khổng, Hồng Học đinng” cửa Phan:

380 |

Trang 4

28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE

cái hoc "tiét yu” cia Bai TIuy Bich thì rành là cái lỗi “phù thủy kiếm gà”,

“thầy đồ dạy gao”, cốt nhết nách một cái nghề để bước lên con đường sĩ hoạn không cớ chút gì đáng gọi là học“ (fr7B3)

Nói về Nho giáo dời Nguyễn trong thể ký XIX, nhà nghiên cứu người

Nhat Bin Yoshiharn Tsuboi lại cho rằng đó là Minh Nho, một thứ Nho giáo

được coi là cực đoạn hon cả Tống Nho đổi với mữ quyền! Ông lý giải là nhà

Nguyễn muốn theo một thú Nho giáo chúnh thông của người Hán hơn là theo Thanh Nho, Nho giáo một triểu đại ngoại tộc: “Những người Việt Nam

theo Nho giáo có xu hướng tò ra “bảo hoàng hơn vua” về mặt đó Trong lúc nhà Thanh dang trị vì ở Trung TÍoa san khi lật để nhà Minh năm 1644, thì nhà Nguyễn thích tự coi mình như là nhà Minh, Diễu này cho phép họ tò về

là những người thừa kế chính thống của nền vàn mình Trang | loa và đạo lý

Nho gác Ý muốn tự đồng hóa với nhà Minh thể hiện rõ nhất trên bình điện

văn hóa: nghỉ lễ đang thực hiện ở Huế, chẳng hạn, và cả trang phục của nhà vua và của các quan đều chịu ảnh hướng triểu đình nhà Minh",

Nhưng chính trong bối cảnh dé Tống Nho - Minh Nho ấy, đã tắn tại song song hai dòng văn học nữ quyền và chẳng nữ quyển Diễu thũ vị lã

có khi chính người phê phán Tống Nho quyết hệt nhất, như Huỳnh Thúc Kháng lại vẫn giữ quan điểm bào thủ đối với nữ quyển

Trước hết ta hãy nói đến dòng văn học nữ quyền Về khải niệm sản lọc

nữ quyền, chúng tôi tân thành quan điểm của tắc gid Lafu Tuệ Ảnh, Không

phải tắt cả sáng tác của các tác giá nữ đều thuộc về đòng văn học nữ quyền

và sáng lác của một tác giả nam lại có khủ có thể được coi là văn học nữ quyễn Tiêu chí “ván học nữ quyển” ở dây không phải là gói tính của tác giả

ay gist tính của nhân vật văn học mà là nội dung sing tác có liên quan đến

việc bảo vệ, hệnh vực quyền sóng của phụ nữt, giải phóng phụ nữ “Phả hình

và nghiên cứn văn học nữ tính phải trực tiếp đối điện với sáng tác văn học đø

cắc nam nít tác gia sắng lắc, my nghĩ về quan hệ của sắng tác các tác giả nam

nữ đối với sự sinh tổn và giải phóng phụ nữ, Theo quan điểm này, văn học

1 Xem Pity luc

2 Yoshiharw Tsuboi, "Nước Di Man dỗi điệp số: Pháp tà Tỉsng Tan”, Nguyên văn tiếng, Tháp, Nguyễn Dình Dầu và một số dich gid dich sang Hễng Việt, Ban Khoa học xã hội thánh ủy Thành phố Hẻ ChíMinh, 190, trả

“Vượt que hà

cất tuyệt yi

Trang 5

2B NHM Vi NAM 0c THEO SNH HUCNC UBN NCANH

Việt Nam thể kỷ XVHI và XÍX có một đòng vàn học nữ quyền ở chừng mực

đáng kể [Tổ Xuân Ï Tương (chưa rõ năm tháng sinh - mất tước năm 1842) là một nhà thơ nữ có một thân phận lẽ mọn, với những đặc điểm khiến ta nghí

đến thân phận ca zửu, kĩ nữ, đã bộc bạch nỗi chân ngắn trước tình yêu bé mon mà những người đần ông đành cho người vợ lê:

“Năm tù nười lpn hay chăng chỗ,

Aiật tháng đôi lầu có cũng không”

