HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ CÔNG KHOA KHOA HỌC LIÊN NGÀNH - NGOẠI NGỮ - TIN HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Giảng viên hướng dẫn: ThS Phan Thị Hải Hà
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Trà
Ngành đào tạo: Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước Lớp: 2105XDDA
Mã sinh viên: 2105XDDA061
Khoá: 2021 - 2025
HÀ NỘI, 2025
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của tác giả Các số liệu trong khóa luận là trung thực, khách quan, khoa học dựa trên kết quả nghiên cứu và các tài liệu đã được công bố
Tài liệu và các trích dẫn có xuất xứ rõ ràng và đúng quy định
Tác giả
Bùi Thị Trà
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC HÌNH ẢNH
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
2.1 Các nghiên cứu khoa học liên quan đến lễ hội truyền thống 2
2.2 Các nghiên cứu khoa học liên quan đến quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
3.1 Mục đích 5
3.2 Nhiệm vụ 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 6
5.2 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và đóng góp về khoa học 6
7 Kết cấu của đề tài 6
Chương 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 7
1.1 Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống - Khái niệm, tính chất, đặc điểm 7
1.1.1 Khái niệm, tính chất, giá trị của lễ hội truyền thống 7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 15
1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 23
1.3 Nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 26
Trang 41.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 26
1.3.2 Phương pháp quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 30
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN 34
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống của huyện Quỳnh Phụ hiện nay 34
2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Quỳnh Phụ 34
2.1.2 Điều kiện kinh tế huyện Quỳnh Phụ 35
2.1.3 Điều kiện văn hóa - xã hội huyện Quỳnh Phụ 35
2.1.4 Lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình hiện nay 36
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ hiện nay 40
2.2.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 40
2.2.2 Ban hành văn bản quản lý nhà nước 42
2.2.3 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lễ hội truyền thống 43
2.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 44
2.2.5 Đầu tư các nguồn lực quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 46
2.2.6 Kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 47
2.3 Đánh giá chung 50
2.3.1 Ưu điểm 50
2.3.2 Hạn chế 52
2.3.3 Nguyên nhân ưu điểm, hạn chế trong quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 54
Tiểu kết chương 2 58
Trang 5Chương 3 BỐI CẢNH MỚI, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH THỜI GIAN TỚI 59
3.1 Bối cảnh mới của vấn đề 59
3.2 Phương hướng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ thời gian tới 60
3.3 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ trong thời gian tới 62
3.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện 62
3.3.2 Thực hiện tốt việc triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện 64
3.3.3 Hoàn thiện về thể chế, chính sách quản lý hoạt động lễ hội truyền thống 65
3.3.4 Xác định mô hình, kiện toàn tổ chức bộ máy và đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện 67
3.3.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cùng với việc tăng cường đầu tư nguồn lực và xã hội hóa trong tổ chức, quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện 72
3.3.6 Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện 75
3.3.7 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện 76
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 79
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 85
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Tổng thể khu di tích Đền A Sào, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình 45 Hình 2.2 Trang Thông tin điện tử huyện Quỳnh Phụ đưa tin về công tác thanh tra, kiểm tra lễ hội truyền thống 48 Hình 2.3 Trang Thông tin điện tử Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch đưa tin về công tác thanh tra, kiểm tra lễ hội truyền thống 50
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
6 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
Hợp Quốc
7 VH, TT&DL Văn hoá, thể thao và du lịch
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, các quốc gia đều có lễ hội với quy mô to, nhỏ và mang những giá trị văn hóa khác nhau Ở Việt Nam, lễ hội là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta có hàng nghìn năm lịch sử, thể hiện sự ghi nhận công đức và lòng tri
ân của các thế hệ đối với các bậc tiên hiền đã có công giúp dân khai hoang, lập
ấp, trồng trọt, chăn nuôi; đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Hầu hết các lễ hội đều mang tính giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống, lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc với truyền thống lịch sử vẻ vang, góp phần xây dựng tinh thần đoàn kết trong cộng đồng và xã hội Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, văn hóa, xã hội bảo đảm phát huy được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc Công tác quản lý lễ hội luôn được coi trọng và chỉ đạo chặt chẽ bảo đảm cho người dân tham gia lễ hội thực sự văn minh, an toàn, tiết kiệm Qua lễ hội đã khơi dậy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giáo dục được tinh thần đoàn kết, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm an toàn, tiết kiệm
Tuy nhiên, việc tổ chức lễ hội vẫn còn quá nhiều hạn chế do lễ hội được
tổ chức tràn lan, thiếu sự quản lý, thậm chí có những lễ hội được tổ chức không phù hợp với truyền thống mà lo mục đích thu lợi, tất nhiên chỉ là số ít nhưng ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của lễ hội Mặc dù dư luận đã lên tiếng phê phán mạnh
mẽ, nhưng những hiện tượng đó vẫn chưa giảm Vì vậy, vấn đề vô cùng cấp thiết đặt ra hiện nay là phải tăng cường quản lý lễ hội để gìn giữ văn hóa Việt Nam
Quỳnh Phụ là một huyện thuộc tỉnh Thái Bình, là miền đất cổ có tới gần một trăm làng mang tên Việt cổ như Sổ (Vọng Lỗ), Nhống (Lộng Khê), Moi (Phong Xá), Cau (Lương Cầu), Rọc (An Dục), Mụa (Vũ Xá), Ón (Lai Ổn), Uốp (An Ấp), Bệ (An Bài),… Ở những làng cổ này, các lễ hội cổ truyền còn duy trì được nhiều lễ thức cổ xưa mang đậm dấu ấn của thời sơ khai nguyên thủy và những trò chơi trò diễn đặc sắc vốn vẫn được coi là tục lệ riêng của mỗi làng
Trang 9Tuy nhiên, một số lễ hội cổ truyền của Quỳnh Phụ có những trò đua tài giải trí đặc sắc như tục “vờn đẩu” ở hội làng Chung Linh, xã Quỳnh Khê; tục kéo thuyền trên cạn ở hội làng Bương, xã Quỳnh Ngọc; tục “dồn phết” ở hội làng Ngẫu Khê, xã Quỳnh Khê; hát ống, hát đúm, hát trống quân… ở một số hội làng
đã bị thất truyền, chưa khôi phục được Những lễ hội lớn gồm: Lễ hội Đền A Sào, lễ hội Đền Đồng Bằng,…
Có thể nói, sự phong phú đặc sắc của lễ hội truyền thống Quỳnh Phụ là niềm tự hào cũng như thế mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch ở vùng đất này Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã đạt nhiều kết quả quan trọng,
có ý nghĩa sâu sắc đối với phát triển văn hóa địa phương Tuy nhiên, còn bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác quản lý lễ hội hiện nay tại một số lễ hội lớn như Lễ hội Đền Đồng Bằng, Lễ hội Đình, đền, bến tượng A Sào,…
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình” làm khóa luận tốt
nghiệp ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
QLNN về lễ hội là đề tài thu hút nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học và các nhà khoa học nghiên cứu, thể hiện ở các đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ và các bài viết Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình khoa học về vấn
đề này đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án và các ấn phẩm khoa học,… Sau đây là những công trình khoa học tiêu biểu liên quan trực
tiếp đến đề tài:
2.1 Các nghiên cứu khoa học liên quan đến lễ hội truyền thống
Thạch Phương - Lê Trung Vũ (2015), “60 Lễ hội truyền thống Việt Nam”, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sách là công trình miêu tả khá toàn diện và có hệ thống 60 lễ hội truyền thống tiêu biểu ở các địa phương, của các dân tộc trên cả nước Ngoài phần lễ hội, cuốn sách còn có thêm phần câu ca trong hội hè và phần viết về các trò diễn, trò chơi, cuộc thi tài trong lễ hội nhằm miêu tả cụ thể, chi tiết hơn bộ phận cấu thành không thể thiếu của lễ hội; đồng
Trang 10thời thông qua đó người đọc một lần nữa có cái nhìn hệ thống lại những trò diễn trong dân gian giữa các vùng miền trên cả nước
Phan Hồng Hải (2015), “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các lễ hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Trung tâm Khoa học xã hội - nhân văn Nghệ An Trên cơ sở thực trạng những mặt được và những tồn tại của hoạt động lễ hội, Ban Chủ nhiệm đề tài đã đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của lễ hội trên địa bàn Nghệ An trong thời gian tới
Nguyễn Phương (2018), “Tìm hiểu văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt (Lễ hội truyền thống của vùng miền qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông)”, Nxb Thế giới Cuốn sách tiếp cận không chỉ nội dung, điểm đặc sắc của các lễ hội truyền thống Việt Nam mà còn tiếp cận về các vấn đề lý luận về lễ hội như các vấn đề các quy định của nhà nước về việc quản lý, tổ chức; quy định ứng xử văn minh, thực hiện nếp sống văn minh nơi công cộng, thanh tra, xử phạt trong lĩnh vực văn hoá, du lịch
Mai Duyên (2023), "Lễ hội truyền thống của người Việt", Nxb Dân trí Cuốn sách “Lễ hội truyền thống của người Việt” của tác giả Mai Duyên, tổng hợp nhiều lễ hội đặc sắc và tiêu biểu của dân tộc Việt Nam như: Lễ hội đền Hùng, lễ hội chùa Hương, lễ hội Nghinh Ông Mỗi lễ hội mang một nét đẹp và đặc trưng riêng nhưng cùng có điểm chung là bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt Cuốn sách gồm 2 chương: Chương 1: Lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Kinh; Chương 2: Lễ hội đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số
2.2 Các nghiên cứu khoa học liên quan đến quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
Hoàng Trung Đức (2017), “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Trên cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống, tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó đề xuất phương hướng và giải
Trang 11pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
Võ Tấn Khôi (2018), “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống từ thực tiễn tỉnh Long An”, Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống, đồng thời phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Long An Trên cơ sở
đó, tác giả đưa ra quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống từ thực tiễn tỉnh Long An
Phạm Trình - Trần Minh (2020), "Cẩm nang công tác quản lý và tổ chức
lễ hội", Nxb Hồng Đức Nội dung của cuốn sách bao gồm bốn phần chính sau: Phần thứ nhất Lễ hội mùa xuân; Phần thứ hai Lễ hội mùa hạ; Phần thứ ba Lễ hội mùa thu; Phần thứ tư Lễ hội mùa đông Nội dung cuốn sách trình bày một cách đầy đủ và chi tiết về những lễ hội của 54 dân tộc anh em sinh sống trên 63 tỉnh thành của đất nước Việt Nam theo trình tự thời gian Sách là bức tranh phác họa toàn cảnh về lễ hội Việt Nam, trong đó những giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc được khắc họa một cách rõ nét nhất
Nguyễn Đình Hoa (2023), "Đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống hiện nay", tạp chí Quản lý nhà nước Lễ hội là một bộ phận không thể tách rời trong đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân và ngày càng
có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế Bài viết chỉ rõ các đặc điểm của lễ hội truyền thống, từ đó rút ra một số vấn đề nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước đối với lễ hội trong thời gian tới
Hồng Hà (2024), Công tác quản lý và tổ chức lễ hội: Phân cấp quản lý, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, Tạp chí văn hóa du lịch Bài viết đã chỉ ra công tác quản lý và tổ chức lễ hội trong cả nước có sự chuyển biến tích cực, những tồn tại, hạn chế ở các mùa lễ hội trước đây đã giảm, hoạt động lễ hội đi vào nề nếp Công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm tại
lễ hội từng bước được cải thiện Những kết quả đó góp phần giữ gìn, phát huy
Trang 12bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục truyền thống, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân
Các chương trình, đề tài đã đạt được nhiều thành công, về cơ bản các tác giả đã nêu lên cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn QLNN về lễ hội và đưa ra những giải pháp thiết thực Tuy nhiên, đề tài “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình”, đặc biệt trong giai đoạn 2023 đến nay thì chưa có công trình nghiên cứu nào Vì vậy khóa luận này tập trung đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng QLNN về lễ hội trên
địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình trong thời gian tới
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ vấn đề lý luận QLNN về lễ hội truyền thống và đánh giá thực trạng QLNN về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ; Từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường QLNN về lễ hội truyền thống trên địa
bàn huyện Quỳnh Phụ trong thời gian tới
Thứ ba, đề xuất giải pháp quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa
bàn huyện Quỳnh Phụ trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý của nhà nước đối với các lễ hội truyền thống
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Về không gian: huyện Quỳnh Phụ
Về thời gian: Từ năm 2023 đến nay
Trang 135 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm nghị quyết của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước quy định hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội
- Cơ sở thực tiễn của đề tài là thực trạng hoạt động quản lý lễ hội trên địa
bàn huyện Quỳnh Phụ giai đoạn hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao
gồm: Phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, khảo sát thực tiễn,…
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và đóng góp về khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần bổ sung, làm phong phú thêm
lý luận về QLNN về lễ hội; thực tiễn kinh nghiệm QLNN về lễ hội trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong thực tiễn thực hiện
công tác quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khoá luận được kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 14Chương 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống - Khái niệm, tính chất,
đặc điểm
1.1.1 Khái niệm, tính chất, giá trị của lễ hội truyền thống
1.1.1.1 Khái niệm lễ hội truyền thống
Xét về mặt lịch đại, lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc Lễ hội là một hiện tượng xã hội - lịch sử được hình thành từ lâu đời, mang trong mình những giá trị văn hóa độc đáo, mang bản sắc cộng đồng, tổ chức theo những nghi thức trọng thể nhất nhằm tôn vinh các vị thần linh, nhân thần có công với một địa phương trong việc chống giặc ngoại xâm hay mở mang xây dựng một vùng đất Đồng thời lễ hội là dịp để con người giao tiếp, cố kết cộng đồng thông qua những hoạt động vui chơi mang nhiều ý nghĩa biểu tượng
Xét về tính chất xã hội, lễ hội là quảng trường của tâm hồn Xét về tính chất văn hóa, lễ hội là cái nôi sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật như mỹ thuật, nghệ thuật, giải trí, kịch văn hóa và với ý nghĩa đó lễ hội tồn tại và có liên quan mật thiết với sự phát triển của văn hóa
Như vậy dù xét theo khía cạnh nào thì lễ hội cũng là một hiện tượng lịch
sử - văn hóa, là môi trường sản sinh ra giá trị văn hóa độc đáo; có tác động sâu sắc nuôi dưỡng tâm hồn cá nhân và giữ gìn văn hóa của dân tộc
Tác giả Nguyễn Tri Nguyên khẳng định:
Lễ hội là sự thể hiện, là sự phát lộ của ký ức văn hóa dân tộc, giống như gen di truyền, kí ức văn hóa chứa đựng hàm lượng thông tin các giá trị văn hóa của quá khứ qua các truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc và sự đa dạng văn hóa, cũng thiết yếu đối với sự sống con người tựa như sự đa dạng sinh học trong thế giới tự nhiên [24, tr.54]
Trang 15Từ những khái niệm trên có thể thấy lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc nhằm tôn vinh hay quảng bá cho những giá trị nhất định, là dịp để nuôi dưỡng tâm hồn cá nhân con người và củng cố tinh thần đoàn kết của dân tộc
Hiện nay nước ta có nhiều loại lễ hội, có lễ hội mới (lễ hội gắn với các sự kiện lịch sử hiện đại, cách mạng), lễ hội sự kiện (gắn với du lịch quảng bá du lịch, lễ hội nhân kỷ niệm những năm chẵn thành lập thành phố, tỉnh, huyện, ),
lễ hội du nhập từ nước ngoài bên cạnh lễ hội truyền thống Trong đó lễ hội truyền thống vẫn chiếm tỷ lệ lớn trên 80% tổng số lễ hội trong năm (khoảng trên 7.000 lễ hội trong tổng số gần 8.000 lễ hội), phạm vi phân bố rộng (cả nông thôn, đô thị, vùng núi các dân tộc), có lịch sử lâu đời nhất
Khái niệm Truyền thống được hiểu như sau: Truyền thống là những tập tục, thói quen và nói chung là những kinh nghiệm xã hội được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ của con người, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, gắn với đời sống tâm linh Đây còn là một sinh hoạt có quy mô lớn về tầm vóc và có sức cuốn hút một số lượng lớn những người tham gia phản ánh hiện tượng của đời sống xã hội
Xét dưới góc độ tín ngưỡng: Lễ hội truyền thống trở thành một sinh hoạt tín ngưỡng lớn nhất, tổng hợp nhất trong văn hóa làng xã Việt Nam Xuất phát
từ những nghi thức đơn giản như cầu mong che chở của giới siêu nhiên đến cầu mong mùa màng được tốt tươi dần dần tập hợp cả cộng đồng để thực hiện những nghi lễ ấy trở thành ngày hội
Lễ hội truyền thống xuất phát từ nhu cầu nội tại của con người Đó là bao giờ nó cũng hướng tới một đối tượng cần được suy tôn Đó có thể là các vị tiên, Phật, thần thánh, nhiên thần và nhân thần; những vị anh hùng có công khai phá
và xây dựng, những anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người có công dạy giỗ, truyền nghề, chống thiên tai, trừ ác thú, chữa bệnh cứu người,…
Trang 16Cấu trúc của lễ hội truyền thống bao gồm hai thành tố “lễ” và “hội” Theo
Nguyễn Quang Lê:
1- Hệ thống lễ: Bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (các thiên thần và nhân thần), do chính con người tưởng tượng ra và họ cầu mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình
2- Hệ thống hội: Bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian,…
- chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song không tách ra khỏi việc thờ cúng [21, tr.5]
Lễ và hội trong lễ hội truyền thống tuy là hai phần riêng biệt nhưng là một chỉnh thể thống nhất, không thể chia tách Lễ là phần tín ngưỡng là thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là đời thiêng Còn hội là phần tập hợp vui chơi giải trí, là đời sống văn hóa thường nhất, là đời thường Hội gắn liền với lễ và chịu sự quyết định của lễ, có lễ mới có hội
Lễ hội truyền thống thường gắn với không gian văn hóa cố định, mang tính “thiêng” như các di tích lịch sử văn hóa hay tại một địa điểm với nhân vật, biểu tượng thờ phụng Lễ hội chính là “không gian sống” của di tích, địa điểm đó
Như vậy, lễ hội truyền thống có một vài đặc điểm nhận diện như sau:
- Là sinh hoạt văn hóa tổng hợp gắn liền với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, sự kiện và nhân vật lịch sử mang tính thiêng;
- Lễ hội truyền thống bao gồm hai thành tố lễ và hội Trong đó, lễ là những nghi thức thiêng liêng gắn liền với nhân vật, biểu tượng thờ phụng Còn hội là những trò diễn dân gian, trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa, văn nghệ gắn liền với hệ thống lễ;
- Lễ hội truyền thống thường được tổ chức tại không gian văn hóa cố định
như di tích lịch sử hay địa điểm gắn với nhân vật, biểu tượng thờ phụng
Trang 171.1.1.2 Tính chất đặc thù, giá trị của lễ hội truyền thống
* Một số tính chất đặc thù của lễ hội truyền thống
Thứ nhất, lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín
ngưỡng, nó mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò Trám (Phú Thọ) là điển hình
Tính tâm linh và linh thiêng của lễ hội nó quy định “ngôn ngữ” của lễ hội
là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của đời sống thường ngày Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng, diễn xướng cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương) trong Hội Tản Viên,… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này tạo nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội
Thứ hai, lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống,
tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất
cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu,…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán,… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này
Thứ ba, chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng, đó là cộng đồng
làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc Nói cách khác, không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội
Trang 18Ba đặc thù trên quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival,
Lễ hội cũng như bất cứ một hiện tượng văn hóa, xã hội nào cũng đều chịu
sự tác động của bối cảnh KT-XH đương thời và nó cũng phải tự thích ứng biến đổi theo Tuy nhiên, với loại hình lễ hội truyền thống thì ba đặc trưng nêu trên là thuộc về bản chất, là yếu tố bất biến, là hằng số, chỉ có những biểu hiện của ba đặc tính trên là có thể biến đổi, là khả biến để phù hợp với từng bối cảnh xã hội Khẳng định điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc phục hồi, bảo tồn và phát huy lễ hội trong xã hội hiện nay Việc phục dựng, làm mất đi các đặc trưng trên của lễ hội truyền thống thực chất là làm biến dạng và phá hoại các lễ hội đó
* Giá trị của lễ hội truyền thống
Tuy nước ta cũng như ở nhiều nước khác đã bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng lễ hội truyền thống vẫn tồn tại thậm chí còn bùng phát mạnh
mẽ Phải chăng lễ hội truyền thống vẫn thu hút và lôi cuốn con người xã hội hiện đại? Nói cách khác, lễ hội truyền thống vẫn đáp ứng nhu cầu của con người không chỉ trong xã hội cổ truyền mà cả xã hội hiện đại Có được điều đó là do lễ hội truyền thống hội tụ các giá trị sau:
Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng:
Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng - quốc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ, chính lễ hội
là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng
Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng
Trang 19cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm),… Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng
Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng định “cái cá nhân”, “cá tính” của mình nhưng không vì thế cái “cộng đồng” bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên
sự cố kết cộng đồng ấy
Giá trị hướng về cội nguồn:
Tất cả mọi lễ hội truyền thống đều hướng về cội nguồn Đó là nguồn cội
tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hóa, Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Chính vì thế, lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - du lịch
Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hóa, toàn cầu hóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, môi trường; với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc đáo đang bị mai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết, con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoà mình vào với môi trường thiên nhiên; trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hóa của mình trong cái chung của văn hoá nhân loại Chính nền văn hóa truyền thống, trong đó có lễ hội truyền thống là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại
Giá trị cân bằng đời sống tâm linh:
Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng -
Trang 20chân thiện mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái
“thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu
Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp, các hoạt động của con người dường như được “chương trình hóa” theo nhịp hoạt động của máy móc, căng thẳng và đơn điệu, ồn ào, chật chội nhưng vẫn cảm thấy cô đơn Một đời sống như vậy tuy có đầy đủ về vật chất nhưng vẫn khô cứng về đời sống tinh thần và tâm linh, một đời sống chỉ có dồn nén, “trật tự” mà thiếu sự cởi mở, xô bồ, “tháo khoán”, Tất cả những cái đó hạn chế khả năng hoà đồng của con người, làm thui chột những khả năng sáng tạo văn hóa mang tính đại chúng Một đời sống như vậy không có “thời điểm mạnh”, “cuộc sống thứ hai”, không có sự “bùng cháy” và “thăng hoa”
Trở về với văn hoá dân tộc, lễ hội truyền thống con người hiện đại dường như được tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hóa dân tộc, tận hưởng những giây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả - chân thiện mỹ, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng, con người có thể phô bày tất cả những gì là tinh tuý đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức
ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳn ngày thường, Tất cả đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực Nói cách khác, lễ hội đã thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục của đời sống hiện thực
Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa:
Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân
tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng
và hưởng thụ các giá trị văn hóa và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm
Trang 21đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong “thời điểm mạnh” của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hoà trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xóa nhòa, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của chính mình
Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hội phát triển, khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hóa, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của con người đã phần nào tách biệt
Đấy là chưa kể trong xã hội nhất định, một lớp người có đặc quyền có tham vọng “cướp đoạt” các sáng tạo văn hóa cộng đồng để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Đến như nhu cầu giao tiếp với thần linh của con người cũng tập trung vào một lớp người có “khả năng đặc biệt” Như vậy, con người, đứng từ góc độ quảng đại quần chúng, không còn thực sự là chủ thể của quá trình sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa một cách bình đẳng nữa Xu hướng đó phần nào xói mòn tinh thần nhân bản của văn hóa, làm tha hóa chính bản thân con người Do vậy, con người trong xã hội hiện đại, cùng với xu hướng dân chủ hóa
về kinh tế, xã hội thì cũng diễn ra quá trình dân chủ hóa về văn hóa Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội truyền thống là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa ấy
Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa:
Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hóa dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy
Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội,
mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi
“xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa
mở hội Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan, ; các điệu múa xanh tiền, con đĩ
Trang 22đánh bồng, múa rồng, múa lân, ; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cải lương, ; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, trò trám, sẽ ra đời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua Và như vậy thì dân tộc và văn hoá dân tộc sẽ đi đâu,
về đâu, sẽ còn mất ra sao?
Đã có nhà nghiên cứu từng nói làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hóa truyền thống của dân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hóa Trong cái làng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó là lễ hội với “xuân thu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hóa đó Không có làng xã Việt Nam thì cũng không có văn hóa Việt Nam
Điều này càng cực kỳ quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hóa truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, thì làng xã và lễ hội truyền thống Việt Nam lại gánh một phần trách nhiệm là nơi
bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý là một khái niệm rộng rãi được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Theo nghĩa hẹp, quản lý là hoạt động có sự sắp đặt, trông nom công việc
Theo F.W.Taylor, quản lý “là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và
rẻ nhất”
Theo Henry Fayol định nghĩa quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã định trước
Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay, quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt
Trang 23động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích
đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói lên cách thức quản lý và mục đích quản lý
Định nghĩa tổng hợp và cô đọng nhất về quản lý được nêu ra trong giáo trình Quản lý học đại cương của Học viện Hành chính: “Quản lý là sự tác động
có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước” [15, tr.14]
QLNN là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật lên các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước
Từ khái niệm trên về QLNN rút ra các đặc điểm của QLNN như sau: QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước QLNN được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”
QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội
QLNN mang tính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng này đòi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng quản lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học
QLNN là những tác động mang tính liên tục và ổn định lên các quá trình
xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Cùng với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý, hoạt động QLNN phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ
Trang 24thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã
hội được ổn định
1.1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
* Khái niệm QLNN về lễ hội truyền thống
QLNN về lễ hội truyền thống là quá trình nhà nước sử dụng các công cụ như chính sách, luật pháp, bộ máy và các nguồn lực khác để kiểm soát hay can thiệp vào các hoạt động lễ hội nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống trong lễ hội
Khái niệm QLNN về lễ hội truyền thống được hiểu trên hai bình diện: Thứ nhất, QLNN đối với các hoạt động lễ hội: Đó là việc nghiên cứu xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống chính sách và luật pháp có liên quan và các can thiệp bằng hệ thống công cụ cơ bản này của cơ quan hữu trách nhằm các mục tiêu phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như hệ thống pháp luật hiện hành, bảo đảm các lợi ích văn hóa của công dân, cộng đồng
và quốc gia dân tộc
Thứ hai, QLNN về lễ hội đáp ứng các yêu cầu phát triển: Được hiểu như
sự huy động, sự tổ chức và điều hành các nguồn lực nhằm tôn vinh và phát triển các giá trị vốn có trong lễ hội truyền thống lên một tầm thức mới, phù hợp với các nhu cầu văn hóa - kinh tế - xã hội của cộng đồng, địa phương, đất nước Nói cách khác, là việc QLNN về lễ hội truyền thống nhằm mục tiêu lợi ích công cộng hay mục tiêu lợi nhuận hoặc cả hai đặt trong bối cảnh hiện tại cũng như xu hướng phát triển của đất nước
Như vậy, QLNN về lễ hội truyền thống là công việc của Nhà nước và các chủ thể khác được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển KT-XH của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung [30, tr.12]
Chủ thể và khách thể QLNN về lễ hội truyền thống:
Trang 25Chủ thể quản lý là các cơ quan QLNN về lễ hội truyền thống ở trung ương và địa phương Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài ở cấp huyện thì chủ thể QLNN ở đây gồm UBND huyện và Phòng Văn hoá và Thông tin
Khách thể quản lý bao gồm: người quản lý; người tham dự lễ hội truyền thống; cơ sở vật chất như di tích, nguồn tài chính; cơ sở hạ tầng như đường giao
thông, điện, nước,…
* Đặc điểm QLNN về lễ hội truyền thống
Thứ nhất, QLNN về lễ hội truyền thống gắn với thời gian mở hội nên
thường diễn ra theo mùa vụ Các lễ hội chủ yếu tổ chức vào mùa xuân, một số ít
tổ chức vào mùa thu Do vậy yếu tố mùa vụ của lễ hội sẽ chi phối lớn đến các thiết chế phục vụ hoạt động lễ hội Công tác QLNN trong dịp này cần tăng cường siết chặt ngay từ công tác chuẩn bị lễ hội (cơ sở vật chất, các dịch vụ, công tác tổ chức lễ hội, ) và trong suốt quá trình diễn ra hoạt động lễ hội để đảm bảo lễ hội diễn ra an toàn, không có các biểu hiện vi phạm pháp luật, đáp ứng nhu cầu tâm linh và vui chơi của người dân
Thứ hai, QLNN về lễ hội truyền thống gắn với du lịch lễ hội, gắn với
không gian, thời gian và địa điểm nhất định Chẳng hạn Lễ hội đền Trần diễn ra một lần vào dịp tháng 1 âm lịch hàng năm tại Hưng Hà; Lễ hội chùa Keo lại diễn ra hai lần trong năm, lễ hội mùa xuân vào mùng 4-1 âm lịch, còn lễ hội mùa thu vào tháng 9 âm lịch,… Như vậy yêu cầu công tác QLNN về lễ hội phải nắm bắt rõ thời gian, địa điểm và các hoạt động văn hóa đặc trưng các nội dung chính của lễ hội để quản lý đúng hướng và có hiệu quả Chẳng hạn muốn kiểm tra công tác lễ hội Đền Tiên La thì phải đến đúng dịp lễ hội là tháng 3 âm lịch, không thể đến vào tháng 7 âm lịch như vậy là không đạt hiệu quả quản lý
Thứ ba, QLNN về lễ hội truyền thống là một hình thức quản lý sâu sắc,
vừa có ý nghĩa lịch sử vừa mang giá trị đương đại độc đáo Lễ hội là sản phẩm của lịch sử, với chức năng phản ánh thì lễ hội phản ánh lịch sử bằng hình ảnh, sự kiện mang tính nghệ thuật hóa, biểu tượng hóa Điển hình là lễ hội có đề tài lịch
sử với các nghi thức tôn thờ các vị anh hùng dựng nước thường diễn lại các chiến công của người anh hùng theo truyền thuyết Về mặt hình thức thì các hoạt
Trang 26động lễ hội truyền thống đều được xây dựng mang tính tượng trưng, biểu tượng mang tính thiêng liêng và được nghi thức hóa, nghệ thuật hóa, các nghi thức được quy định chặt chẽ và có tính nghệ thuật là yêu cầu của lễ hội, các yếu tố này “đẩy lễ hội trên đỉnh điểm của giá trị, giá trị về thẩm mỹ, về lý tưởng sống, thể hiện trong nội dung của lễ hội, muốn coi như mẫu hình cho cuộc sống ngày thường, mọi người phải nhớ và noi theo” [40, tr.125] Lễ hội truyền thống luôn chứa đựng yếu tố nhân văn, giá trị lịch sử, qua lễ hội các nét đặc trưng văn hóa, phong tục tập quán của một cộng đồng, một dân tộc được chứa đựng trong đó rất phong phú, đa dạng Đặc điểm về tính đa dạng về đề tài lễ hội và ý nghĩa lịch
sử, giá trị nghệ thuật, tính tượng trưng của lễ hội quy định đặc điểm riêng biệt của QLNN về lễ hội truyền thống
Thứ tư, QLNN về lễ hội truyền thống có quan hệ chặt chẽ với quản lý hệ
thống các di tích và các công trình kiến trúc nghệ thuật Di tích và lễ hội chính là nguyên liệu gốc sản sinh ra các điểm du lịch lễ hội, trong đó lễ hội và hệ thống
di tích thường gắn kết chặt chẽ với nhau Các lễ hội truyền thống của người Việt thường được diễn ra ở Chùa, Đình, Đền,… “Ở đồng bằng Bắc bộ gần như hình thành một quy luật là chỉ có lễ hội gắn với những nhân vật lịch sử, những sự kiện, di tích lịch sử thì lễ hội đó mới bền chắc và phát triển rộng ra ngoài tầm của một làng, một vùng, đạt tới tính chất quốc gia” [32, tr.327] Các hệ thống kiến trúc của Đình, Đền, Chùa, các di tích lịch sử gắn với những sự kiện, những nhân vật thờ tự là phần vật thể Còn lễ hội tại các di tích ấy mới là phần hồn, phần phi vật thể chứa đựng văn hóa lịch sử Do vậy để QLNN về lễ hội truyền thống tốt thì bên cạnh việc bảo tồn các giá trị văn hóa lễ hội còn cần phải bảo
tồn các di tích nhằm đảm bảo tính nguyên bản của nó
* Nguyên tắc quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
Nguyên tắc là những điều cơ bản được định ra bắt nguồn từ cơ sở khoa học được xác định dựa trên quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
mà con người cần tuân thủ để đạt mục đích Nói cách khác, thực hiện nguyên tắc
là sự tuân thủ các quy luật khách quan khi tác động, điều khiển đến đối tượng quản lý
Trang 27Nguyên tắc quản lý lễ hội truyền thống là các quy tắc, chuẩn mực mang tính chỉ đạo hoạt động quản lý lễ hội, phản ánh quy luật của các hệ thống quản
lý lễ hội mà nhà quản lý phải tuân thủ để đạt mục tiêu quản lý lễ hội
+ Nguyên tắc quản lý lễ hội truyền thống phải trên quan điểm xây dựng nền văn hóa của Đảng
Quan điểm của Đảng hướng đến mục tiêu xây dựng “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm cốt lõi; xây dựng con người XHCN phát triển toàn diện, có lối sống “mình vì mọi người, mọi người vì mình” và trung thành với lý tưởng “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”
Trên cơ sở quan điểm xây dựng nền văn hóa của Đảng, QLNN về lễ hội truyền thống phải đảm bảo nghi lễ được tiến hành trang trọng, trên cơ sở bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, loại bỏ hoặc thay thế những tập tục không còn phù hợp Phần hội đảm bảo vui tươi, lành mạnh, đa dạng về hình thức, phù hợp với quy mô tính chất, đặc điểm của lễ hội; khuyến khích tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống Tổ chức, cá nhân, khi tổ chức hoặc tham gia lễ hội, có trách nhiệm thực hiện các quy định về nếp sống văn minh trong lễ hội
Khi vận dụng nguyên tắc này cần tăng cường tuyên truyền giáo dục đường lối, quan điểm của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền thống văn hóa dân tộc, giá trị lễ hội truyền thống cho cán bộ quản lý nói riêng, nhân dân nói chung Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò của tổ chức Đảng, trong các cơ quan văn hóa và các hoạt động văn hóa, đồng thời kiện toàn cơ quan tham mưu giúp cấp ủy lãnh đạo lễ hội từ trung ương đến địa phương
+ Nguyên tắc quản lý lễ hội truyền thống phát huy vai trò làm chủ của nhân dân
QLNN về lễ hội truyền thống phát huy vai trò làm chủ của nhân dân là nguyên tắc yêu cầu quản lý lễ hội phải gắn bó thiết thực với đời sống nhân dân, xuất phát từ nhu cầu, phù hợp nguyện vọng và cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân
Trang 28Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý lễ hội phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước Bên cạnh đó phát huy vai trò các đoàn thể chính trị xã hội, các hội sáng tạo, các cộng đồng dân cư trong việc thực hiện nhiệm vụ của lễ hội và bảo vệ quyền lợi của nhân dân trong sáng tạo
và hưởng thụ giá trị của lễ hội phù hợp với pháp luật
Vận dụng nguyên tắc này cần chú ý phát huy có hiệu quả sự tự quản của nhân dân trong hoạt động lễ hội; khuyến khích đông đảo nhân dân tham gia hoạt động sáng tạo trong văn hóa nói chung và trong lễ hội nói riêng; lấy việc đáp ứng nhu cầu lợi ích đa số nhân dân làm căn cứ cho việc ban hành và thực thi các quyết định quản lý lễ hội
+ Nguyên tắc khách quan, công bằng trong quản lý lễ hội truyền thống
Nguyên tắc khách quan, công bằng trong quản lý lễ hội truyền thống là nguyên tắc đòi hỏi quản lý các hoạt động lễ hội phải dựa trên các quy luật khách quan và đảm bảo tính công bằng để đạt mục tiêu
Quản lý các hoạt động lễ hội dựa trên các quy luật khách quan là đảm bảo các hoạt động lễ hội được xem xét một cách khách quan theo các khuynh hướng phát triển, các mối quan hệ biện chứng và các quy luật vận động của nó trong đời sống xã hội
Nguyên tắc này đòi hỏi mọi người được bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm trong sáng tạo và hưởng thụ các thành quả, giá trị lễ hội, tôn trọng các cách thức thể hiện, quan niệm, phong cách và cá tính của người sáng tạo và người thưởng thức, hưởng thụ giá trị lễ hội Chủ thể quản lý cần nắm vững tính quy luật khách quan để đánh giá khách quan, trung thực các hiện tượng độc đáo, riêng biệt dựa trên hệ thống các giá trị lễ hội chung, tránh thiên kiến, quy chụp ý kiến chủ quan cá nhân đảm bảo tính khách quan và công bằng
Khi vận dụng nguyên tắc này cần chú ý tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển nền văn hóa tiên tiến nhưng vẫn mang đậm bản sắc dân tộc
+ Nguyên tắc quản lý lễ hội bằng pháp luật
Trang 29Nguyên tắc quản lý lễ hội bằng pháp luật là nguyên tắc quản lý các hoạt động lễ hội phải phù hợp pháp luật hiện hành của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nguyên tắc này đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật đầy đủ làm hành lang pháp lý, mọi tổ chức, mọi cơ quan quản lý và mọi cá nhân hoạt động trên lĩnh vực lễ hội phải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mình đồng thời chống sự tùy tiện, đứng ngoài và đứng trên pháp luật
Khi vận dụng nguyên tắc này cần chú ý trân trọng tính đặc thù, tinh tế, nhạy cảm của lễ hội; coi trọng giáo dục, thuyết phục hơn là cảnh cáo, gò ép, cấm đoán, cưỡng chế trong quản lý văn hóa
+ Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả trong xã hội hóa hoạt động lễ hội
Đảm bảo tính hiệu quả trong xã hội hóa hoạt động lễ hội là nguyên tắc huy động mọi tiềm năng góp phần phát triển lễ hội trong xã hội để quá trình quản lý đạt hiệu quả cao nhất
Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải có quan điểm hiệu quả đúng đắn, từ đó mà ra quyết định quản lý tối ưu nhằm tạo được các thành quả có lợi nhất cho phát triển văn hóa Có nghĩa là, hiệu quả phải xem xét trong mối tương quan giữa kết quả đạt được so với mục tiêu và chi phí cho các hoạt động lễ hội Kết quả đạt được có thể là vật chất hoặc tinh thần nhưng trong lễ hội cần quan tâm, coi trọng các kết quả về mặt tinh thần nhiều hơn
Khi vận dụng nguyên tắc này cần chú ý tránh đề cao quá mức sự đóng góp của nhân dân đồng thời tránh tình trạng Nhà nước đầu tư dàn trải, bình quân
về lễ hội
* Khung pháp lý quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
Quốc hội (2001), Luật Di sản văn hoá số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001; sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009 Luật quy định về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, trong đó có các lễ hội truyền thống
Trang 30Quốc hội (2016), Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo số 02/2016/QH14 ngày 18/11/2016 Một số lễ hội truyền thống có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, do
đó, các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng ảnh hưởng đến việc quản
lý các lễ hội này, đặc biệt là các hoạt động mang tính nghi lễ, tín ngưỡng
Chính phủ (2018), Nghị định 110/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 quy định
về quản lý và tổ chức lễ hội Nghị định này quy định về quản lý và tổ chức lễ hội trên lãnh thổ Việt Nam Về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục đăng ký hoặc thông báo việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng được thực hiện theo quy định của pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2023), Công văn số VHCS ngày 12/9/2023 về việc tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội
3811/BVHTTDL-Bộ Tài chính (2023), Thông tư số 04/2023/TT-BTC ngày 19/01/2023 hướng dẫn quản lý, thu chi tài chính cho công tác tổ chức lễ hội và tiền công đức, tài trợ cho di tích và hoạt động lễ hội
1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
Lễ hội là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta có hàng ngàn năm lịch sử, từ thời khai sinh, lập địa Lễ hội thể hiện lòng tri ân của nhân dân với truyền thống chung của dân tộc, ôn lại lịch sử và ghi nhận công đức của các bậc tiền nhân đã
có công dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử Lễ hội còn mang truyền thống đặc trưng, phản ánh những nét đẹp văn hóa, tính nhân văn mà mỗi dân tộc, tôn giáo, vùng miền vốn có Lễ hội còn mang tính giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống, giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương, tự hào dân tộc, xây dựng tinh thần đoàn kết trong cộng đồng Đến với lễ hội mọi người còn được tham dự các trò chơi giải trí, các chương trình liên hoan văn nghệ, giải toả tư tưởng và tâm linh, nhắc nhở mọi người phải sống sao có tâm, có đức, cầu mong cho đất nước được bình an, bản thân và gia đình được may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống, nhắc nhở mọi người sống phải có ý thức văn hóa, có trách nhiệm với những người ở xung quanh ta, với địa phương
và đất nước Vì vậy, lễ hội có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đạo đức lối sống của mỗi người
Trang 31Lễ hội ở nước ta rất đa dạng và phong phú Tuỳ theo các dân tộc, các vùng miền, đặc trưng riêng của mỗi địa phương, mỗi nơi có nội dung và cách tổ chức lễ hội khác nhau, nhưng tựu chung bao giờ trong lễ hội cũng có hai phần: phần lễ và phần hội, phần lễ là lý do tổ chức lễ hội, ôn lại truyền thống lịch sử, công lao của các bậc tiền nhân (bao gồm: lễ thánh, lễ thần, lễ phật, lễ các danh nhân mà địa phương thờ phụng,…) Nhiều nơi gắn tế với lễ bằng những hình thức khác nhau như dâng hương, dâng lễ vật, đồ thờ phụng, vàng, mã Tổ chức phần lễ thường do chính quyền địa phương, ban quản lý lễ hội, hoặc dòng họ, hoặc đại diện những người có chức sắc, có uy tín, già làng, trưởng bản tham gia ban tổ chức Phần hội, dưới sự điều hành của người chủ lễ, tổ chức những trò chơi dân gian, đặc trưng của dân tộc, vùng miền, địa phương Gắn với các trò chơi dân gian trong phần hội còn có những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, lao động sản xuất, sinh hoạt và đời sống truyền thống của địa phương
Mỗi lễ hội có những nét đặc thù riêng và cách tổ chức khác nhau, nhưng mục đích chung của lễ hội ở nước ta đều dựa trên những nguyên tắc chung và ý nguyện của mỗi người dân, bảo đảm nét văn hóa truyền thống dân tộc và của địa phương, ghi nhận công lao và học tập truyền thống của các bậc tiền nhân trong lịch sử, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước nói chung, địa phương nói riêng, cầu mong cho dân giàu, nước thịnh, cá nhân và gia đình những điều tốt lành và hạnh phúc
Bên cạnh những giá trị tích cực cần phát huy, những nét đẹp văn hóa cần lưu giữ nói trên, lễ hội còn nhiều vấn đề tồn tại cần giải quyết Đó là:
Lễ hội tổ chức quá nhiều, tràn lan, thiếu kiểm soát, lãng phí tiền của, ngày giờ lao động Có hàng vạn người không làm việc đi chơi lễ hội, có nhiều cơ quan tổ chức cả tập thể đi lễ hội, cá nhân phải đóng góp thuê phương tiện giao thông, tiền ăn nghỉ, tiền lễ Có người đi từ miền Bắc vào miền Nam, ngược lại từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng lên miền núi để dự lễ hội, hiện tượng đốt hương khói, vàng mã, sắm lễ, tiền mua thẻ, mua dấu ấn, tiền phúng viếng, tiền giọt dầu vứt la liệt ở tượng phật, giếng, sân của di tích gây lãng phí, tốn kém Điều đáng nói là một số lễ hội tổ chức quy mô quá lớn, thời gian kéo dài, mạnh địa phương nào
Trang 32địa phương đó tổ chức, thiếu sự điều hành và quản lý của cấp uỷ và chính quyền địa phương
Các hiện tượng trong một số lễ hội như "chém lợn", "đâm trâu", "treo đầu trâu", "cướp lộc", gây nhiều tranh luận, bức xúc trong dư luận xã hội Những hình ảnh bất cập và phản cảm trong một số lễ hội trong thời gian qua đã làm méo mó, xấu đi nét đẹp văn hoá truyền thống dân tộc Đã có nhiều bài báo (kể
cả báo viết và báo mạng), đài truyền thanh và truyền hình phê phán gay gắt, nhưng những hiện tượng bất cập vẫn không giảm Ở một số lễ hội còn xảy ra hiện tượng bạo lực, đánh nhau, trộm cắp, khiến dư luận bức xúc, những hiện tượng mê tín, dị đoan, đồng bóng, bói toán, xin quẻ, tử vi, lá số diễn ra ở nhiều nơi, có nơi đồng bóng thâu đêm, tung tiền, tranh cướp lộc gây mất trật tự nơi thờ
tự Tệ cờ bạc, rượu chè, lợi dụng để thu tiền bất chính cho một số người diễn ra khá phổ biến
Việc tổ chức các hoạt động dịch vụ phục vụ các lễ hội còn yếu kém, hàng quán trong lễ hội bán tràn lan, giá cả tuỳ tiện buộc người đi lễ hội phải mua Việc đổi và sử dụng tiền lẻ diễn ra công khai, tiền lễ, tiền giọt dầu đặt không đúng nơi quy định, tiền công đức, đóng góp của nhân dân ở một số lễ hội chưa được quản lý chặt chẽ và công khai đã gây thắc mắc khiếu kiện của nhân dân ở một số nơi
Từ tình hình thực tế trên, để đưa hoạt động lễ hội vào nền nếp bảo đảm việc tham gia lễ hội của người dân, giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc, lễ hội thực sự văn minh, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả và thiết thực là đòi hỏi sự cần thiết của QLNN về lễ hội truyền thống
QLNN về lễ hội truyền thống góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của lễ hội truyền thống Trong những năm qua công tác quản lý lễ hội truyền thống hướng đến mục đích: vừa giữ gìn phát triển những nét đẹp văn hóa truyền thống, vừa kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố hiện đại, phát huy tác dụng tích cực của lễ hội, nêu cao ý nghĩa giáo dục truyền thống Lễ hội đáp ứng một cách thiết thực, hiệu quả đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh của nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ các hoạt động hội, bảo tồn và phát huy
Trang 33các giá trị văn hóa của các vùng, miền, dân tộc, tri ân công đức các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, các bậc tiền bối đã có công dựng nước và giữ nước, đấu tranh giải phóng dân tộc Qua sinh hoạt lễ hội, nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo văn hóa, tạo sự chuyển biến nhận thức biết ơn quá khứ, uống nước nhớ nguồn, giáo dục giá trị chân, thiện, mỹ cho nhân dân Văn hóa dân tộc được bảo tồn và hòa vào dòng chảy chung của văn hóa nhân loại Nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc được bảo lưu, tạo nền tảng vững chắc cho văn hóa có sức đề kháng chống lại sự xâm lăng của văn hóa ngoại lai Việc tổ chức có hiệu quả các hoạt động lễ hội đã có tác dụng khai thác tiềm năng du lịch, một nguồn thu rất lớn bổ sung cho nguồn thu ngân sách quốc gia Qua các lễ hội, chúng ta giao lưu với các nền văn hóa trong khu vực và thế giới, làm đậm đà hơn bản sắc dân tộc
QLNN về lễ hội truyền thống góp phần hoàn thiện bộ máy tổ chức nhân
sự trong lĩnh vực văn hóa, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức văn hóa, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ về mặt tinh thần của nhân dân
1.3 Nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống 1.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
1.3.1.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về hoạt động lễ hội truyền thống
Muốn quản lý tốt lễ hội truyền thống, trước hết phải xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về quản lý hoạt động lễ hội truyền thống nhằm đưa ra những bước đi tổng thể mang tính khách quan và được xác định trong một thời gian dài nhằm bảo tồn, phát huy giá trị hoạt động lễ hội truyền thống trong phạm vi khu vực, địa phương, vùng miền và trong cả nước để quản lý một cách hợp lý, hiệu quả
Kế hoạch quản lý hoạt động lễ hội là một khâu quan trọng và là khâu đầu tiên của quá trình quản lý Kế hoạch không chỉ xác định mục tiêu mà còn xác định phương hướng, giải pháp để quản lý hiệu quả hoạt động lễ hội truyền thống
Trang 34Việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chính sách về hoạt động lễ hội truyền thống mang tính định hướng chỉ đạo của cơ quan QLNN về lễ hội và phải phù hợp với quy luật phát triển của xã hội Tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống không phải đơn thuần là sự hoài cổ, mà còn phải tính đến sự phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý là tạo điều kiện cho hoạt động lễ hội truyền thống phát triển đi
cùng thời đại, nhưng trên nền sự tích lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc
1.3.1.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
về quản lý hoạt động lễ hội truyền thống
Để quản lý tốt đối với hoạt động lễ hội truyền thống cần phải ban hành các văn bản pháp luật về quản lý lễ hội, đó là công cụ, phương tiện để các chủ thể quản lý hướng dẫn và điều chỉnh các hành vi, hoạt động quản lý, bảo tồn lễ hội truyền thống đi đúng quỹ đạo, đòi hỏi các tổ chức, cá nhân trong quá trình quản lý, bảo tồn lễ hội truyền thống, cũng như cơ quan Nhà nước khi thực hiện các hoạt động quản lý phải thực hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động lễ hội truyền thống phải tính tới tiềm năng, yêu cầu, mục đích của từng hoạt động cụ thể trong mối quan hệ với sự phát triển KT-XH ở từng địa bàn nhất định để đảm bảo phát triển bền vững Khi ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động lễ hội nhất thiết phải được gắn với quy hoạch phát triển KT-XH ở từng địa bàn nhất định để đảm bảo phát triển bền vững, đặc biệt gắn với quy hoạch phát triển của các lĩnh vực khác như du lịch, giao thông, phát triển hạ tầng,… Bởi chỉ có như vậy, chủ thể quản
lý mới có thể thấy hết mục đích khác nhau của quản lý hoạt động lễ hội, thấy được những ưu tiên cho phát triển, các nguồn lực bên ngoài cũng như bên trong
và dự đoán trước những thay đổi không chỉ trong lĩnh vực văn hóa mà còn cả những lĩnh vực xã hội khác
Bên cạnh đó, tăng cường QLNN về lễ hội truyền thống bằng cách hoàn thiện các thể chế luật pháp, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, chủ thể
Trang 35quản lý mới có thể có những chế tài phù hợp, không gây tranh cãi để xử lý các
vi phạm xảy ra và tôn vinh những hoạt động bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị
văn hóa lễ hội
1.3.1.3 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lễ hội truyền thống
Để nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội truyền thống thì cần coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lễ hội truyền thống Mục đích tuyên truyền là nhằm nâng cao, thay đổi nhận thức của các tầng lớp nhân dân, cán bộ, người tham gia vào hoạt động lễ hội nhằm thay đổi thái độ, ý thức, hành động trong bảo vệ, phát triển các giá trị lễ hội truyền thống
Tuyên truyền về lễ hội truyền thống gồm có các nội dung sau:
- Tuyên truyền về ý nghĩa và giá trị của lễ hội, những nét đẹp văn hóa truyền thống trong hoạt động lễ hội, các phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương và dân tộc để giáo dục truyền thống nhằm nâng cao nhận thức của các cơ quan, ban ngành và người dân thực hiện nếp sống văn minh khi tham gia
lễ hội
- Tuyên truyền các văn bản chính sách QLNN về lễ hội truyền thống Đặc biệt là các văn bản liên quan đến các hoạt động kinh doanh, thực hiện nếp sống
văn minh bài trừ mê tín dị đoan, giữ gìn vệ sinh môi trường cảnh quan lễ hội
1.3.1.4 Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức QLNN về lễ hội truyền thống
“Bộ máy quản lý là hình thức tổ chức thể hiện hoạt động của các quan hệ quản lý, bao hàm các tổ chức thực hiện quản lý trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người, phù hợp với những yêu cầu của xã hội.” [43; tr.12]
Tổ chức bộ máy QLNN về lễ hội truyền thống nhằm phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cơ quan chuyên môn và các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội có trách nhiệm liên quan trong bảo tồn và quản lý lễ hội truyền thống, phân công và phân trách nhiệm rõ ràng
Cơ quan QLNN về lễ hội truyền thống bao gồm: Chính phủ, Bộ VH, TT&DL, Hội đồng di sản văn hóa cấp quốc gia (cấp trung ương) và UBND các
Trang 36cấp, sở VH, TT&DL, phòng Văn hóa - thông tin, ban quản lý di tích các cấp (cấp địa phương)
Bên cạnh công tác tổ chức bộ máy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội truyền thống Có thể nói, việc tổ chức bộ máy QLNN về lễ hội truyền thống nhằm tạo sự tập trung thống nhất giữa các cơ quan quản lý, đảm bảo chính sách của Nhà nước được thực hiện trong thực tế một cách có hiệu quả Để bộ máy hoạt động có hiệu quả thì cần phải có những con người có năng lực, phẩm chất,
có trình độ chuyên môn và có những kĩ năng cần thiết của người quản lý
1.3.1.5 Đầu tư các nguồn lực QLNN về lễ hội truyền thống
Nguồn lực cho QLNN về lễ hội truyền thống bao gồm nguồn lực về vật chất và nguồn lực về con người Đầu tư nguồn lực tốt thì nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội
Nguồn lực vật chất được huy động từ nguồn ngân sách nhà nước, các nguồn vốn tài trợ từ nước ngoài, các quỹ phát triển văn hóa của các tổ chức phi chính phủ và đặc biệt là từ nguồn vốn xã hội hóa Đầu tư vật chất cho lễ hội không chỉ thu về những giá trị vật chất thông thường mà bên cạnh đó còn là những giá trị phi vật chất như bảo tồn các di sản, nét đẹp văn hóa, truyền thống
và đặc biệt là góp phần giáo dục thế hệ trẻ
Nguồn lực con người là trung tâm để phát triển văn hóa Vì vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy nghiên cứu lễ hội, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế là một trong những chính sách quan trọng để tăng nguồn lực cho hoạt động văn hóa Với quan điểm này, thời gian nhà nước đã thực hiện chính sách ưu đãi để thu hút cán bộ trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa; dành nguồn kinh phí đáng kể để thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ làm công tác văn hóa, nhất là cán bộ quản lý lễ hội
1.3.1.6 Thanh tra, kiểm tra, đánh giá hoạt động lễ hội truyền thống
Công tác thanh tra, kiểm tra gồm hai nội dung cơ bản: Một là, việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; Hai là, kiểm tra
Trang 37và xử lý nghiêm những sai phạm trong lĩnh vực tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện tiêu cực trong lễ hội
Tổng kết, đánh giá là việc làm cần thiết và bắt buộc sau khi lễ hội kết thúc trên các mặt của công tác QLNN về lễ hội truyền thống Ban tổ chức lễ hội đánh
giá kết quả, rút kinh nghiệm và báo cáo bằng văn bản lên cơ quan cấp trên
1.3.2 Phương pháp quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
Phương pháp QLNN về lễ hội truyền thống là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của bộ máy QLNN về lễ hội truyền thống, cách thức tác động của các cơ quan QLNN về lễ hội truyền thống ở trung ương và địa phương lên người tham dự lễ hội truyền thống; cơ sở vật chất như di tích, nguồn tài chính; cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, nước,… nhằm đạt được những
hành vi xử sự cần thiết
1.3.2.1 Phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục trong QLNN về lễ hội truyền thống là cách thức tác động của chủ thể quản lý bằng các yếu tố tâm lý và tình cảm tới đối tượng nhằm biến những yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu lễ hội truyền thống của tổ chức, của xã hội thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu của đối tượng quản
lý Thực chất phương pháp giáo dục là khơi gợi tinh thần tự giác, chủ động của người bị quản lý, tạo ra bầu không khí cởi mở, tin cậy lẫn nhau trong tổ chức nhằm phát huy tiềm năng của mỗi người trong việc sáng tạo, giữ gìn và hưởng thụ các giá trị lễ hội truyền thống
Để thực hiện phương pháp giáo dục hiệu quả, người quản lý lễ hội truyền thống phải là người có uy tín trong tổ chức, trình độ chuyên môn vững, mẫu mực trong cuộc sống, khả năng ứng xử linh hoạt, cởi mở lắng nghe ý kiến người khác, biết tập hợp quanh mình lực lượng cốt cán có uy tín Bên cạnh đó, cần xây dựng không khí lành mạnh trong tổ chức Người cán bộ quản lý phải hiểu tâm tư nguyện vọng các thành viên, lắng nghe ý kiến của họ, giao việc cho họ, tin tưởng khả năng của họ, giúp họ vượt qua những khó khăn, lựa chọn và bồi dưỡng cán bộ cốt cán, ủy quyền cho đội ngũ những người giúp việc Mặt khác,
Trang 38đối tượng giáo dục cũng cần có tính tự giác cao và có tinh thần xây dựng tập thể
tốt để cùng thực hiện mục tiêu lễ hội truyền thống
1.3.2.2 Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính trong QLNN về lễ hội truyền thống là phương pháp quản lý lễ hội truyền thống thông qua các quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị phù hợp với pháp luật hiện hành về lễ hội để dẫn dắt, bắt buộc đối tượng thực hiện mục tiêu quản lý
Để thực hiện phương pháp này có hiệu quả, trước hết văn bản quản lý lễ hội phải chính xác, khoa học,… gắn với thẩm quyền của các cấp quản lý Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng thủ tục, trình tự luật định Các văn bản đó là sự thể chế hóa mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chiến lược của Nhà nước Người quản lý phải có đủ quyền
uy để chỉ thị, mệnh lệnh của mình vừa có tính thuyết phục vừa có tính bắt buộc đối tượng thực hiện; mệnh lệnh, chỉ thị mang tính khách quan, khoa học, rõ ràng, khả thi Mặt khác, cơ quan quản lý lễ hội truyền thống cần định kỳ tổ chức kiểm tra hoặc kiểm tra đột xuất việc thực hiện các quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị
về lễ hội đó ban hành
1.3.2.3 Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế trong quản lý văn hóa là sự tác động của chủ thể tới đối tượng quản lý bằng cơ chế kích thích, ràng buộc lợi ích vật chất để họ nỗ lực, cố gắng tham gia các công việc chung và thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực lễ hội
Để áp dụng các phương pháp kinh tế vào quản lý lễ hội truyền thống có hiệu quả, Nhà nước cần phải hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ thị trường; thực hiện việc phân cấp quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho cấp dưới Sử dụng phương pháp kinh tế trong quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho cấp dưới Sử dụng phương pháp kinh tế trong quản lý lễ hội truyền thống đòi hỏi cán bộ quản lý phải có năng lực trình độ nhiều mặt: kiến thức văn hóa, kinh tế, luật pháp,… cũng như đạo đức
Trang 39nghề nghiệp Nên kết hợp chặt chẽ và tương xứng phương pháp kinh tế với cách
động viên về tinh thần
1.3.2.4 Sử dụng tổng hợp các phương pháp
Để nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội truyền thống, các chủ thể quản lý phải vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý và căn cứ vào điều kiện, yêu cầu cụ thể trong từng giai đoạn với từng đối tượng và tình huống quản lý mà chọn phương pháp chủ động và các phương pháp bổ trợ, phù hợp trên cơ sở bảo đảm tính khách quan, tính khả thi và tính toàn diện
Trang 40Tiểu kết chương 1
Lễ hội truyền thống có những vai trò nhất định trong sinh hoạt văn hóa của người dân, cũng như có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của cả nước QLNN về lễ hội truyền thống là hoạt động đa dạng và phức tạp, được tiến hành bởi nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau trong bộ máy Nhà nước - đồng thời có sự huy động sức mạnh của các chủ thể khác nhau trong toàn xã hội tham gia nhằm giữ gìn, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc, vùng miền thông qua sinh hoạt cộng đồng dân cư đặc trưng, liên quan đến sự kiện hoặc nhân vật nào đó được quần chúng suy tôn
Quản lý nhà nước đối với lễ hội đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý lễ hội
sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hoá quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc Trên phương diện vi mô, hoạt động quản lý lễ hội trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tuỳ tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa Hoạt động quản lý lễ hội thời gian qua góp phần vào đảm bảo định hướng lớn của Đảng trong việc “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Trong chương 1 tác giả đã phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về lễ hội truyền thống và quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống; sự cần thiết quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống; nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống Từ đó là cơ sở để đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình