1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn trọng tài vụ việc theo pháp luật trọng tài thương mại việt nam

106 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn trọng tài vụ việc theo pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Hoa Lê Diệm
Người hướng dẫn GS.TSKH Đào Trớ Úc
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiên, nhiệm vụ nghiên cứu: Để tài p tung nghiên cửu cơ sở lý luận, những van dé pháp ly cua TTTM 'Việt nam theo Pháp luật vẻ TTTM Việt nam, đựa trên những cơ sở sau đây: 1 Nghiê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUOC GIA IIA NOL

KHOA LUAT

PHAM THI HOA LE DIEM

TRONG TAI VU VIEC THEO PHAP LUAT TRONG TAI

THUONG MAI VIET NAM

LUAN VAN THAC SY LUAT HOC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc

Hà Nội - 2010

Trang 2

LOI CAM ON

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cửu của riêng tôi Các kết quả

nêm trong Luận văn chưa âược câng bỗ trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu,

ví dụ và trích dẫn trong Luận văn dâm báo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi dã boàn thành tất cá các môn hoe và đã thanh toán tất cả các ngIĩa vụ tài chính theo quy

định của Khoa Luật Đại bạc Quốc gia Hà Nội

Lập tôi viết Lời cam đoan này để nghị Khoa Luật xem xét đã tôi có thể bảo vệ

Truận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn

NGƯỜI CAM DOAN

Trang 3

Nhiing van đề lý luận về Trọng tài thương mại

Khái nigm Trọng tải và Trọng tài thương mại

'Thâm quyền giải quyết tranh chấp của 'Trọng tài thương mai

Các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tải

So sánh hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tai voi ede Link

thức giải quyết tranh chấp khác như: thương lượng, hỏa giải, tòa án

Tháp huật Việt Nam về hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng

“Trọng lải vụ việc

Khái niệm, đặc điểm của Trọng tai vụ việ

Thánh lập và hoạt động hội đông Trọng tài vụ v

8o sánh hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài vụ việc với

‘Trong tai thường trực

Vai trò của Tòa án trong quả trình giải quyết tranh chấp thương mại

bằng Trọng tải vụ việc

Chương 2: THỰC TRẠNG VẺ TÌNH HÏNH HOẠT ĐỘNG CỦA

'TRỌNG TÀI VỤ VIỆC Ở VIỆT NAM

'Thực trạng về tinh hình giãi quyết tranh chấp thương mại bằng trong tai

Các nguyên nhân dẫn đến thực trạng hoạt động trên của Trọng tài

thương mại Việt Nam

Trang

49

59

Trang 4

Chương $3: PHƯƠNG HƯỚNG VA CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO

HIỆU QUA HOAT DONG CUA TRỌNG TÀI VỤ VIỆC

Phương hưởng nâng cao hiệu quả hoạt đồng của Trọng tải vụ việc

Một số kiến nghị nâng cao liệu quả hoạt dòng của Trọng tài vụ việc KẾT LUẬN

DANII MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MUC CHU VIET TAT

Tiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á Tiệ luật Tả tung, dan su năm 2004 Tiệp định chung vẻ thương mại địch vụ Hiệp định chung về thuế quan va mau dich Khu vire thuong mai tu do 4 Rap

Trung tâm Trợng tài Quốc tế Hang Kong

"Phòng thương rnại quốc tế 'Tủa án nhân đân

Trọng tai (huong mai

‘Trung tim trong, tai Trung tâm Trọng tải kinh tế

Trung tâm Trọng tài thương mại

1Iiệp định vẻ các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại Hiệp định về các khía canh liên quan đến thương mại eủa quyền sở hữu trí tuệ

dy ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc Trưng tâm Trọng tai Quốc tế Việt nam bên cạnh Phỏng thương, mại và Công nghiệp Việt Nam

Tế chức thương mại quốc tế

Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

DANH MUC CAC BANG, DO THI, BIEU DO

Trọng tải quốc tế Việt Nam từ nấm 1993 - 2002

Thông kẻ các vụ giải quyết tranh chấp bằng, Trọng tài tại các Bang 22 _ | trung tâm Trọng tài ở Việt Nam trong các năm 2001, 2005, 62

2006

Đổ thị 21 | Mức độ ru biến lựa chọn phương thức giấi quyết tranh chấn 64 Biéudd 2.1 | Thực hạng số dụng Trọng tài để giấi quyết tranh chấp 64 Biến đã2.2 | Nguyên nhân các bên tanh chấp ÍL sử thạng Trọng th dB gid] quyết tranh chấp

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tải

Trong bồi cảnh Việt nam dang hội nhập sâu rộng vào nền kinh lễ quốc tế và khu vue, mà một tronp những hệ quã của nó là sự tăng lên nhanh chóng cáo hoạt động kinh

tế, thương mại và đầu tư Nên kính lế phát triển, một vẫn để mang tỉnh tật nhiên là các

tranh chấp km tế xảy ra đưới rất nhiều hình thức khác nhau: tranh chấp giữa các chủ thể trong giao kết hợp đồng: tranh chấp phát sinh trong quá trình sẵn xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ly, tranh chấp vẻ cổ phân cỗ phiến, tranh chấp giữa công ty và các thành viên trong công ‡y Vậy khí phát sinh tranh chấp thì vấn để đặt ra là các doanh nghiệp lựa chọn hình thức nào đề giải quyết các tranh chip

Song sau bảy năm triển khai trên thực tiễn, kế từ khi Pháp lệnh ra đời, kết quả cho thay

Trang 8

theo quy tắc của một tổ chức Trọng tải nào mà do các bên tự thỏa thuận nên quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp lã rất lớn, chỉ cần hai bên có thiện chí thì tranh chấp sẽ được giải quyết nhanh gọn, thuận tiện Trọng tải vụ việc có thế nói là phương thức giải quyết rất thích hợp với các tranh chấp trong hoạt động thương nại

ở Việt Nam tuy hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đã được hình thành khả lâu nhưng phải đến khi Pháp lệnh TTTM 2003 ra đòi, Trọng lãi vụ việc mới chỉnh thức dược thừa nhận Song các quy dịnh trong pháp luật Việt Nam vẻ hình thức Trọng tài này vẫn còn so sài, chưa cụ thể chỉ tiết, vi vậy chưa thể hiện được hết những tỉnh răng ưu việt của loại hình này Dẫn đến hình thức Trọng tài vụ việc vẫn là khá mới

mẻ với các doanh nghiệp và các vụ việc giải quyết bằng hình thức này vẫn côn rất Ít ôi,

chữa tương xứng với những tính năng tui việt của nd

Tae gid chon dé tai này vì những lí do sau đây

- Trên cơ sở đối chiếu các quy định với thực tiên sử dụng Trọng tải trong giải quyết tranh chấp, luận văn tìm ra những mặt hạn chế, tích cục của các quy định pháp luật hiện hành, từ đó đưa ra những, ý kiến đẻ xuất phủ hợp dễ khắc phục những hạn chẻ của pháp luật Việt Nam hiện hành về vẫn để TTTM với bình thức Trọng tải giải

16 [14 Nội phải xử gân 300 vụ, trong đó việc sử dụng hình thức Trọng tài vụ việc lại cảng 1L hơn Thực tế này cho thấy loại hình “địch vụ” này chưa thu hút được sự chú ý của các khách hàng là các doanh nghiệp và các thương nhân Nguyên nhân của tỉnh trạng nảy có thể do tính quá mới của hình thức giải quyết tranh chấp nảy, cũng có thể

do các quy định của phúp luật Trọng lài còn chưa phù hợp với [hực tiễn Việo nghiên cửu một cách sâu sắc các quy dịnh pháp luật vẻ Trọng tải thương mại, đặc biệt là các hình thức giải quyết của nó sẽ giúp cho việc lựa chọn các hình thức giải quyết tranh

Trang 9

chấp thương mại phủ hợp hơu với thực tế các vự tranh chấp và thỏi quen trong, giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại của mước ta

- Việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần nâng cao nhận thức của các chủ thể hoạt động kinh doanh và của công đân về Trọng Lài và sử dụng Trọng tài vào việc giải quyết các tranh chấp thương mại

2 Mục tiên, nhiệm vụ nghiên cứu:

Để tài p tung nghiên cửu cơ sở lý luận, những van dé pháp ly cua TTTM

'Việt nam theo Pháp luật vẻ TTTM Việt nam, đựa trên những cơ sở sau đây:

1) Nghiên cứu, khái quát lý luận về Trọng lài hương trai

2) Nghiên cứu một cách có hệ thống vả toàn điện các quy định của pháp luật 'Việt Nam hiện bành điều chỉnh vẻ các hình thức Trọng tài nói chung và Trọng tài vụ việc nói riêng,

3) Phân tich thực trạng cúa việc sử dụng, Trọng tải vụ việc trong giải quyết các

tranh chắp thương mại cửa cáo doanh nghiệp vả thương nhân Việt Nam

4) Đưa ra những mặt hạn chế và tích cực của pháp luật hiện hành, qua dó dễ ra giải pháp khắc phục những hạn chế đỏ góp phần vao việc sửa đôi, bỗ sung những quy định pháp lý liên quan đến việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tải vụ việc nói riêng và Trọng tài nói chung,

3 Tinh hình nghiên cứu vẫn dễ này ở Việt Nam và ý nghĩa fy luận của dễ tài

Hiện nay đã có nhiên công trình nghiên cứu bao gêm: Luận văn tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ về vẫn để Trọng tài thương xuại Ví dụ một vài

công trinh nghiên cứu như: Iatận án thạc sỹ luật học “Giải quyốt tranh chấp thương mại

có yêu tô nước ngoài bằng TTTM Việt Nam, những vẫn để lý luận và thực tiễn”, của Vũ Thị Ngân Hà, Đại học Quốc gia Hà Nội (2006); Luận án thạc sỹ luật học “Giới guyết tranh chấp đầu tư nước ngoài bang Trong tai & Vidt Nam trong điều kiện hội nhập

quốc iÊ" của Nguyễn Thị Hường, Đại học Quốc Gia Hà Nội (2008), Tuuận án liên sỹ huệt học, “oàn thiện pháp luật về tài phản kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, của Nguyễn Thị Hoài Phương, Viện Nhà nước và Pháp luật (2007), Luận án tiến sỹ luật học Hoan

thiện pháp luật về TTTM của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc lÉ”, của Nguyễn

Trang 10

Dinh Tho, Hai học Luật Hà Nội (2007) Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức Trọng tài vụ việc đã được để cập trong cáo công trình nghiên cứu nhưng chưa chuyên sâu, côn rãi rác trong các bài báo, bài việt của các luật gia, chưa có một công, trình nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về vẫn dễ này

Trước thực trạng vẻ sử dụng Trọng tài vụ việc trong giải quyết các tranh chấp

thương mại đã và đang điễn ra hiện ray, việc nghiên cứu một cách có hệ thống việu sử

dụng Trọng tài vụ việc trong giải quyết tranh chấp thương mại có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc hoán thiện các quy phạm pháp luật đâm bảo sự thuận lợi, hợp ly trong việc chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài của các doanh nghiệp và trong hoạt động tỏ tụng của các trung tầm

trong tai

4 Phương pháp nghiên cứu

Với để tải này tác giá sẽ sử dụng phương phép tổng hợp, phân tích, so sánh các quy định của pháp luật TTTM Việt Nam về vân đẻ nghiên cứu, để từ đó rút ra kết luận

vẻ những ưu điểm và những hạn chế của hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tải

so với hình tặc giải quyết tranh chấp khác, của hình thức Trọng tài vụ việc với T

tài thường trực Ngoài ra tham khảo các quy định trong luật mẫu về TTTMí quốc tế ủa

ủy bạm Tiên hợp quốc về TTTM quấc tế để từ đó có thê thấy được sự tương đồng cũng, như khác biệt rong quy định pháp luật Trọng tài của Việt Nam để từ đỏ có những điều chính cho thích hợp khi hội nhập kinh tế khu vực và quốc tẻ

5 Bồ cục của luận văn

Trong luận văn này, ngoài phân Mở đấu, các nội dung chính của luận văn nữ sau:

Chương 1: Những vẫn để lý luận chung về Trọng tài thương trại

Chương 2: Thực trạng vẻ tình hình hoạt động của Trọng tải vụ việc ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng vá các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trọng tài

vu vide

Kết luận.

Trang 11

Chương 1: NHỮNG VĂN DE LY LUAN CHUNG VE TRONG TAI THUONG

MAL

1.1 NHUNG VAN BE LY LUAN VE TRONG TAI THUONG MAI

1.1.1 Khái niệm ‘Trong tai và Trọng tải thương mại

Dưới góc độ ngữ nghĩa, theo Từ điển Tiếng Việt “Trọng tải” là người được cũ,

dé ra dé phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp.|39| Cờn theo Từ diễn Hán Việt thì

“Khi hai bên tranh chấp đứng ở giữa đẻ phân xử gọi lả trọng tải”

Kinh nghiệm nhiễu mước cho thấy Trọng tài là phương thức giải quyết tranh

chấp “tư” lâu dời và thậm chí ra dời trước cá Tòa án (cỏ thông tin về sự tồn tại của Trọng tài từ thời Ai Cập, Ily Lạp cổ đại) Trọng tài được sở dụng rộng rãi nhất trong quan hệ kinh đoanh, thương mại nhưng cũng được sử dụng nhiều trong giải quyết các tranh chấp khác như: lao động, dân sự, báo vệ người tiêu đúng, gia đỉnh vả thậm chi

giải quyết các các tranh chấp giữa cáo quốc gia với nhà đầu tư nước ngoài TIiện tại thì

Trọng tài được khuyến khích sử dụng tại hân hết các nước lrên thế giới vì những ưu

diém của nó

Theo WTO, Trong tài là một trong những dich vụ thương mại giêng như nhiều

địch vu thuong mai khde, tức là cô yếu tố cạnh tranh và thị trường,|18{

Theo pháp lệnh TTTM: Việt nam 2003 Trọng tài lá phương thức giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thôa thuận và được tiên thành theo trình tự, thể tục tổ bụng đo Pháp lệnh quy định

Như vậy dù được xem xét ở góc độ nảo đi nữa, Trọng tài trước hết được hiểu lả một phương thức để phân xử các tranh chấp ä đây Trọng tài đóng vai trò người trung gian (thử ba) để dàn xếp giải quyết mâu thuần một cách hợp lý và công tâm Người thứ

ba này có thể lá tổ chức hoặc cá nhân nhưng nhất thiết phái được các bên tranh chấp tự

do lựa chọn

Thể chế Trọng tải luôn thể hiện tính chất hai mặt dỏ Ìä thỏa thuận vá tải phản, tính chất hai mặt nảy làm nên sự khác biệt của hình thúc giải quyết tranh chấp bing Trọng tải so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác Trong nhiều lĩnh vực của đời sống đều có thể áp dụng hình thức giải quyết tranh chap bang trong 143 Tuy nhiên với

Trang 12

những đặc diễm của Trọng tải làm cho nỏ đặc biệt phủ hợp với các tranh chấp trong,

kinh doanh thương mại

Thuật ngĩt “Thương mại” theo Bách khoa toàn thư mở - thương mại được hiểu là hoạt động trao đôi của cải, hàng hóa, địch vụ, kiến thức, tiên tệ vv giữa hai hay nhiều

đổi tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiên thông qua giá cả) hay bằng hang

hóa, địch vụ khác như trong hình thức thường xnại hàng đổi hàng, Trong quá Irình này, người bán là người cang cấp của cai, hang liỏa, dịch vụ cho người mua, đổi lại người xnua sẽ phải trả cho người bản một giá trị tương đương nào đó,

ở Việt Nam thuậi ngữ “Thương mại” được sử dụng khả rộng rãi trong đời sống,

xã hội vả trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 Theo Laiệt Thương mại Việt Nam 1997, khái niệm

“thương mnại” dược hidu theo nghĩa hẹp, bạo gồm 14 bánh vì điều chỉnh các quan hệ mua bản hàng hoá và dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bản hảng, hoá Đối tượng của

việc mua bản hàng hoá bị giới bạn ở các động sản, chủ yêu là các máy móc, thiết bị,

nrguyên liệu, vật liệu phục vụ sãn xuất, tiêu đùng, các động sản khác được lưu thông, trên thị trường, nhà ở dang để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua ban (Diéu 5 Luật Thương mại 1997) Các bất động sản như nhà máy, công trinh xây dựng (không phải B nhà ö), các quyền Hài sân như cô phần, cổ phiếu, trải phiếu, các hành vị liên quan trục tiếp đến mua bán hàng hoá như vận chuyền hàng, thanh toán tiên mua hang qua hệ thông ngân hàng không thuộc phạm vi điêu chính của Luật thương mại 1997 Việu xác định phạm vĩ điều chẳnh theo điệu hợp của Tuuật Thương mới 1997 trên thực tổ

đã phát sinh nhiều van để, không chỉ trong quá trình thực hiện các giao dịch thương, mai mà còn ảnh hưởng đến việc giải quyết các Iranh chấp thương nại, tiếp sau đó là việc công nhận và cho thì hảnh các bản án, phán quyết của Trọng tải nước ngoài Thực

tế cho thấy nhiễu băn án của toả án và phản quyết của Trọng tài nước ngoài, đặc biệt là các vụ tranh chấp liên quan đến đầu tư, xây dựng đá không được thực thì ở Việt Nam

do nằm ngoái phạm vĩ điều chỉnh của Luật hương mại

Trong khi đó, ở các nước trên thế giới, khái niệm thương mại ngày càng được

mở rộng ra với một nội hàm rộng lớn, bao gẩm tắt cả các hoạt đông nhằm mục đích tìm

Trang 13

kiểm lợi nhuận Chẳng hạn như, Hộ luật thương mại só 48 của Nhật Bản ngày 9/3/1899, thuật ngữ thương mại được đừng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục địch lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như địch vụ vận tãi, cưng ứng điện hay khi dốt, uỹ thác, bão hiểm, ngân hàng Luật Thương mại của Philppin tay không đưa ra các hành vi thương mại cụ thể mã quy định phạm vi điền chỉnh lả cáo hoạt động, nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá và dich vu với mục đích thu lợi nhuận Bộ luật thương mại của Thái Lan cũng dưa ra khái niệm thương mại khả rộng không chỉ bao gém việc mua ban hang hoá mà cả các hoạt động thuê tải sản, thuế mua tải sản, tín

dung, thé chap, dai điện, rnôi giới, bảo hiểm, công ty, Hợp danh Cách hiểu khái niệm

thương mại nêu trên cũng tương đồng với cách hiểu trong một số Hiệp dịnh quan trọng, của ASBAN, IHệp định thành lập Tế chúc thương mại quốc tế gồm nhiều Tiệp định cấu thành như Hiệp định GATT, GATS, TREMs, TRIPs, [40]

Luật Thương mại 2005 được ban bảnh ngày 14 /6/2005 thay thể Luật Thương mại 1997 đã cho ra đời khái niệm “ Ioạt động thương rnại” Theo đó hoạt động thương mại là hoạt dộng nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch

yụ, đầu tư, xúc tiến trương ruại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Diễu 3, khoản 1, Luật thương mại 2005) Khái niệm hoạt động thương mại theo Luật thương nại 2005 của Việt Narn đã được mỡ rộng theo quan tiệm thương mại của UNCTTR.AI,

và của WTO Việc mỡ rộng này tạo cơ sở cho việc thích ứng pháp luật thương mại Việt Nam với pháp luật trong nước hiện hành và pháp luật thương mại quốc tế, đáp ứng được yêu câu hội nhập kinh tế quốc kế

Trọng tài - tuy là một hinh thức giải quyết tranh chấp có lịch sử phát triển khá

lâu đi ở nước 1a (từ những năm 60), song khái niệm “Trọng lải thương mại” chỉ mới dược ghi nhận năm 2003 với sự ra dời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại Đởi hệ thếng Trọng tải trước đó là “Trọng tải kinh tế” - một co quan hành chỉnh nhà nước có chức tăng giải quyết các tranh chap long hợp đồng kinh tế giữa các đoanh nghiệp nhà nược Củng với sự chuyển déi sang nẻn kinh tế thị trường, Trọng tài dã dẫn trở thánh một tổ chức phi chỉnh phủ có chức năng tài phán Pháp lệnh TTTM là mốc quan trọng tương lịch sử phát triển của pháp luật Trong lải củn Việt Nam Đó là nên tầng pháp lý

Trang 14

cho Trọng tài hoạt dộng tiếp cận, hoa nhập với Trọng tải của các nước phát triển, khẳng, định bản chất pháp lý và vai trò quan trọng của Trọng tài trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Khái niệm TTTM được thay thể cho khải niêm Trọng tải kinh

tế hay Trọng tải phú chính phủ rước dây và bản chất pháp lý của khỏi niềm này được

xác định đầy đủ trong Pháp lệnh Trọng tài Thuong mai

Theo Pháp lệnh TTTM 2003 thì Trọng tải 1à “phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại” và hoạt dộng thương mại được hiểu là “Việc thực hiện một hay nhiêu hành vi thương mại của cá nhân, tổ chúc kinh đoanh bao gồm rnua bản hàng hóa, cùng ứng dich vu, phan phối, đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê; cho thuế, thuê mua; xây dựng, ta vẫn, kỹ thuật, ]¡ - xăng, đầu tư, tài chỉnh, ngàn hang; bao hiểm: thầm đỏ, khai thác; vận chuyên hàng hoá, hành khách bằng đường tràng không, đường biển, dường sắt, dường bộ và các hành ví thương mại khác theo quy

định của pháp luật” Như vậy theo quy định của Pháp lệnh thị 'T'TTM chỉ giái quyết các

tranh chap trong lĩnh vực thương mại, giữa các chủ thể là cá nhan và tá chức kinh

doanh Tuy nhiên trong quá trình triển khai trên thực tế khái miệm nảy đã bộc lộ nhiều điểm bất cập với thục tế cũng như với các quy định pháp luật hiện hành như khó phân biệt tranh chấp đân sự với tranh chấp thương mại dẫn đến phán quyết của Trong thi dé

bị Tòa án tuyên hôy, nhiều tranh chấp không được giải quyết vì không xuất phát từ hành vi thương mại hay các bên không phải là “cá nhân, tổ chức kinh đoanh”

Khắc phục hạn chẻ trên, Luật Trọng tài thương mại 2010 ra dời thay thế Pháp lệnh đã có cách nhin nhận mở rộng vẻ khái niệm này, theo đó Trọng tải thương được hiểu là “phương thức giải quyết tranh chấp do cdc bén thea Huan và dược tiên hành theo quy định của Luật này”, và mở rộng thấm quyền giải quyết các tranh chấp của TTTM không chỉ giới hạn trong nh vục thương mại mã cả các tranh chấp khác rà

pháp luật quy dịnh dược giải quyết bằng trọng tài (Điều 2)

Có thể nói Luật TTTM hiện hành đã xây dựng được khải niệm “Trọng tài thương mại” mật cách hoàn chỉnh nhật, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh hiện nay và tương thích với hệ thông pháp luật hiện hành của trong nước cũng như trên thê giới

Trang 15

1.1.2 Thấm quyền giải quyết tranh chấp của Trụng tài thương mại

Thẩm quyền của Trọng tài được hiểu là giới hạn của những vụ việc mà Trọng tài được quyền giải quyết, thế hiện ở hai nội dung cơ bản: Phạm vỉ các loại việc Trọng tài được giải quyết và thâm quyền của các Trung tâm Trọng tài về giải quyết tranh chấp theo sự lựa chọn của các bên tranh chấp

- Thẩm quyển theo phạm ví các loại việc được gãi quyết

Mặc đù hoạt dộng của Trọng tải là theo sự thoả thuận của các bên nhưng nếu tranh chap đó không được pháp luật quy định thuộc thấm quyển Trọng tài thì Trọng tài không được giải quyết, nếu giải quyết thì quyết định của Trọng lãi số bị Toà án huỷ khi

cỏ yêu câu

Pháp luật các nước thường xác định phạm vi thâm quyền của Trọng tài theo hai cách Cách thứ nhất liệt kê những tranh chấp có thế giải quyết bằng trọng tài Theo cach nảy, những, tranh chấp nằm ngoài phạm v¡ được liệt kẽ Trọng tải không thể giái quyết

Cách quy định này tạo thuận lợi cho người nghiên cứu nhưng có điểm hạn chế là không,

bao quát, dự liệu dược các tranh chấp có thể giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài nên

sẽ hạn chế quyền lựa chọn cửa các bên tranh chap và hạn chế hiệu quả boạt động của Trọng tài Phương pháp này sẽ không phù hợp với những nước có nên kinh tế thị trường đa đạng về chủ thê và các loại tranh chấp,

Cách thứ hai liệt kẽ các loại việc không thuộc thâm quyên giải quyết của Trạng tải Theo phương pháp loại trừ này, thắm quyên của Trọng tài được xác định ở phạm ví

mỡ, tạo khả năng thích ứng và lĩh hoạt trong tố tụng trựng tài Nhiễu quốc gia áp dụng

cách thứ hai, theo đó về nguyén tac không che phép Trạng tài giải quyết cáo vẫn đề liên

quan về: quyên nhân thân, tình trạng cá nhân, quan hệ liôn nhân, gia đình; tranh chap

vẻ phả sản, võ nơ công ty, về sở hữu trí tuê; tranh chấp liên quan dến trật tự công công,

loại việc Trọng tài được giải quyết (Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tải Thương mại),

So với các quy định trước đây cách liệt kẽ này cũng đã mở rộng phạm vi Trọng tải ở rất nhiều lĩnh vực Theo cuy định lại Pháp lệnh thì thỏa thuận Trọng tài chỉ có giả trị pháp

Trang 16

lý đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại Điều đỏ cỏ nghĩa, bắt cứ hoạt động thương mại nào theo quy định của pháp luật chung, các bên có thẻ bắt đầu

định hướng việc giải quyết tranh chấp bằng việc ký kết hợp đồng có điều khoản về thỏa

thuận trọng tải Tuy nhiên qua 6 năm áp dụng vả thị hành trên thực tế đã bộc lộ một số hạn chế nhất định về vẫn đề nảy

Thử nhất, đã có cách hiểu khác nhau vẻ thuật ngữ “Thương mại” trong Pháp

lệnh Điều này dần đến tranh cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tải Đỏ là các tranh chấp phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp liên quan đền việc góp von, cô phân, cô phiéu liéu co được giải quyết bằng Trọng tài khi trong Điều 3 khoản 2 không liệt kê Có ý kiến cho rằng các loại tranh chấp này đương nhiên thuộc thắm quyền của Trọng tải bởi vì việc mua bản cỏ phiêu, trải phiếu cũng như việc góp vốn chỉnh là hoạt động đầu tư, tải chỉnh vì có bản chất kinh doanh thu lợi nhuận Hơn nữa, cần phải hiểu tính “mở” của khái niệm thuật ngữ thương mại trong Pháp lệnh Theo đỏ, ngoài việc liệt kê các hành vi thương mại, Pháp lệnh còn quy định “các hành

vi thương mại khác theo quy định của pháp luật" Do vậy, bắt kỳ quy định nào của pháp luật xác định lĩnh vực hoạt động là thương mại thì Trọng tai đều cỏ thâm quyên

giải quyết

Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng Trọng tài không có thâm quyền giải quyết

các loại tranh chấp trên bởi vi các tranh chap nay khong được liệt kế cụ thê tại Khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh Do vậy, chỉ có Tòa án mới có thâm quyền giải quyết các tranh

chấp nảy theo quy định tại Điều 29 Bộ luật tổ tụng, đân sự năm 2004

Từ sự hiểu khác nhau vẻ thuật ngữ “Thương mại” trong Pháp lệnh dẫn đến sự

khác nhau vẻ tham quyên giải quyết tranh chap của Tòa an và Trọng tài Cụ thể, dựa theo quan điểm “mở” Trọng tài có thẻ thụ lý giải quyết các tranh chấp thuộc Điều 29

nêu trên Tuy nhiên, nêu áp dụng một cách máy móc vả dựa theo nguyên tắc “chỉ được

lam những gì luật pháp cho phép”, Tòa án sẽ cho rằng Trọng tải vượt quả thầm quyền Điều nảy dẫn đến hậu quả là các quyết định Trọng tải có nguy cơ không được Tòa án công nhận và cho thí hành.

Trang 17

Thử hai, đỏ là phạm vị các chủ thể dược giải quyết tranh chấp bang Trọng tải Tiểu 2 khoản L Pháp lệnh quy định “7rọng tài là phương thúc giải quyết tranh chấp

phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiên hành theo

trình tự, (hủ tục tổ tụng do Pháp lệnh này quy định” Theo quy dịnh trên, thuật ngũ

“các bên” sẽ cĩ hàm ý rất rộng, các bẻn cĩ thế là cá nhân hoặc tố chức Trong khi đĩ,

Nghĩ định của Chính phủ số 25/2004/NĐ-CT quy định chỉ tiết thí hành một số điều của Pháp lệnh lại giới hạn phạm vi cha thé chi bao gồm “cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh đoanh” Cụ thể, Điều 2 của Nghị định quy định *TTTM cĩ thấm quyền giải quyết tranh chấp phái xinh trong hoại động thương mại quy định lại khoản 3 Điều 2

Š chức kinh doank”

của Pháp lệnh mà các bên tranh chấp là cá nhân kinh doanh hoặc

Như vậy, trong khi tỉnh thân của Pháp lệnh thi “mé” nhưng văn bản hưởng đẫn thỉ hành, tuy cĩ hiệu lục thấp hơn, lại đưa ra quy định “đêng” Diễn này khiến các

Trung tâm Trọng tài đã phải từ chi rất nhiều vụ tranh chấp do chả thế ký thoả thuận

"Trọng tải khơng phải la "tơ chức, cá nhân kinh doanh”

‘Trong thực tế, cĩ rất nhiều tổ chức, như các ban quản lý dự án, tham gia đầu thâu hoặc giao kết các hợp đồng, trong đĩ sử dụng Trọng tài theo khuyến nghị của các

nha Wai trợ, định chế tải chính như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu á Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp, các trung tâm Trọng tài của Việt Nam sẽ phải từ chối giải quyết vi các chủ thể này khơng phải là tố chức kinh doanh Điều này khơng phủ hợp với pháp luật và thực tiển Trợng tải quốc tế vốn chỉ nhắm manh tiêu chỉ thoả thuận, nghĩa lả khi cĩ thố thuận của các bên chọn Trọng tài thì Trọng tải sẽ co thẳm quyên Cơn tiêu chứ chủ thế ký thoả thuận Trọng tải khơng cĩ ý nghĩa quan trọng, thậm: chỉ rong một số trường hợp chủ thể kỷ thoả thuận Trong tải là Nha nước thì thoả thuận 'Trọng tải vẫn cĩ giá trị bởi vì bằng việc tự nguyện ký kết thộ thuận trọng tài, Nhả

nước đã “từ bỏ” quyền miễn trừ của mình [40]

Do những bắt cập trên Luật TTTM 2010 đã mở rộng phạm vi thẩm quyển của Trong lài cả về lĩnh vục tranh chấp và các bên tranh chấp Vé Tinh vực tranh chấp: Trọng tài được quyền giải quyết tranh chấp khơng chỉ trong thương mại rả cả các

Trang 18

tranh chấp khác Vì trên thực tiên giải quyết tranh chap tai ‘loa an va lrọng tải ở Việt nam cho thấy việc phân biệt các vụ việc ranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh thương mại là rất khó, đẫn đến nhiều vụ việc không được thu lý, nhiều phản quyết Trong tải dễ đăng bị Tòa ám tuyên húy vô hiệu do không dúng thảm quyền vì cho rằng

vụ tranh chấp không xuất phát từ hành vi thương mại, cũng như khó khăn của Tòa án

và Trọng lãi trong việc xác định thé mảo là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi Về các bên tranh chấp: TTTM dược giải quyết tranh chấp phat sinh giữa các bên mà ít nhất một trong các bên có hoạt động thương mại mà không nhất thiết phải là các tổ chức, cá nhhân kinh doanh như phân tích ở rên Quy định này của Luật TTTM gớp phần bảo dam cho thỏa thuận Trọng tài không bị vỏ hiệu, phản quyết Trọng tài không có nhiều nguy cơ bị Tòa án tuyên hủy, tạo hành lang pháp lý rộng rãi, an toàn, vững chắc hơn cho cơ chế giải quyết anh chấp Đằng Trọng tài

- Thẩm quyển theo sự thủa thuận lựa chọn của các bên tranh chap

'Thâm quyển của các Trung tâm 'Trọng tài không được pháp luật phãn định theo

vụ việc hay lãnh thể mà hoản toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên Nói đúng liơn thẩm quyền của các Trung lâm Trọng lái giống nhau nhưng nơi nào chưa được lựa chọn thi cỏ quyền giải quyết tranh chấp Quy định nảy của Luật TTUM đã tạo nên một mặt bằng pháp lý bình đắng cho tắt cả các Trung tâm Trọng tải trên cả nước

Cần cũ pháp lý để xác định vụ việc thuộc thấm quyền của mỗi Trung tâm Trọng tài là thoả thuận Trọng tài do các bên thành lập, Các bèn tranh chấp cá quyền thoá thuận hịa chọn bất cử Trung tâm Trọng tài nào mà không phụ thuộc vào quốc tích, nơi

cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của các bên Trên cơ sở quy dịnh của pháp luật về thám quyền vụ việc của Trọng tải, các Trung tâm lrọng tải có quyền xác định lĩnh vực hoạt động theo khả năng chuyên môn của c

- Vẻ hình thức của Thỏa thuận trọng tài: Theo quy dịnh tại Điều 16 Luật TTTM thí “thóa thuận Trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điểu khoăn Trong tai trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng” Và yêu cầu bất buộc của hình thức Trọng tải là phải dược xác lập dưới dạng văn bản Tuy nhiên khải niệm “văn bản” cỏ

Trọng lải viên của mình

nội hàm rất rộng, nó bao gồm “aj 7hod thuận được xác lập qua trao đôi giữa các ban

Trang 19

bang telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy dịnh của pháp luật, b) Théa thuận được xác lập thông qua trao đối thông tin bang van bản giữa các bên; c) Thôa thuận được luật su, công chứng viên hoặc tỗ chức có thấm quyền ghi chép lại bằng văn ban theo yêu câu của các bên; d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiều

đến một văn bản có thê hiện thảa thuận Trọng tài nÏưt họn đồng, chứng từ, điều lệ công

tp và những tài liệu tương tự khác, Ä]) Qua trao đỗi về don kiện và bản tự bảo vệ mà

trong đó thể hiện sự tên tại của thoả thuận do một bên dưa ra và bên kia không phủ

nhận".|40]

Như vậy so với luật Trọng lải ở một số nước tiên tiến trên thế giới và Tuật mẫu UNCITRAL thì khải niệm “văn bản” của Luật TTTM nước ta đã có sự tương thích Theo Luật Mẫu thỏa thuận được coi là bằng văn ban nếu nó năm trong một văn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư Lừ, telex, điện tín hoặc các hình thức trao đổi về đơn kiện vả bán biện hộ má trong đỏ thể hiện sự tổn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phản đổi

Luật Trọng tài Ánh còn tiến một bước rất xa trong việc quy định phạm vị thỏa thuận bằng văn bán Theo đó, có một thỏa thuận bằng văn bản khi: thỏa thuận được lập bằng văn bản (cho đủ nó có được cáo bên kỷ hay không), thỏa thuận được lập thông qua việc trao đối cáo thông tim bằng văn bản, hoặc thôs thuận được chứng minh bằng văn bản Thậm chi, trong quá trình tổ tựng Trọng tải hoặc tổ tụng tư pháp, nêu nếu một thoả thuận không được xác lập bằng văn bân nhưng được một bên viện dẫn và bên kia không phủ nhận thì việc trao đổi đỏ tạo thánh một thôa thuận bằng văn bản có giá trị pháp lý [35]

Và so với Pháp lệnh 2003 thì quy định về hình thức “van bản” của Trọng tài

cũng có rất nhiều tiên bộ Theo quy dịnh của Pháp lệnh, nội hàm của khái niệm “văn bản” cởn khá chưng chung, chưa cụ thể, chỉ tiết Các hình thức được coi lá thóa thuận

bằng văn bản gồm: “Ứng, điện báo, lelex, fax, tư điện tứ hoặc cúc hành thức văn hân

khác thê hiện rõ ý chỉ của các bên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài" (Điều 9 khoản 1) Như vậy, quy định của Pháp lệnh về hình thức của thỏa thuận Trọng tài chưa tương thích với Luật Mẫu và Luật Trọng tải các nước

Trang 20

‘Tu sy déi mdi dĩ Luật EM dang xích lại gần pháp luật Trọng tải các nước trên thế giới, điều này tạo thuận lại cho hoạt động của Trọng tải trong giải quyết các tranh chấp cĩ yếu tơ nước ngồi

- Vẻ nội dung của thỏa thuận trọng lài:

Nội dung thễ thuận Trọng tài phụ thuộc vào hình thức trọng tài Dĩi với Trọng tải vụ việc các bên thường phải thoả thuận rất nhiều nội đụng như: cách thức lựa chon Trọng tải viên, dịa điểm trọng tài, thời hạn trọng tài, luật áp dụng, ngơn ngữ, trình tự trọng tài Đải với Trọng tải thường trực do các trưng tâm đã cĩ bản Quy tắc tổ tụng xiên các bên khơng cần thộ thuận cáo nội đụng này trừ khi họ muốn thoả thuận khác với quy dịnh trong bản Quy tắc của Trung tâm Vi vậy, đa số các thố thuận Trọng tài trong trường hợp nảy chỉ ghỉ tên Trung tâm Trọng tài sẽ giải quyết nếu tranh chip phát sinh là đủ

- Về các trường hợp vỏ hiệu của thỏa thuận trọng tải:

Luật TTTM quy định cáo trường hợp thỏa thuận Trọng tài vỏ hiệu khi: “J Tranh chấp phải sinh trong các lĩnh vực khơng thuộc thâm quyên của Trọng tài quy định tại

Taật TTTM đã bỏ quy định thỏa thuận Trọng tải vơ hiệu do “khơng xác định rõ

tổ chức Trọng tài cĩ thẩm quyền giải quyết tranh chấp” như quy định tại Pháp lệnh (Diéu 10, khoản 4) vì khơng hợp lý vá khơng phủ hợp với pháp luật và thực tiễn Trọng, tải quốc tế Nguyễn tắc giải quyết bằng Trọng tài là phải dựa lrên ý chỉ cửa các bên Vĩ vậy, bằng việc dan chiêu dến Trọng tải, các bên đã cĩ chú ý vả thể hiện ý dịnh dua ra giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Tuy nhiên, đo nhiều nguyễn nhân khác nhau, các

bên đã điển dat chưa chuẩn xác lên muội tổ chức Trọng tài cụ thể, Do đĩ, trong moi

Trang 21

trường hợp, khi các bên dã có thỏa thuận trọng tải, pháp luật Trọng tái các mước dầu ưu tiên giải quyết bằng Trọng tài Luật Mẫu và luật Trọng tải các nước không đưa ra tiêu chí phải xác định tên tổ chúc Trọng tài cụ thể và không có quy định về trường hợp théa thuận Trọng tải bị cơi là vô hiệu nêu không chỉ rõ tên tổ chức Trọng tải có thâm quyền giải quyết vụ tranh chấp

Tiên cạnh đó, lầu hết các tổ chức Trọng tái uy tín trên thế giới đều không đưa tên tổ chức mà chủ yếu là dưa Quy tắc tô tụng của mình vào điều khoản Trọng tài mẫu,

Vi du, Téa an Trọng tải của Phòng Thương mai Quốc tế (ICC) đưa ra điều khoản Trọng, tải mẫu như sau: “Tất cả các tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới hợp déng nay dược giải quyết chưng thấm theo Quy tắc tố tụng Trọng tải của Phỏng, thương mại quốc

tế bởi một hoặc nhiễn Trạng tài viên được chỉ định theo Quy tắc nêu trên”

Thực tiểu giải quyết tranh chấp tai Trung tâm Trọng tải Quốc tế Việt Nam cho thấy, số lượng các 'Thỏa thuận Trọng tải không diễn đạt chỉnh xác tên gọi của tổ chức

Trọng tài chiếm tỷ lệ trong đổi lớn Việc Pháp lệnh TTTM đưa ra yêu cầu các bên phải

théa thuận bỏ sung dễ xác dịnh tên tổ chức Trọng tải cụ thể là điều không khả thị, vì khi tranh chấp đã phát sinh thi cic bên rất khó có cơ hội để thóa thuận lại, đặc biệt lá tên vi phạm hợp đông sẽ tìm mọi cách đề lẫn tránh nghĩa vụ của mình

Ngoài ra, việc đua ra điểu kiện coi Thỏa thuận Trọng tải vô hiệu khi không xác định rõ tế chúc Trọng tài có thẫm quyền giải quyết tranh chấp lại mâu thuẫn với quy đình của Điều 4 Pháp lệnh Điều 4 cho phép tổn tại hai hình thức Trọng tài là Trọng tài quy chế (do các Trưng tâm Trọng tài lỗ chứu) và Trọng lài vụ việc (do các bên thành

1.1.3.Các hình thúc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

Trang 22

Hiện nay trên thê giới tổn tại nhiều quy định khác nhau, nhiều quan niệm khác nhau vẻ bình thức trọng tải Luật Trọng tài Mẫu otia UNCITRAL đưa ra khái niệm Trọng tải rất mé “Trong wi nghia là mọi hình thịc Trọng tài có hoặc không có sự giám

ải của một tỖ chức Trọng tài thường trực" (Điều 2.a)[35] Các hình thức Trọng tài

phổ biến nhật đang tồn tại đó là lành thúc Trọng tài vụ việc (ađ-hoc) và Trọng lải quy chế Tùy thuộc vào ÿ chí, diều kiện thực tẻ, thỏi quen hay nội dung của tranh chấp, các bên đương sự sẽ quyết định lựa chọn cho mình một hình thức Trọng tài phủ hợp Pháp lạnh 1'LTM 2003 của Việt Nam là văn bản pháp lý đầu tiên thừa nhận có hai hinh thức Trọng tải này “Tranh chấp giữa các bên được giải quụết tại Hội đẳng Trọng tài do

Trung tâm Trọng tài lỗ chức hoặ

" (Điều 6) Luật

"Trọng tải vụ việc (Điều 3, khoản 6)

1.1.3.1 Các hình thức Trọng tài trên thể giới:

- Trong tài theo vu vide (adhoc arbitration conmnittee)

tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành

xong tranh chấp đó Trọng tài vụ việc không có trụ sở cổ định, không cá bộ máy giúp

iãi quyết một tranh chấp cụ thể đã phát sinh và Lự giải thể khi giải quyết

việc thường trực, không có đanh sách Trọng tải viên và quy tắc lố tung của riêng mình Khi có tranh chấp xây ra, các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau thành lập Hoi déng Trọng tải để giải quyết tranh chấp Hội đảng Trọng tai gềm một heặc một số lẻ Trong tải viễn Khi chỉ định Trọng lài viên các bên anh chếp không bị ràng buộc bởi bất kỳ

danh sách Trọng tải viên nao Cac bên tranh chấp phải thóa thuận với nhau vẻ thú tục giải quyết tranh chấp mà họ cho là có thể phù hợp với diễn biển và sự việc của vụ tranh chấp Để tránh phức tạp các bên có thể lựa chọn quy tắc tổ tụng sẵn có nào đó, ví dụ

Ban Quy tie Trọng tài của úy ban Pháp luật thương mại Quốc tế thuộc Liên Hợp Quốc

(UNGITRAL) hay quy tắc tổ tụng của các tỏ chức Trọng tài thường trực ở quae gia sở

tại Giải quyết bằng Trọng tài vụ việc các bên tranh chấp cỏ quyển tự dụnh đoạt rất lớn,

từ việc chọn Trọng tài viền, chọn thú tục tổ tụng, chọn thời gian vả địa điểm giải quyết tranh chấp tắt cä do hai bên tự thỏa thuận với nhau còn các Trọng tải viền chỉ việc tuân theo |31]

Trang 23

- Trạng tài thường trực (Trong tài quy chế)

'Trọng tài thường trực là hình thức trọng tải sò cơ cấu tổ chức chặt chế, thường, xuyên tên tại để giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyên của minh khi được các bên tranh chap có yêu câu Thông thường Trọng tài thường trực có điều lệ hoạt déng riéng,

có trụ sở, bộ táy giúp việc, danh sách Trọng lải viên và quy lắc tổ tạng riêng của mình Hoạt động, của Trọng tải thường trực thể hiện tỉnh chuyển nghiệp cao, rất dược từ: cậy trong việc giải quyết tranh chấp Trên thế giới Trọng tải thường trực thưởng tổn tại dưởi đạng cic trưng tim ‘rong tải (arbitration centre) hoặc hội đổng Trọng tải

(arbitration committee)

Thân lớn các tổ chức Trọng tài có uy tín tiên thế giới đều được thành lập theo

mô hình này Ví dụ: Trung tầm Trọng tài quốc tế Hồng Kông (HKLAC), Trung tàm 'Trọng tải quốc tế Kualalãmpua, Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore Đặc điểm của các trưng tâm Trọng tài thưởng trực là có tổ chức chặt chẽ, có lrọng tài viễn là những, người ty tín, hiểu biết rằng, có nhiều kính nghiệm trong giải quyết tranh chấp Đó củng

Ja những tm thé lam cho Trọng tài thường trực có súc hắp dẫn cao với các bên tranh chấp

ở Đức: Trọng tài được tổ chức theo hai hình thức: ï

thường xuyên Cá nước có 6 trung tâm Trọng tài thưởng xuyên hoạt động giải quyết

tranh chap ở nhiều lĩnh vực khác nhau va đêu là các tổ chức phi chính phủ Cơ cầu của

các tổ chức Trọng tải thường trực gêm: Ban thir ky diéu hành và Trọng tải viên kiêm

chức (gồm các chuyên gia ở nhiều lĩỉnh vực khác nhau vả chỉ làm nhiệm vụ Trong tài viên khi các bên có yêu câu).|30]

ở Pháp, 'fuy Điển: cũng tương tự như ở Đức Trọng tải gêm Trọng tải vụ việc

và Trọng tài thường trực đo Phòng Thương mại thành lập trang đó có TTTM Stoekhom 1à tổ chức Trọng tải nối tiếng trên thê giới

ở Mỹ: Trọng tải là hình thức tài phản rất được ưa chuộng và có ảnh hướng lớt ở nhiều bang có Luật Trọng tải riêng, có nhiều tổ chức Trọng tai khác nhau Toản liên bang cỏ Hiệp Hội Trọng tài (AAA) Hiệp hội Trọng tài Mỹ dược tổ chức dễ giải quyết

tranh chấp trong mọi lĩnh vực kinh tế nói chung Diéu kiện khởi kiện Trọng tài là yêu

câu các bên phải thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc Trong tải giải quyết tranh chấp Phin lớn những vụ tranh chấp giữa các bến tranh chấp là sông dan của Mỹ với

Trang 24

nhau mả có tỉnh chất đơn giản thì các Trọng tải viên không hướng thủ lao, Trọng tài chỉ thỏa thuận thủ lao trong trường hợp vụ việc phức tạp và vụ việc có yếu tổ nước ngoài

Số lượng vụ việc tranh chấp do Trọng tài của Mỹ giải quyết hàng năm khá lớn

ở các nước khu vực Châu á -Thái Bình Dương hình thức Trọng tải cũng ngày cảng phổ biến và cũng thừa nhận cả bai hình thức: Trọng lãi vụ việc và Trọng tái quy chế do các trung tâm Trọng tài thực hiện Ví dụ: ở Nhật Hản có Hiệp hội trọng tài, ở Han Quéc có ủy ban Trọng tải thương mại, ö Thái Lan có Vụ Trọng tải thuộc Bộ Tư

"Pháp Nhưng Luật Trọng tải của mỗi nước đều có những điểm khác nhau, phụ thuộc vào tính chất của các quan hệ kinh tế và phương pháp giải quyết của Trọng tải mỗi nưước.[30]

1.1.3.2 Các hình thức Trọng tài ở Việt Nam

Pháp lệnh TTTM 2003 quy định hai hình thức Trọng tải là các Trung tầm Trọng, tài (giống như Trọng tài thường trực ở nước ngoài) vả Hội đồng Trọng tai do các bên

Trọng tài adhoe) Luật TTTM 2010 quy định hai hình thức Trọng tải là Trọng tài quy chế và Trọng tài vụ việc

song tải thường trực, được tê chức đưới bình thức các

thành lập (giảng Trọng tài vụ v

- Các trung tâm trọng tàU Trọng tài quy chế:

Các Trung tầm Trọng tài là các tổ chức Trọng tải thường xuyên tốn tại dễ giải quyết nhiều tranh chấp khác nhau Hinh thức trọng tài này cò các đặc trưng sau:

- Thường xuyên tên tại đề giải quyết nhiên tranh chấp khác nhan

- Có cơ cầu tổ chúc thống nhất, chặt chế Theo Luật TTTM 2010, Pháp lệnh TTTM 2063 thì Trọng tài thường trục dược tổ chức dựới tủnh thức Trung (âm trọng tải Trung tâm trọng tai là tổ chúc phi chính phố, có tư cách pháp nhân, hoạt dộng trên cơ

sở diễu lệ riêng Các Trung tầm Trọng tải cỏ Ban diễu hành và các Trọng tải viên Ban điển hành gêm có: Chủ tịch Trưng tâm trọng tài, một hoặc các Phó Chủ tịch Ban điều hành có thể có Tổng thư ký, do Chủ tịch Trung tâm Trọng tải củ Cac Trọng tải viên phải có lên trong danh sách Trọng tài viễn của Trìmg tâm

Trang 25

- Mỗi Trung tâm Trọng tải có một danh sách 1rọng tài vién riéng, Cac bén tranh chấp chọn Trọng tải viên của Trung, tâm để thành lập Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp

- Mỗi Trung tâm Trọng tài có quy tắc tổ tụng riêng của mình và khi giải quyết tranh chấp Hội đồng Trọng tài phải tuân thủ quy tắc tổ tụng đó

- Mỗi Trung tảm Trọng tải được quyên quyết dịnh vẻ lĩnh vực hoạt dộng của minh

- trội đồng Trọng tài do các bên thành lập/ Trọng tài vụ việc

Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập là hình thức Trọng tải lần đâu tiên được quy đình trong Pháp lệnh TTTM 2003 và đến Luật TTTM 2010 thủ đổi tên thành Trọng tải vụ việc

Đây là hình thức Trọng tải được thành lập khi có tranh chấp cụ thể xảy ra vả sẽ

tự giải thể khi giải quyết xong tranh chấp đó 1linh thức Trọng tải này có đặc trưng sau:

- Chỉ được thành lập khi có tranh chấp xây ra và sẽ tự giải thế khí giải quyết xong tranh chấp đó

- Không cỏ danh sách Trọng tài viên riêng, Các bên tranh chấp, theo nguyên tắc

dã thỏa thuận có thẻ chí dịnh bắt kỳ Trọng tải viên nào

- Không cỏ quy tắc tổ tạng riêng của mình Đề giải quyết tranh chấp, các bên

tranh châp phải tự thỏa thuận với nhan để xây đựng quy tắc tổ tụng Trong thục tế để

tránh sự phức tạp do phải thỏa thuận xây đựng quy tắc tổ tụng, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận với nhau dễ áp đụng một quy tắc tổ tụng nào đó, thường là các quy tắc tỏ tụng dược thừa nhận rộng rãi như: Bản quy tic ‘rong tii cia Uy ban Pháp luật thương, mại Quée té (UNCITRAL) hay Bán quy tắc tổ tụng của Phòng thương mại quốc tế Pa-

nhưng trong điều kiện thực tế của Việt nam hiện nay thì hinh thức Trọng tài này chưa

phát huy được hiệu quả

Trang 26

Thông thường khi quyết định lựa chọn bình thức Trọng tải dễ giải quyết tranh chấp cho mình, các nhà kinh doanh thưởng cân nhắc các yếu tổ sau:

- Mức độ phủ hợp với tính chất tranh chấp của hình thúc Trọng tải nảy so với hình thức Trọng tải khác,

- Trình độ Trọng lài viêu, mức độ phù hợp giữa chuyên môn của Trọng tài viên với tinh chất vụ tranh chap,

-_ Kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp trong việc giải quyết tranh chấp của

'Trọng tải viên và tổ chức trọng tải,

- Múe độ linh hoạt và phù hợp với tranh chấp của quy tắc tổ tụng sẽ áp dung:

- Mac phi trong

‘Trong tai vu viée va Treng tai quy ché - hai hình thức Trọng tải khác nhau nên

có những tu điểm và nhược điểm nhất định Lụa chọn hình thúc Trọng tài nào là phụ thuậc vào ý chí kinh nghiệm, thói quen của hai bên, vào bản chất của vụ tranh chap Tuy lua chợn ảnh thức nao để giải quyết thì hai bên cũng phải có thiên chỉ, sẵn sàng hợp tác và thực sự mong muốn tranh chấp được giải quyết đề có thê tiếp tục hợp

tác làm ăn lâu đãi với nhau, li khi đồ Trọng tài mới thực s

đem lại hiệu quả rửư mong muốn của các bên tranh châp và dó cũng là bản chất của phương thức giải quyết

tranh chap bang trong tai

1.1.4 So sánh hình thúc giải quyết bằng Trọng tài với các hình thức giải quyết

khác như: Thương lượng, Hủa giải, Tửa án

Người ta sử dụng Trọng tải thay vi Toa án hay phương thức giải quyết ranh chấp khác vì những tu điểm vả lợi ích vượt trội của nó Trọng tài được thiết lập như là

một cơ chế giải quyết tranh chấp có tính “ ràng buộc và chung thâm thông qua một hội

mh lập” (Điều 6 Pháp lệnh TTTM), Trọng lài lập rung được những điểm rnạnh và khắc phục được những yếu điểm của cơ

động Trọng tài độc lập do các bên chủ động

chế giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc các phương thức giải quyết tranh chấp hỏa

bình khác như: thương lượng boặc hỏa giải

Tléa giải, thương lượng là một trong những phuơng thúc để giải quyết tranh chap Thuong lượng là hừnh thức giải quyết tranh chấp không cần cđến vai trỏ của miột chữ thể thử ba Các đương sự có thẻ trực tiếp hoặc thông quan đại diện gặp nhau đảm

Trang 27

phan vé nlGng bat ding va tranh chap dé phat sinh, dai dién mỗi bên cỏ thể là giảm đốc doanh nghiệp hoặc người được giám đếc ủy quyền hoặc luật sư thay thể đoanh nghiệp

đó trong quá trình thương lượng

Đặc diễm cơ bản của thương lượng là các bên ed quyén tu do ¥ chi, binh ding

cùng nhan xem xét vấn 48 trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành và dam

tảo sự công bằng giữa các bên Nếu các bên đạt được sự thỏa thuận thủ coi như tranh: chấp được giải quyết Kết quả dạt được trong quá trình thương lượng có giả trị rằng,

‘bude đổi với các bên Có thể nói đây là một phương thức giải quyết tranh chấp hoàn loan dua trên cơ sở quyền tự do ý chí của các bên tranh chấp, không có sự can Thiệp, giúp dỡ của người thử ba, có chăng dỏ là các chuẩn trực dược pháp luật quy dịnh Hậu hết các tranh chấp đều có thê được giải quyết qua thương lượng Khi cỏ tranh chấp, trước hiết các bên phải tự tim cách giải quyết tranh chấp Điều này xuất phát từ chính lợi ich của các bên vả củng xuất phát từ nguyên tắc tự do định đoạt, tự nguyện thỏa thuận của các bên

Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một bên thứ ba, có thể là

cả nhãn (hòa giải viên ) hoặc tổ chức do các bên đương sự thóa thuận lựa chọn liên thử

ba này đóng vai trỏ trung gian, dàn xếp đề hai bèn không xưng đột với nhau nữa Trong hòa giải, hòa giải viên không quyết định vụ tranh chấp mà có vai trỏ giúp các bên giải quyết vụ tranh chap thông qua một quá trinh thương lượng va thu hẹp những điểm bat đồng Tuy nhiên nếu được các bên đồng ý hòa giải viên có thế trình bảy những quan điểm cá nhân hoặc có thể dưa ra những khuyến nghỉ giúp các bên dat duge mue dich Trong quá trinh hòa giải, hỏa giải viên tiễn hành quy trình hỏa giải mà họ cho là phủ tiợp theo nguyên tắc vô Lư, công bằng và theo công lý Hỏa giải viêu sẽ giúp các bên đạt dược một thỏa thuận Tuy nhiên, khác với quyết dịnh trọng tài, thỏa thuận của các bên không mang tính rảng buộc 1rong trường hợp xnột bên không tự nguyện thực hiện thóa thuận hồn giải, bên kia có thể khối kiệu ra Trọng tài hoặc Tòa án tủy theo thỏa thuận của các bên

Cũng giống như trọng tài, hỏa giải có hai phương thức cơ bản: hỏa giải vụ việc

và hỏa giải quy chế Hòa giải vụ việc là phương thúc trong dé vide 16 chức và giảm sắt

Trang 28

do cáo bên tự quy định, không có sự trợ giúp của bất cử tổ chức nảo Ngược lại Hoa giải quy chế do một tâ chức hoặc một trung tâm chuyên nghiệp, giảm sát tổ tụng Trọng tải tiến hành, hỏa giải quy chê cĩng có quy tắc riêng ví đụ: Quy tắc hòa giải Iara chợn của Phòng Thương mại Quốc tế và Quy tắc hoa giải của Trung lâu Hệ thống Trọng tài

Chau Âu - 4 Rap [laa gidi cting bắt nguồn từ sự thỏa thuận giữa hai bên đưới dạng điều

khoản hợp đẳng hoặc điều khoản riêng Trong trường hợp hòa giải không thành công các bên có thể dưa vụ việc ra Tòa án quốc gia hoặc Trọng tải (néu các bên đã có thỏa thuận)

Thương lượng và hòa giải là hình tide phố biến thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp Cả hai hình thức giải quyết tranh chấp này dược giới thương nhân rất wa chuộng, vi nó đơn giản lại không bị ràng buộc bởi các thủ tạc pháp lý phiên phức, ít tốn kém hơn và nói chung không làm phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên, cũng như giữ được các bí mặt kinh doanh Thương lượng vả hòa giải đòi hỏi trước hết

các bên phải có thiện chí, trung thực, hợp tác đễ giải quyết vụ việc

Tuy nhiên hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp bằng hỏa giải, thương, lượng là không đưa ra được một phán quyết đút điểm để giải quyết tranh chấp, không

có cái gọi la “phán quyết cuỗi cùng” mà nó chỉ đem thuận là sự đàn xếp giải quyết các mâu thuần, tranh chấp KếL quả của hòa giải, thương lượng có thể thành hoặc không thành, mâu thuẫn sau khi đã qua hòa giải, thương lượng có thẻ được giải quyết hay vẫn tiếp tục, vì dù có đạt được thỏa thuận nhưng thỏa thuận đó không mang tính ràng buộc

đối với oác bên, cho nên các bên vẫn đó thẻ không thực hiện nội đụng đã thỏa thuận

bà 8

Trang 29

‘Téa an, Trọng tài vẫn là phương an có tính chất quyết dịnh nếu thương lượng, hòa giải không mang lại kết quả

Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tải kết hợp được tính ưu việt của hai phương

án trên đồng thời cũng khắc phục được nhữme hạn chế của chủng Trọng tài cỏ một hệ thống văn bản pháp luật diễu chính tạo cơ sử pháp lý cho phương an giải quyết tranh chấp này Trọng tải có quyền ra phán quyết mang tỉnh chung thâm mả các bền tham gia phải tuân thủ Ngoài ra Trọng tài còn có sự hỗ trợ của các cơ quan quyền lực như: Tòa

án, Thi hành án trong quá trình Trọng tải giải quyết vụ tranh chấp vá cáo cơ quan quản

lý nhà nước khác như: Chính phủ, Bộ Tư pháp dễ đêm bảo chơ Trọng tài hoạt động,

va mang lại hiệu qủa

Mặc dù là phương thúc giải quyết tranh chấp dựa trên ý chỉ của các bên đương,

sự nhưng không có nghĩa lả việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại có

cùng bản chất, nội đưng với phương thức trên mà trong giâi quyết tranh chấp bang trọng tài các Trọng tài viên dược các bên lựa chọn có quyển xem xét và ra các quyết dịnh xét xứ hoàn toàn độc lập trên cơ sở chứng cứ, tải liệu mà các bên cung cấp hoặc có dược bằng, các quá trình như: Trọng tải viên điểu tra, giảm định, nhân chứng, cung cập

và trên cơ sở những quy định của phặp hiật Các quyết định của Trọng tài nêu được ban

hành đứng luật sẽ có hiệu lục pháp luật Vì vậy, tuy là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên ý chí của các bên đương sự, song quyển lực lải phán của Trọng lãi dược pháp luật công nhân, các quyết dịnh của Trọng tài các bên có nghĩa vụ phải thi hành

Việc các Trọng tải viên độc lập xét xử và quyền lực tải phản cúa Trọng tải dược phäp luật công nhận làm cho phương thức này không những mang dáng đắp của thương

lượng, hỏa giải mả cả Tòa án Nhưmg việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài khác

Tờa án ở diễm sơ bản là nó không nhận đanh quyền lực nhà nước rà nhân danh ý chỉ tối cao của các bên dương sự

Có nhiều phân tích khác nhau (thậm chí không thống nhất nhau) về những ưu điểm và khiếm khuyết của mỗi cơ chế giải quyết tranh chấp, nhất là khi so sánh cơ chế

Tòa án và trọng tài Hơn nữa mì điểm hay khiểm khuyết tức là mặt lợi và bất lợi của

Trang 30

bên kia lại muốn trì hoãn hay gay khé khăn cho việc giải quyết trọng tải Do dé nhiéu tưu điểm và khiếm khuyết của Trọng tải có tính tương đổi

'Tuy nhiên trong bối cảnh kinh doanh bình thường vả các bèn tranh chấp đều có thiện chí với nhau để giải quyết bát đẳng thì Trọng tải có khá nhiều ưu điểm se với tòa

an, Cu thể như sau:

- Bão đăm bì mật tà my tín hính đoanh cũa các bên tranh chấp cũng nÏưư đi?

trì quan hệ hợp tác tỗt đẹp giữa cúc bên

‘Tam lý của các nhá kinh doanh là các tranh chấp phát sinh cẩn phải được giải quyết một cách kin đáo, không dn 4o, bao đâm uy tín của các doanh nghiệp và đâm bao

sau kbi tranh chấp được giải quyết thì mỗi quan hệ làm än hữu hảo vẫn được bão loà Chi có Trọng tải mới thỏa mãn dược yêu câu cỏ tính nghề nghiệp này của các nhà kinh doanh 7

chấp được tiếp cận Các phiên hợp xét xứ của lrọng tải có thể tiến hành không công

“Trọng tải là phạm vi tư và chí các bên tranh

tụng trọng tài và phản quy

khai, Trong tài viên có trách nhiệm đảm bảo bí mật các vân đề có liên quan đến các bên, quyết định của Trọng tải chỉ công bố rộng rãi khi các bên đổng ý Các Trợng tải viên không dược quyền tiết lộ những vấn dé lién quan dén việc giải quyết tranh chap cho bên thử ba néu chưa dược các bên chấp nhận

~ Đấm bão gi

Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế cho thây các tranh chấp này thường liên

quan đến giả trị tải sẵn lớn và bên thực hiện nghĩa vụ thường cổ tỉnh trị hoãn việc thực

quyễt nhanh chúng các tranh chấp, tiết kiệm thời gian

hiện nghĩa vụ dễ chiếm dụng vốn của đối tác, Đởi vậy một yêu cầu hàng dầu trong giải quyết tranh chấp kimh doanh lá nhanh chóng, đút diém trảnh dây dưa kéo dải

'Thời gian tạo ra cơ hội kinh doanh nêu quả chủ trọng váo giái quyết tranh chấp các bên có thể bỏ lỡ cơ hội kinh doanh ma gia tri có thế lớn hơn giá trị vụ việc đang, tranh chấp Hơn nữa việc giải quyết tranh chấp khêng nhanh chóng đứt điểm sẽ gây tâm lý căng thẳng kéo dai cho các nhà kinh doanh dẫn đến ảnh hưởng dến hiệu quả kinh doanh Thủ tục tổ tụng, của Tòa án khó có thể thỏa mãn dược yêu câu này Trọng, tải với nguyên tắc xét xử một lần dương nhiên cỏ khả năng dap ứng nu cầu có tỉnh nphê nghiệp này của cáo nhà kinh đoanh

- Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài lình hoạt tạa tâm lÿ thoải mái và quyên chũ động hơn cha các bên

Trang 31

Đặc trưng của hậu hết hệ thống Tỏa án lả ở các quy tác tổ tụng chặt chế Quả trình giải quyết tranh chấp được bản thân Tòa án vả các chú thể tham gia tổ tụng đều phải triệt để tuân thủ nguyên tắc này, trong khi tổ tụng Tòa án thể hiện sự cứng nhắc, nguyên tắc thì Trọng tải lại được tiên hành với những quy tắc tế tụng mềm đềo linh thoại Các bên tranh chấp có quyền lựa chọn giải quyết lại hội đẳng Trọng lài do các bên thành lập hoặc bất ký trung tâm Trọng tải nào má hai bên dồng y Nhu vay các bên

có quyền lụa chọn hình thưức Trọng, tài (Trọng tài thường trực hay Trọng tài vụ việc) để giải quyết tranh chấp

Hơn nữa các bên cỏ thể xây dựng quy tắc tổ tưng riêng hoặc áp dụng quy tắc tố

tụng cửa mội rung lâm trọng tải Trong trường hợp các bên lựa chọn Trọng tài vụ việc

giải quyết tranh chấp Trong thủ tục xét xử ở Lòa án các bén không có cơ hội dễ lựa chọn cho mình thâm phản xét xử mã do Tóa án chỉ định Ngược lại Trọng tải viên lá do các bên lựa chọn một cách chú động do đó các bên có điều kiện đề lựa chọn cho minh những người có năng hịc có chuyền môn giỏi và phủ hẹp đề giải quyết tranh chập

Trong trường hợp không tin trởng Trọng tài viên đã chợn các bên cững được quyền thay đổi bằng một Trọng tài viên khác Các bẻn tranh chấp cũng có quyển thỏa thuận về thời gian, địa diém giải quyết tranh chấp, ngôn ngữ áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp Điều này tạo cho các nhà doanh nhân khá năng sắp xếp thời gian hợp lý để vừa tham gia giải quyết tranh chấp vừa có thế điều hành kinh đoanh của mình mệt cách tốt nhất và đây chính là một trong những lực hút cơ bản của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tải

- Trọng tài đặc biệt thích hợp dỗi vải các tranh chấp cé ban chất phức tạp, kỹ thuột: Cơ chề giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hiện nay chủ yếu có thẫm quyển

trong lĩnh vực thương mại, ma các tranh chấp trong lĩnh vực nảy có không í† vụ rất

phức tạp đòi hỏi người đứng ra giải quyết phải có sự am hiếu sâu sắc về nó và có thể lả

cã kinh nghiệm thực tế, chứ không đơn thuần là sự hiểu biết trên lý thuyết Trên thực tiễn các Trọng tải viên thường có tru thể hơn cdc tham phan Téa an ở khía cạnh này vì

họ dược lựa chọn chí dễ giải quyết các tranh chấp trong thương mại Không những thể các bên tranh chấp còn được tự đo lựa chọn Trọng tải viên đẻ thành lập Iiệi đồng Trọng tài dựa trên năng lực, sự hiếu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại

quốc lế, về cáo lĩnh vực chuyên ngành có lính chuyên sâu như chứng khoản, licensing,

Trang 32

leasing, xuất nhập khẩu bàng hea va dich vu, sé hữu trí tuệ các lĩnh vực phù hợp với nội dung vụ tranh chấp Ưu thế này không thể có được khi giải quyết tranh chấp tại Tỏa

Jc tổ tụng của Tỏa án là Chánh án Tòa án sé ty chi dinh Tham phản thụ lý

vụ tranh chấp ma các bên tranh chấp không được quyền cé ý kiên hoặc thay đối - trừ

an, vi quy

khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật

~ Trong bãi cảnh quốc tễ hóa và các vụ việc có pấu tô nước ngoài tì việc thi

hank các quyết định Trạng tii dé dang bon thì hành án vì Công ước New york 1958

về công nhận và thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài (đã có khoảng 150 thành viên tham gia) đã quy định rằng các nước thành viên của công ước nảy có nghĩa vụ công nhận và cho thủ hành phán quyết của Trọng tải của nước bên kia cũng là thành viên

Tuy nhiên so với Téa án Trợng tài cũng có những nhược điểm nhát định, điều

ủy giải thích cho hiện tượng tại sao đã có sự lổn tại của Trọng tài mà các bên vẫn cỏ trường hợp dua các tranh chấp thuộc thâm quyển của Lrọng tải và Tòa án ra Téa an gidi quyết Các nhược điểm đó là: 1.lrọng tài không phải là cơ quan quyền lực nhá nước cho nên khi xét xử trong trường hợp cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đâm bảo chứng cứ của vụ việc, Trọng lài không thể ra quyết định mang tính chát bắt buộc vẻ điều đó mà phải yêu cân Tòa án (trên cơ sở yêu cầu của một trong: các bên hoặc

cả hai bên, hoặc do các bên tự yêu cầu Tòa án) Luật T1'EM 2010 của Việt Nam đã cho phép các Trọng tải viên được quyền áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quả trinh giái quyết vụ việc, song thâm quyển đỏ cũng chỉ trong phạm vị đối với hai

°ên tranh chấp chứ không phải

Trang 33

có thuộc một trong các trường hợp bị húy hay không” Điều nảy tạo ra tinh nhanh chóng của Trọng tài - là một ương những œu thể hơn hẳn tỏa án Tuy nhiễn mặt trải của

nó là không thể khắc phục được những sai sót, nhằm lẫn trong nội đụng quyết định trọng tài Nhiễu khi những sai sót, nhầm lẫn này là rất đảng kế gây ảnh hưởng đên quyển lợi của các bên tham gia giải quyết tranh chấp Do vậy Hội đồng Trọng tải phải hết sức thận trọng, nghiêm túc, có trách nhiệm và công bằng, khách quan trong khi ra phản quyết trọng tải 3 Việc thực thi quyết định cuối củng của Trọng tải phải trồng cậy yao sự hỗ trợ của Tỏa án Diễu nay co nghĩa là quyết định cuỗi củng của Trọng tài

do, Việt Nam lá một trong số những quốc gia dé Quyét dịnh của 1

đương nhiên có hiệu lực thí hành - trử khi có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án mới xem xét lại quyết định Trọng tải về mặt hình thức, thũ tục

Với những điểm mạnh, điểm yếu nói trên, việc khai thác tốt các điểm mạnh và

làm suy giảm điểm yêu đó là việc làm nhằm phát huy hiệu quả cửa con đường trong tai

Vị dụ cách làm của Việt nam hiện nay dễi với việc công nhận và cho thí hành tại Việt

hợp và tất yêu Tuy còn một số hạn chế song cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng, tài vẫn được coi là có nhiều ưu thế khi mà đất nước tham gia hội nhập với thẻ giới Ngoài các uu điểm niều trên, TTTM không đại diệu cho quyển luc Nha nude nén rit phù hợp để giải quyết các tranh chấp ma các bên có quốc tịch khác nhau (Toả án về nguyên tắc la được độc lập nhưmg cũng đễ bị chỉ phải bởi quyền lợi đân tộc, đo đó cáo bên tranh chấp có quốc tịch khác nhau thường không thích chon toa án của nhau) Vì vậy, họ thường thích chọn trọng tai, nhất lá Trọng tài của nước thứ bạ để đảm báo tính khach quan trong việc giải quyết tranh chấp

Trang 34

2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VẺ HÌNH THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẮP

‘THUONG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của Trọng tải vụ việc

Trọng tải vụ việc (hay còn gọi là Trọng tải ad-hoc) là lỉnh thức Trọng tải được

tiết đến đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của trọng tài, hơn thê nữa nó còn

xuất hiện rước cả Tòa án Số dĩ Trọng tải ad-hoc cén được gọi là Trọng tải vụ việc vì

nó được thành lập cho từng vụ tranh chấp cụ thể với các Trọng tải viên được hựa chọn một lần để giải quyết tranh chấp đó[16]

Từ thế kỹ thứ VII trước công nguyễn, người Hy Lạp cỗ đại đã biết sử dụng

'Trọng tải như là một phương thức giãi quyết các tranh chấp phát sinh, theo đó nếu hai tên có tranh chip với nhau và định chọn người xét xử thì họ có quyền chỉ định người xuả họ ưa thích để làm việc nảy, khi dé họ phải tồn trọng ý kiến của người dó và không được thưa kiện trước Tòa án nữa Và đỏ là khối nguồn của hình thức Trọng tải vụ việc

'Về sau khi thương mại phát triển mạnh mẽ, nên kính tẻ hàng hoá hình thanh thì Trọng,

tải thường trực mới xuất hiện Trọng tài thường trực là hình thúc trung gian giữa Trọng, tải vụ việc vả Tòa án, tuy ra đời sau Trọng tải vụ việc nhưng Trọng tài thường trục lại ngày cảng phát triển và chiêm tru thể hơn se với Trọng tải vụ việc Quá trình phát triển

tù Trọng tải vụ việc tới Trọng tài thường trực là quá trình bỗ sung, hoàn thiện các hình thức tổ chúc của trọng tài.|[30]

Tuy nhiên sau khi Trọng tải thường trực ra đời thì vai trò của Trọng tài vụ việc không bị chấm đứt mã vẫn được thửa nhận nhừ là một hình thức Trọng tài không thể thiểu bên cạnh Trọng tải thường trực vả ngày càng được hoàn thiện hơn Sự đa dạng và

phúc lạp của tranh chấp thương mại đòi hỏi phải có nhiều loại hư Trọng tài thích hợp

để các bên xem xét lựa chon Vi vay ma hau hết các nước déu tôn trong và thừa nhận 'Trọng tải vụ việc như là một hình thức không thể thiểu bên cạnh lrọng tải thường trực

để đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên tanh chap tong vide lua chou hình thức giải quyết tranh chap voi minh

Trọng tải vụ việc là loại hình Trọng tài được phố biến ở nhiều nước trên thế giới nhằm đáp ứng giải quyết các tranh chấp của nền kinh tế thị trường nhất là cho các loại

Trang 35

hình doanh nghiệp vừa và nhỏ dang có khuynh hưởng phát triển ngày cảng mạnh mẽ hiện nay Lợi thê của loại hình nay là thỏa mần sự tự lựa chọn một cách linh hoạt của các bên tranh chap Song cững có một số mưóc chưa ghi nhận lọai hình Trọng tải này

ở Trung Quốc, Luật Trọng tài chỉ quy dịnh về Trọng tải thường xuyên, không có Trọng tài vụ việc [30] Do vậy các tranh chấp chỉ được giải quyết bỏi các ủy ban Trọng,

tái thuộc các trung tầm Trọng lãi thường trực mà không được giải quyết bởi các Trọng

tài viên/ hội đồng Trọng tài đo các bên thành lập Quy định này của Trung Quốc cũng giảng như Nghị định L16/CP của chúng ta trước đây

ở Việt Nam, Trọng tải vụ việc đố được thừa nhận với tu cách là một hình thức giải quyết tranh chấp kmhh tế quốc tế, thể hiện trong việc văn bán với nhiều hình thức pháp lý khác nhau như: Luật Dâu tư nước ngoài tại Việt nam 1987 vả các văn bản hướng dẫn thủ hành, Luật Hàng không dân dụng, Việt Nara; Pháp lệnh chuyển giao công nghệ, nghị định về mua bán l-xăng, Song vì chưa được quy định cụ thể nên Trọng tải

vụ việc không được triển khai trên thực tiễn Dễn năm 2003 Trọng tải vụ việc chính

thức được ghí nhận trong pháp luật chuyên ngành, đó là sự thừa nhận trong Pháp lệnh TÌM 2003 với tên gọi là “Trọng tải do các bên thánh lập”, Và đến Luật TTTM 2010

đã đưa ra thuật ngữ “Trọng tài vụ việc” để thay cho tên gọi “Hội đồng Trọng tài do các biên thành lập” Taiật TTTM 2010 đã có nhiều quy định thực tế và gần gi hơn để Trong

tải vụ việc được triển khai trên thực tiễn

Theo “Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chon do Trung tam Thuong mai quốc lê UNCTAD/WTO- Geneva” thì Trọng tải vụ việc có thê dược

Thee Ta

1 TTTM 2010 eda Viel nam thì Trọng lái vụ việc “là hình thức Trọng,

tài do các bên thành lập dé giải quyết vụ tranh chấp theø trình tự, thủ tục do các bên

thỏa thuận” [28],

Trang 36

Đặc diễm co bản của Trọng tải vụ việc lá không có trụ sở, không bình thành bộ máy cổ định, không lệ độc vào bất kỳ quy tắc xét xử nào Về nguyên tắc các bên tham gia không bị giảng buộc bởi các quy định pháp lý vẻ tế tụng Trong tải vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, linh hoạt và mm: đẻo về phương thức tổ chức cũng như

cách thức hoạt động, thời gian tiền hành tổ tụng thường nhanh chóng vả ít tân kém nên

thường phủ hợp với tranh chấp nhỏ, íL tình tiết phức tạp, các bên có nhú cầu giải quyết nhanh, nhất là các bên có hiểu biết pháp luật, có kinh ngh

Với đặc điểm như vậy Trọng tài vụ việc là cơ chế giải quyết rât thích hợp với các tranh chấp trong Tình vục kinh doanh thương mại Ngoài các ưu điểm của Trọng tài néi chung như: bảo đảm bí mật, nhanh chóng, linh hoạt, tiện lợi của quả trình giãi quyết tranh chấp, Trọng tải vụ việc còn dam bảo tối cao tính tự do ý chí và tự nguyện

thỏa thuận giải quyết tranh chấp của các bên, thông qua việc lự do lựa chọn người dứng

ra giải quyết tranh chấp, tự lựa chọn các nguyên tắc giái quyết tranh chấp Nhở đó có

thé phát huy được những nhân tố tích cực đẻ giải quyết tranh chấp cũng như hạn chế

các yêu tô làm ảnh hưởng dén quả trình giải quyết tranh chấp như: tỉnh khỏng tương,

thích của thú tục tổ tụng trọng tải, trình độ Trọng tải viên của trung tảm trong tai Nhưng trên thực tê, các vụ tranh chấp được giải quyết thông qua Trọng tài vụ việc không nhiều

Trọng tài vụ việc là loại hình giải quyết tranh chap có thể thích hợp ở nhiều

nước có niên sản xuất nhỏ, như nước ta khi các quan hệ sản xuất nhỏ còn là phổ biến,

cho nên các tranh chấp kính tế thường không lớn Hơn nữa do sự bãi đài ở những vùng,

lãnh thổ khác nhau, hầu hết các trung tâm Trọng tài thường nằm ở các thành phó lớn,

do vậy việc quan lâm đến loại hình Trọng tải vụ việc, khai thác những u điểm của bản thân loại hình nảy trong giải quyết tranh chấp kinh tế là diều cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà sản xuất nhỏ và vừa con lả phổ biến trong nên kinh tế nước ta Hơn nữa dưới góc độ truyện thông, Trọng tài vụ việc là loại hình giải quyết tranh chấp gần gũi với truyền thông sinh hoạt văn hỏa của dân tộc ta, bởi trên thực tế, trong cuộc sống hàng ngảy chúng ta thường gặp những trường hợp “Trọng tải tự nguyện” đề đàn

30

Trang 37

xép những vụ tranh chấp dân sự, kinh tẻ nhỏ trong dân Đây chỉnh lá nên táng xă hội khién Trong tài vụ việc cần đuy trì và tiếp tục phát triển [16]

ở Việt Nam Trọng tài vụ việc chỉ mới chính thúc được thừa nhận là một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh đoanh thương ruại tù nắm 2003 vỏi su ra đời của Pháp lệnh TTTM 2003, nên hình thức này có thể nói là rất mới mẻ và có phân xa lạ với các bên khi lựa chọn Trọng lải để giải quyết tranh chấp Khung pháp luật về vẫn dé nay xmởi dược hình thành với những quy định còn khá sơ lược và nhiều khi mẫu thuẫn dã Jam hạn chế một cách dang kế những lợi thế của Trọng tải vụ việc Xét về bình điện chung, trong một thời gian đãi chúng la chum quan tôm đúng muúc và chưa có quy định thống nhất dối với loại hình này

1.2.2 Thảnh lập và hoạt động của Trọng tài vụ việc

1.2.2.1 Thành lập Hội đồng Trọng tài vụ việc

Để giải quyết ranh chấp, các bên cần chọn Trọng tài viên để thành lập Hội đồng, trọng tài Số lượng Trọng tài viên của lội đồng Trọng tải đo các bên thỏa thuận Tuy nhiên các ban quy tắc Trọng tải thường quy định một số phương án nhất định dễ các bên lựa chẹn: 1,3 hoặc 5 lrọng tải viên Ngoài ra các bản quy tắc Trọng tài cũng thường quy định số lượng Trọng tài viên của Hội đổng Trọng tài trong trường hợp các bên không ỏ thôa thuận Ví dụ, điều 5 Bản quy tắc Trọng tái ƯNCTTRAI quy định

“Nếu trước đó các bên không thống nhất được sỏ lượng các Trọng tài viên (một hay ba)

và nêu trang vòng 15 ngày sau khi bên bị đơn nhận được thing báo Trọng tài :nả các bên vẫn không thỏa thuận dược rằng chỉ có một Trọng tải viên thì sẽ phải chỉ dinh ba Trọng tài viên” Theo Luật Trọng tải thương mại, Diễu 39: “Thành phân của Hội đồng, Trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều Trọng lải viên theo sự thỏa thuận của các bên Trường hợp các bên không có thoả thuận về số lượng Trọng tài viên thì Hội dồng

"Trọng tải bao gồm ba Trọng tài viên” Liội đồng lrọng tải được thành lập theo nguyên tắc: nguyên đơn chỉ định ƠT Trọng tải viên, bị đơn chỉ định Ø1 Trong lai viên và hai 'Trọng tải viên này sẽ thỏa thuận với nhau dé bau mot Trọng tải viên thứ ba lim Chủ tich I16i déng wong tai

31

Trang 38

Việc lựa chọn và chí định Trọng tải viên này trong Trọng tải vụ việc có những, đặc điểm khác biệt với Trọng tài quy chế Dé là các bên tranh chấp được lựa chọn bất

ky người nào đáp ứng các yêu câu đề trỡ thành Trọng tải viên theo quy định của pháp

luật, cụ thể là:

-_ * Có năng lực hành vị dân sự đẩy đủ theo quy định của Dộ luật đân sụ;

-_ Cá trình độ đụi học và đã qua thực tỄ công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;

- Trang bường hợp đặc biệt, chuyên gia có binh độ cñuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tá không đúp ứng được yêu cẩu nêu lại điểm b khoản này, cũng có thể dược chon làm Trọng tài viên” (Điều 20 Luật Trong

tài thương mại)

Ngoài ra Trợng tải viên không phải là các dối tượng bị cảm làm Trọng tài viên quy định tại Khoăn 2 Điều 20 Luật Trọng tài thương mại:

a) “Nguoi dang la Tham phan, Kiểm sót viên, Diéu ira viên, Chấp hành viên,

công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiền sắt nhân dan, Co quan diéu tra, Co quan thì hành án;

Đ) Người đang là bị can, bị cáo, người đung chấp bàmh án hình sự hoặc đã

chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích”

TIiện nay trên thẻ giới, nhiều nước - nhất là các nước phát triển - không quy định

về tiêu chuẩn Trọng tài viên, nhưng một số nước khác lại quy định cụ thẻ, như Trung Quốc, Việt Nam Điển 13 Tuật Trọng lài Trung Quốc, Trọng tài viên phải đáp ứng một trong những tiêu chuẩn sau đây

-_ Có ít nhất 8 năm hoại động trong lĩnh vực trọng tài;

-_ Có Ù nhất 8 năm là luật sư;

- Dé& hoat động như thấm phan it nhdt trong 8 nd

-_ Là những chuyên gia ngiên dứa hoặc giảng dạy pháp lý;

- Có kiến thức về pháp Ù và tham gia tiễn hành công việc chuyên môn về kinh

tổ, thương mại, có chức vụ và danh hiệu chuyên viên hoặc đáp ứng những tiêu chuẩn nghệ nghiệp tương dương [31 J

Trang 39

Lý giải cho việc dưa ra các yêu cầu vẻ tiêu chuẩn của Trọng tải viên, các nhá làm luật cho rằng, cũng giếng như cáo thảm phán, các Trọng tải viên là người “ cầm can nay mực” trong việc xét xử và đưa ra các phán quyết có giả trí thì hành và ràng bude vẻ mnặt pháp lý Trong khi các thầm phản phải đáp ứng nhnễu tiêu chuẩn khắt khc

thì các Trọng tải viên cũng phải có tiêu chuẩn nhật định, nêu không sẽ ảnh hưởng đến

chải lượng xét xử của Trọng tài Bên cạnh đó cơ chế giải quyết anh chấp bằng Trọng tài cũng rất linh hoạt, trong khi các bên không được lựa chọn thâm phán dễ giải quyết tranh chấp tại Tòa án thi các bên lại được tự đo lựa chọn Trọng tài viên để giải quyết tranh chấp tại Trọng tài Như vậy nếu không đưa ra tiêu chuẩn thì rất khó kiểm soát trình độ và năng lực của Trọng tài viên trong việc giải quyết vụ tranh chấp

Tuy nhiên, những người theo quan điểm mở lại cho rằng chỉ nên nhân mạnh tiêu cửu độc lập, vô tư, khách quan của Trọng tải viên Còn tiêu chuẩn Trọng tải viên nên đẻ chỉnh các bên hoặc cáo hiệp hội chuyên môn hoặc tổ chức Lrọng tải quyết định Trong,

thực tiễn có rất nhiên chuyên gia am hiểu sâu vẻ lĩnh vực chuyên ngành, có uy tín trong,

giới chuyên môn nhưng họ lại không dược chủ yếu đảo tạo qua bất kỷ trường lớp nào,

kinh nghiệm và uy tín mà họ có được từ chính trong thực tiễn Vậy họ có phải lá người

thìch hợp để các bên tranh chấp lựa chọn làm người phân xử tranh chấp phát sinh từ

Tinh vue ma ho am hiểu hay không? Chỉnh vì lý do này, một số mau hợp đẳng quốc tế, đặc biệt là những hợp đồng được sử đụng trong vận tải và mua bán hàng hóa thường, xác định tiêu chuẩn Trọng tải viên khi được chọn trong trường hợp phát sinh tranh chấp

Ví dụ: Quy tắc Trọng tải GAFTA, điều 3:2 quy định "Chỉ những người đã tham

gia vào Tinh vực thương mại mới có thể được chọn làm Trọng tài viên” Ngoàt ra, tại

một số nước việc lựa chọn Trọng tải viên cũng phải tuân theo một sở giỏi hạn, chẳng hạn như: Luật pháp Tay Ban Nha quy định khi tranh chấp cỏ liên quan đến bản chất pháp lý thì người được chỉ định lãm Trọng tải viên bắt buộc phải là luật sư”

Tại LCC, đối với Hội đồng Trọng tải có một Trọng tải viên duy nhất thi người được chỉ định thường là luật sư Dối với Hội đồng Trọng tài có ba Trọng tai vién thi Chủ tịch Hội đồng Trọng tải cững thường là luật sư hoặc phải là người có đã tiêu chuẩn

33

Trang 40

chuyên môn của một Trọng tải viên dã từng nghiên cửu vẻ lĩnh vực giải quyết tại trọng, tài Bởi vì trong thực tế, có nhiều vụ tranh chấp tuy có nội đụng đơn giản nhưng thường nay sinh những vân đê phức tạp vẻ thủ tục tố tụng, xung đột pháp luật Vì vậy chỉ có luật sư là người phù hợp hát dễ giải quyết những vận dễ này chứ không phải là các

chuyên gia trong lĩnh vực khác Diễn nãy được nhắn mạnh trong ân phẩm sẻ 301 của

ICC * Bởi vì bản chất pháp lý của Trọng lài quốc tế, hầu hết các Trạng tải viên của TCŒ

là luật sư hoặc giáo sư của các trường dại học”

Tom lại, tủy theo pháp luật của mỗi nước và quy chế của mỗi tố chức trọng tài, tiêu chuẩn Trọng tải viên được quy định dưới nhiều hình thức khác nhau, một số nước thi quy dịnh trong Luật trọng tài, một số nước lại không quy định tiêu chuẩn Trọng tài viên ma dé cho các hiệp hội ngành nghệ, các tổ chúc Trọng tài tụ xác định tiêu chuân Trọng tài viên

Sơ với Pháp lệnh TTTM 2003, Luật 1"TUM 2010 đã có thay đổi đảng kế về việc

quy định tiêu chuân của Trọng tài viên Pháp lệnh quy định chặt chế hơn về điều kiện, tiêu chuẩn dễ trở thành Trọng tài viên, mã một trong những diém han chế lớn là không, cho phép người nước ngoài được làm Trọng tải viên tại các Trung tâm TTTM của Việt Nam Theo GS.TSKH Đảo Trí te “qui định đó đã hạn chế quyền tự do lựa chọn các biên Iranh chấp, đồng thời bạn chế sự tiếp cận cửa Trọng tải Việt Nam đối với kinh nghiệm và thực tế giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài” Trong thời kỳ hội nhập, Trọng tải la phương thức giải quyết tranh chấp thương mai ngoai toa án phố biên nhất, đắc biệt là dối với các giao địch kinh đoanh quốc tế Nhưng hiện nay, các trung,

tam TTTM ở nước ta không có Trọng tài viên nào là người nước ngoài, trong khi thẩm quyển của Trọng tải không chỉ giải quyết tranh chấp thương mại trong nước mà cồn giải quyết cả những tranh chấp thương mại quốc tế Đỏ là một trong những nguyên nhân khiến các bên tranh chdp mang quốc tịch nước ngoài ít khi lựa chọn các trung tâm TTTM Việt Nam: giải quyết tranh chấp giữa họ với đối tác Việt Nam vì sợ sự thiên vị, thiểu khách quan Bảo cáo của VLAC cho thấy, năm 2005, 15/18 vụ giải quyết tại trung, tảm có nguyên đơn là doanh nghiệp Việt Nam

34

Ngày đăng: 28/05/2025, 20:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Thống  kê  các  vụ  tranh  chấp  được  giải  quyết  tại  Trung  tâm  Trọng  tai - Luận văn trọng tài vụ việc theo pháp luật trọng tài thương mại việt nam
ng 2.1: Thống kê các vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm Trọng tai (Trang 68)
Bảng  2.2:  Thống  kê  cát  vụ  quyết  tranh  chấp  bằng  Trụng  lải  Lai  các - Luận văn trọng tài vụ việc theo pháp luật trọng tài thương mại việt nam
ng 2.2: Thống kê cát vụ quyết tranh chấp bằng Trụng lải Lai các (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w