Và sự khát khao một tình yêu xứng đáng, tình yêu có yếu tố thân xác

T

‘Thin nay din dé chin git tom”

tử pm nhân ai đồ lá,

Trong bởi cảnh xã hội nam quyền theo Tổng Nho, nơi người phụ nữ

vẫn được khuyến khích cam chịu thân phận, an phận thủ thường thì tiếng nết của một nhà thơ nứ như Hỗ Xuân Hương để cập đến quyễn sống phụ

nữ xết về đời sống bản năng có ý nghĩa bênh vực nữữ quyỂn thực sự Bồi vì

sa với nam giới, người phụ nữ chịu nhiễn hất công, thiệt thời nhất trong,

đời sông bản năng,

Hãi thế kỷ XVIII - XIX cũng chứng kiến hếng nói bãnh vực nữ quyển của một số nhà Nho - người đần ông Đa kiểu nhân vật phụ nữ đền là đo

các nhà văn - nhà Nho sắng tác - đã lạo nên những cơn sốt văn học tho

giai đoạn này là: người chỉnh phụ (vợ lính), người cùng nữ và người ký

nữ Chứnh phụ ngẫm của nhà Nho Đặng Trần Côn (sinh và mắt ờ đầu thế

kỷ XSTT) nguyên tác bằng chữ Hán đủ được nhiễu người hào hứng dịch

sang thơ tiếng Việt (thơ Nôm), hiện còn giữ được 7 bản địch (3 bản hằng, the Inc bat và 4 bản bằng thơ sang thất lục bất), Hiện tượng, có nhiều bản

dich Chink phy ngém sang tiếng Việt như thể cho thấy làn sóng hưởng ứng, mạnh mẽ đổi với lư tưởng đặt ra rong tác phẩm Nhà Nho Nguyễn Gia

Thiển (1241-1798) viết Cung oáu rgẫm khúc, nhìng để tài về người cũng nữ

lại không chỉ là cảm hứng của riêng Nguyễn Gia Thiểu: có cả một phong,

Ir

ào viết về người cùng nữ ở giai doạn cuối thể kỷ XVI mà ông đủ là một

đại điện tiêu biểu nhất Nguyến Du (1765-1820) là nhà nho - người đần ông

- đi xa hơn cả liên con đường tranh đấu cho nữ quyền

ng chọn nhân vật chính là cô gần Thúy Kiểu - mội người con gái lương thiện, có khát vọng, mạnh mẽ về tình yêu tự do, bị xà hội đấy vào thân phận kỹ nữ Cách ứng,

xử khẳng theo chuẩn mu Nho giáo trong tình yêu của Thúy Kiển, vii tần

382 |

Trang 6

28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE

tại trong nhà chứa hàng chục nắm mã không tuấn tiết của Thúy Kiểu dã

gây nên tranh luận, bình phẩm trong suốt cả thê kỷ XIX va dau thé ky XX

Mỗi kiểu nhân vật nêu vấn để nữ quyền theo một cách riêng, song đều do các nhà thơ- nhà Nhơ sáng tạo Thực tế này cho thấy, nhà Nho cúng có thể tiếp cận với vẫn để nữ quyền theo hướng lich cực

Nhân vật chính phụ - người vợ lính - có lã chỉ là cái cớ để tác giá Đặng

Trần Côn lên tiếng nói giùm người phụ nữ quý lộc nhứng khái khao sâu

kín những không kẽm phẩn sối nổi của chính người phụ nữ về tình yêu lửa

đôi đẩy màu sắc nhục thể Bởi khi người chẳng đi đánh hận xa, nhiều năm

không tin tức và cùng không rõ ngày về thì tác giả mới có cớ để sử dụng các

motip như giẫc mộng gặp chỗng, nỗi cô đơn trên chiếc giường trống vắng,

hay nỗi lo về tuổi xuân đang qua đi uống phú

Nhân vật cung nữ cũng là một kiểu nhân vật khá truyền thống của

văn học phương Đông, nhưng trong văn học Việt Nam chỉ đến giai đoạn

này mới được các nhà Nho chú ý khai thác Đây là kiểu người phụ nữ có

nhan sắc - một nất nữ tĩnh rất đặc biệt mã văn học nhà Nho thường nề tránh - nhưng, rất bất hạnh vì chế độ cũng nữ Hãng trăm hãng ngần người

phụ nữ xinh đẹp phải phục vụ cho như cẩu ăn chơi, giải trí của một ông,

vua thủ tắt nhiên, đời sống tính đục của họ rất cơ cực Người cưng nữ thất

sửng (không còn được vua yêu) thì coi như đã chết ngay trong cuộc sống

này Màn sắc ai ân, nhục thể của tác phẩm Cung nắn ngâm khúc là một nết nữ

quyền nổi bật Tác giả đã tái hiện cảm giác khoái lạc của cùng nữ khi được

sùng ái vã sự đau buôn khi mất lủnh yêu của quân vương, Tại sao người

phụ nữ không nói và nghĩ về điều đó mới là người phụ nữ đức hạnh?

