1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Thể nhân và sự kiểm soát thông tin di truyền trong tế bào pptx

17 335 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 105,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Allis và đông nghiệp trước đây đã đề xuất rằng sự phosphoryl hóa thuận nghịch serine hoặc threonine ở những vùng "đuôi" của histones có thể vô hiệu hóa sự gắn protein điều hòa vào gốc ly

Trang 1

Thể nhân và sự kiểm

soát thông tin di

truyền trong tế bào

Tách đôi bất kỳ nhân nào và nhìn

vào bên trong bạn sẽ thấy nó giống như những hạt cườm kết trên một sợi dây Các hạt cườm là các thể nhân

(nucleosome), tức những phức

protein nhỏ giúp đóng gói DNA (sợi dây) vào trong không gian chật chội của nhân Trong mười lăm năm qua, thể nhân trong sự hiểu biết của

Trang 2

chúng ta đã chuyển từ là những con lăn thụ động để DNA cuốn vào thành một đối tác thực thụ trong quá trình kiểm soát thông tin di truyền trong tế bào Protein histone, thành thành

phần tạo nên lõi của thể nhân,

thường trãi qua nhiều sự hiệu chỉnh hóa học từ đó chúng cho phép thay đổi quá trình biểu hiện của những

gene liên quan Những biến đổi này gộp lại tạo nên cái được biết tới với tên gọi: mã histone, và một thách

thức lớn của sinh học phân tử là giải

mã cơ chế chúng ảnh hưởng tới biểu hiện của gene

Hai sự hiệu chỉnh phổ biến nhất là

phosphoryl hóa và methyl hóa, tức là

Trang 3

sự thêm một nhóm phosphate hoặc một nhóm methyl vào các acid amine tạo nên histone Allis và đông nghiệp trước đây đã đề xuất rằng sự

phosphoryl hóa thuận nghịch serine hoặc threonine ở những vùng "đuôi" của histones có thể vô hiệu hóa sự

gắn protein điều hòa vào gốc lysine

đã methyl hóa bên cạnh, tạo ra một công tắc điều khiển hai chiều theo

kiểu bật tắt Trong Nature số 438(22

December 2005), nhóm Fischle

(trang 1116) và nhóm Hirota (trang 1176) đã đưa ra dữ liệu chứng minh một cách mạnh mẽ cho mô hình này

và nâng cao hiểu biết của chúng ta về

cơ chế những biến đổi hóa học của histone có thể kiểm soát chức năng

Trang 4

của nhiễm sắc thể

Trong số những biến đổi cấu trúc

histone đã được mô tả tới nay, sự

methyl hóa gốclysine và phosphoryl hóa gốc serine và threonine đã thu hút nhiều sự quan tâm Sự

phosphoryl hóa gốc serine ở vị trí

thứ 10 ở đuôi histone H3 thường xảy

ra trong quá trình phân bào ở tế bào eukaryote (hoặc cao hơn) Một khi các tế bào này đã nhân đôi DNA và bắt đầu chuẩn bị phân chia, gần như tất cả histone H3 (H3S10) ở trong

nhân dường như bị phosphoryl hóa ở

vị trí này Sự phosphoryl hóa vùng H3S10 cũng có thể xảy ra ở những giai đoạn khác của chu kỳ tế bào,

Trang 5

nhưng chỉ ở những vị trí riêng rẽ trên NST có liên quan đến biểu hiện

gene

Sự methyl hóa gốc lysine phức tạp hơn Sự methyl hóa ở lysine vị trí

thứ 9 của histone H3 (H3K9) chủ

yếu được tìm thấy ở chất dị nhiễm

sắc - những vùng tối & đậm đặc, gần như bất hoạt của chất nhân Ngược lại, sự methyl hóa ở lysine vị trí thứ

4 của histone H3 (H3K4), có liên

quan đến các gene hoạt động Các

kết quả khác nhau của sự methyl hóa lysine bắt nguồn từ việc mỗi biến đổi tạo ra một mục tiêu gắn kết cho mỗi một protein khác nhau Ví dụ như,

Trang 6

protein dị nhiễm sắc số 1 (HP1), vốn kích thích sự hình thành chất dị

nhiễm sắc (và kéo theo là làm bất

hoạt gene), nhận diện và gắn vào

H3K9 đã được methyl hóa thông qua việc sử dụng một vùng gọi là vùng nhiễm sắc (chromodomain) Trong khi đó CHD1, một enzyme có thể

làm suy yếu cấu trúc thể nhân và do

đó bộc lộ sợi DNA để phiên mã, lại nhận diện và gắn vào H3K4 đã

methyl hóa thông qua hai vùng

nhiễm sắc nằm nối đuôi nhau

Nhóm Fischle và nhóm Hirota và các cộng sự kiểm tra các tế bào khi

chúng chuẩn bị bước vào kỳ giữa của

Trang 7

phân bào, lúc các NST đóng xoắn cực đại để tạo điều kiện cho sự phân

ly của chúng vào các tế bào con Cả hai nhóm đều phát hiện ra rằng

những tế bào này tích lũy những

histone H3 vừa bị methyl hóa ở

lysine vị trí thứ 9 và phosphoryl hóa

ở vị trí thứ 10 kề bên Dùng kháng thể đặc hiệu cho những H3 bị biến đổi kép, các tác giả đã phát hiện ra rằng sự biến đổi kép này chỉ xảy ra riêng ở vùng chất dị nhiễm sắc của NST

Trong hầu hết chu kỳ tế bào, HP1 cũng tập trung ở chất dị nhiễm sắc, nhưng khi quá trình đóng xoắn NST

Trang 8

bắt đầu thì hầu hết HP1 rời khỏi các NST Cả hai phòng thí nghiệm đều liên hệ sự li khai của HP1 với sự tích lũy H3S10 đã được phosphoryl hóa bằng cách chứng minh rằng việc bất hoạt một enzyme điều khiển sự

phosphoryl hóa H3S10 (Aurora B

Kinase) đã dẫn đến sự giữ HP1 lại ở NST Những quan sát này nói lên

rằng sự phosphoryl hóa H3S10 đã

khiến HP1 phải ra đi khỏi vùng dị

nhiễm sắc khi kỳ giữa bắt đầu Để

kiểm nghiệm giả thuyết này, các tác giả đã đo lường khả năng gắn của

HP1 vào đuôi peptide của H3 được biến đổi kép bằng việc sử dụng sự

phân cực huỳnh quang hoặc những hạt bi được phủ bởi peptide Kết quả

Trang 9

cho thấy trong cả hai phân tích, sự

gắn kết HP1 vào H3K9 đã methyl

hóa bị suy giảm đáng kể khi H3S10 bên cạnh cũng được phosphoryl hóa

Các kết quả này chứng tỏ cần đánh giá tác động của các đa hiệu chỉnh

trên đuôi histone; thực nghiệm cho thấy nếu sử dụng một kháng thể chỉ nhận diện một biến đổi thì rõ ràng

không đủ để suy ra trạng thái của

histone Những phát hiện này cũng cung cấp những bằng chứng thực

nghiệm cho giả thuyết công tắc điều hòa của Allis và cộng sự Sự methyl hóa ở H3K9 và sự gắn kết đồng thời của PH1 không chỉ được phát hiện ở

Trang 10

chất dị nhiễm sắc mà còn góp phần vào sự bất hoạt một số gene ở chất

nhiễm sắc thật (vùng sáng, thưa và hoạt động hơn của chất nhân) Nếu HP1 có thể bị buộc phải rời vị trí bởi

sự phosphoryl hóa H3S10 thì sự

kiềm chế đó có thể bị phục hồi Tuy nhiên vùng chất nhân nơi HP1 liên kết vẫn còn bị gắn nhãn bởi các

nhóm methyl ở H3K9 Vì thế nếu

nhóm phosphate của H3S10 bị loại

bỏ (bằng protein phosphatase) thì

điều này sẽ làm cho methyl H3K9

không bị cạnh tranh có mặt để phục hồi sự gắn kết của HP1 và tái thiết

lại chất dị nhiễm sắc Mô hình này

thống nhất với những nghiên cứu cho rằng một histone methylase và một

Trang 11

protein phosphatase có liên quan đến

sự kiểm soát quá trình hình thành

chất dị nhiễm sắc ở ruồi giấm Liệu điều này có đúng với cơ chế điều hòa vùng chất nhiễm sắc thật hay không còn phải xem xét

Một nghiên cứu khác trong số báo

này (trang 1181) đề xuất rằng cơ chế bật tắt methyl-phospho có ứng dụng rộng rãi hơn Flanagan và cộng sự

mô tả cấu trúc tinh thể của vùng

nhiễm sắc kép protein CHD1 ở động vật có vú khi đang ở trạng thái liên kết với một peptide H3 chứa H3K4

đã methyl hóa Phương thức vùng

nhiễm sắc CHD1 liên kết với lysine

Trang 12

đã methyl hóa dường như khác với cách mà HP1 liên kết Tuy nhiên liên kết của vùng nhiễm sắc CHD1 với

H3K4 đã bị methyl hóa bị vô hiệu

hóa in vitro thông qua quá trình

phosphoryl hóa threonine bên cạnh

Rõ ràng CHD1 giống với helicase, một enzyme có khả năng nới lỏng sự tiếp xúc giữa DNA và thể nhân Như vậy sự tương tác có kiểm soát giữa CHD1 với H3K4 nhờ sự phosphoryl hóa H3T3 có thể điều hòa sự tiếp cận của protein điều hòa với DNA để

kiểm soát biểu hiện gene

Sử dụng công tắc tắt bật hai chiều để loại bỏ những protein liên kết với

histones bị methyl hóa về cơ bản sẽ

Trang 13

đảo ngược tác động của sự methyl

hóa histone Cho tới nay người ta

phát hiện tế bào còn sử dụng hai

phương pháp nữa để đạt được kết

quả này Thứ nhất, khi RNA

polymerase trượt trên gene để tạo

mRNA mã hóa thì nó đẩy thể nhân ra khỏi DNA Thể nhân tái tạo lại một khi polymerase đã đi qua, và quá

trình có thể thay thế histone đã bị

methyl hóa bằng những histone

không bị methyl hóa Thứ hai,

enzyme histone demethylase có thể trực tiếp cắt các nhóm methyl khỏi những lysine đặc biệt

Tại sao lại dùng ba cơ chế để đạt

Trang 14

được cùng một kết quả hóa sinh? Do mỗi cơ chế có một tác động tổng thể khác nhau Sự đẩy thể nhân ra khỏi

vị trí của nó bởi RNA polymerase có thể loại bỏ tất cả những dấu vết hiệu chỉnh trên thể nhân (hình 1b) Quá trình khử gốc methyl ở lysine có thể đặc hiệu với một số thể nhân nào đó, nhưng nó cũng sẽ "tẩy xoá" nguyên

cả hệ thống methyl hóa Tuy nhiên, bằng cách không can thiệp đến các gốc methyl và thải loại các yếu tố

liên kết methyl-lysine qua sự

phosphoryl hóa các amino acid kề

bên, tế bào có thể nhanh chóng tái tổ chức cấu trúc NST trên quy mô lớn trong khi vẫn giữ nguyên hệ gốc

methyl thiết yếu; điều này cho phép

Trang 15

cấu trúc ban đầu được phục hồi dựa trên quá trình khử gốc phospho

Việc Fischle và cộng sự xác định

được 16 trường hợp lysine được kẹp hai bên bởi serine hoặc threonine

trong số bốn histone tạo nên thể nhân nói lên rằng có khả năng có thêm

những "công tắc" bật tắt như vậy

nữa Chuỗi cườm đơn điệu thực chất

là một chuỗi ngọc trai muôn màu

muôn vẻ cạnh tranh với nhau để

kiểm soát sự biểu hiện của gene

Trang 16

Figure: Ba cơ chế đối lập nhau để điều hòa sự gắn kết của các protein liên kết đặc hiệu với các histone bị methyl hóa a) nhóm Fischle và

nhóm Hirota đã cho ta thấy rằng sự phosphoryl hóa một serine hay

threonine nằm kề bên một lysine đã

bị methyl hóa sẽ tạo ra một đơn vị methyl-phospho Đơn vị này không còn có thể gắn kết với các protein liên kết methyl Quá trình

phosphoryl hóa có thể dễ dàng đảo nghịch bằng một phosphatase Cơ chế này giữ nguyên hệ thống gốc

Trang 17

methyl ban đầu b) Sự trượt qua của RNA polymerase II có thể dẫn đến

sự thay thế thể nhân, làm mất hệ

thống gốc methyl ban đâu c) Hệ

thống đặc thù về vị trí của thể nhân

bị methyl hóa có thể bị xóa bỏ bởi histone demethylase Trong trường hợp b và c, hệ gốc methyl chỉ có thể phục hồi bằng sự hoạt động trở lại của histone methyltransferase có

định vị

Ngày đăng: 01/07/2014, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w