Ngành: Tâm lý học Chuyên ngành: Tâm Lý Học - Giáo dục Họ và tên học viên: Hồ Thị Yến Tuyền Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Hồ Thị Thuý Hằng Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm –
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ THỊ YẾN TUYỀN
CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TRƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO,
THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
ĐỀ ÁN THẠC SĨ NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
Đà Nẵng - Năm 2024
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ THỊ YẾN TUYỀN
CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TRƯỜNG TRẦN HƯNG ĐẠO,
THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài đề án này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quý Thầy,
Cô trong khoa Tâm lý giáo dục – Trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng, đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn TS Hồ Thị Thúy Hằng, người đã tận tính
dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tiến
hành nghiên cứu thực hiện đề án và đóng góp những ý kiến quan trọng giúp đỡ tôi
hoàn thành đề án này
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể cán bộ trường, các
Thầy, cô giáo và các bạn học sinh Trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và thực hiện đề án Đó là những
người đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu thực
tiễn, giúp tôi có được những dữ liệu, số liệu quan trọng để góp phần vào việc hoàn
thành đề án này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người bạn và người thân
trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp tôi có thể hoàn
thành đề án của mình
Trong quá trình nghiên cứu, đề án của tôi còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận
được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các Thầy, Cô giáo để đề án của tôi
được hoàn thiện hơn Một lần nữa, tôi xin trân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 10 năm 2024
Trang 5
TRANG THÔNG TIN ĐỀ ÁN THẠC SĨ Tên đề tài: Chương trình nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh
Trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Ngành: Tâm lý học
Chuyên ngành: Tâm Lý Học - Giáo dục
Họ và tên học viên: Hồ Thị Yến Tuyền
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Hồ Thị Thuý Hằng
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt: Đề án “Chương trình nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh
Trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã đưa lại những kết quả ý nghĩa thực tiễn trong việc thay đổi nhận thức và cách ứng phó của học sinh đối với stress Quá trình ứng dụng chương trình được triển khai thông qua các buổi tập huấn, rèn luyện kỹ năng ứng phó với mục tiêu nâng cao kỹ năng ứng phó cho học sinh khi đối diện với các tình huống gây ra stress Kết quả thu được đã chứng minh được sự thay đổi trong các cách ứng phó của học sinh, đặc biệt, học sinh đã xác định và lựa chọn được cách ứng phó chủ đạo khi đối diện với các tình huống gây ra stress trong hoạt động hoạt tập và cuộc sống Cụ thể nhóm ứng phó tích cực như cấu trúc lại nhận thức; tìm kiếm
hỗ trợ xã hội; giải quyết vấn đề luôn được các em lựa chọn là cách ứng phó ưu tiên khi đối với stress Đề án có ba đóng góp mới nổi bật: Thứ nhất, đề xuất một mô hình giáo dục kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh trung học phổ thông với ba nội dung chính: (1) Kỹ năng nhận diện biểu hiện, nguyên nhân và ảnh hưởng của stress; (2) Kỹ năng nhận diện và phân biệt hai nhóm ứng phó tích cực và tiêu cực - Kỹ năng xây dựng chiến lược ứng phó tích cực ; (3) Kỹ năng thực hiện chiến lược ứng phó tích cực với stress Mỗi nội dung được trình bày theo cấu trúc: giới thiệu tổng quát, mục tiêu học tập, giới thiệu nội dung, chuẩn bị học liệu và các hoạt động cụ thể giúp học sinh có thể hiểu và nắm rõ và dễ dàng trong suốt quá trình tham gia thực hiện, giúp cho các em nâng cao kiến thức, xây dựng kỹ năng trong việc lựa chọn và thực hiện các cách ứng phó hiệu quả Thứ hai, đề án áp dụng phương pháp triển khai đa dạng và sáng tạo với các hoạt động như trò chơi tương tác, thảo luận nhóm, thuyết trình, sắm vai, phù hợp với tâm lý độ tuổi học sinh từ đó thu hút sự tham gia tích cực và sáng tạo của học sinh, làm tăng hiệu quả và tính thực tiễn của chương trình Thứ ba, những đóng góp mới này đã giúp chương trình trở nên dễ thực hiện, linh hoạt và phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh THPT, tạo điều kiện cho chương trình có thể mở rộng ứng dụng tại các trường khác, nhằm giảm thiểu mức độ stress nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh.Về hướng nghiên cứu tiếp theo, để tối ưu hóa và phát triển hơn nữa hiệu quả của chương trình, các nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào ba hướng sau: Hướng thứ nhất là giáo dục ứng dụng các kỹ năng mềm như (quản lí thời gian, làm chủ bản thân, quản lí cảm xúc,…) để giúp các em hình thành kỹ năng quản lí stress trước hoàn cảnh gây
ra căng thẳng trong học tập và cuộc sống Hướng thứ 2 là là xây dựng và triển khai chương trình ứng phó với stress dựa trên hoạt động học tập cụ thể tại trường để đưa những biện
Trang 6pháp ứng phó cụ thể, hình thành kỹ năng vững chắc cho các em Hướng thứ ba là có các yếu tố tác động đến kỹ năng ứng phó với stress của học sinh như (các mối quan hệ xã hội, tinh thần lạc quan, bi qua, mức độ stress, …) của các em, việc xây dựng và phát triển chương trình hỗ trợ sát với đối tượng cũng xem là hướng gợi mở nghiên cứu tiếp theo để đưa lại kết quả cao hơn Những hướng nghiên cứu này không những góp phần cho nâng cao kỹ năng ứng phó với stress đối với học tập và cuộc sống mà còn tạo nền tảng vững chắc trong việc giáo dục, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe tinh thần mà còn các em trong bối cảnh hiện nay
Từ khóa: học sinh THPT, stress, kỹ năng, nâng cao kỹ năng ứng phó, chương trình
Trang 7INFORMATION PAGE OF MASTER THESIS Thesis Title: Program for enhancing stress coping skills for students at Tran Hung
Dao High School, My Tho City, Tien Giang Province
Field: Psychology
Specialization: Educational Psychology
Student: Ho Thi Yen Tuyen
Supervisor: Dr Ho Thi Thuy Hang
Institution: University of Education, Da Nang University
Abstract: Project “Program for enhancing stress coping skills for students at Tran
Hung Dao High School, My Tho City, Tien Giang Province” has brought about practical results in changing students' awareness and coping methods to stress The process of applying the program was implemented through training sessions, practicing coping skills with the goal of improving students' coping skills when facing stressful situations The results have demonstrated changes in students' coping methods, in particular, students have identified and chosen the main coping methods when facing stressful situations in their activities and life Specifically, the group of active coping methods such as cognitive restructuring; seeking social support; problem solving are always chosen by students as the priority coping methods when facing stress The research contributes to the field by proposing a comprehensive model for stress coping skills education, which includes: (1) Skills to identify the manifestations, causes and effects of stress; (2) Skills to identify and distinguish between two groups of positive and negative coping - Skills to build positive coping strategies; (3) Skills to implement positive coping strategies to stress Each content
is presented in the following structure: general introduction, learning objectives, content introduction, preparation of learning materials and specific activities so that students can understand and grasp clearly and easily during the implementation process, helping them improve their knowledge, build skills in choosing and implementing effective coping methods Second, the project applies diverse and creative implementation methods with activities such as interactive games, group discussions, presentations, role-playing, suitable for the psychology of students' ages, thereby attracting active and creative participation of students, increasing the effectiveness and practicality of the program Third, these new contributions have made the program easier to implement, flexible and suitable for the psychological characteristics of high school students, creating conditions for the program
to be expanded to other schools, in order to reduce stress levels and improve learning efficiency for students Regarding the next research direction, to optimize and further develop the effectiveness of the program, future studies can focus on the following three directions: The first direction is to educate the application of soft skills such as (time management, self-control, emotional management, .) to help students form stress management skills in stressful situations in study and life The second direction is to build and implement a stress response program based on specific learning activities at school to
Trang 8provide specific coping measures and form solid skills for students The third direction is
to have factors affecting students' stress coping skills such as (social relationships, optimism, pessimism, stress levels, .) of students, building and developing a support program close to the target is also considered a direction for further research to bring higher results These research directions not only contribute to improving stress coping skills for study and life but also create a solid foundation in education, raising awareness of
the importance of mental health and students in the current context
Keywords: high school students, stress, skills, stress coping skills, program
Trang 9MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Trang thông tin đề án Tiếng Việt iii
Trang thông tin đề án Tiếng Anh v
Mục lục vii
Danh mục các chữ viết tắt ix
Danh mục các bảng x
Danh mục các biểu đồ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đồ án 1
2 Giới thiệu về đề án 2
3 Mục tiêu đề án 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHƯƠNG TRÌNH 4
1.1 Cơ sở pháp lý 4
1.1.1 Quy định của pháp luật về hoạt động tâm lý tại trường 4
1.1.2 Quy định của nhà trường về hoạt động tâm lý tại trường 5
1.2 Cơ sở lý luận 7
1.2.1 Stress 7
1.2.2 Ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông 10
1.2.3 Lý luận về nâng cao kỹ năng ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông 13
1.2.4 Khái niệm chương trình 16
1.2.5 Khái niệm xây dựng chương trình 16
1.3 Cơ sở thực tiễn 17
1.3.1 Khái quát về khó khăn tâm lý của học sinh tại trường 17
1.3.2 Kết quả khảo sát thực tiễn 18
Chương 2 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRẦN HƯNG ĐẠO, THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG 20
2.1 Nội dung chương trình 20
Trang 102.1.1 Module - Nhận diện biểu hiện, nguyên nhân và ảnh hưởng của
stress 20
2.1.2 Module 2 - Nhận diện hai nhóm ứng phó tích cực và tiêu cực - 27
2.1.3 Module 3 - Kỹ năng thực hiện chiến lược ứng phó với stress 36
2.2 Cách thức thực hiện chương trình 43
2.3 Điều kiện thực hiện chương trình 44
2.3.1 Cơ sở vật chất 44
2.3.2 Người thực thiện 44
2.3.3 Đối tượng thực hiện 45
2.3.4 Phương tiện thực hiện 45
2.3.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả 45
Chương 3 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM CHƯƠNG TRÌNH 47
3.1 Kết quả thực nghiệm 47
3.1.1 Thực trạng ứng phó với stress của học sinh trước thực nghiệm 47
3.1.2 Thực trạng ứng phó với stress của học sinh sau thực nghiệm 50
3.1.3 So sánh thực trạng ứng phó với stress của học sinh trước và sau thực nghiệm 53
3.1.4 Thực trạng ứng phó với stress của học sinh qua bài tập tình huống .58
3.1.5 Sự khác biệt về cách ứng phó với stress của học sinh 60
3.1.6 Kiểm định tính hiệu quả của chương trình trước và sau thực nghiệm .63
3.1.7 Đánh giá của giáo viên về tính cần thiết và hiệu quả của chương trình .64
3.2 Khuyến nghị thực hiện chương trình 66
3.2.1 Đối với vấn đề nhân sự 66
3.2.2 Đối với các biện pháp triển khai thực hiện chương trình 66
3.2.3 Đối với người thực hiện chương trình 67
KẾT LUẬN 69 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
DANH MỤC PHỤ LỤC PL1
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Mức độ ứng phó với stress của học sinh trước thực nghiệm 48 Bảng 3.2: Bảng phân bố tần số mức độ ứng phó trước thực nghiệm 49
Bảng 3.14: Kiểm định về sự khác biệt về các cách ứng phó tiêu cực
trước và sau thực nghiệm
63
Bảng 3.15: Thực trạng đánh giá hiệu quả chương trình của chuyên gia,
giáo viên
64
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Sự thay đổi cách ứng phó trước và sau thực nghiệm của
học sinh
54
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đồ án
Stress ở học sinh trong các trường trung học phổ thông là một vấn đề khá phổ biến tồn tại hiện nay Vấn đề này gây ra ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe tinh thần, chất lượng học tập và cuộc sống của học sinh Thực tế hiện nay cho thấy, đã
có những trường hợp các em bị stress nặng, rối loạn tâm sinh lý thậm chí có thể dẫn đến tự tử Đa phần các trường hợp này đều thiếu kiến thức cũng như chưa có khả năng ứng phó tốt với stress trong cuộc sống
Học sinh trung học phổ thông là độ tuổi học sinh phải đối diện với nhiều áp lực, các em cần phải kết thúc chương trình học phổ thông, bước vào kỳ thi tốt nghiệp, chuẩn bị vào đại học để định hướng tương lai cho mình Bên cạnh những áp lực về học tập, các em phải chịu áp lực lớn trong các mối quan hệ với bạn bè, thầy
cô và cha mẹ Đây là những yếu tố chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng stress đối với học sinh trong giai đoạn này
Theo báo cáo về sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh ở Việt Nam, tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở Việt Nam từ 8% đến 29% đối với trẻ em và vị thành niên Trong một nghiên cứu ở 90 quốc gia, tỉ lệ tổng số ca tử vong ở vị thành niên là 2.3% (Blum và cộng sự, 2012) Học sinh khi đối mặt với stress có nhiều cách ứng phó khác nhau, đối với học sinh
có chiến lược ứng phó chủ động, tích cực dễ dàng vượt qua Ngược lại, học sinh không tìm được cách ứng phó phù hợp, tiêu cực sẽ đưa đến các biểu hiện khác như
lo âu, stress mức độ nặng, lạm dụng chất kích thích, thâm chí là tự tử Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những cách ứng phó thiếu thích ứng với stress của học sinh có mối liên hệ với nhiều vấn đề như kết quả học tập giảm sút (Struthers, Perry, & Menec, 2000); trầm cảm (Aktekin và c.s, 2001); lo âu (Renk & Eskola, 2007); rối loạn ăn uống (Wichianson và c.s, 2009); hay sử dụng đồ uống có cồn (Pritchard, Wilson, & Yamnitz, 2007) Ngược lại, với những chiến lược ứng phó chủ động và tích cực, học sinh có thể có mức độ mức độ stress thấp hơn (Coiro, Bettis, & Compas, 2017), ít lo âu hơn (Renk & Eskola, 2007), có khả năng thích ứng với môi trường cao hơn (Leong, Bonz, & Zachar, 1997), và sức khỏe thể chất tốt hơn (Park
& Adler, 2003)
Vấn đề ứng phó với stress đã được nghiên cứu, tìm hiểu khá nhiều trong tâm
lý học, tuy nhiên những nghiên cứu trên đối tượng học sinh trung học phổ thông thường chỉ tập trung vào tìm hiểu mức độ, biểu hiện và nguyên nhân gây ra stress;
Trang 15những nghiên cứu số ít về cách ứng phó trên đối tượng học sinh cũng chỉ dừng lại ở việc xác định được mối liên hệ giữa các cách ứng phó với những biến số về tâm lý, sinh lý, hay xã hội Vì thế, các biện pháp đề xuất còn thiếu thiết thực và không sát đối tượng (Robotham, 2008) Người viết nhận thấy chưa có bài nghiên cứu nào xây dựng chương trình cụ thể để nâng cao kỹ năng ứng phó cho đối tượng học sinh Nhận thấy việc hình thành kỹ năng ứng phó với stress nói riêng và nâng cao sức khỏe tâm thần nói chung đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của học sinh Trường học là môi trường có tác động lớn đến quá trình phát triển của trẻ trên tất cả các phương diện, từ nhận thức, hành vi, các mối quan hệ xã hội và cả sức khỏe thể chất Đặc biệt, đối với những trẻ có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trường học là cơ sở thuận lợi để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hơn là bệnh viện
Thông qua việc tìm hiểu thực trạng stress và các cách ứng phó với stress của học sinh từ đó đề xuất và xây dựng chương trình cụ thể chính là đóng góp trong việc giúp học sinh nâng cao kỹ năng ứng phó với stress một cách hiệu quả Xuất
phát từ những lí lo đó, “Chương trình nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho
học sinh Trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang” được chọn làm đề án nghiên cứu
2 Giới thiệu về đề án
Chương trình nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh Trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang là đề án được thiết kế dành riêng cho đối tượng học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 Trường THPT Trần Hưng Đạo, Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang
Chương trình “Nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh Trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo” là chương trình giáo dục nhằm cung cấp cho học sinh về kiến thức, kỹ năng bao gồm các nội dung như sau:
Nội dụng 1: Nhận diện biểu hiện, nguyên nhân và ảnh hưởng của stress Giúp học sinh nhận diện và hiểu rõ về stress bao gồm: biểu hiện của stress; nguyên nhân gây ra stress; ảnh hưởng của stress Nội dung tập trung giúp học sinh hiểu rõ
và nhận diện kịp thời để có thể đưa ra những phương án ứng phó phù hợp
Nội dung 2: Nhận diện và phân biệt hai nhóm ứng phó tích cực và tiêu cực -
Kỹ năng xây dựng chiến lược ứng phó tích cực Giúp học sinh nhận diện và phân biệt được các cách ứng phó đã và đang sử dung bao gồm: Nhóm ứng phó tích cực (cấu trúc lại nhận thức, tìm kiếm hỗ trợ xã hội, giải quyết vấn đề); Nhóm ứng phó tiêu cực (đổ lỗi bản thân, mơ tưởng, bộc lộ cảm xúc, lảng tráng vấn đề, cô lập bản thân) Nội dung tập trung giúp các em nhận diện được đâu là nhóm ứng phó
Trang 16tích cực và tiêu cực, từ đó hình thành kỹ năng xây dựng cho mình chiến lược ứng phó tích cực, chủ động
Nội dung 3: Kỹ năng thực hiện chiến lược ứng phó tích cực với stress Giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã học về stress và chiến lược ứng phó tích cực thông qua sắm vai để giải quyết bài tập tình huống Bên cạnh đó nội dung này còn giới thiệu và hướng dẫn cho các em thực hành về Liệu pháp Quán niệm hơi thở với mục đích giúp các em hiểu rõ bản thân, quản lí và cân bằng được cảm xúc trước khi
sử dụng các cách ứng phó khác
Chương trình được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học về stress và cách ứng phó của lứa tuổi học sinh THPT; từ cơ sở pháp lý thông qua các quy định, điều khoản, thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hỗ trợ, cung cấp thông tin kiến thức, nâng cao sức khỏe tâm thần cho lứa tuổi học sinh THPT Bên cạnh đó, chương trình được thiết kế dựa trên cơ sở khảo sát thực tiễn thực trạng ứng phó với stress của học sinh tại trường THPT Trần Hưng Đạo thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Nội dung kế hoạch thực hiện chương trình như sau:
Buổi 1 Module 1: Nhận diện biểu hiện, nguyên
nhân và ảnh hưởng của stress
Trực tiếp 60 Phút
Buổi 2 Module 2: Nhận diện hai nhóm ứng phó
- Kỹ năng xây dựng chiến lược ứng phó
và tối ưu nhất
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHƯƠNG TRÌNH
1.1 Cơ sở pháp lý
1.1.1 Quy định của pháp luật về hoạt động tâm lý tại trường
Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT về hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm
lý cho học sinh trong trường phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư này quy định về mục đích, nguyên tắc, nội dung, hình thức, điều kiện đảm bảo và tổ chức thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong các trường phổ thông
Quyết định số 522/QĐ-TTg năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
“Đề án tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên giai đoạn 2018-2025” Quyết định này quy định về tăng cường các đề án, chương trình nhằm giáo dục lý tưởng cũng như lối sống lành mạnh cho học sinh Đề
án ứng dụng chương trình nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh sẽ góp phần hỗ trợ học sinh trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống và hoạt động học tập lành mạnh
Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh; tăng cường công tác giáo dục kỹ năng sống, xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học; công tác tư vấn tâm lý cho học sinh phổ thông; công tác tác hội hóa trong trường học Với chủ trương cung cấp và giúp đỡ kịp thời cho đối tượng học sinh, nhằm nâng cao sức khỏe tâm thần cho lứa tuổi này
Thông tư số 31/2020/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về
“Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường phổ thông” Đề án ứng dụng chương trình nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh trung học phổ thông được thiết kế và triển khai và ứng dụng như một hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo quy định của Thông tư này
Quyết định số 1660/QĐ-TTg ngày 25/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Sức khỏe học đường giai đoạn 2021-2025” Đề án này đặt mục tiêu nâng cao chất lượng công tác y tế trường học, chăm sóc sức khỏe ban đầu và giáo dục sức khỏe cho trẻ em, học sinh trong các cơ sở giáo dục
Thực hiện Quyết định số 1480/QĐ-BGDĐT ngày 24/5/2023 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về việc phê duyệt Tài liệu hướng dẫn triển khai mô hình công tác xã hội và tư vấn tâm lý học đường tại các cơ sở giáo dục phổ thông [31]
Trang 18Quyết định số 2771/QĐ-BGDĐT năm 2023 Phê duyệt Tài liệu hướng dẫn triển khai mô hình cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý trong trường học do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định nhằm hướng dẫn cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên phụ trách tư vấn tâm lý và các thành phần liên quan triển khai
có hiệu quả mô hình cung cấp các dịch vụ tư vấn tâm lý cho học sinh phù hợp với bối cảnh thực tiễn hiện nay
Quyết định số 3854/QĐ-BGDĐT năm 2023 phê duyệt tài liệu truyền thông
về sức khỏe tâm thần của học sinh phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định đã ban hành tài liệu truyền thông về sức khỏe tâm thần của học sinh phổ thông được sử dụng làm tài liệu truyền thông để nâng cao kiến thức và
kỹ năng về chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cán bộ y tế trường học, giáo viên, cán
bộ quản lý giáo dục, cha mẹ học sinh
Như vậy nhân sức khỏe tâm thần ở học sinh đóng một vai trò quan trọng trong suốt quá trình học tập và cuộc sống, do đó việc triển khai hỗ trợ, xây dựng chương trình ứng phó với stress nói riêng và các công tác hỗ trợ nâng cao sức khỏe tinh thần cho học sinh tại các trường phổ thông đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm rất nhiều, trong đó Bộ Giáo dục và Đào tạo có chú ý đến hướng dẫn thi hành, triển khai một số hoạt động nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc sức khoẻ tâm thần học sinh Thông qua những công văn, thông tư quy định này chính là cơ sở pháp lý quan trọng để học viên xây dựng chương trình với mục tiêu hướng tới nâng cao sức khỏe tâm thần cho học sinh đặc biệt là nâng cao kỹ năng ứng phó với stress trong học tập và cuộc sống
1.1.2 Quy định của nhà trường về hoạt động tâm lý tại trường
Nhằm kịp thời định hướng giáo dục cho học sinh có khó khăn về tâm lý, tình cảm, những thắc mắc của lứa tuổi, những vướng mắc trong học tập, hướng nghiệp,
mà học sinh gặp phải trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống Trường đã
có những kế hoạch chủ trương thực hiện tổ chức các hoạt động hướng tới hỗ trợ tâm
lý, giáo dục kỹ năng cho đối tượng học sinh bao gồm:
Theo Công văn số 191/KH-THHN ngày 10/09/2023 – Kế hoạch về thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm 2023-2024, nhà trường đã đưa ra các hướng dẫn chi tiết về việc triển khai hoạt động tư vấn tâm lý học đường Mục tiêu chính của hoạt động này là phòng ngừa, hỗ trợ, và can thiệp (khi cần thiết) đối với các học sinh gặp khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh Đặc biệt, công văn này yêu cầu các thành viên của Tổ tư vấn tâm lý phải giữ bí mật những vấn đề nhạy
Trang 19cảm của học sinh để bảo vệ quyền riêng tư và tránh sự mặc cảm
Tổ tư vấn tâm lí học đường hoạt đông với 3 phương châm:
Về học tập: Hỗ trợ các em giải quyết những khó khăn trong học tập như về phương pháp học, áp lực học tập, tìm kiếm tài liệu, thông tin, kiểm tra, thi cử, … cũng như định hướng nghề nghiệp trong tương lai
Về kỹ năng sống: Hỗ trợ các em giải tỏa những mâu thuẫn, những căng thẳng trong các mối quan hệ với bạn bè, giáo viên, người thân trong gia đình, … định hướng một cách sống tích cực, phù hợp với xã hội hiện đại
Về tâm lý lứa tuổi, giới tính: Giúp các em giải đáp những thắc mắc về tình yêu học đường, sức khỏe tuổi vị thành niên, những vấn đề không dám thổ lộ cùng
ai, từ đó có sự hiểu biết đúng đắn, ý thức được trách nhiệm hành vi của bản thân
Đánh giá/ sàng lọc sức khỏe tâm thần học đường: Được thực hiện thông qua một số hoạt động khảo sát sức khỏe tâm thần của học sinh, để đánh giá kịp thời có
có biện pháp hỗ trợ phù hợp
Tài liệu hướng dẫn số 101/HD-TTHH ngày 15/08/2023 - Kế hoạch giáo dục Trung học phổ thông năm học 2023 – 2024 đã chỉ rõ các nội dung cần thiết trong tư vấn tâm lý học đường, bao gồm tư vấn về tâm lý lứa tuổi, kỹ năng ứng xử, phòng chống bạo lực học đường, định hướng nghề nghiệp, và hỗ trợ những học sinh gặp khó khăn về tâm lý Tài liệu cũng đề cập đến phương pháp tư vấn đa dạng như tư vấn riêng, tư vấn nhóm, và kết hợp với các hoạt động ngoại khóa để tối đa hóa hiệu quả tư vấn
Kế hoạch số 193/KH-THPTTHĐ ngày 08/09/2023 - Chiến lượt phát triển năm học 2023 – 2024, nhà trường đã đề ra lộ trình thực hiện các hoạt động tư vấn tâm lý học đường trong suốt năm học 2023-2024 Kế hoạch này bao gồm việc giáo dục ý thức học sinh qua các tuần lễ chuyên đề, sinh hoạt dưới cờ, và các hoạt động thăm lớp hàng tuần Mỗi hoạt động đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, và đoàn thể để đảm bảo rằng các vấn đề tâm lý của học sinh được giải quyết kịp thời và hiệu quả
Nhìn chung, Trường THPT Trần Hưng Đạo đã triển khai những hoạt động tuân thủ quy định của pháp luật nhằm nâng cao sức chất lượng sức khỏe tâm thần cho đối tượng học sinh tại trường, từ đó tạo tiền đề để các em có môi trường học tập tốt về cả thể chất và tinh thần
Trang 201.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Stress
1.2.1.1 Khái niệm về stress
Theo tiếng Latinh, stress bắt được bắt nguồn từ “strictus” và một phần của từ
“stringere” có nghĩa là kéo căng hoặc đè nén Thuật ngữ này được dùng phổ biến từ thế kỷ 17, để mô tả con người đang trải qua thử thách gay go, tai họa hoặc nỗi đau buồn (Trần Viết Nghi, 2002) Sau này các tác giả nước ngoài đã đưa ra định nghĩa stress với nhiều khía cạnh khác nhau như: Trong từ điển tâm lý học Andrew M
Colman (2003) có cái nhìn tổng quát hơn: “Stress là trạng thái không thoải mái về thể lý và tâm lý, phát sinh do những tình huống, sự kiện, trải nghiệm, khó có thể chịu đựng được hoặc vượt qua, như những biến cố nghề nghiệp, kinh tế, xã hội, cảm xúc hoặc thể lý.”
Cohen và Herbert (1996) và Lazarus (1993) đã định nghĩa stress là một trạng thái cảm xúc tiêu cực xuất hiện nhằm phản ứng lại các sự kiện được xem là đòi hỏi
sự cố gắng hoặc vượt quá các nguồn lực hay khả năng ứng phó của một người
Trong khi đó Lazurus (1993, trang 124) lại cho rằng: “Stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận định rằng các yêu cầu và đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt quá nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động được” Tổng quan qua cái khái niệm, các Tác giả đã
nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhận thức và khả năng đánh giá của một người về các sự kiện gây ra căng thẳng và có tính đe dọa đến cả thể chất và tinh thần của chủ thể
Ở Việt Nam, khái niệm stress (căng thẳng) của các tác giả được định nghĩa
như sau: Theo từ điển Y học Anh - Việt, “Bất kỳ nhân tố nào đe dọa đến sức khoẻ
cơ thể hay có tác động phương hại đến các chức năng cơ thể, như tổn thương, bệnh tật hay tâm trạng lo lắng thì đều gọi là stress” Một số nhà tâm lý học khác như: Minh Trần Trọng Thuỷ và cộng sự (1998) cho rằng: “Stress là những xúc cảm nảy sinh trong những tình huống nguy hiểm, hẫng hụt, hay trong những tình huống phải chịu đựng những nặng nhọc về thể chất và tinh thần hoặc trong những điều kiện phải quyết định hành động nhanh chóng và trọng yếu.”
Như vậy hiện nay có rất nhiều cách hiểu về stress, dưới sự nhìn nhận từ góc
độ tâm lý học, stress được học viên hiểu và định nghĩa như sau: “Stress là sự căng thẳng về tâm lý và sinh lý khi con người đối mặt với những tình huống, sự kiện mà
họ nhận thấy vượt quá khả năng của mình trong hoạt động cũng như trong cuộc sống và mang tính chất đe dọa về mặt thể chất và tinh thần”
Trang 211.2.1.2 Biểu hiện của stress
*Biểu hiện về sinh lí của stress
Khi ở trong trạng thái stress, về mặt sinh lí thường có các biểu hiện như: mệt mỏi, đau đầu, đau lưng, đau cơ bắp, chóng mặt, đổ mồ hôi, tức ngực, khó thở, tay chân bủn rủn, cảm thấy không có sức lực, dễ cáu giận, ăn không ngon, ăn quá nhiều hoặc quá ít, khó ngủ, mất ngủ, tim đập nhanh, thở gấp, bị tiêu chảy hoặc táo bón
*Biểu hiện về mặt tâm lí của stress
- Biểu hiện qua mặt nhận thức: Stress biểu hiện qua các phản ứng rối loạn nhận thức như: (1)Về trí tuệ: giảm rõ tư duy phê phán, phân phối chú ý không đầy
đủ, giảm sút trí nhớ, quyết định thiếu chính xác, mất bình tĩnh, cáu gắt hoặc trơ lì (2)Về cảm giác và tri giác: kém nhạy bén, tiếp thu thông tin chậm, nhìn nghe không
rõ, cảm giác sai lệch, thiếu sự phối hợp giữa các cảm giác (3)Rối loạn cảm giác vận động: tư thế lúng túng, cứng nhắc, rối loạn sự phối hợp các động tác
- Biểu hiện về mặt cảm xúc: Người bị stress thường có những biểu hiện rối loạn cảm xúc và thay đổi ứng xử, cảm thấy mình tách hẳn các sự việc xung quanh, bất cần, khó chịu, nóng nảy, mất kiên nhẫn và không thể nào thư giãn được; cảm thấy bị áp đảo, mọi thứ dường như trở nên khó khăn hơn, khóc mà không rõ nguyên nhân; dễ bị tức giận hay tổn thương; cảm thấy không an toàn và chỉ muốn ở những nơi quen thuộc; dễ xúc động hay lo lắng thái quá
- Biểu hiện về mặt hành vi: hành động phi lý, cung cách ứng xử thái quá, dễ gây gổ, luôn cảm thấy người khác đáng trách; luôn cảm thấy mọi thứ phiền toái hay tranh luận quá khích; né tránh học tập; ngại tiếp xúc,… (Tô Như Khuê, 1997)
1.2.1.3 Nguyên nhân gây ra stress
Stress xuất hiện bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong bài nghiên cứu này học viên định nghĩa theo tác giả Võ Văn Bản phân chia nguyên nhân gây ra stress theo các khía cạnh như sau:
- Nguyên nhân từ môi trường sống gia đình: Đó là những vấn đề có liên quan đến yếu tố kinh tế và tình cảm, sự kỳ vọng của những người trong gia đình đối với mỗi thành viên những yếu tố này thường phối hợp với nhau tác động rất mạnh mẽ đến cuộc sống, sinh hoạt, nhận thức, tình cảm và hành vi của các thành viên trong cuộc sống gia đình cũng như ngoài xã hội
- Nguyên nhân từ môi trường xã hội: Đó là những yếu tố liên quan đến môi trường như tiếng ồn, sự ô nhiễm; hoạt động học tập và những mối quan hệ, ứng xử
xã hội, tâm lý - xã hội, thay đổi chế độ chính trị
Trang 22- Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên: là những yếu tố như khí hậu, thời tiết
- Nguyên nhân từ bản thân: Bao gồm yếu tố sức khoẻ như những rối loạn
bệnh lý mới xuất hiện, bệnh lý ở giai đoạn cuối, hoặc bệnh lý mãn tính; yếu tố tâm
lí là mức độ thích nghi của các thuộc tính tâm lí, bao gồm những thuộc tính thuộc
về nhân cách như: năng lực, ý chí, tình cảm, nhu cầu, nhận thức, kinh nghiệm của chủ thể Ngoài ra có thể là những yếu tố có liên quan đến vô thức (giấc mộng, linh
cảm ) hoặc những dồn nén từ thời thơ ấu trong quá khứ (Võ Văn Bản, 2002)
1.2.1.4 Ảnh hưởng của stress
Theo Hans Selye (1976) cho rằng “Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng” Ông cho rằng stress luôn
luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực, nó phụ thuộc vào việc chúng ta trải nghiệm nó Nghiên cứu về ảnh hưởng của stress đem lại đối với con người có nhiều quan điểm
và khía cạnh khác nhau Trong bài nghiên cứu này, ảnh hưởng của stress gây ra cho
con người bao gồm:
* Ảnh hưởng tích cực
Trong một thời gian ngắn với tính chất, cường độ tác động vừa phải là một loại stress dương tính (eutress) có thể tạo nên sức mạnh tinh thần và thể chất tức thời, nó sẽ giúp lượng máu dồn đến các cơ bắp để làm các cơ bắp cứng lên, đồng thời cũng làm tăng nhịp tim và huyết áp trong máu Mặt khác, làm cho chủ thể cải thiện tư duy, trí nhớ, sáng tạo, năng động, hăng hái, nhận thức được những tác nhân gây stress và khả năng ứng phó của mình trước stress Nếu sự kiện hay mối nguy hiểm qua đi, cơ thể sẽ trở lại trạng thái bình thường (Snynder, 2001)
* Ảnh hưởng tiêu cực
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi stress vượt quá khả năng ứng phó, ở mức độ nặng và kéo dài, nó có thể ảnh hưởng không tốt đến nhiều mặt trong đời sống của con người theo một số khía cạnh sau:
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và các hệ thống chức năng: Khi bị stress kéo dài, hệ miễn dịch bị tấn công nên chúng ta dễ nhiễm bệnh hoặc mắc các bệnh kinh niên như đau dạ dày, chảy máu, tiêu hóa, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não Ngoài ra, con người dễ tăng trọng lượng một cách bất thường, đau đầu và thường xuyên mất ngủ
- Ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ và giữ gìn tri thức: Khi cá nhân bị stress,
có nhiều khả năng họ sẽ quên các sự kiện diễn ra trong cuộc sống thường ngày và
có thể gặp trở ngại trong việc tái hiện các dữ liệu, thông tin này khi cần thiết trong
Trang 23thực tiễn cuộc sống
- Ảnh hưởng đến sự suy xét, lương tri: Một số cá nhân thường lạm dụng chất
kích thích như thuốc lá, rượu, chơi game xem đó là cách để giải toả stress Tuy nhiên, càng đẩy họ vào con đường bế tắc, hủy hoại bản thân hoặc phạm pháp
- Có thể dẫn đến các vấn đề về sức khoẻ tâm thần: Con người đối mặt với nhiều stress có thể luôn ở trong trạng thái lo âu, từ những trường hợp lo lắng nhẹ cho đến những trường hợp rối loạn lo âu Ngoài ra, những cá nhân không thoát ra được stress đã mắc chứng trầm cảm từ nhẹ đến nặng và thậm chí có ý nghĩ và thực hiện hành vi tự tử (Lê Thị Phương Nga, 2021)
1.2.1.5 Stress của học sinh trung học phổ thông
Stress của học sinh THPT chính là sự căng thẳng tâm lý xuất hiện trong quá trình học tập, giao tiếp và cuộc sống Đó là những biến đổi về tâm lý, đòi hỏi học sinh THPT phải huy động năng lực tâm lý để giải quyết
Stress của học sinh THPT chỉ xảy ra khi có tình huống gây ra stress Đó có thể
là áp lực từ hoạt động học tập hay do sự căng thẳng trong học tập, trong các mối quan hệ diễn ra trong cuộc sống bên cạnh đó là sự phát triển và thay đổi của tâm lý lứa tuổi mà học sinh không thích ứng được
Stress trong sinh hoạt của học sinh THPT diễn ra theo nhiều mức độ khác nhau, từ bình thường, stress nhẹ, stress vừa, stress nặng và stress rất nặng
1.2.2 Ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông
1.2.2.1 Khái niêm ứng phó
Trong tiếng Anh “cope” có nghĩa là ứng phó, đương đầu, đối mặt, thường là trong những tình huống bất thường, những tình huống khó khăn và stress Nhìn chung có bốn hướng nghiên cứu để xác định khái niệm ứng phó
Hướng tiếp cận thứ nhất, coi ứng phó như là sự phòng vệ của cái tôi Theo hướng này, ứng phó được hiểu như là cách thức tự vệ tâm lý, được sử dụng để làm giảm căng thẳng (Haan,1977) Hướng tiếp cận thứ hai, xem xét ứng phó như là đặc điểm riêng biệt, là thuộc tính nhân cách của cá nhân trước các tình huống khó khăn (Lê Thị Thanh Thủy, 2009) Hướng tiếp cận thứ ba, coi ứng phó là cách con người đáp lại những tình huống riêng biệt trước các tình huống khác nhau của đời sống (Felton và Revenson, 1984) Hướng tiếp cận thứ tư, coi ứng phó là mặt năng động của chủ thể Trong nghiên cứu của Lazarus và Folkman (1984) cho rằng ứng phó là những nỗ lực của cá nhân, bao gồm cả hành động bên ngoài và tâm lí bên trong nhằm giải quyết những tình huống vốn gây mệt mỏi hoặc vượt quá khả năng, buộc
cá nhân phải nỗ lực giải quyết
Trang 24Khái niệm về ứng phó được tiếp cận và hiểu theo nhiều hướng khác nhau như xem ứng phó là cách thức tự vệ tâm lý; là cách con người đáp lại tình huống khó khăn; là mặt năng động của chủ thể,… Trong bài nghiên cứu này, ứng phó được hiểu là cách thức con người nỗ lực đương đầu với tình huống gây ra căng thẳng trong cuộc sống nhằm giải quyết tình huống hay vấn đề gây ra căng thẳng
1.2.2.2 Phân loại ứng phó
Các nhà nghiên cứu phân loại ứng phó theo ba hướng: Phân loại theo hướng tập trung của ứng phó; Phân loại theo chiến lược ứng phó; Phân loại theo hiệu quả ứng phó Trong bài nghiên cứu này học viên phân loại ứng phó dựa trên quan điểm của tác giả Tobin và cs (1989) đã tích hợp và chia ứng phó thành 2 nhóm lớn: nhóm đối đầu và nhóm lảng tránh Hai nhóm này được rút gọn thành 8 cách ứng phó phân chia trên ba khía cạnh: Suy nghĩ (cấu trúc lại nhận thức, đổ lỗi bản thân, mơ tưởng); Cảm xúc (bộc lộ cảm xúc); Hành động (lảng tránh vấn đề, tìm kiếm hỗ trợ xã hội, giải quyết vấn đề, cô lập bản thân)
1.2.2.3 Ứng phó với stresss
Khi gặp phải stress trong cuộc sống, mỗi cá nhân cần phải tìm cách và hành động để vượt qua, đây chính là ứng phó với stress Như vậy ứng phó với stress là những phản ứng có ý thức của cá nhân, được biểu hiện thông qua suy nghĩ, cảm xúc
và hành động khi cá nhân gặp phải những tình huống gây mệt mỏi, căng thẳng hoặc những tình huống vượt quá khả năng của họ, buộc cá nhân phải nỗ lực để giải quyết
Ứng phó với stress qua cách hiểu trên được biểu hiện 3 mặt như sau: suy nghĩ, cảm xúc và hành động (Olah, 1995)
- Mặt suy nghĩ của ứng phó với stress thể hiện ở chỗ con người nhận diện được các biểu hiện của stress cả về mặt cơ thể và mặt tâm lý cũng như các nguyên nhân và ảnh hưởng do stress gây ra đối với chính bản thân mình
- Mặt cảm xúc của ứng phó với stress thể hiện qua việc khi con người đối diện với stress, không có cảm giác hoảng sợ hay trốn tránh mà tự tin vào khả năng của bản thân để đương đầu, ứng phó với stress
- Mặt hành động thể hiện ở việc con người tìm kiếm các cách ứng phó, các
kỹ năng ứng phó khác nhau để giải quyết vấn đề; lựa chọn và thực hiện các cách ứng phó phù hợp với mình
Trong bài nghiên cứu này ứng phó được hiểu chính là phương thức giúp cho con người thích nghi với những thay đổi và biến động của cuộc sống, từ đó cân bằng lại nhận thức, cảm xúc, hành vi của mình khi đối diện với stress và làm cho
Trang 25cuộc sống tốt đẹp hơn Về mặt hành động, chính là cách con người lựa chọn và áp dụng các cách ứng phó phù hợp, tích cực để giải quyết những vấn đề, buộc con người phải nỗ lực giải quyết
1.2.2.4 Đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi vị thành niên sang trưởng thành, với nhiều thay đổi về mặt thể chất, nhận thức và cảm xúc (Santrock, 2014)
Học sinh THPT là những em có độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi, đang theo học trình độ học vấn trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12) thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Đây là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, ở lứa tuổi này các em
đã có sự trưởng thành về mặt tư tưởng, tâm lý, là thời kỳ tự xác định về mặt xã hội, tích cực tham gia vào cuộc sống lao động, học tập để chuẩn bị cho tương lai Đây là thời kỳ nhân cách đang trưởng thành tiến tới ổn định
1.2.2.5 Ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông
Ứng phó với stress là cách mà cá nhân thể hiện sự tương tác của mình với hoàn cảnh gây căng thẳng, tương ứng với logic của riêng chủ thể, có ý nghĩa trong cuộc sống và với khả năng tâm lý của chính họ Theo Keil (2004) cho rằng “ứng phó là những nỗ lực về nhận thức và hành vi được tiến hành để kiểm soát những khó khăn cá nhân, giúp vượt qua được tác nhân gây căng thẳng của họ” Với học sinh THPT, đây là giai đoạn cảm giác về cái tôi phát triển mạnh, cảm giác mình là người trưởng tự tin vào khả năng hành động của bản thân, do đó các em càng chủ quan hơn trong hành động ứng phó Cách ứng phó của học sinh THPT mang đặc thù của lứa tuổi, mang tính hành động nhiều hơn là suy nghĩ
Như vậy ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông là những phản ứng có ý thức, gắn với đặc điểm nhân cách riêng của mỗi học sinh, được biểu hiện thông qua suy nghĩ, cảm xúc và hành động khi gặp những tình huống gây mệt mỏi, căng thẳng hoặc những tình huống vượt quá khả năng, buộc học sinh phải nỗ lực để giải quyết
* Các biểu hiện ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông
Dựa trên cách phân loại ứng phó của Tobin và cộng sự (1989) học viên đã xác định được 8 cách ứng phó khá phổ biến của học sinh THPT khi các em gặp phải những tình huống stress trong cuộc sống, được biểu hiện thông qua suy nghĩ (cấu trúc lại nhận thức, đổ lỗi bản thân, mơ tưởng); cảm xúc (bộc lộ cảm xúc) và hành động (lảng tránh vấn đề, tìm kiếm sự hỗ trợ, giải quyết vấn đề, cô lập bản thân)
(1) Cấu trúc lại nhận thức: là những suy nghĩ tích cực, đánh giá khách quan
Trang 26của học sinh về những ảnh hưởng của tình huống gây stress
(2) Đổ lỗi bản thân: là những suy nghĩ chủ quan đánh giá chưa chính xác,
chưa đầy đủ của học sinh về bản thân và tình huống gây stress
(3) Mơ tưởng: là những suy nghĩ chủ quan của học sinh về tình huống gây
stress
(4) Bộc lộ cảm xúc: là việc học sinh thể hiện cảm xúc của mình (lo lắng, sợ
hãi, chán nản, buồn bã, bất an, tức giận) khi gặp phải những tình huống gây stress trong cuộc sống
(5) Tìm kiếm hỗ trợ xã hội: là những hành động của học sinh nhằm đối diện
với tình huống gây stress trong cuộc sống và tìm kiếm sự trợ giúp từ các bên liên quan để giải quyết vấn đề học sinh đang gặp phải
(6) Giải quyết vấn đề: là những hành động của học sinh nhằm giải quyết vấn
đề thông qua việc lên kế hoạch để thực hiện giải pháp đã lựa chọn
(7) Lảng tránh vấn đề: là những hành động nhằm lẩn tránh, trì hoãn, chưa
chấp nhận hiện thực khi học sinh gặp phải tình huống stress, nhằm mang lại cảm giác an toàn nhất thời
(8) Cô lập bản thân: là đề cập đến những hành động của cá nhân học sinh
nhằm thu hẹp thế giới của bản thân, tránh giao tiếp và che giấu cảm xúc đối với các tình huống gây stress trước bạn bè và người thân
1.2.3 Lý luận về nâng cao kỹ năng ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông
1.2.3.1 Khái niệm kỹ năng
Thuật ngữ “kỹ năng” được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau của các nhà nghiên cứu Xu hướng quan niệm kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động theo
xu hướng này tác giả A.G Côvaliôp (1994), cho rằng: “KN là phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động” Tác giả A.V Cruchetxki (1981), lại xem: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước” Trần Trọng Thủy (1992), trong tác phẩm
“Tâm lý học lao động” cũng cho rằng “kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng”
Xu hướng quan niệm kỹ năng kỹ năng là khả năng của cá nhân trong hoạt
động, đối với xu hướng này KN không chỉ là sự vận dụng phù hợp các thao tác, mà
còn đem lại kết quả cho hoạt động Tác giả D Lêvitov (1963, trang 45), quan niệm:
“Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó, bằng cách áp dụng hay
Trang 27lựa chọn những cách thức đúng đắn, trong những điều kiện nhất định” Từ điển
tâm lý học do tác giả Vũ Dũng (2000), định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng
có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng.”
Khái niệm về kỹ năng được các tác giả trong và ngoài nước định nghĩa theo nhiều hướng khác nhau Như vậy kỹ năng không chỉ là sự thành thạo, thuần thục - thể hiện kỹ thuật của hành động Hơn nữa, kỹ năng được hình thành trên cơ sở vận dụng tri thức, năng lực, kinh nghiệm của cá nhân vào công việc cụ thể để đạt được hiệu quả công việc đó Nó là cách thức hành động phù hợp với điều kiện và yêu cầu của hoạt động nhằm mang lại hiệu quả đề ra
Như vậy trong bài đề án nghiên cứu này kỹ năng được hiểu “Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động cụ thể một cách linh hoạt để đạt được hiệu quả hoạt động đó.”
1.2.3.2 Quá trình hình thành kỹ năng
Tuỳ theo cách tiếp cận mà các nhà tâm lý học đã đưa ra quá trình hình thành
và mức độ phát triển của kỹ năng khác nhau
Để hình thành kỹ năng trong hành động, trước hết cần phải xác định được mục đích của hành động, sau đó phải thông hiểu cách thức thực hiện và tổ chức luyện tập, và tác các nhà nghiên cứu đã đưa ra có 5 giai đoạn để mỗi một cá nhân hình thành kỹ năng (K.K Platônôp và G.G.Goolubep, 1977) Tuy nhiên trong bài viết này người viết sử dụng quá trình hình thành kỹ năng theo tác giả Trần Quốc Thành đề xuất qui trình hình thành kỹ năng gồm 3 giai đoạn
Giai đoạn 1: Con người nhận thức tổng quan về mục mích cũng như cách thức và điều kiện hành động
Giai đoạn 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu
Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt mục đích đặt ra
Bước đầu tác giả đã quan tâm đến việc đề cao sự hiểu biết của người học trước khi thực hiện hành động để có kỹ năng Đây là việc làm rất quan trọng giúp người học ý thức được những việc phải làm và ý nghĩa của nó trong quá trình luyện tập Từ đó xây dựng được ý thức tự rèn luyện nhằm củng cố những kỹ năng đã được hướng dẫn trước đó Tuy nhiên bên cạnh đó, tác giả đã nhấn mạnh yếu tố kĩ thuật trong quá trình thực hiện hành động nhằm hình thành kỹ năng (Đỗ Văn Đoạt, 2011)
Như vậy thông qua 3 giai đoạn trên, trong bài nghiên cứu này quá trình hình
Trang 28thành kĩ năng được hiểu gồm 3 giai đoạn chính như sau:
- Giai đoạn 1: giai đoạn nhận thức: nhận thức đầy đủ về nội dung, mục đích, cách thức và điều kiện để giải quyết vấn đề
- Giai đoạn 2: giai đoạn thực hành: nắm được quy trình giải quyết vấn đề sau khi được hướng dẫn, quan sát và làm thử
- Giai đoạn 3: giai đoạn luyện tập: luyện tập để biết tiến hành các thao tác theo đúng yêu cầu và điều kiện của việc giải quyết vấn đề nhằm đạt được mục đích
đề ra Biết vận dụng giải quyết từng vấn đề cụ thể
1.2.3.3 Khái niệm kỹ năng ứng phó stress
Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động cụ thể một cách linh hoạt để đạt được hiệu quả hoạt động đó
Kỹ năng ứng phó là sự vận dụng những tri thức kinh nghiệm của chủ thể giúp nhận diện những tác nhân gây stress; xác định các phương án ứng phó với stress và thực hiện các phương án ứng phó với stress nhằm giảm thiểu và giải quyết những stress quá ngưỡng chịu dựng để giúp cá nhân thích ứng với hoàn cảnh
1.2.3.4 Khái niệm kỹ năng ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông
Kỹ năng ứng phó với stress của học sinh THPT là sự vận dụng những tri thức kinh nghiệm của chủ thể giúp nhận diện những tác nhân gây stress; nguyên nhân gây ra stress và những ảnh hưởng stress đêm lại cho học sinh từ đó xác định các phương án ứng phó với stress và thực hiện các phương án ứng phó với stress nhằm giảm thiểu và giải quyết những stress quá ngưỡng chịu dựng để giúp cá nhân thích ứng với hoàn cảnh
1.2.3.5 Khái niệm nâng cao kỹ năng ứng phó với stress của học sinh trung học phổ thông
Kỹ năng ứng phó với stress của học sinh được thể hiện thông qua việc vận dung tri thức, kỹ năng để ứng phó với tác nhân stress nhằm đem lại hiệu quả khi đối diện với các tình huống gây ra stress Để nâng cao để nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh THPT cần thiết phải nâng cao các kỹ năng trên tất cả các phương diện như: kiến thức về stress, kỹ năng nhận diện stress và các cách ứng phó tích cực và tiêu cực, kỹ năng xây dựng chiến lược ứng phó với stress, kỹ năng thực hiện các chiến lược ứng phó với stress
Việc xem xét khái niệm “nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho học sinh THPT” cần phải đặt trong mối quan hệ logic, phù hợp với các khái niệm người viết
Trang 29đã phân tích về “kỹ năng”, về “kỹ năng ứng phó với stress của HS THPT” Vì vậy,
“nâng cao kỹ năng ứng phó với stress cho HS THPT” có thể khái niệm như sau: Nâng cao kỹ năng ứng phó với stress của học sinh THPT là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm hoàn thiện thông qua bổ sung, điều chỉnh khắc phục những điểm còn thiếu sót trong các cách ứng phó chưa hợp lý của HS, đồng thời xây dựng và giúp HS lựa chọn những phương pháp ứng phó phù hợp và nâng cao kỹ năng cho từng học sinh nhằm đáp ứng tạo ra một môi trường học tập và cuộc sống khỏe và lành mạnh
1.2.4 Khái niệm chương trình
Chương trình là toàn bộ những việc cần làm đối với một lĩnh vực công tác hoặc tất cả các mặt công tác của một cơ quan, một ngành chủ quản hay của Nhà nước nói chung theo một trình tự và thời gian nhất định
Trong bài viết này chương trình được hiểu là những hoạt động giáo dục hướng đến nâng cao sức khỏe tinh thần cho đối tượng học sinh trong trường học, được thiết kế và thực hiện trong phạm vi nội dung, thời gian mà chương trình đề xuất để đưa đến hiệu quả cho người tham gia Chương trình phải đảm bảo được các yếu tố sau được trình bày theo quan điểm của (Byne, 2000)
- Tính hiệu quả cao: Truớc và sau khi chính sách chương trình ra đời, người
xây dựng CT và người thực hiện CT đều hy vọng từ đó có thể thu được kết quả thực hiện chương trình tốt nhất
- Tính khoa học: Tính khoa học của CT phải phù hợp với thực tế, xu thế phát
triển và thực tiễn của CT, thích hợp với sự phát triển hài hòa của các quan hệ giữa các nhân tố của CT
- Tính đánh giá được: Một CT tốt cần phải dễ vận dụng và đánh giá được,
tức là dễ được mọi người dùng ứng dụng vào cuộc sống thực và thu được thông tin phản hồi tốt về thực tiễn CT và phân tích được hiệu quả thực hiện CT
1.2.5 Khái niệm xây dựng chương trình
Trường học là môi trường có tác động lớn đến quá trình phát triển của trẻ trên tất cả các phương diện, từ nhận thức, hành vi, các mối quan hệ xã hội và cả sức khỏe thể chất Đặc biệt, đối với những trẻ có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trường học là cơ sở thuận lợi để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hơn là bệnh viện (Trịnh Thị Anh Hoa, 2010)
Nghiên cứu được thông qua hội đồng đạo đức của Viện Nghiên cứu phát triển Hải Ngoại ODI, Vương quốc Anh (2023), để đảm bảo xây dựng 01 chương trình hỗ trợ sức khỏe tâm thần với các tiêu chí (1) Hướng đến mục tiêu thúc đẩy
Trang 30hiểu biết về sức khỏe tâm thần và nâng cao sức khỏe tâm thần của học sinh tại trường học; (2) Là một chương trình tổng quát dành cho tất cả học sinh, không phải chương trình chuyên biệt hướng đến các rối loạn tâm thần cụ thể; (3) Kết hợp yếu tố công nghệ và phi công nghệ; (4) Có thể tự duy trì bởi học sinh trong và sau khi dự
án kết thúc; (5) Có tính khả thi đối với bối cảnh từng trường; (6) Tiếp cận nhu cầu của nhiều nhóm đối tượng học sinh khác nhau
Như vậy xây dựng chương trình nâng cao kỹ năng ứng phó với stress là quá trình thiết kế, phát triển và triển khai một chương trình phòng ngừa nhằm trang bị cho học sinh THPT các kiến thức và kỹ năng để nhận biết, phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với tình huống gây ra stress trong học tập và cuộc sống
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Khái quát về khó khăn tâm lý của học sinh tại trường
Một trong những khó khăn tâm lý mà đa phần các học sinh gặp phải là khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập Bởi vì,lượng kiến thức phải nạp quá nhiều trong một ngày, vì vậy các em không thể tiếp thu trọn vẹn, tuy nhiên vì bản chất của kiến thức có tính chất liên đới giữa các buổi học và giữa các môn nên điều này lại gây cản trở đối với kiến thức của ngày kế tiếp của các em rất nhiều Bên cạnh
đó, một số nguyên nhân khách quan: Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp của giáo viên, giáo viên còn lúng túng trong dạy học, còn thiên về kiến thức, thiếu tài liệu tham khảo,…
Bên cạnh khối lượng kiến thức chính là chương trình học tập mới của Bộ Giáo dục về việc thi cuối cấp, đánh giá năng lực cho kì thi xét tuyển đại học Ngoài ra hoạt động học tập và việc thi tốt nghiệp định hướng trường trong tương lai được kết hợp trong chương trình phổ thông nên phần nào các em còn bỡ ngỡ và chưa tiếp nhận kịp Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra stress học tập của các em
Một số nguyên nhân tác động trực tiếp đến tâm lý các em học trong môi trường cũ nên cớ sở vật chất còn hạn chế, thêm vào đó là diện tích sân trường chật hẹp vì vậy các em không có đủ không gian để vui chơi cho những phút giải lao giữa giờ Hơn thế, trường nằm ở trung tâm thành phố gần khu dân cư tiếp giáp với nhà dân nên rất ồn ào, đặc biệt là giờ cao điểm tan tầm
Bên cạnh khó khăn về hoạt động học tập, các em phải đối mặt với một số khó khăn tâm lý độ tuổi về mặt cảm xúc liên quan đến các mối quan hệ bạn bè, thầy cô, người đặc biệt, cha mẹ, …chính những điều này góp phần làm cho các em phải luôn luôn phải đối mặt với stress trong học tâp và cuộc sống
Trang 311.3.2 Kết quả khảo sát thực tiễn
Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng ứng phó với stress của học sinh THPT trường Trần Hưng Đạo, kết quả khảo sát mức độ stress chỉ ra mức độ stress chung học sinh là trung bình Điều này thể hiện rõ khi tiến hành khảo sát thực trạng trên tổng thể 450 học sinh, kết quả thu được cụ thể có 227 học sinh có mức độ stress thấp, chiếm 50,5%, tiếp đó là 194 học sinh có mức độ stress trung bình chiếm 43,1% Đặc biệt phát hiện có 29 học sinh trong tình trạng stress cao, chiếm 6,4% Tuy nhiên vẫn cần hỗ trợ và can thiệp kịp thời, góp phần giảm thiểu mức độ stress cho các em Như vậy có thể thấy rằng stress là một trong những yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến hoạt động học tập, mối quan hệ xã hội cũng như cách ứng phó của học sinh
Khi bị stress trong học tập, học sinh đã sử dụng nhiều phương án ứng phó khác nhau mang tính tích cực và tiêu cực để giải quyết vấn đề của mình Kết quả nghiên cứu thực trạng ứng phó ở học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo cho thấy, học sinh sử dụng phong phú các cách ứng phó khác nhau khi đối diện với tình huống gây ra căng thẳng và có sự khác biệt giữa các ứng phó được sử dụng Đối với
nhóm ứng phó tích cực, các cách ứng phó như “cấu trúc lại nhận thức” (ĐTB = 3.50 chiếm 46,3%), “giải quyết vấn đề” (ĐTB = 3.25 chiếm 43,7%) được học sinh
sử dụng khá phổ biến và chiếm mức độ trung bình, đặc biệt trong đó cách ứng phó
“tìm kiếm hỗ trợ xã hội” (ĐTB = 3.60, chiếm 47,1%) đạt mức độ cao Kết quả đã
cho thấy các em biết sử dụng các cách ứng phó chủ động, tích cực khi đối diện với căng thẳng trong học tập và biết chọn cách ứng phó nào tốt nhất cho bản thân Đây
là một tín hiệu tốt trong việc xây dựng kỹ năng cho các em sau này
Đối với nhóm ứng phó tiêu cực, các cách ứng phó trong nhóm này đều đạt
mức độ trung bình, cụ thể ứng phó “đổ lỗi bản thân” (ĐTB = 3.06, chiếm 40,6%);
“bộc lộ cảm xúc” (ĐTB = 3.22, chiếm 43,3%); “mơ tưởng” (ĐTB = 3.39, chiếm 44,5%) và “lảng tránh vấn đề” (ĐTB = 3.40, chiếm 45,7%) Điều này cho thấy các
em vẫn đang sử dụng các cách ứng phó thụ động, thiếu tích cực khi đối diện với những tình huống gây nên stress trong học tập và cuộc sống Đặc biệt cách ứng phó
“cô lập bản thân” (ĐTB = 3.63 chiếm 50,8%) đạt mức độ cao nhất trong nhóm ứng
phó tiêu cực Qua đây cho thấy học sinh chọn cách ứng phó thiếu chủ động, tiêu cực
ở mức báo động, đặc biệt là ứng phó cô lập bản thân Đây là hành động của học sinh nhằm thu hẹp thế giới của bản thân, che giấu cảm xúc đối với các tình huống gây ra stress trước bạn bè và người thân Cách ứng phó này về lâu dài không giúp học sinh giải quyết được vấn đề của mình mà còn làm cho mọi vấn đề càng thêm phức tạp và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tâm thần, quan hệ bạn bè và đặc biệt là
Trang 32hoạt động học tập tại trường của học sinh Sự xuất hiện của nhóm ứng phó tiêu cực này có thể làm giảm tính hiệu quả của nhóm ứng phó tích cực và đồng thời nó cũng cho thấy sự hạn chế về kỹ năng ứng phó của học sinh Giúp học sinh nhận thức rõ tính chất của các cách ứng phó là mục tiêu để học viên xây dựng nội dung chương trình tác động
Kết quả khi tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến cách ứng phó của học sinh
cho thấy học sinh tìm kiếm sự hỗ trợ của “bạn bè” là nhiều nhất (ĐTB = 3.68, chiếm 58,6%) “người đặc biệt” (ĐTB = 3.62, chiếm 50,3%) và “gia đình” (ĐTB =
3.65, chiếm 56,2 %) Qua kết quả cho thấy các em có chỗ dựa vững chắc, điều này
có nghĩa là khi đối diện với những vấn đề gây ra căng thẳng, các em sẽ chọn yếu tố
hỗ trợ xã hội đầu tiên Bên cạnh đó, yếu tố tinh thần lạc quan có mối liên hệ khá cao đối với cách ứng phó cụ thể học sinh THPT có tinh thần lạc quan đặt mức cao (ĐTB
= 3.73, chiếm 63,2%) đây là yếu tố thuận lợi trong việc giúp các em ứng phó với stress chủ động và tốt hơn
Thông qua quá trình khảo sát thực trạng ứng phó với stress của học sinh trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo, đây chính là cơ sở thực tiễn thiết thực
và quan trọng để từ đó học viên tiến hành xây dựng chương trình phù hợp nhằm hướng đến mục tiêu hỗ trợ và giúp đỡ kịp thời cho học sinh trong việc ứng phó chủ động, tích cực với các tình huống gây stress Qua đó giúp các em nâng cao kỹ năng ứng phó với những trường hợp gây ra căng thẳng trong học tập và cuộc sống
Trang 33Chương 2 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRẦN HƯNG ĐẠO, THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
2.1 Nội dung chương trình
2.1.1 Module - Nhận diện biểu hiện, nguyên nhân và ảnh hưởng của stress
2.1.1.1 Giới thiệu tổng quan
- Module giới thiệu cho học sinh những kiến thức chung về stress, biểu hiện
và nguyên nhân cũng như những ảnh hưởng mà stress mang lại cho học sinh
2.1.1.2 Mục tiêu Module
Sau khi học và thực hiện xong Module này, học sinh có thể:
- Nhận diện được đặc điểm và biểu hiện của stress
- Hiểu được nguyên nhân gây ra stress
- Thấy rõ được những tác hại của stress tác động đến học tập và cuộc sống
- Vận dụng được những kiến thức đã được học về stress để thấy được vấn đề của bản thân và những người xung quanh
2.1.1.3 Nội dung Module
- Nhận diện biểu hiện của stress
- Nhận diện nguyên nhân gây ra stress trong học tập và cuộc sống
- Nâng cao nhận thức và hiểu biết của học sinh về stress và hệ lụy của nó
- Thực hành nhận diện các biểu hiện và nguyên nhân và ảnh hưởng của stress
2.1.1.4 Chuẩn bị
- Về thời gian: 60 phút
- Về địa điểm tập huấn: Trường THPT Trần Hưng Đạo
- Về phương tiện sử dụng: Giấy A0, giấy ghi chú màu, bút, bút lông, hình ảnh, tranh tình huống
Trang 342 Hoạt động 2: Nhận diện biểu hiện của stress 20 phút
3 Hoạt động 3: Nhận diện nguyên nhân và ảnh hưởng gây ra stress trọng học tập và cuộc sống
20 phút
4 Hoạt động 4: Tổng kết nội dung bài học 10 phút
Nội dung thực hiện
BUỔI 1: NHẬN DIỆN VỀ STRESS
- Mục đích: Học sinh nhận diện được các yếu tố gây ra stress trong học tâp, hiểu rõ được biểu hiện, nguyên nhân tác hại của stress
- Thời gian: 60 phút
- Phương tiện: Máy chiếu, bút, tranh tình huống, giấy ghi chú màu
- Phương pháp: Thảo luận nhóm, thuyết trình, đàm thoại
Hoạt động 1: Khởi động (10 phút)
1 Mục tiêu:
- Giúp người học làm quen và tạo bầu không khí thoải mái chuẩn bị tâm thế học tập, đồng thời nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, từ đó có cái nhìn tích cực về bản thân và người khác
2 Nội dung hoạt động:
- Xác định các điểm mạnh, điểm yếu của bản thân và các thành viên trong nhóm
Trang 35biểu nội dung Các thành viên còn lại bổ sung ý kiến và tổng hợp Tập huấn viên tiến hành tổng kết hoạt động dẫn dắt nội dung vào bài học
- Tập huấn viên dẫn dắt và khơi gợi HS chia sẻ trải nghiệm: Em hãy chia sẻ
về một lần em bị stress Khi đó em đã làm gì?
- Tập huân viên đánh giá, nhận xét, sau đó dẫn dắt vào bài học: “Trong cuộc sống, mỗi chúng ta đều có thể gặp phải những tình huống gây ra tâm lí stress, ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể và tinh thần Tuy nhiên, nếu nắm vững được kỹ năng ứng phó thì chúng ta sẽ vượt qua được stress Để nắm rõ hơn về biểu hiện, nguyên nhân
và ảnh hưởng của strees gây ra, chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu các hoạt động tiếp theo hôm nay”
6 Đánh giá:
- Mỗi học sinh có thể cái nhìn tích cực về những giá trị tốt đẹp ở bản thân người khác
- Tạo bầu không khí hòa đồng, tin cậy
Hoạt động 2: Nhận diện được các biểu hiện của stress (20 phút)
1 Mục tiêu: Giúp học sinh nhận diện và gọi tên được những biểu hiện của stress
2 Phương tiện: Giấy màu, bút, máy chiếu, video, các hình ảnh minh họa về stress
3 Phương pháp: Thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi, đàm thoại
4 Cách thức tiến hành:
Bước 1: Tập huấn viên tiến hành phát cho mỗi nhóm những bức tranh có
chứa nội dung về các biểu hiện của stress, yêu cầu học sinh quan sát
- Tập huấn viên yêu cầu học sinh hãy nêu những tình huống gây căng thẳng trong mỗi bức tranh
- Tập huấn viên hướng dẫn học sinh so sánh trải nghiệm của bản thân và bạn cùng nhóm để có thêm thông tin về các tình huống gây ra căng thẳng Hiểu và nêu được biểu hiện của cơ thể khi bị căng thẳng
- Tập huấn viên yêu cầu học sinh liên hệ thực tế đưa ra các tình huống gây ra stress cho các em ngoài các tình huống đã nêu
- Yêu cầu các em hãy nêu những biểu hiện khi cơ thể bị stress được mô tả trong tranh và hướng dẫn các em sắp xếp các biểu hiện theo bốn nhóm: (1) Sinh lý (thể chất) (2) Nhận thức, (3) Cảm xúc, (4) Hành vi
Bước 2: Học sinh trao đổi và viết câu trả lời lên các tờ giấy màu được nhận Bước 3: Tập huấn viên thu kết quả và tiến hành giới thiệu nội dung về các
Trang 36biểu hiện của stress trong các tranh
Bước 4: Tổng kết
5 Handout:
- Khái niệm stress?
- Các biểu hiện của stress?
6 Đánh giá:
- Học sinh có thể nhận diện được bản chất và các biểu hiện của stress trong
học tập và cuộc sống
7 Nội dung thông tin hoạt động
1 Thông tin nội dung các bức tranh tình huống
- Tranh TH1: Bạn bị nói xấu, tẩy chay, cô lập, ngồi một góc riêng biệt
- Biểu hiện: Buồn, sợ hãi, tức giận, la hét, khóc lóc, đau đầu
- Tranh TH2: Bạn bị mệt mỏi do phải làm quá nhiều bài tập
- Biểu hiện: Đau đầu, mệt mỏi, đổ mồ hôi tay
- Tranh TH3: Bạn bị điểm kém và lo lắng, căng thẳng vì sợ bố mẹ mắng
- Biểu hiện: Khóc, buồn bã, sợ hãi
- Tranh TH4: Bạn cảm thấy sợ hãi khi bố mẹ cãi nhau
- Biểu hiện: Thu mình, tự cô lập bản thân, không muốn ăn uống
- Tranh TH5: Bạn bị đánh, đe dọa
- Biểu hiện: Sợ hãi, né tránh, thu mình, sợ đám đông
2 Khái niệm về stress
Stress là sự căng thẳng về tâm lý và sinh lý khi con người đối mặt với
những tình huống, sự kiện mà họ nhận thấy vượt quá khả năng của mình trong
cuộc sống và đe dọa về mặt thể chất và tinh thần
3 Biểu hiện của stress
Biểu hiện về mặt sinh lý
+ Đau đầu, đau dạ dày, đau nửa đầu
+ Đau ngực, tim đập nhanh
+ Bị tiêu chảy hay bị táo bón
+ Buồn nôn và chóng mặt
+ Ăn không ngon miệng
Trang 37+ Vả mồ hôi
+ Thường xuyên ớn lạnh, run rẩy
+Thường xuyên mệt mỏi
Biểu hiện về mặt tâm lý
- Biểu hiện qua mặt nhận thức:
+ Về trí tuệ: Gặp khó khăn trong các quá trình ghi nhớ; Khả năng đánh giá,
nhận định kém; Tư duy chậm hoặc không muốn tư duy; Có nhiều suy nghĩ âu lo, ý tưởng luẩn quẩn; Luôn hồi tưởng lại những điều buồn phiền gần đây nhất; Cảm thấy mất lòng tin, hay nghi ngờ; Chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực của mọi vấn đề, đánh giá cao khó khăn, đánh giá thấp bản thân; Không có khả năng đưa ra quyết định giảm rõ tư duy phê phán, phân phối chú ý không đầy đủ, giảm sút trí nhớ, quyết định thiếu chính xác, mất bình tĩnh, cáu gắt hoặc trơ lì
+ Về cảm giác và tri giác: Kém nhạy bén, tiếp thu thông tin chậm, nhìn nghe không rõ, cảm giác sai lệch, thiếu sự phối hợp giữa các cảm giác
+ Rối loạn cảm giác vận động: tư thế lúng túng, cứng nhắc, rối loạn sự phối
hợp các động tác, không thể tập trung
- Biểu hiện về mặt cảm xúc:
+ Rối loạn cảm xúc và thay đổi ứng xử
+ Cảm thấy mình tách hẳn các sự việc xung quanh, bất cần, khó chịu, nóng nảy, mất kiên nhẫn và không thể nào thư giãn được;
+ Cảm thấy bị áp đảo, mọi thứ dường như trở nên khó khăn hơn, khóc mà không rõ nguyên nhân
+ Dễ bị tức giận hay tổn thương; cảm thấy không an toàn và chỉ muốn ở những nơi quen thuộc; dễ xúc động hay lo lắng thái quá
+ Ủ rũ, buồn rầu, dễ xúc động, cáu kỉnh, dễ nổi nóng
+ Bức bối, không xoa dịu được căng thẳng
+ Dễ bị lây lan tình cảm theo hướng tiêu cực
+ Cảm thấy cô độc, bị cô lập, dễ bị tổn thương
+ Hân hoan cao độ rồi đột ngột buồn bã tột cùng, cảm thấy vô vọng
+ Tự đổ lỗi cho bản thân
+ Mất phương hướng
+ Bồn chồn, lo lắng và sợ hãi
Trang 38- Biểu hiện về mặt hành vi:
+ Có những hành động phi lý, cung cách ứng xử thái quá, dễ gây gổ, luôn cảm thấy người khác đáng trách, luôn cảm thấy mọi phiền toái hay tranh luận quá khích, né tránh học tập, ngại tiếp xúc…
+ Ăn quá nhiều hoặc quá ít
+ Ngủ quá nhiều hoặc quá ít
+ Không năng động như bình thường
+ Nói năng không rõ ràng, khó hiểu
+ Nói liên tục về một sự việc, hay phóng đại sự việc
+ Hay tranh luận quá khích
+ Thu mình lại, rút lui, không muốn tiếp xúc với người khác
Hoạt động 3: Nhận diện nguyên nhân và ảnh hưởng của stress
- Nguyên nhân dẫn đến stress (chủ quan và khách quan)?
- Ảnh hưởng của stress? (ảnh hưởng tích cực và tiêu cực)
Trang 396 Đánh giá:
- Học sinh có thể nắm rõ được nguồn gốc gây ra và ảnh hưởng mà stress mang lại cho cá nhân và bạn bè xung quanh
- Nhận thức đúng và có phương án ứng phó chủ động
7 Nội dung thông tin hoạt động
1 Nguyên nhân gây nên stress ở học sinh THPT
- Nguyên nhân từ môi trường sống gia đình: Đó là những vấn đề có liên
quan đến yếu tố kinh tế và tình cảm, sự kỳ vọng của những người trong gia đình đối với mỗi thành viên những yếu tố này thường phối hợp với nhau tác động rất mạnh mẽ đến cuộc sống, sinh hoạt, nhận thức, tình cảm và hành vi của các thành viên trong cuộc sống gia đình cũng như ngoài xã hội
- Nguyên nhân từ môi trường xã hội: Đó là những yếu tố liên quan đến
môi trường như tiếng ồn, sự ô nhiễm; hoạt động học tập và những mối quan hệ, ứng xử xã hội, tâm lý – xã hội, thay đổi chế độ chính trị
- Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên: là những yếu tố như khí hậu, thời
tiết
- Nguyên nhân từ bản thân: Bao gồm yếu tố sức khoẻ như những rối loạn
bệnh lý mới xuất hiện, bệnh lý ở giai đoạn cuối, hoặc bệnh lý mãn tính; yếu tố tâm lí là mức độ thích nghi của các thuộc tính tâm lí, bao gồm những thuộc tính thuộc về nhân cách như: năng lực, ý chí, tình cảm, nhu cầu, nhận thức, kinh nghiệm của chủ thể, ví dụ như: tâm lí tự ti, suy nghĩ tiêu cực, lo lắng thái quá, ngoại hình cơ thể, so sánh bản thân với người khác,…) Ngoài ra có thể là những yếu tố có liên quan đến vô thức (giấc mộng, linh cảm ) hoặc những dồn nén từ thời thơ ấu trong quá khứ
2 Những ảnh hưởng của stress mang lại cho học sinh THPT
* Ảnh hưởng tích cực
Stresss với cường độ tác động vừa phải là một loại stress dương tính
(eutress) có thể tạo nên sức mạnh tinh thần và thể chất tức thời nó sẽ giúp lượng máu dồn đến các cơ bắp để làm các cơ bắp cứng lên, đồng thời cũng làm tăng nhịp tim và huyết áp trong máu Mặt khác, làm cho chủ thể cải thiện tư duy, trí nhớ, sáng tạo, năng động, hăng hái, nhận thức được những tác nhân gây stress và
khả năng ứng phó của mình trước stress
* Ảnh hưởng tiêu cực
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và các hệ thống chức năng: Khi
Trang 40bị stress kéo dài, hệ miễn dịch bị tấn công nên chúng ta dễ nhiễm bệnh hoặc mắc các bệnh kinh niên như đau dạ dày, chảy máu tiêu hóa, tăng huyết áp, nhồi máu
cơ tim, tai biến mạch máu não Ngoài ra, con người dễ tăng trọng lượng một cách bất thường, đau đầu và thường xuyên mất ngủ
- Ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ và giữ gìn tri thức: Khi cá nhân bị
stress, có nhiều khả năng họ sẽ quên các sự kiện diễn ra trong cuộc sống thường ngày và có thể gặp trở ngại khi tái hiện các dữ liệu, thông tin này khi cần thiết trong thực tiễn cuộc sống
- Ảnh hưởng đến óc suy xét, lương tri: Một số cá nhân thường lạm dụng
chất kích thích như thuốc lá, rượu, chơi game xem đó là cách để giải toả stress Tuy nhiên, càng đẩy họ vào con đường bế tắc, hủy hoại bản thân hoặc phạm pháp
- Có thể dẫn đến các vấn đề về sức khoẻ tâm thần: Con người đối mặt với nhiều
stress có thể cũng luôn ở trong trạng thái lo âu, từ những trường hợp lo lắng nhẹ cho đến những trường hợp rối loạn lo âu Ngoài ra, những cá nhân không thoát ra được stress đã mắc chứng trầm cảm từ nhẹ đến nặng và thậm chí có ý nghĩ và
thực hiện hành vi tự vẫn
Hoạt động 4: Tổng kết nội dung bài học (10 phút)
- Tập huấn viên hỏi học sinh về các biểu hiện, nguyên nhân và ảnh hưởng của stress ở độ tuổi học sinh
- Phát biểu suy nghĩ của học sinh về buổi học ngày hôm nay
2.1.2 Module 2 - Nhận diện hai nhóm ứng phó tích cực và tiêu cực -
Kỹ năng xây dựng chiến lược ứng phó tích cực
2.1.2.1 Giới thiệu tổng quan
- Module giới thiệu cho học sinh về những kiến thức chung về các kiểu ứng
phó khi đối diện với stress ở học sinh Từ đó xây dựng chiến lược ứng phó tích cực
và chủ động
2.1.2.2 Mục tiêu Module
Sau khi học tập và thực hành xong Module này, học sinh có thể:
- Nhận diện được các cách ứng phó của bản thân và người khác đã và đang
sử dụng trong học tập và cuộc sống
- Phân biệt và hiểu rõ được các nhóm ứng phó tích cực và tiêu cực
- Thực hành nhận diện và ứng dụng thông qua các tình huống