Nhưng chỉ với nhân vật Thúy Kiểu, văn học nữ quyên của nhà Nho Việt Nam thời trung đại mới thực sự đạt đính cao Thúy Kiểu đá khá chủ

động tìm đến với Kim Trọng, chàng trai mà nàng yêu quý, sự chủ động mà

Nho gia không thể chấp nhận Thúy Kiền đã bị rảnh ngộ cuộc sống day vàn

thanh lâu, noi lâ địa ngục đối với người phụ nữ trinh tiết Tuy nhiên, Kiểu đã

đã qua nhà chứa 15 năm mà không chọn cái chết dé bio loan trình biết, không,

“tấn tiết" đấu cho nàng dã hứa hôn với Kim Trọng, Nguyễn Du dã viết về cuộc đồi nàng với sư cảm thông, thương yên, trân trọng đặc biệt,

Cả ba nữ nhân vật nói trên đếu được các tác giả Nho sã nhìn từ quan

điểm “hồng nhan bạc mệnh” Các câu thơ mở đầu che ba tác phẩm dễu

thông báo về triết lý “hỗng nhan bạc mệnh”:

| 333

Trang 7

2B NHM Vi NAM 0c THEO SNH HUCNC UBN NCANH

“Thuỷ trời đất nổi cơn gió bui Khách má hằng nhiền nỗi tuân chuyên”,

(Chính phụ ngẫm)

“Oan chủ những khách tiên phòng,

Mà xui phận bạc nằm trong má dào”

(Cùng oán ngâm khúc)

“Ta gì bì sắc hư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”

(uyên Kiầu)

“Hỗng nhan bạc mệnh” là mệnh để phổ biến ở Trung Quốc và Việt Nam thời trung đại, nhưng dến thể kỳ XVII-XĐX, các nhà văn - Nho sĩ Việt Nam đã sử dụng mệnh đề này để nói lên sự bất công, về lý của xã hội nam

quyển đổi với những người phụ nất có nhan sắc, kỹ thực là sự lên án xã hội

nam quyền đa biến người phụ nữ nhan sắc thành để chơi!

Một sự miễu tả vấn tắt như trên cũng đà cho thấy, các nhà Nho - những,

người dan éng trong bối cảnh văn hóa Tống Nho ở giai đoạn này vẫn có thể tiếp cận thủ nghĩa nữ quyền (heo cách nông của họ, nêu lên những vẫn

để mà thực tẾ cuộc sông và tắm nhìn của họ cho gi Nhưngse là không đẩy đủ nêu chúng ta không nói đến khuynh hướng bảo rủ của nhà Nho trong vẫn để nữ quyễn suết từ thể kỷ XVIH cho đến

nửa dẫu thể kỷ XX Vì vẫn để này là dễ tài của một chuyên luận độc lập nên ở đây chúng tôi chỉ chọn phân tích hai sự kiện tiêu biểu Một là sự kiện các nhà Nho ca ngợi kiểu người phụ nữ Việt Nam cá trực, đa tuân tiết theo chẳng, được lập đền thờ, hai là sự kiện các nhà Nho phê bình nhân

vật Thúy Kiểu, một nhân vật văn học, thậm chi 1A nhân vật của một tác

phẩm 1rung Quốc mà cốt truyện được Nguyễn Du vay mượn sáng tác nên

Truyện Kiểu

Chẳng của Đoàn phù nhân, một phụ nữ có thực ở thế kỷ XVIII, bị tử trận năm (786, Bà lập đàn tế người chẳng rồi ra bến sông nơi người chẳng, chết lầm lễ chiêu hỗn sau đề gico mình xuống sông chốt Có người đã làm

thơ cảm khái nhân cái chất đó như san:

XVH đầu thế ký XI” trang sách của Trần Nho Thùu (gio nhấn ân hi, Na Ciáo dục, 2008, tr 229-314

34 |

Trang 8

28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE

“Khả lân nhị bach đư niễn quốc, Thiên lý dân di nhất phụ nhân”

(Đáng thương một triểu đại có hơn hai trầm năm lẽ - chỉ nhà lê từ sau

Trmg himg dén lic dé da hon hai trim nam - TNT Chỉ côn một người phụ nữ giữ được thiên lý và đạo người)!

Dây là lãi ca ngợi người liệt nữ đã trấn Tiết theo chẳng, phù hợp với

quan niệm bào thù, phí lợ, phản nhân đạo của Tổng Nho, Hai chữ “Hiện {ý”

ở đây ngẫu nhiên hay có dụng ý gợiliên tường đến một câu nói của Chu Hy

“tần thiên lý, điệt nhân cục" Chủ Hýy nói: “Thánh nhân thiên ngắn vạn ngữ

chỉ thị gián nhân tần thiên lý điệt nhân đục”, “hoc gid tu Thị cách lận nhân dục, phục lần thiên lý, phương thiy vi hoc HE: “EBA PAINE

SK} BY" (Chu Ta nga ne, quyển 4: Thiên ngôn vạn ngữ của Thánh

nhân chỉ giáo dục cơn người bảo tổn Thiên lý, tiêu diệt nhân dục”, “học giả

cần trừ bò nhân dục, phục hỗi thiên lý, rỗi mới học tập”) “Thiên lý“ nói

trong hai câu thơ trên có tính chất ngụy biện rất rò: Lại sao lại cho việc Luận

tiết Theo chẳng là thiên lý? Người đần ông có sức mạnh cơ bắp hơn người

phụ nữ, đó là thiên lý Người phụ nữ để con, đó là thiên lý, tức là quy luật

khách quan Nhưng chẳng có tỉnh quy luật tắt yếu nào trong việc người vợ

phải/nên tuần tiết theo người chồng đã chết Đó chỉ là cách tuyên truyền đây ích kỷ của đạn đức nam quyển bắt công Không có người đàn ông nào tuấn

tiết, chết theo người vợ Ở Việt Nam không có hệ thống sách liệt ai trujệu có thể là vì đối với vẫn để thủ tiết hay tuẫn tiết của phụ nữ, nhà Nho Việt Nam khoan đụng hơn so với nhà Nho Trang Quốc Nhưng việc các nhà Nho cá

ngợi người phụ nữ tuẫn tiết theo chẳng hay lẫy cái chết để chứng mình tiết

hạnh vời người chồng cũng không phải là quá hiếm Ÿũ Thị Thiết, người thiểu phụ Nam Xương (nhân vậi có date ờ huyện Lý Nhân, Hà Nam) đã

tự trầm để chứng mình lòng chung thủy, trình trắng của mình trước người

chẳng cả ghen đã đi vào văn học (Nguyễn Dữ đã ghi lại trong Truyền kỳ

mạn lục, cốt truyện vẫn tất: chẳng Ÿù thị đi đánh giặc, đêm đêm ở nhà nàng, thường chỉ bảng mình trên vách bảo dứa con nhỏ rằng đó là bổ, Khi người

chồng trở về, ngày dan tién, dita con nói ông ta không phải là hỗ, bổ của

nó đêm mới đến Sự nghi ngờ đã khiến người chồng kết án Vũ thị Nàng

ách Tang Hưng gỗ

"Thông hư tất bản, 2NN0, tr 62-6,

| 385

Trang 9

2B NHM Vi NAM 0c THEO SNH HUCNC UBN NCANH

đã nhảy xuống sông tự tử dễ chứng mình sự vẻ tdi của mình), được nhiều người ca ngọi là liệt nữ, bản thân bà được tôn thờ như một nữ thản linh ứng'

Bai thơ ca ngợi Vũ thị đã được viết theo tinh than Tông Nho:

ARAB Brat ee arith,

alate BR

PALER AM BES

Ngu dé Vit thi natoug tie Bạch nhật thi để phân lạo hóa

Hẳng nhan tình tự phá cao thâm

Hoàng giang chính khí tổn thiên địa

Cô quận anh phong xuyến cổ kim (Bài thơ này viết giữa thanh thiên bạch nhật để làm rõ lẽ tạo hỏa

Tắm lòng sâu kín của người hỗng nhan đành phó mặc cho trời đất biết Chính khí của người phụ nữ trên đồng Iloàng giang trưởng tổn cùng trời đất

Đạo đức tắt đẹp của bà sẽ mãi còn với thời gian.)

Bài thơ không rõ tác giả, khắc trên bảng gỗ trang trí trong đến thờ Via

thị, có niên đại 1932, song nếu “ngự đề" tức là của nhà vua Nghĩa là mãi

dén 1932, tinh than Tổng Nho, Minh Nho vẫn cồn tổn tại trong đời sống tư

tường Việt Nam

Logich của việc ca ngợi va thần thánh hóa người phụ nữ luấn hếi ở

đây đã rõ: nhằm định hướng khuyến khích những hãnh động phụ nữ tuần tiết tương tự Không thấy có chuyện người đàn ông tuấn tiết theo vợ Nêu

sơ sánh với Ấn Độ, dé thay có sự tương đồng với việc lập đến thờ lưởng, niệm những người phụ nữ nhy lên giàn thiêu chết theo chẳng

1 Nguyễn Nam trong luận áu Tiến sr cho biết ít nhất 6 văn bản viết về Vũ thị trong đó

tôn xung bã lã bi 75 Tiểu Lê đã cho đúc tượng đồng, triểu Nguyễn đã ba lân phang thần cho Vũ thị vào các năm 108, 1511, 1922 Luận Ấn cho biết tính chất thần thánh hóa người phụ nữ tiết liệt này quá bức đại trớ đền thờ “Cầu chỉ tắt dang” REE

(Chu xin ba tắt ông nghiệm) Xem: Nam, Nguyên, “Ms g:

Trai Ximinaa mui The Eepinhon cf the Clnuang Conr an East Asa, Yarkcwterty ur ram", Hatvanl Thivetsty, Camlnadgr, Massachusttes, 2008

386 |

Trang 10

28 NăM VIỆT Naa Hoc THEO BINE HUONG LEN NGAGE

Sự kiện thứ hai chúng tôi sẽ phân tích là việc các nhà nho thế kỷ XIX

và thế ký XX bình luận nhân vật Thủy Kiển!, nhân vật của một tác phẩm:

văn học nổi tiếng Việt Nam I liện vẫn để niền đại ra đời Truyện Kiểu vẫn

côn là vẫn để tranh luận, sang, chắc chắn nó xnẤt hiện muộn nhất trong

thập ky đầu tiên của thế kỷ XIX Cá rẤt nhiều vẫn đã đã đặt ra quanh

nhân vật phụ nữ hư câu này, nhưng chúng têi chỉ nói đến cách tiếp nhận

nhân vật phụ nữ này theo quan điểm Tổng Nho về trinh tiết

Tâm điểm của vấn để mà các nhà nho Việt Nam suốt thế kỳ XIX -

dẫn thế kỷ XX thảo luận về Thủy Kiểu là vẫn để trình - đâm Có hai sự

kiện trong hành vì của nhân vật Thúy Kiểu đượt họ chú ý Mật là Thúy

Kiểu - một cô gái - đã tô ra khá chủ động Irang tình yêu với chẳng trai Kim Trọng: năng đã chủ động hẹn hò với Kim, đã chủ động tìm đến với Kim trong đêm khuya thanh vắng: “Xăm xăm băng lỗi vườn khuya

một mình" Việc này tuy đã được các nhà Nho thế kỷ XIX bỏ qua song, lại không qua mắt các nhà Nho thế kỷ XX Ngô Đúc Kế (1878-1929) và Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) là hai nhà Nho đuy tân - yêu nước, lại

có tình thắn phê phần Tông Nho mạnh mẽ (trên đây chúng ta đã dẫn lời phê phần Tổng Nho của Huỳnh Thúc Kháng) Hai cụ vì hoạt động

yên nước chẳng Pháp nên đều đã bị thực dân Pháp dày ra Côn Dảo

Nhưng trong cách nhìn đời sống thân xác của người phụ nữ, hai cụ vẫn

đứng trên lập trưởng bảo thủ của Tống Nho Năm 1924, Ngô Đức Kế viết “Mật đôi thiếu niên nam nữ, đêm thanh người vắng, trào tường:

trổ ngõ, ước hội chuyện trò với nhau, đối với phong hóa đạo đức đã là

việc bắt

hính; mở đầu quyền sách như thế, dù sau có tô về hiểu nghĩa

gì dâu nữa cũng không đủ làm gương tết chủ đời” Nám 1930, Huỳnh Thúc Kháng còn nảng lồi hơn: “Hiện xã hội ta ngày nay mà điển ra những tuổng thương phong, bại tục kia, cai giống độc cơn di Kiểu gieo

vào trang cối tư tưởng không phải là ít” Nhà sử hoc Nguyễn Thế Anh

viết về cụ Huỳnh Thúc Kháng như sau “cụ lluỳnh Thúc Kháng, tò ra

là hiện thân của một loại tí thức được nuêi đưỡng trong Nho giáo và

1 Thúy Kiểu vốn là một phụ nữ có thực ở rung Quốc, nhưng đã được tiểu thuyết hóa, trở thành nhân vật vân học của “Eun Vấn Kiểw (ruyện”, một tiểu thuyết chương hỗi cuỗi dời Minh, dầu đời Thanh Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện của “Khu vân Kiểu truyền” đễ sáng tác “Doạ trường lâu than”, tức “Truyện Kiểu”

2 Về nguồn tư liệu và phản tích hai iden đại Việt Nam dưa gồt nhìn văn hôa”, s

, xi xeus Tat Nivo Thin, “Va học trưng

"

1387

Ngày đăng: 31/05/2025, 14:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm