1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

05050005435 sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 Ở trường thcs

122 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 ở trường thcs
Tác giả Nguyễn Phương Nam
Người hướng dẫn TS. Đoàn Nguyệt Linh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Giáo Dục
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 4,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

05050005435 sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 Ở trường thcs 05050005435 sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 Ở trường thcs

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN PHƯƠNG NAM

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN PHƯƠNG NAM

SỬ DỤNG CLASSKICK THIẾT KẾ VÀ

TỔ CHỨC DẠY HỌC KẾT HỢP PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI LỚP 6

Ở TRƯỜNG THCS

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN LỊCH SỬ

Mã số: 8140218.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Nguyệt Linh

HÀ NỘI – 2024

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày 29 tháng 02 năm 2024

Học viên

Nguyễn Phương Nam

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới toàn thể thầy cô trường Đại học Giáo Dục đã trang bị cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu Tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy cô giáo trường

TH & THCS Newton 5 cùng toàn thể các em học sinh đã giúp tôi hoàn thành việc khảo sát thực tiễn cho luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn TS Đoàn Nguyệt Linh - người luôn tạo động lực và truyền cảm hứng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm tòi Cô là giảng viên tận tâm, nhiệt tình, giàu kinh nghiệm trong hướng dẫn nghiên cứu khoa học Cô đã hướng dẫn, hỗ trợ, động viên khuyến khích tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, vì vậy, tôi thiết tha mong muốn nhận được những lời góp ý của quý thầy cô và các bạn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm 2024

Tác giả

Nguyễn Phương Nam

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BT Blended teaching CHBH Câu hỏi bài học CHKQ Câu hỏi khái quát

GV Giáo viên

HS Học sinh PHT Phiếu học tập SGK Sách giáo khoa THCS Trung học cơ sở

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG ỨNG DỤNG CLASSKICK THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC KẾT HỢP PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI Ở TRƯỜNG THCS 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Quan niệm về dạy học kết hợp 9

1.1.2 Ứng dụng classkick 14

1.1.3 Các nguyên tắc khi thiết kế bài giảng qua classkick 16

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng classkick để thiết kế bài giảng đáp ứng nhu cầu dạy học kết hợp 17

1.1.5 Những yêu cầu và định hướng phát triển năng lực sử dụng classkick trong tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới 20

1.1.6 Quy trình sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần Lịch sử thế giới lớp 6 ở trường TH & THCS Newton5 24

1.2 Thực trạng sử dụng classkick để thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần Lịch sử thế giới ở trường TH & THCS Newton5 37

1.2.1 Về thực trạng các ứng dụng CNTT được áp dụng trong dạy và học ở 2 cấp TH và THCS 38

1.2.2 Về thực trạng ứng dụng classkick được giáo viên sử dụng trong các hoạt động dạy học ở cấp TH và THCS 39

1.2.3 Về thực tiễn việc ứng dụng classkick đó vào bài dạy đạt kết quả như thế nào từ người học 40

Trang 7

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI Ở TRƯỜNG THCS TRÊN ỨNG DỤNG CLASSKICK THEO ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC KẾT HỢP (BLENDED LEARNING) THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43

2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới lớp 6 chương trình học cấp THCS 43

2.1.1 Vị trí 43

2.1.2 Mục tiêu 43

2.1.3 Nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới lớp 6 cấp THCS 45

2.2 Một số biện pháp sử dụng classkick để tổ chức dạy học kết hợp phần Lịch sử thế giới lớp 6 ở trường TH & THCS Newton5 46

2.2.1 Sử dụng Classkick thiết kế bài giảng về một số thành tựu văn hóa của Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại trong nội dung phần lịch sử thế giới lớp 6 bài 7 Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại 46

2.2.2 Sử dụng classkick thiết kế tư liệu học tập “ Sách điện tử văn hóa Ấn Độ cổ đại “ trong nội dung phần lịch sử thế giới lớp 6 bài 8 Ấn Độ cổ đại 57

2.2.3 Sử dụng classkick trong quản lí lớp học, tăng cường tương tác khi dạy học nội dung phần lịch sử thế giới lớp 6 bài 9 Trung Quốc từ thời cổ đại đến TK VII 60

2.2.4 Sử dụng classkick để hỗ trợ kiểm tra – đánh giá khi dạy học nội dung phần lịch sử thế giới lớp 6 bài 10 Hy Lạp và La Mã cổ đại 64

2.3 Thực nghiệm sư phạm 68

2.3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 68

2.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 69

2.3.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 70

2.3.4 Tiến hành thực nghiệm sự phạm 71

2.3.5 Thiết kế và mô tả giáo án 71

Trang 8

2.3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 71

Tiểu kết chương 2 75

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Khuyến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở nước ta hiện nay, dưới sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ Song song với việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, trong đó lấy người học làm trung tâm thì việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học là điều tất yếu của xu thế phát triển xã hội Các trường học đã được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ hơn, giáo viên và học sinh ngày càng sử dụng công nghệ nhiều hơn để phục vụ công việc dạy và học Chính vì thế những giải pháp ứng dụng công nghệ trong dạy học ở trường học là cần thiết và có tính thực tiễn cao Bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, các giáo viên có thể giúp học viên học trò của mình hiểu thêm và sâu hơn về thế giới xung quanh, nhận biết được nhiều thông tin mới hơn

Khi được sử dụng đúng mục đích học tập và mang lại hiệu quả, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học sẽ tác động đến học sinh tích cực Chúng trở thành công cụ để khám phá nguồn tri thức bất tận, giúp người học tiếp cận những thông tin nhanh chóng và chính xác thông qua nguồn tài nguyên được lưu trữ trên máy tính, internet, mạng xã hội hay các website chia sẻ Ngoài

ra, công nghệ thông tin còn tác động tới việc xây dựng kiến thức sáng tạo, sự hiểu biết và giúp biểu thị các ý tưởng của người học

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giúp cải tiến nội dung bài giảng, tránh việc những kiến thức trong sách giáo khoa là quá tải Việc ghi chép cũng như ghi bài thụ động của người học cũng sẽ được hạn chế Qua đó cũng

sẽ giúp các học viên, học sinh tích cực hơn trong khi tham gia nghiên cứu bài giảng Đây chính là điều các giáo viên hướng tới và các bài giảng sẽ ngày càng tích cực và có hứng thú hơn

Kể từ khi 2 năm trở lại đây, đại dịch Covid 19 ảnh hưởng nghiêm trọng

Trang 11

tới sự phát triển về mọi mặt toàn cầu Công nghệ thông tin cũng khẳng định được vai trò của mình đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học

Học online hay sử dụng giáo án điện tử trở thành phương pháp giảng dạy phổ biến Tất cả các giáo viên cần chuẩn bị cho mình máy tính riêng cũng như

sử dụng thành thạo các kỹ năng và phần mềm hỗ trợ Người học cần chuẩn bị những công nghệ thông minh để tham gia học, tối thiểu là chiếc smartphone

Nhu cầu được học tăng lên cũng làm phát triển các trung tâm đào tạo, các phần mềm, ứng dụng hỗ trợ thông minh Việc của giáo viên cũng như người học chính là chọn lựa những thứ cần thiết và tốt nhất Đặc biệt, các nhà nghiên cứu đã cho thấy được lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học kết hợp (blended teaching) mang lại nhiều hiệu quả tuyệt vời và cụ thể là ứng dụng Classkick

Đây là ứng dụng có thể thiết kế bài giảng trực tuyến, khai thác sức mạnh của công nghệ để giúp học sinh tương tác với nội dung học theo những cách mới phù hợp với hình thức dạy học kết hợp (blended teaching) Khi thiết kế bài giảng, giáo viên có thể khai thác đa dạng các công cụ và tài liệu trực tuyến để giúp học sinh hình thành kiến thức và phát triển các năng lực cần thiết đã được xác định tại mục tiêu học tập/chuẩn đầu ra của bài học Ngoài ra, giáo viên có thể tận dụng các công cụ giao tiếp trực tuyến trên classkick để giúp học sinh kết nối với nhau Việc thiết kế bài giảng online trên Classkick không còn phải

là những tiết học trong SGK khô khan, căng thẳng mà học sinh thường sợ hãi;

mà thay vào đó, nó có thể là cơ hội cho những sáng tạo và trải nghiệm thú vị dành cho họ

Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể Thứ nhất, hệ thống được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng ứng dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần Lịch sử thế giới ở trường THCS Thứ hai, một số biện pháp để có thể xây dựng được bộ bài giảng

để phục vụ tổ chức dạy học kết hợp (blended learning) phần Lịch sử thế giới ở

Trang 12

trường THCS Thứ ba, tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các hình thức, biện pháp đưa ra

Chính vì vậy nghiên cứu này sẽ chỉ ra việc sử dụng ứng dụng Classkick

để thiết kế bài giảng và tổ chức dạy học kết hợp phần Lịch sử thế giới cho học sinh THCS có tiềm năng không chỉ với mục đích dạy học thông thường mà còn phát triển năng lực, tư duy lịch sử và khả năng thành thạo công nghệ thông tin cho học sinh trong thời đại công nghệ 4.0

2 Lịch sử nghiên cứu về classkick và blended learning

Trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Trong đề tài về tác động của công nghệ hiện đại trong giáo

dục - Impact of modern technology in education của tác giả R Raja*, P C

Nagasubramani đã chỉ ra rằng công nghệ đã cách mạng hóa lĩnh vực giáo dục

Không thể bỏ qua tầm quan trọng của công nghệ trong trường học Trong thực tế,với sự ra đời của máy tính trong giáo dục, việc truyền đạt kiến thức của giáo viên trở nên dễ dàng hơn Trong bài viết về công nghệ và giáo dục, cơ hội và

thách thức - Technology and education: Challenges and opportunities của tác giả Anita L Cloete đã phản ánh liên tục về việc tích hợp công nghệ vào giáo

dục Để đạt được mục tiêu này, việc sử dụng công nghệ dưới hình thức học tập kết hợp và giáo dục trực tuyến sẽ được sử dụng để minh họa cách công nghệ đóng vai trò trung tâm trong giáo dục ngày nay Người ta lập luận rằng công nghệ không nên chỉ được xem như một công cụ mà còn là phương tiện hình thành nên văn hóa Do đó, việc tích hợp công nghệ vào giáo dục cần đi kèm với

sự suy ngẫm liên tục về các đặc điểm có thể xác định được của công nghệ như một phương tiện không trung lập về giá trị hoặc là một lực lượng tách rời Hay

trong bài viết của tác giả Jennifer W.M.Lai, Matt Bower về việc sử dụng công

nghệ trong giáo dục được đánh giá như thế nào? Một đánh giá có hệ thống -

How is the use of technology in education evaluated? A systematic review nói

rằng tiến hành đánh giá có hệ thống về cách đánh giá việc sử dụng công nghệ

Trang 13

trong giáo dục, dựa trên 365 bài báo đăng trên tạp chí Máy tính và Giáo dục từ năm 2015 đến năm 2017 Các bài báo được phân tích bao gồm nhiều cấp độ giáo dục, ngành học và công nghệ đa dạng, nhìn chung tương xứng với đặc điểm của lĩnh vực công nghệ học tập từ các nghiên cứu khác Phân tích cho thấy việc đánh giá việc sử dụng công nghệ học tập có xu hướng tập trung vào tám chủ đề: kết quả học tập, các yếu tố tình cảm, hành vi, thiết kế, yếu tố công nghệ, phương pháp sư phạm, sự hiện diện và môi trường thể chế

Trong nước, thời gian vừa qua mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu về việc

sử dụng classkick nhưng có không ít đề tài liên quan đến nội dung về dạy học kết hợp blended learning hay ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch

sử ở trường học Trong bài nghiên cứu về “Xây dựng bài giảng điện tử (powerpoint) kết hợp với việc giao bài tập online trên phần mềm Classkick” của tác giả Trịnh Thị Hoài cho rằng Classkick là ứng dụng không chỉ được yêu thích bởi khả năng tạo các bài tập tương tác như trắc nghiệm, kéo thả, điền khuyết, chèn âm thanh, video vào câu hỏi mà điểm mạnh của nó chính là là quá trình tổ chức cho HS làm bài tập cũng như chấm bài, sửa bài như thế nào Đặc trưng của Classkick là tính chất Real-time Feedback and Grading tức là phản hồi và chấm điểm theo thời gian tương tác thực khi mỗi HS đang làm bài trên thiết bị của mình Sau khi giao bài GV tổng quát được tiến trình làm bài của cả lớp ngay hiện tại, vừa theo dõi được mỗi học sinh đang làm bài thế nào, tới đâu có khó khăn gì không và còn có thể đến trực tiếp bài làm của học sinh

để giúp đỡ HS có thể chủ động giơ tay nhờ trợ giúp và được phản hồi, nhận xét một cách riêng tư mà không phải e ngại trước mọi người Sự tương tác giữa

GV với HS và HS với HS trong suốt quá trình học tập sẽ giúp GV có thêm nhiều thông tin hơn hỗ trợ kịp thời và tương tác với học sinh nhiều hơn là chỉ giao bài và chỉ xem kết quả nộp như các công cụ truyền thống

Hay khi nghiên cứu về dạy học kết hợp, theo nhiều đánh giá, blended learning là hình thức tổ chức dạy học thể hiện nhiều ưu điểm hơn so với một số hình thức tổ chức dạy học khác Chẳng hạn như Graham c R (2009), đưa ra

Trang 14

ba lí do nên áp dụng mô hình này: (1) Đổi mới phương pháp sư phạm (dạy học hiệu quả hơn, tăng tính ứng dụng trên lớp), (2) Tăng cường cơ hội và sự linh hoạt (khả năng tham gia khóa học, lựa chọn học qua mạng và giáp mặt đê hoàn thành khóa học), (3) Giảm chi phí đào tạo Trong nghiên cứu của mình, Michael

B Hom (2015) đã chỉ ra sáu lí do để lựa chọn việc thiết kế hoặc sử dụng hệ thống blended learning: (1) sự phong phú về mặt sư phạm; (2) dễ truy cập tri thức; (3) có tương tác xã hội; (4) tính tự chủ của người học; (5) chi phí hiệu quả

và (6) dễ dàng sửa đổi [10]

Một số tác giả như Nguyễn Đắc Tâm hay Lưu Thị Quỳnh Hương đã tiến hành nghiên cứu về phương pháp giảng dạy đổi mới này và cho thấy những ảnh hưởng tích cực của nó đến hoạt động học tập của sinh viên Theo tác giả Nguyễn Đắc Tâm (2017, tr.39), "Phương pháp học tập Blended learning được biết đến như là một cách học pha trộn (Hybrid learning) - mô hình dạy và học mặt-đối-mặt (face-to-face) trong lớp kết hợp với bộ phận học trực tuyến (online learning component)" Mô hình giảng dạy này được ứng dụng vào dạy môn ngữ âm (Phonetics) cho sinh viên khoa Ngoại ngữ trường Đại học Văn Lang mang lại hiệu quả và nhiều lợi ích cho sinh viên giúp sinh viên năng động hơn và tự chủ hơn trong học tập Ngoài ra, tác giả Lưu Thị Quỳnh Hương (2017) có tiến hành nghiên cứu khảo sát quan điểm của giảng viên về việc ứng dụng phương pháp dạy học kết hợp trong giảng dạy tiếng Anh tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giảng viên đánh giá cao việc áp dụng phương pháp dạy học kết hợp như: cung cấp môi trường học tập tiên tiến, thu hút sinh viên, tuy nhiên, họ cũng gặp những trở ngại nhất định là trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin của sinh viên, giáo trình và hiểu biết của chính họ

về phương pháp này

Tương tự, trong bài viết một số vấn đề trong tổ chức dạy học blended learning và kinh nghiệm quốc tế, tiến sĩ Nguyễn Hoàng Trang cho rằng CNTT trong thực tiễn hiện nay không chỉ đơn thuần giữ vai trò “công cụ CNTT” mà

Trang 15

còn tạo ra một khuynh hướng mới trong dạy học: dạy học trực tuyến, dạy học điện tử, v.v Tuy nhiên các hình thức dạy học dựa trên nền tảng e-learning bên cạnh những ưu điểm vẫn có những nhược điểm Chính vì thế việc kết hợp giữa hai hình thức dạy học trực tuyến và truyền thống thành một hình thức dạy học mới – dạy học kết hợp (blended learning) được xem là một giải pháp hữu hiệu

và là một hệ quả tất yếu của xu thế phát triển xã hội

Gần đây, một số nhà giáo dục Lịch sử các trường đại học, cao đẳng và

GV phổ thông bước đầu quan tâm, nghiên cứu về sử dụng CNTT như một thiết

bị, phương tiện trực quan dạy học hiện đại Đáng chú ý là bộ giáo trình “Phương pháp DHLS” tập 1 và tập 2 của Phan Ngọc Liên (Chủ biên); “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” của Nguyễn Thị Côi (Chủ biên) dùng để đào tạo sinh viên sư phạm các trường đại học, cao đẳng Cuốn “Ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá môn Sử” do nhóm tác giả Trịnh Đình Tùng và Nguyễn Mạnh Hưởng biên soạn (2009) đề cập tới các vấn đề: tổng quan về đổi mới phương pháp DHLS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT, hướng dẫn GV các thao tác sử dụng một số công cụ, phần mềm trong DHLS và chia sẻ một số kinh nghiệm ứng dụng CNTT vào dạy học, kiểm tra đánh giá bộ môn Đặc biệt, trong nhiều tài liệu, bài viết của tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng

đi sâu vào hướng nghiên cứu ứng dụng CNTT vào DHLS Ví dụ như: “Thiết

kế và trình diễn trực quan bài giảng bằng Microsoft Power Point trong DHLS

ở trường phổ thông”; “Đặc trưng của việc DHLS và con đường hình thành kiến thức cho HS với sự hỗ trợ của CNTT” đặc biệt là luận án Tiến sĩ: “Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT” đã

đi sâu nghiên cứu về vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học,

đề xuất nhiều biện pháp ứng dụng CNTT trong các giờ học nội khóa, ngoại khóa để góp phần nâng cao hiệu quả bộ môn

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào sử dụng Classkick thiết

kế bài giảng và tổ chức dạy học kế hợp phần Lịch sử thế giới ở trường THCS

Trang 16

Phạm vi nghiên cứu:

Về thời gian: Từ khoảng tháng 03/2023 đến tháng 07/2023

Về không gian: Trường TH & THCS Newton5

Về nội dung: Tập trung nghiên cứu sử dụng classkick thiết kế bài giảng

và tổ chức dạy học kết hợp phần Lịch sử lớp 6 chương 2 Xã hội nguyên thủy

và chương 3 Xã hội cổ đại

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở khẳng định vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng classkick, đề tài đề xuất một số hình thức, biện pháp để

tổ chức dạy học kết hợp (blended teaching) phần Lịch sử thế giới lớp 6 bộ sách kết nối tri thức, từ đó giúp phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân của người học trong môn Lịch sử ở trường THCS

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng ứng dụng classkick để thiết kế bài giảng và tổ chức dạy học kết hợp (blended learning) phần Lịch sử thế giới ở trường THCS; đưa ra các hình thức, biện pháp có thể sử dụng trong dạy học Lịch sử và tiến hành thực nghiệm

sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các hình thức, biện pháp đưa ra

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đánh giá các vấn đề trong luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, phân tích, tổng hợp và khái quát các tài liệu của các tác giả kinh điển, các tài liệu Giáo dục học, Tâm lý học, PPDH LS về sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học kết hợp (blended teaching ) nói chung dạy học lịch sử nói riêng Nghiên cứu chương trình bộ môn Lịch Sử 2018 ở trường THCS

Phương pháp chuyên gia: Điều tra thực tiễn, thông qua điều tra xã hội học trong giáo viên và học sinh ở trường THCS, dự giờ thăm lớp để có kết luận chính xác về thực trạng dạy học Lịch Sử ở trường THCS nói chung, thực trạng

Trang 17

về sử dụng classkick thiết kế bài giảng hỗ trợ dạy học kết hợp (Blended teaching) trong môn Lịch Sử nói riêng, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp sư phạm phù hợp

Phương pháp Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài và tiến hành thực nghiệm

sư phạm từng phần, toàn phần nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp sư phạm mà luận án đã đưa ra

6 Đóng góp của đề tài

Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các trường học, cơ sở giáo dục khi chuẩn bị tiến hành dạy học không chỉ ở môn học Lịch sử mà các môn học khác cũng có thể tham khảo Qua việc nghiên cứu luận văn sẽ chứng minh được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học kết hợp (Blended teaching) cụ thể là ứng dụng classkick qua đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hơn các hình thức tổ chức dạy học mới trong dạy học môn Lịch

sử ở trường THCS

7 Giả thuyết khoa học

Nếu trong quá trình DHLS, GV chú trọng đến việc thiết kế các hoạt động học tập đa dạng có yêu cầu sử dụng classkick thì sẽ phát triển được NLSD CNTT cho HS, đáp ứng được mục tiêu DHLS nói chung, dạy học kết hợp (blended teaching) trong môn học Lịch sử nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử ở trường THCS hiện nay

8 Bố cục của Luận văn

Với nội dung như trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương với nội dung như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng classkick thiết kế

và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới ở trường THCS

Chương 2: Một số biện pháp tổ chức dạy học lịch sử ở trường THCS trên ứng dụng classkick theo định hướng dạy học kết hợp Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG ỨNG DỤNG CLASSKICK THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC KẾT HỢP PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI Ở TRƯỜNG THCS

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan niệm về dạy học kết hợp

Cho đến nay, có khá nhiều quan niệm khác nhau về dạy học kết hợp Dưới đây xin được trình bày một số quan niệm về dạy học kết hợp của một số

cơ quan, tổ chức trên thế giới Vào năm 1997, một công ti Quality Learning Inc cung cấp các khóa đào tạo về truyền thông Trước đây, công ti chỉ áp dụng các đào tạo truyền thống là dựa trên lớp học với sự hướng dẫn của GV Nhưng sau

đó công ti chuyển sang áp dụng online learning thì số HS của họ đã giảm đáng

kể Để khắc phục, họ đã kết hợp cả hai hình thức tổ chức dạy học gọi là Blended Learning Từ những năm 2000, nhiều nước trên thế giới như ở Bắc Mĩ, Tây Âu, Châu Á, và châu Đại Dương(Úc và New Zealand) đã xuất hiện hình thức tổ chức dạy học kết hợp Theo Thome (2003): “Dạy học kết hợp là sự tích hợp các tiến bộ của công nghệ vào dạy học trực tuyến kết hợp với sự tham gia tương tác của dạy học truyền thống” [1] Theo Dziban và Moskal (Đức, năm 2004):

“Dạy học kết hợp nên được xem như là một phương pháp sư phạm kết hợp hiệu quả và xã hội hóa các cơ hội của các lớp học với các khả năng học tập tích cực

về công nghệ nâng cao của trực tuyến chứ không phải là một tỉ lệ các phương thức giao bài” Trong báo cáo năm 2012 có tên Classifying K-12 Blended Learning, tác giả Heather Staker và Michael B Horn đã nêu khái niệm và phân loại các kiểu dạy học kết hợp được công bố bởi Học viện Innosight Các tác giả quan niệm: “Dạy học kết hợp là một hình thức giáo dục chính quy, trong đó người học nhận được một phần sự phân phối nội dung và hướng dẫn trực tuyến (dưới sự kiểm soát về thời gian, địa điểm, con đường và tốc độ học tập của học sinh) và một phần là trải nghiệm học tập theo lớp học trực tiếp” [2] Ở Việt

Trang 19

Nam, qua nghiên cứu tìm hiểu trên mạng Internet, các tạp chí chuyên ngành, trao đổi với GV, HS, chúng tôi thấy đây còn là hình thức khá mới mẻ, rất ít GV biết đến và mới được triển khai ở một số trường học Trong Sinh học, tác giả Nguyễn Văn Hiền đã tiến hành nghiên cứu theo hướng này và nói rằng : ”Hình thức tổ chức dạy học kết hợp đã phối hợp ưu điểm của dạy học trực tuyến và

ưu điểm của dạy học truyền thống, nó đang nổi lên như là mô hình giảng dạy chủ yếu của tương lai”

Dạy học kết hợp là mô hình dạy học sử dụng công nghệ thông tin và

truyền thông (CNTT&TT) trong quá trình dạy học, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đã trở thành xu thế phát triển mạnh mẽ trên thế giới; góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, giải quyết được vấn đề khối lượng tri thức của nhân loại ngày càng tăng, giao lưu, hội nhập quốc tế… CNTT&TT mang lại sự tiện nghi, nhanh gọn và tiết kiệm chi phí; tuy nhiên, cũng làm người học dễ mất

đi động cơ học tập và cơ hội giao tiếp liên nhân (như trong các lớp học truyền thống) Vì vậy, các buổi học trực tiếp (face-to-face) vẫn giữ được nhiều giá trị

mà khi tự học với máy tính không thể nào bù đắp được

Việc kết hợp, bổ trợ lẫn nhau giữa hình thức dạy học trên lớp kiểu “truyền thống” và dạy học qua phương tiện CNTT&TT tạo ra một mô hình dạy học mới, phát huy được ưu điểm, hạn chế nhược điểm của cả hai hình thức dạy học trên

Dạy học kết hợp (Blended learning) là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong lĩnh vực giáo dục và dạy học ở các nước phát triển Đó là sự phối hợp giữa nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy học của các hình thức dạy học khác nhau nhằm tối ưu hóa thế mạnh mỗi hình thức, đảm bảo hiệu quả giáo dục đạt được là cao nhất

Mô hình Blended learning "không phải là sự cộng cơ học" giữa hình thức học tập trực tiếp và hình thức học tập trực tuyến (Vũ Thái Giang và Nguyễn Hoài Nam, 2017, tr.167) Hai hình thức này cần bổ sung cho nhau để phát huy

Trang 20

được điểm mạnh của từng hình thức học tập Ưu điểm lớn nhất của phương thức đào tạo truyền thống, giao tiếp mặt đối mặt (face to face) là kênh giao tiếp

có hiệu quả bởi nét mặt, ngôn ngữ cơ thể, giọng nói và giao tiếp bằng mắt là những yếu tố quan trọng dễ nhận biết khi tham gia trực tiếp tại lớp học Nếu không có những biểu hiện này, não bộ sẽ khó nhận tín hiệu giao tiếp và có khả năng cao là việc diễn giải sai có thể xảy ra Như vậy, các buổi học trực tiếp trên lớp vẫn rất cần thiết mà việc tự học với máy tính không thể thay thế được Trong khi đó, công nghệ mang đến sự linh hoạt cũng như sự chủ động trong học tập của người học Hình thức học tập trực tuyến tạo ra những người học tự chủ, phát triển khả năng tự học và năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề Tuy nhiên, người học sẽ dễ dàng mất đi cơ hội học tập nếu như bản thân người học không tự giác, độc lập, đồng thời mất đi sự hứng thú, động lực học khi thiếu tương tác giáp mặt (face to face) với giáo viên và các bạn cùng lớp như trong các lớp học truyền thống Ngoài ra, với nguồn kiến thức đa dạng, phong phú có thể tìm kiếm nhờ các ứng dụng của công nghệ thì việc chỉ tham gia ở các lớp học truyền thống đã hạn chế khả năng tìm tòi, khám phá, sáng tạo của người học Do đó, Blended learning là phương thức học tập có thể khắc phục những thiếu sót của cả hai hình thức học tập được đề cập ở trên Phương pháp này có thể được áp dụng rộng rãi bởi tính ưu việt nổi trội của nó so với từng phương pháp học tập trực tiếp cũng như trực tuyến một cách riêng biệt

Một số đặc điểm về dạy học kết hợp Khi mô tả về Blended learning,

Christensen, Horn và Staker (2013) cho rằng trong hình thức này sinh viên được học một phần thông qua hình thức trực tuyến có sự giám sát về thời gian, địa điểm, đường dẫn, nhịp độ ; một phần tại một địa điểm truyền thống, có khi là

xa nhà [2] Việc phối hợp giữa học tập trực tiếp (Face to Face) và trực tuyến (Online Learning) diễn ra linh hoạt tùy vào mục đích và điều kiện thực tế của từng khóa học để triển khai Nếu nội dung cần có sự giao tiếp, tranh luận, giải thích hay làm mẫu thì cần bố trí vào các hoạt động học tập tại lớp Đối với nội

Trang 21

dung cần phải tự học trong thời lượng nhiều, phát triển tính tự giác của người học, đào tạo số lượng đông thì tổ chức qua các hệ thống học tập trực tuyến là phù hợp Như vậy, trong Blended learning hình thức học trực tuyến và trực tiếp được tích hợp chặt chẽ, không phải là sự cộng gộp một cách áp đặt, cơ học [4]

Một đặc điểm khác của Blended learning là sự tương tác giữa giảng viên với sinh viên và sinh viên với sinh viên diễn ra thường xuyên, liên tục Các hoạt động học tập tại lớp học truyền thống vẫn được tiến hành theo thời khóa biểu, nhưng được điều chỉnh theo hướng tăng cường thực hành và thảo luận Sau khi việc học tập mặt đối mặt kết thúc tại lớp, sinh viên vẫn tiếp tục thực hiện các trao đổi, tranh luận hoặc đặt ra những băn khoăn của mình qua một số công cụ

hỗ trợ như nhóm trò chuyện (Group chat), diễn đàn (Forum) hay thư điện tử (Email) [6] Giảng viên lúc này có thể đóng vai trò là người thiết kế, tổ chức, định hướng, tư vấn và tổng kết các cuộc thảo luận trực tuyến Sinh viên có thể không tham gia trực tiếp vào mỗi hoạt động, nhưng vẫn có sự lĩnh hội kiến thức thông qua quan sát và suy ngẫm

Dạy học kết hợp với các đặc điểm của người học trong thế kỷ XXI Sinh viên đại học hiện nay, những người chủ yếu được sinh sau năm 2000, xem Internet là một phần tất yếu trong cuộc sống Họ sử dụng Internet để giải trí, học tập và kết nối với thế giới xung quanh Do vậy, Blended learning xuất hiện

dễ được đón nhận, đáp ứng nhu cầu đa dạng của sinh viên Người học có thể sắp xếp thời gian tự học một cách linh hoạt, tùy vào điều kiện của cá nhân Họ cũng không cần phải chuẩn bị nhiều trang thiết bị đắt tiền, phức tạp để truy cập vào hệ thống học tập trực tuyến mà chỉ cần sử dụng điện thoại di động hoặc máy vi tính/ laptop cá nhân

Có rất nhiều phương án học kết hợp được đưa ra dựa trên nội dung, phương pháp tiến hành và đặc điểm của từng môn học Việc học kết hợp được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Theo một số nghiên cứu trước đây có đưa

ra 4 mức độ kết hợp là: kết hợp ở mức độ hoạt động; kết hợp ở mức độ khóa

Trang 22

học; kết hợp ở mức độ chương trình; kết hợp ở mức độ thể chế Cách phân chia này dựa chủ yếu trên nội dung học kết hợp Trong điều kiện hiện nay, việc học kết hợp còn chưa được phổ biến

Do vậy, để tiến tới dạy học qua mạng đạt hiệu quả, cần phải có một lộ trình triển khai thích hợp Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng, lộ trình triển khai việc học kết hợp trải qua 4 bước như sau:

Bước 1 – Làm quen: Trong bước này, người dạy và người học được tiếp xúc với mạng Internet và những yếu tố của học kết hợp Rèn luyện thói quen

và những kỹ năng cần thiết cho việc học kết hợp như sử dụng, khai thác mạng, làm việc với phần mềm, đăng ký và đăng nhập và hệ thống

Bước 2 – Thử nghiệm: Tiến hành triển khai thí điểm một số nội dung, xem xét kết quả, phân tích và rút ra nhận định làm cơ sở cho sự điều chỉnh cải tiến các nội dung học

Bước 3 – Triển khai: Áp dụng triển khai thực tế các hình thức kết hợp trong quá trình giảng dạy, thường xuyên nghiên cứu, cải tiến mô hình sao cho phù hợp

Bước 4 – Đánh giá: Sau khi thu được kết quả học tập của HS sẽ tổ chức đánh giá và so sánh Từ kết quả thu được sẽ đưa ra những biện pháp điều chỉnh

để mô hình được phù hợp và hiệu quả đạt được cao hơn

Ngoài ra, sự hỗ trợ của các phần mềm, ứng dụng trực tuyến làm cho nguồn tài liệu sử dụng trong học tập không bị giới hạn bởi các bản giấy Kho tài nguyên học tập có thể có nhiều dạng thức trình bày như Video, Audio, Infographic, Power Point, E-Portfolio Đối với việc đánh giá, một số nhiệm vụ được thiết kế gắn liền với các ứng dụng học tập trực tuyến nhằm đa dạng cách thức, phát huy chức năng đánh giá và chia sẻ trách nhiệm với hoạt động đánh giá trực tiếp Trong Blended learning, ngoài những cách đánh giá truyền thống, giảng viên có thể thiết kế các trắc nghiệm trực tuyến hay các yêu cầu bài luận/ bài báo cáo/ video học tập nộp trực tuyến

Trang 23

1.1.2 Ứng dụng classkick

Ứng dụng Classkick là ứng dụng hỗ trợ các giáo viên tương tác với lớp

học hiệu quả Với trang web này, các thầy cô sẽ dễ dàng hơn trong việc tạo bài tập và hướng dẫn, hỗ trợ học sinh của mình làm bài Ưu điểm của ứng dụng này là học sinh sẽ không cần dùng đến tài khoản trung gian của Microsoft Teams, Zoom hay Google Classroom, Người học chỉ cần nhập mã (code) để đăng nhập vào khi trả lời/làm bài, các câu trả lời sẽ được lưu lại trực tuyến

Một số tính năng hay của classkick: Tạo giao bài với nhiều hình thức đa dạng, từ bài đọc, viết đến bài luyện nghe (có audio file) Trang web cung cấp

đa dạng các tính năng để giáo viên phản hồi và đánh giá bài tập của học sinh như viết tay(pen mode), ghi âm tiếng nói(voice), highlight, tạo text box,… Tương tác sửa bài trực tuyến Khi giao bài tập, giáo hoàn toàn có thể chủ động nắm được tiến độ làm bài của học sinh, đồng thời người học có thể tương tác với giáo viên qua tính năng giơ tay cũng như một số công cụ khác trong giao diện của học sinh

Trang 24

Nếu bạn cần hỏi đáp gì với giáo viên thì bấm biểu tượng bàn tay Raise hand như một hiệu ứng giơ tay Trong thanh giao diện bên phải hiện ra, bạn có hai nút:

– Please help: Bạn bấm vào nút này để kêu gọi sự trợ giúp từ giáo viên Bạn

và giáo viên sẽ trao đổi qua hộp tin nhắn bên dưới

– Please check: Bạn bấm vào nút này khi cần yêu cầu giáo viên kiểm tra bài

làm của mình Bạn cũng có thể trao đổi với giao diện trong hộp tin nhắn bên dưới

Ngoài ra Classkick mới bổ sung thêm một tính năng rất hữu hiệu trong

dạy học kết hợp đó là Chat with teacher Bạn trực tiếp hỏi đáp với giáo viên

trong bài tập đó khi bạn không hiểu bài và giáo viên sẽ trả lời trực tiếp bạn qua thanh trò chuyện đó để bạn hoàn thiện bài tập được giao, và chắc chắn tính bảo mật rất cao chỉ có bạn và giáo viên đọc được đoạn hội thoại

Ngoài ra, classkick còn cung cấp một số tính năng hữu ích khác như di chuyển giữa một trang bài cụ thể, danh sách lớp/các lớp khác nhau, phần chấm điểm và tạo đáp án, xuất pdf, cho phép học sinh thảo luận nhóm cùng nhau,…

Trang 25

1.1.3 Các nguyên tắc khi thiết kế bài giảng qua classkick

Thiết kế bài giảng qua classkick cho các bài học trong học phần Lịch sử

thế giới 6 cần tuân thủ yêu cầu sau:

Về nội dung bài giảng : Nhà nghiên cứu phải thể hiện được hệ thống kiến

thức ôn tập theo chương trình học, phù hợp với nội dung các bài học trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Lịch sử phần lịch sử thế giới Đồng thời có thể

mở rộng để cung cấp thêm và cập nhật kiến thức mới, khắc phục nhược điểm của sách giáo khoa hiện hành Nội dung bài giảng cần nhấn mạnh, đào sâu về một vấn

đề được coi là quan trọng trong bài học, không dàn trải, liệt kê, đặc biệt là phù hợp dành cho đối tượng HS Trong bài giảng các nhà nghiên cứu có định hướng cho những phần nội dung mang tính mở, với những nhận định mới để kích thích và phát triển cá tính trong nhận thức của người học Không áp đặt, đóng khung bởi việc đánh giá, nhận xét một vấn đề, khuyến khích người học tư duy, lập luận nhìn nhận vấn đề mới, sáng tạo của riêng cá nhân

Đảm bảo sử dụng toàn diện phát huy hết tính năng của classkick: Trên

Classkick có rất nhiều tính năng có thể sử dụng cho tất cả các dạng bài tập như:

Trang 26

chọn đáp án, kéo thả, điền, nối Các nhà nghiên cứu hoàn toàn có thể thiết kế khi đưa hình ảnh và video vào đề bài như một nguồn tư liệu , thậm chí có thể ghi âm Chú ý hình ảnh, video phải phù hợp với nội dung bài học trong chương trình tiếp cận của HS, với video về lịch sử, hình ảnh không sai lệch về giáo dục luôn được ưu tiên

Phương pháp dạy học: Đổi mới phương pháp dạy học là sự kế thừa, có

chọn lọc và sáng tạo dựa trên những giá trị tích cực của phương pháp dạy học

truyền thống.[9, tr 8] Sử dụng classkick thiết kế bài giảng trong dạy học lịch sử

(DHLS) khi xây dựng cần thể hiện rõ định hướng sử dụng PPDH, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi yêu cầu về đổi mới PPDH phát huy tính tích cực chủ động, đồng thời nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của người học đang được đề cao Mỗi nội dung của bài giảng đều phải thông qua một hoặc nhiều câu hỏi hơn nữa qua phiếu bài tập kèm theo.Nên bắt đầu với việc học cách xây dựng kịch bản,biên tập hình ảnh.[8, tr 6] Như vậy, xây dựng và sử dụng classkick xây dựng bài giảng hỗ trợ DHLS được thiết kế không chỉ để làm tài liệu cho người học tự học mà còn là phương tiện hữu hiệu giúp GV tổ chức và điều khiển các hoạt động nhận thức của người học

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng classkick để thiết kế bài giảng đáp ứng nhu cầu dạy học kết hợp

Môi trường dạy học kết hợp là hình thức học tập ngày càng phổ biến trong thế kỉ XXI Đến năm 2019, nhà nghiên cứu giáo dục Stefan Hrastinski đã thống kê rằng, trong số các phát biểu về học tập kết hợp, những phát biểu của Garrison và Kanuka (năm 2004), Graham (năm 2006) đã được trích dẫn lần lượt tới 3.116 lần và 2.149 lần Sự xuất hiện và ngày càng phổ biến của hình thức dạy học kết hợp vừa là thách thức nhưng cũng tạo điều kiện để GV, HS sáng tạo các hoạt động học tập, ĐGNL người học dựa trên đặc trưng kiến thức của môn học, năng lực người học, điều kiện vật chất của hoạt động học tập Khác với những môn như Vật lý, Hóa học, Sinh học, học sinh có thể

Trang 27

được thực hành và trực tiếp quan sát những hiện tượng xảy ra, từ đó dễ dàng nắm bắt được kiến thức Nhưng đối với môn Lịch sử, học sinh không được quan sát một cách trực tiếp các sự kiện lịch sử, nên tính trực quan có vai trò quan trọng Mỗi một bài học là một sự kiện mới, một nhân vật mới, nên học sinh sẽ gặp khó khăn trong việc ghi nhớ những kiến thức đó Thông qua các tiết học trên lớp hàng năm có thể nhận thấy, nhiều học sinh thiếu sự hứng thú với môn học và thường nhầm lẫn các sự kiện, nhân vật và những đóng góp của họ trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam

Trên thực tế có thể thấy, công nghệ thông tin không chỉ có vai trò quan trọng trong dạy học mà còn rất quan trọng trong ôn tập và thực hành Với môn học Lịch sử ngày nay việc học kiến thức và đi kèm thực hành luyện tập là rất cần thiết Với xu thế phát triển của thời đại công nghệ 4.0, kết hợp với mô hình dạy học kết hợp, các nhà nghiên cứu đã cho thấy được lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong ôn tập mang lại nhiều hiệu quả tuyệt vời và cụ thể là ứng dụng Classkick

Đây là ứng dụng có thể thiết kế bài giảng dạy trực tuyến, khai thác sức mạnh của công nghệ để giúp học sinh tương tác với nội dung học theo những cách mới Khi thiết kế bài giảng, giáo viên có thể khai thác đa dạng các công

cụ và tài liệu trực tuyến để giúp học sinh hình thành kiến thức và phát triển các năng lực cần thiết đã được xác định tại mục tiêu học tập/chuẩn đầu ra của khóa học Ngoài ra, giáo viên có thể tận dụng các công cụ giao tiếp trực tuyến trên classkick để giúp học sinh kết nối với nhau Việc thiết kế bài giảng và phiếu học tập trên Classkick không còn phải là những tiết học khô khan, căng thẳng

mà học sinh thường sợ hãi; mà thay vào đó, nó có thể là cơ hội cho những sáng tạo và trải nghiệm thú vị dành cho họ

Chính nhờ những tính năng rất hiện đại và sử dụng online cũng rất dễ dàng, thú vị hơn rất nhiều cho cả thầy và trò, đặc biệt cho phần giao bài và phản hồi, với những ưu điểm sau:

Trang 28

- Dễ sử dụng (User-friendly) và an toàn: không cần tài khoản của Microsoft Teams hay Zoom, Google classroom hay Loom Thầy cô giao bài cho học sinh bằng cách đưa mã (code) cho học sinh Học sinh nhập code và khi trả lời/làm bài, các trang bài/câu trả lời tự động được lưu lại trên mạng

- Điểm vượt trội đầu tiên của Classkick là tạo hay giao bài (create assignments) với nhiều loại hình đa dạng, từ bài tập đọc, hay viết, hay nghe (có audio file), đến bài tập cần dùng các công cụ hỗ trợ như Manipulatives Tùy sự sáng tạo của giáo viên mà một bài học/bài tập cho học sinh có thể vừa đẹp vừa đa dạng, bằng cách sử dụng những tools (công cụ) trên Classkick như template/graphic (mẫư đồ họa sẵn có), background (màu nền), images (chèn ảnh), link Xem video để biết thêm chi tiết

- Điểm vượt trội thứ hai là phần chấm bài, phản hồi (grading & feedback) Những tính năng khi giáo viên phản hồi cho học sinh như viết tay (Pen mode), ghi âm tiếng nói (voice), đánh máy/tạo text box, highlight, đưa sticker với comment (nhận xét) cụ thể Tức là Classkick giúp việc dạy học phân hoá (differentiated instructions) rất hiệu quả

- Tương tác trực tuyến (Real-time interaction): khi giao bài xong, giáo viên

có thể hoàn toàn chủ động nắm được học sinh nào đã làm đến đâu, có khúc mắc chỗ nào (với tính năng giơ tay của học sinh) cũng như những công cụ khác trong giao diện của học sinh

- Kết nối trực tiếp với Google classroom: nếu ai đang sử dụng Google classroom để quản lý lớp/chấm bài thì hoàn toàn có thể tạo bài trên Classkick rồi xuất sang

- Bên cạnh đó còn có những tính năng khác như di chuyển/navigation giữa một trang bài cụ thể và danh sách lớp/các lớp khác nhau, phần chấm điểm

và tạo đáp án, xuất file PDF, cho phép học sinh làm việc cùng nhau (allow peer helper)

Trang 29

Tóm lại, có thể thấy việc sử dụng công nghệ thông tin cụ thể là ứng dụng classkick trong việc giảng dạy chương trình Lịch sử giáo dục phổng thông mới

2018 là một trong những xu hướng của thời đại, cần đổi mới không thể thiếu trong chương trình SGK, đã nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục học sinh thời đại ngày nay

1.1.5 Những yêu cầu và định hướng phát triển năng lực sử dụng classkick trong tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới

ĐGNL được hiểu là “đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ trong bối cảnh

có ý nghĩa” (Pil, 2011) So với đánh giá kiến thức thuần túy, ĐGNL có đặc trưng: (1) Mục đích - hướng vào việc tạo điều kiện để HS bộc lộ phẩm chất, năng lực của bản thân, “vì sự tiến bộ của người học so với chính họ”; (2) Ngữ cảnh - nhấn mạnh đến bối cảnh học tập và thực tiễn đời sống; (3) Nội dung đa chiều, hướng vào nhấn mạnh trải nghiệm trong học tập và đời sống của bản thân HS; (4) Công cụ phổ biến là các rubric mà GV và HS cùng thảo luận, đề xuất; (5) Thời điểm ĐGNL được kết hợp, tiến hành trong suốt quá trình dạy học nhằm hướng tới triết lí đánh giá như là một hoạt động học tập có ý nghĩa, tức nhấn mạnh ĐG quá trình (Nghiêm Đình Vỳ và cộng sự, 2018); (6) sản phẩm của ĐGNL được khuyến khích là các sản phẩm học tập đa dạng, sáng tạo, gắn với đặc trưng, ý nghĩa của môn học và phong cách học tập, năng lực HS chứ không thuần túy là những bài kiểm tra tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan ghi nhớ, tái hiện kiến thức hàn lâm như cách làm truyền thống Theo đó, đặc trưng của ĐGNL môn Lịch sử cần xuất phát từ đặc trưng của kiến thức, của việc học tập Lịch sử ở trường phổ thông và các phong cách học tập Lịch sử đa dạng, sáng tạo của HS

Ngoài ra, theo quan điểm của các nhà tâm lý học: Năng lực là tổ hợp gồm các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực không chỉ là tiền đề, mà còn là kết quả của hoạt động Năng lực là điều kiện cho hoạt

Trang 30

động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy [42;18]

Tóm lại, các năng lực hình thành trong quá trình rèn luyện, học hỏi Dạy học phát triển năng lực là quá trình tương tác, phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của người dạy và hoạt động của người học, trong đó chú trọng tập trung vào kết quả đầu ra, nhấn mạnh kết quả người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một giai đoạn (hay một quá trình) dạy học Việc chỉ ra mối quan hệ nội tại giữa các đặc điểm của kiến thức lịch sử với các năng lực đặc thù cần hình thành cho HS trong học tập Lịch sử sẽ là cơ

sở quan trọng để đề xuất các phương án ĐGNL phù hợp trong môi trường dạy học kết hợp Đặc trưng của học tập Lịch sử ở trường phổ thông là quá trình HS làm việc với các nguồn sử liệu (sưu tầm, giới thiệu, đọc hiểu, đánh giá…) và sáng tạo nguồn học liệu phong phú dựa trên các phong cách học tập đa dạng trong môi trường học tập trực tiếp và trực tuyến Về điều này, Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử và Địa lí (cấp THCS) năm 2018 cũng gợi ý:

“Năng lực lịch sử của học sinh được hình thành, phát triển thông qua việc tổ

Trang 31

chức, hướng dẫn học sinh đọc hiểu, giải mã các văn bản lịch sử (kênh hình, kênh chữ, hiện vật lịch sử, ), từ đó tái hiện quá khứ, nhận thức sự thật lịch sử, đưa ra suy luận, đánh giá về bối cảnh, nguồn gốc, sự tiến hoá của sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử và quá trình phát triển lịch sử; trở thành “người đóng vai lịch sử”, hay “người làm lịch sử” để khám phá kiến thức lịch sử, vận dụng sáng tạo những hiểu biết về lịch sử, văn hoá, xã hội Việt Nam và thế giới vào các tình huống học tập và thực tiễn cuộc sống.” (Bộ GD-ĐT, 2018) Từ gợi ý

có tính chiến lược này, chúng ta nhận thấy, nền tảng đặc trưng của ĐGNL môn Lịch sử cấp THCS là cần gắn với việc “tổ chức, hướng dẫn học sinh đọc hiểu, giải mã các văn bản lịch sử”; hướng tới việc ĐG HS gắn với các NL đặc trưng như “suy luận, đánh giá về bối cảnh, nguồn gốc, sự tiến hoá của

sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử”, muốn vậy cần tạo các bối cảnh, tình huống học tập hấp dẫn để HS được trở thành “người đóng vai lịch sử”, hay

“người làm lịch sử”

Kể từ năm học 2021-2022, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cấp THCS bắt đầu được thực hiện trên toàn quốc ở khối lớp 6 Trong bối cảnh đó, ngày 20/7/2021, Bộ GD-ĐT đã ban hành Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định về đánh giá HS THCS và THPT áp dụng cho Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Theo đó, Thông tư nhấn mạnh đánh giá thường xuyên “được thực hiện thông qua: hỏi - đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập”, đồng thời cho phép việc đánh giá định kì của môn học “được thực hiện thông qua: bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính), bài thực hành, dự

án học tập” (Bộ GD-ĐT, 2021) Quy định này tạo cơ chế thuận lợi để đổi mới ĐGNL HS HS lớp 6 là HS khối lớp đầu tiên ở cấp THCS nhưng phải tham gia nhiều môn học và nhiều hoạt động giáo dục hơn hẳn so với cấp tiểu học; đồng thời, dung lượng kiến thức và yêu cầu mục tiêu của từng môn học cũng tăng lên nhiều Do vậy, chú trọng đổi mới ĐGNL từ khối lớp đầu cấp học có ý nghĩa nền tảng cho quá trình ĐGNL trong các năm học, cấp học tiếp sau Xuất phát

Trang 32

từ các loại hình, chúng tôi gợi ý một số phương án ĐGNL cụ thể khi dạy học nội dung Lịch sử thế giới ở phân môn Lịch sử 6, trong môi trường học tập kết hợp qua ứng dụng classkick

Xây dựng và tích hợp bảo tàng 3D trong classkick về một số thành tựu của văn hóa Ai Cập và Lưỡng Hà thời

cổ đại

Nôi dung 2 : Ấn Độ cổ

đại

Sản phẩm Steam của một số thành tựu của văn hóa Ấn Độ thời cổ đại

Thiết kế và tích hợp ebook trên classkick dự

án “ Sách điện tử văn hóa Ấn Độ cổ đại “ Nội dung 3: Trung

Quốc từ thời cổ đại đến

thế kỉ VII

Thiết kế poster, báo tường “ Quảng bá văn hóa Trung Quốc chủ đề các thành tựu văn minh thời cổ đại “

Thiết kế và tích hợp phiếu học tập Inforgarphics trên classkick “ Quảng bá văn hóa Trung Quốc chủ

đề văn minh cổ đại “ Nôi dung 4: Hy Lạp và

La Mã cổ đại

Tổ chức kiểm tra đánh giá “ Thành tựu của văn minh Hy Lạp và La Mã

cổ đại “

Thiết kế trên classkick

ôn tập, đánh giá qua các hình thức tương tác của classkick thông qua phiếu học tập!

Tóm lại, qua việc đề xuất một số phương án ĐGNL HS trong môi trường học tập kết hợp qua nội dung Lịch sử thế giới thuộc phân môn Lịch sử 6 bằng ứng dụng classkick có thể thấy Dạy học kết hợp đang là xu thế của giáo dục thế giới thế kỉ XXI Việc tìm kiếm các giải pháp tăng cường hiệu quả dạy học nói chung và hiệu quả của ĐGNL người học nói riêng trong môi trường dạy

Trang 33

học kết hợp là một trong những nội dung trọng tâm của giáo dục phổ thông đương đại Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã tập trung tìm kiếm câu trả lời cho các vấn đề này

1.1.6 Quy trình sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần Lịch sử thế giới lớp 6 ở trường TH & THCS Newton5

1.1.6.1 Các yêu cầu có tính nguyên tắc sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp

- Đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn

Về tính khoa học của classkick khi thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp cần quan tâm tới vấn đề các chức năng của classkick phải gắn liền với đúng nội dung bài học, cụ thể và có ý nghĩa trực tiếp đến việc dạy và học trong từng bài giảng Đối với giáo viên cần có một số giải pháp đẩy mạnh việc tích hợp nhuần nhuyễn kiến thức với các chức năng trên ứng dụng classkick, khả năng thích ứng công nghệ thông tin ở từng bài học, linh hoạt lựa chọn bài giảng nào phù hợp với ứng dụng Đối với học sinh khi tương tác trên classkick, các bài giảng

và phiếu học tập cần phải logic, rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hành, đảm bảo đúng tính khoa học của một bài học Đặc biệt theo đề tài nghiên cứu, ứng dụng classkick phải đảm bảo phù hợp với hình thức tổ chức dạy học kết hợp

Về tính thực tiễn, việc sử dụng ứng dụng classkick để thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp cần phải đáp ứng được xu thế của thời đại công nghệ 4.0 Học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi miễn là có kết nối internet hoặc các phương tiện truyền thông khác Bên cạnh đó khi tham gia vào link classkick, người học cũng đòi hỏi cần phải có một thiết bị điện tử để có thể tham gia vào quá trình học tập Với sự hỗ trợ của classkick, tất cả các bài giảng, phiếu học tập được thiết kế trên classkick phải tích hợp text, hình ảnh minh họa, âm thanh tăng thêm tính hấp dẫn của bài học Người học giờ đây không chỉ còn phải nghe giảng mà còn được xem những ví dụ minh hoạ trực quan, có thể tiến hành tương tác với bài học nên khả năng tiếp thu kiến thức tăng lên Ngoài ra cũng phải

Trang 34

đảm bảo được tính linh hoạt, hấp dẫn, dễ tiếp cận với tài liệu học tập phong phú

và luôn được cập nhật từ đó góp phần rèn luyện kĩ năng và thái độ học tập của người học

- Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của giáo viên với sự tự giác tích cực, độc lập nhận thức của học sinh

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phải phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học dưới tác dụng vai trò chủ đạo của giáo viên, tạo nên

sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học tự hình thành tri thức thông qua phiếu học tập trên classkick qua đó chủ động lĩnh hội kiến thức tránh việc thụ động Tính tích cực nhận thức là thái độ làm bài trên classkick, dưới giao diện và hình thức hấp dẫn, các bài giảng và phiếu học tập trên classkick phải đảm bảo được sự hấp dẫn để thu hút và tạo sự phấn chấn tích cực khi học sinh làm bài Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để đạt được mục đích và vừa là kết quả của hoạt động Tính độc lập nhận thức về nghĩa rộng là học sinh luôn chủ động, sẵn sàng làm bài trên classkick bất kì lúc nào vì vậy các phiếu học tập thiết kế trên classkick phải đảm bảo có nội dung mở rộng Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, phẩm chất, nhu cầu học tập và năng lực tự

tổ chức học tập, cho phép người học tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học tập của mình và qua đó cho phép người học hình thành sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc tự học Ba phẩm chất nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau Tính tự giác nhận thức là cơ sở của tính tích cực và tính độc lập nhận thức Tính tích cực nhận thức là điều kiện, là kết quả, là định hướng và là biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển của tính độc lập nhận thức Kết hợp tính tích cực của giáo viên và học sinh một cách hài hoà trong hoạt động phối hợp với nhau sẽ cho phép đạt được những kết quả dạy học và giáo dục trong một thời gian ngắn nhất Trong hoàn cảnh đổi mới ở nước ta nói

Trang 35

chung và đổi mới sự nghiệp giáo dục nói riêng, trong điều kiện nhân tố con người là động lực cho sự phát triển của xã hội thì tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình sử dụng classkick thiết kế

và tổ chức dạy học kết hợp cần xác định rõ mục tiêu của nội dung bài học để

thiết kế bài tập đúng với năng lực của học sinh Khuyến khích, động viên và

tạo điều kiện để học sinh có cơ hội được thực hành nhiều hơn với các dạng bài tập trên classkick khác nhau để nâng cao tính tự chủ, sáng tạo ý tưởng và chống lối học vẹt, học đối phó Cần sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở những mức độ khác nhau, đặc biệt tăng dần tỷ trọng mức độ tự nghiên cứu, tự giải quyết những bài tập nhận thức Phối hợp nhuần nhuyễn sử dụng ứng dụng classkick với hình thức tổ chức dạy học kết hợp Kết hợp tính tự giác, tính tích cực học tập với việc nâng cao tinh thần học qua việc kiểm tra đánh giá trên classkick Sử dụng linh hoạt các tính năng kéo thả, điền khuyết, chọn đáp

án để học sinh phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy

- Đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp, phải không ngừng nâng cao mức độ khó khăn trong học tập, gây nên sự căng thẳng về trí lực, thể lực một cách cần thiết Nói cách khác, dạy học vừa sức có nghĩa là trong dạy học phải tạo nên khó khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra phải tương ứng với giới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất Dạy học vừa sức không có nghĩa là sức học sinh đến đâu thì dạy đến đó, mà bao giờ cũng đề ra những khó khăn mà dưới

sự chỉ đạo của người giáo viên, người học bằng sự nỗ lực của mình cũng đều khắc phục được Dạy học như vậy mới đảm bảo đi trước sự phát triển, thúc đẩy

sự phát triển của học sinh Sự khó khăn vừa sức đối với người học khác với sự quá tải về mặt trí lực và thể lực Sự quá tải đó sẽ làm yếu đi sự nỗ lực ý chí, khả năng làm việc bị hạ thấp một cách rõ rệt và làm cho học sinh sớm mệt mỏi

Trang 36

Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi Mỗi độ tuổi gắn liền với sự trưởng thành của những cơ quan trong cơ thể và những chức năng của các cơ quan đó, cũng như với sự tích luỹ những kinh nghiệm về mặt nhận thức

và về mặt xã hội, với loại hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó Lứa tuổi thay đổi thì nhu cầu trí tuệ và hứng thú nhận thức của trẻ cũng biến đổi Trong cùng một lứa tuổi, học sinh cũng có những đặc điểm khác nhau về hoạt động hệ thần kinh cấp cao, sự phát triển về thể chất và tinh thần, về năng lực, hứng thú… Vì vậy

sự vừa sức phải chú ý đến những đặc điểm cá biệt Điều kiện dạy học hiện nay

ở nước ta là dạy từng lớp với khoảng 40- 50 học sinh Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải tiến hành dạy học và giáo dục cả lớp như một tập thể học tập, tạo điều kiện và tổ chức công tác học tập của tất cả học sinh, đồng thời phải tính tới những đặc điểm cá biệt của từng học sinh nhằm đạt được hiệu quả dạy học và góp phần phát triển những tư chất tốt đẹp của các em

Trong quá trình sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp

để đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm cá biệt trong điều kiện tiến hành dạy – học với cả tập thể cần:

+ Xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình sử dụng classkick kết hợp dạy học kết hợp để thiết lập những cách thức chủ yếu tạo nên động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức của học sinh, suy nghĩ những biện pháp tiến hành chung với cả lớp và với từng học sinh

+ Sử dụng classkick để thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp cần phối hợp hình thức học tập trực tiếp và học tập trực tuyến.Với hình thức học tập trực tiếp, giáo viên đưa ra nhiệm vụ chung, dưới sự chỉ đạo của giáo viên, từng cá nhân suy nghĩ cách giải quyết Trong thời gian đó, giáo viên giúp đỡ những học sinh yếu kém Với cách tổ chức như vậy thì chỉ là sự làm việc cùng nhau của những cá nhân cùng học Với hình thức học tập trực tuyến, giáo viên cho các nhóm thực hành thảo luận trên classkick theo ý kiến, giải quyết khác nhau đi đến kết luận chung của cả nhóm, sau đó cử đại diện của mình trình bày ý kiến Trên cơ sở

Trang 37

đó, cả lớp trình bày và đi đến kết luận chung, còn giáo viên lúc này đóng vai trò là người chỉ đạo, người cố vấn, người trọng tài Với hình thức này thì sự phối hợp giữa hoạt động cá nhân và tập thể đạt được hiệu quả cao hơn rất nhiều Cũng có thể từ một nhiệm vụ chung, mỗi nhóm được phân công hoàn thành một phiếu học tập riêng trên classkick và từng thành viên suy nghĩ độc lập để

đi đến cách giải quyết chung của cả nhóm Các nhóm cử người lần lượt trình bày cách giải quyết nhiệm vụ của mình Lớp thảo luận và đi tới cách giải quyết nhiệm vụ chung Với cách tổ chức tiết học như vậy không đơn thuần là học tập đọc SGK và trả lời câu hỏi mà học sinh không chỉ tự hoàn thành bài tập cá nhân

mà còn làm cho cả nhóm Tinh thần học tập trong lớp cũng được sôi nổi hơn Cách tiến hành như vậy không chỉ giáo dục tinh thần tập thể cho HS, mà từng

HS giúp đỡ lẫn nhau nên nhiệm vụ học tập đề ra trở nên vừa sức mỗi người + PGS.TS Vũ Nho nói: “Sức là một cái gì không tĩnh tại, được tạo ra và phát triển trong quá trình học tập của học sinh, luôn biến đổi theo chiều hướng gia tăng” Chẳng hạn, với bài 6 Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại trong SGK Lịch sử và Địa lí lớp 6 bộ KNTT nếu giáo viên chỉ dừng lại ở việc khai thác các kiến thức trong sách giáo khoa thì hoàn toàn không đạt hiệu quả tối ưu Chỉ khi GV sử dụng linh hoạt ứng dụng classkick thiết kế các phiếu học tập với nội dung hấp dẫn, mở rộng kết hợp với tổ chức dạy học kết hợp làm bật lên được những thành tựu văn minh tiêu biểu của Ai Cập và Lưỡng Hà thì khi ấy mới gọi là dạy “ vừa sức “ đối với học sinh lớp 6

- Đảm bảo sự thống nhất giữa đồng loạt và phân hóa học sinh

Tính đồng loạt và phân hóa khi sử dụng classkick để thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp là hai mặt tưởng chừng mâu thuẫn nhưng thực ra thống nhất với nhau Một mặt, phân hóa tạo điều kiện thuận lợi cho dạy học đồng loạt Khi thiết kế classkick cần chú ý tạo các dạng bài tập cá nhân ở mức độ khác nhau tùy theo năng lực cá nhân của học sinh Điều đó làm cho mọi học sinh đều đạt được những yêu cầu cơ bản từ đó có thể tham gia vào các dạng bài tập chung,

Trang 38

bài tập nhóm và làm tiền đề cho việc dạy học đồng loạt Mặt khác, trong dạy học đồng loạt bao giờ cũng có yếu tố phân hóa Trong thực tế không có sự dạy học đồng loạt tuyệt đối không phân hóa Khi tổ chức dạy học kết hợp với hình thức học tập trực tiếp trên lớp, với một nội dung bài học giáo viên phải đảm bảo tất cả học sinh đều phải lĩnh hội được kiến thức đó và kết hợp sử dụng phiếu học tập trên classkick để học sinh thực hành từ đó phân hóa học sinh theo năng lực Giáo viên phải đảm bảo sự thống nhất giữa đồng loạt và phân hóa khi thiết kế các dạng bài tập trên classkick, với từng nội dung trong bài đều phải đạt được mục tiêu bài học, mục đích bài dạy

Như vậy để đảm bảo sự thống nhất giữa đồng loạt và phân hóa thì giáo viên trong quá trình sử dụng classkick để thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp cần tăng cường phân hóa thông qua các dạng bài tập, câu hỏi, khi thiết kế phiếu học tập trên classkick để phân hóa học sinh cần thiết lập những điều kiện cơ bản như những nội dung mà tất cả học sinh đều làm được để học sinh tiến tới đồng loạt

- Đảm bảo được các yếu tố 3D trong sử dụng công nghệ

Không chỉ dừng ở việc thiết kế phiếu học tập hay những bài giảng có hình ảnh, text thông thường trên classkick Để đáp ứng với việc tổ chức dạy học kết hợp thì việc đưa classkick trở thành một ứng dụng dạy và học trực tuyến với nhiều yếu tố 3D trong sử dụng công nghệ là vô cùng cần thiết Đầu tiên,

để hỗ trợ học sinh phát huy tính tự học, tìm tòi tự khám phá tri thức của mỗi học sinh bên cạnh các phiếu bài tập tương tác, classkick cần chú ý tới việc đưa các yếu tố 3D kèm theo ở dạng link video hoặc link bảo tàng 3D Nếu như ở sách giáo khoa giấy chỉ có hình ảnh minh họa thì ở Classkick cung cấp được thêm cả các trang sách điện tử Ebook tích hợp giúp học sinh dễ dàng tìm kiếm

và học tập Một điểm thú vị khác của việc thiết kế bài giảng trên classkick đó

là việc giáo viên có thể tận dụng các tính năng ghi âm, trò chuyện, trợ giúp kết hợp cùng hình ảnh, video để biến nội dung bài học trở nên hấp dẫn hơn đối với học sinh

Trang 39

Như vậy để việc sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp thành công thì các yếu tố 3D cần được đưa vào classkick là hoàn toàn hợp lí và thiết thực Điều đó không chỉ giúp các tiết học trực tuyến và trực tiếp hấp dẫn hơn, thực tế hơn mà tính tích cực trong học tập của học sinh cũng được phát huy tối đa

1.1.6.2 Quy trình sử dụng classkick thiết kế bài giảng và tổ chức dạy học kết hợp phần Lịch sử thế giới lớp 6 ở trường THCS

- Trước giờ học, online ở nhà

Trước giờ học, GV cần chuẩn bị tốt cho hoạt động dạy học của mình Mỗi tiết dạy có sự chuẩn bị chỉn chu, chu đáo chiếm 50% thành công của giờ dạy Hoạt động chuẩn bị cho một giờ dạy học của GV thường được thể hiện qua việc chuẩn bị giáo án chi tiết, bao gồm yêu cầu cần đạt, các khâu chuẩn bị,

cụ thể từng hoạt động, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa

HS với HS nhằm đạt được những mục tiêu của bài học

Để chuẩn bị thật tốt cho tiết dạy, GV cần xác định mục tiêu của bài học, căn cứ vào yêu cầu cần đạt và mục tiêu bài học trong SGK Để làm được điều

đó, GV cần nghiên cứu kỹ các hoạt động trong SGK, Sách GV, Sách bài tập và các tài liệu liên quan để hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học; xác định được những Kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS; xác định trình tự tiến trình của bài học Điều quan trọng, GV cần xác định được khả năng đáp ứng các nhiệm vụ học tập của HS, gồm: xác định những kiến thức, kỹ năng mà HS đã học, đã có và cần đạt được; dự kiến những trường hợp HS gặp vướng mắc, tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết Mỗi một đối tượng HS khác nhau sẽ được nhận một nhiệm vụ học tập phù hợp với năng lực của HS đó

Tiếp đến, GV lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, phương tiện dạy học phục vụ hiệu quả, hình thức tổ chức dạy học phong phú và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo Phần quan

Trang 40

trọng không thể thiếu là thiết kế kế hoạch dạy học GV cần thiết kế hoạt động dạy học, nhiệm vụ, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy - học

Để giao nhiệm vụ đúng người, đúng việc, GV cần đưa ra nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả năng của HS, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ, thời gian thực hiện từng nhiệm vụ nhỏ, hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, khen – thưởng thi đua rõ ràng nhằm kích thích sự hứng thú của HS; đảm bảo cho tất cả HS tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ

Tóm lại, theo yêu cầu của CT GDPT 2018 và cách thiết kế của SGK Lịch

sử và Địa lí lớp 6 Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, việc chuẩn bị trước giờ học của GV và HS là rất quan trọng

Ví dụ: GV giao nhiệm vụ cho HS trước khi học bài 8 Ấn Độ cổ đại SGK Lịch

sử và Địa lí lớp 6 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống Học sinh hoàn thiện phiếu học tập KWL những thông tin tìm hiểu trước về Ấn Độ

- Trong giờ học, học tập giáp mặt

Ngày đăng: 30/05/2025, 22:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Bộ Sách giáo khoa Lịch sử 6,7,8,9. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Sách giáo khoa Lịch sử 6,7,8,9
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (30/3/2021), Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT Quy định về quản lí và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT Quy định về quản lí và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2021
3. Tôn Quang Cường, Phạm Kim Chung (2009), Tập bài giảng Sử dụng phương tiện kĩ thuật và công nghệ trong dạy học đại học, Khoa Sư phạm – trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Sử dụng phương tiện kĩ thuật và công nghệ trong dạy học đại học
Tác giả: Tôn Quang Cường, Phạm Kim Chung
Nhà XB: Khoa Sư phạm – trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN
Năm: 2009
4. Tô Xuân Giáp (1997), Phương tiện dạy học. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
5. Vũ Thái Giang & Nguyễn Hoài Nam (2017). Dạy học kết hợp - Một hình thức phù hợp với dạy học đại học ở Việt Nam thời đại kỉ nguyên số. Hnue Jounal of Science. Educational Sciences, 2019, Volume 64, Issue 1, pp. 165-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học kết hợp - Một hình thức phù hợp với dạy học đại học ở Việt Nam thời đại kỉ nguyên số
Tác giả: Vũ Thái Giang, Nguyễn Hoài Nam
Nhà XB: Hnue Jounal of Science. Educational Sciences
Năm: 2017
8. Phạm Xuân Hậu, Phạm Văn Danh, Ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả dạy-học và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả dạy-học và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học sư phạm
Tác giả: Phạm Xuân Hậu, Phạm Văn Danh
9. Lưu Thị Quỳnh Hương (2017). "Quan điểm của giảng viên về việc ứng dụng phương pháp học tập kết hợp trong giảng dạy tiếng Anh tại trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của giảng viên về việc ứng dụng phương pháp học tập kết hợp trong giảng dạy tiếng Anh tại trường
Tác giả: Lưu Thị Quỳnh Hương
Năm: 2017
12. Hoàng Kiếm, Một số đề nghị đổi mới phương pháp giảng dạy với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, Báo cáo khoa học Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tháng 11/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề nghị đổi mới phương pháp giảng dạy với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Tác giả: Hoàng Kiếm
Nhà XB: Báo cáo khoa học Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
13. Microsoft, Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Tác giả: Microsoft
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. [35]. Phan Ngọc Liên (chủ biên), (2008), Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông. NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
15. Phan Ngọc Liên (chủ biên), (2006), Nhập môn sử học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn sử học
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2006
16. Phan Ngọc Liên (Cb) (2000), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Cb)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. Phan Ngọc Liên (Cb) (2004), Phương pháp dạy học Lịch sử, Tập I, II. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
18. Phan Ngọc Liên (Cb) (2005), Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông. Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Cb)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
19. Đoàn Nguyệt Linh, Một số năng lực tự học môn lịch sử cần được hình thành cho học sinh ở trường THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số năng lực tự học môn lịch sử cần được hình thành cho học sinh ở trường THPT
Tác giả: Đoàn Nguyệt Linh
Năm: N/A
22. Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (1998), Tâm lí học đại cương. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đại cương
Tác giả: Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
23. Hoàng Thanh Tú (2009), Tập bài giảng môn Chương trình phương pháp dạy học Lịch sử, Khoa sư phạm – Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng môn Chương trình phương pháp dạy học Lịch sử
Tác giả: Hoàng Thanh Tú
Nhà XB: Khoa sư phạm – Đại học Giáo dục, Hà Nội
Năm: 2009
25. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Lịch sử (2004), Tài liệu bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Lịch sử
Tác giả: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Lịch sử
Năm: 2004
26. Nguyễn Văn Tuấn (2010), Tài liệu học tập về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Năm: 2010
28. VVOB (2010), Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực
Tác giả: VVOB
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức học tập và tương tác trực tiếp trên lớp có thể coi là tối ưu. Giáo  viên hoàn toàn có thể cho học sinh làm bài theo nhóm, tìm hiểu kiến thức  trong SGK và điền vào phiếu học tập - 05050005435 sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 Ở trường thcs
Hình th ức học tập và tương tác trực tiếp trên lớp có thể coi là tối ưu. Giáo viên hoàn toàn có thể cho học sinh làm bài theo nhóm, tìm hiểu kiến thức trong SGK và điền vào phiếu học tập (Trang 72)
Hình 2.1. Giao diện của giáo viên và học sinh khi làm bài trắc nghiệm trên - 05050005435 sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 Ở trường thcs
Hình 2.1. Giao diện của giáo viên và học sinh khi làm bài trắc nghiệm trên (Trang 75)
Hình 2.2. Giao diện của giáo viên và học sinh khi làm bài kéo thả trên - 05050005435 sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 Ở trường thcs
Hình 2.2. Giao diện của giáo viên và học sinh khi làm bài kéo thả trên (Trang 75)
Bảng 2.1. So sánh trình độ học sinh trước thực nghiệm - 05050005435 sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 Ở trường thcs
Bảng 2.1. So sánh trình độ học sinh trước thực nghiệm (Trang 79)
Hình thức kiểm tra để tăng độ - 05050005435 sử dụng classkick thiết kế và tổ chức dạy học kết hợp phần lịch sử thế giới lớp 6 Ở trường thcs
Hình th ức kiểm tra để tăng độ (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm