1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn trách nhiệm liên Đới giữa vợ chồng Đối với khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chồng thực hiện

91 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách Nhiệm Liên Đới Giữa Vợ Chồng Đối Với Khoản Nợ Phát Sinh Từ Hành Vi Pháp Lý Do Một Bên Vợ Hoặc Chồng Thực Hiện
Tác giả Vũ Khánh Ngân
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Minh Tuấn
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên sơ sở phân tích lý luận vả đánh piá thực trang việc thực hiện các quy định về trách nhiệm đân sự liên đới của vợ chồng, luận văn sẽ tập trung làm sáng tỏ những quy định về trách nh

Trang 1

MOT BEN VO HOAC CHONG THUC HIEN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUAT HỌC

Hà Nội —2U17

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI

KHOA LUAT

VŨ KHÁNH NGAN

TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI GIỮA VỢ CHÒNG ĐÒI VỚI

KHOẢN NỢ PHÁT SINH TỪ HÀNH VI PHÁP LÝ DO

MỘT BÊN VỢ HOẶC CHÒNG THỰC HIỆN

Chuyên ngành - : Luật Dân sự và Tô Lụng dẫn sự

Ma sé : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cân bộ hướng dẫn khoa bạc: TS NGUYÊN MINIT TUẦN

Hà Nội — 2017

Trang 3

MUC LUC

CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIEM DAN SU LIEN DOI CUA VO

CHONG VE KHOẢN NỢ PHÁT SINH TỪ HÀNH VI PHÁP LÝ DO MỘT

BÊN VỢ HOẶC CHONG THUC HIEN

1.1.Khái niệm chung về trách nhiệm liên đới

1.2.Khái niệm trách nhiệm liên đới của vợ chông

vi pháp lý do một bên vợ hoặc chồng thực hiện

thiết yếu của gia đình

1.2.3 Vợ chồng phải chịu trác]

doanh của chồng hoặc vợ

1.2.4.Sơ lược các quy định của pháp luậ

chồng

1.3.Trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng đôi với khoản nợ phát sinh từ hành vì vi pháp lý của vợ hoặc chồng ụ

1.3.1.Cơ sở đê xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng về khoản nợ phát

sinh từ hành vi pháp lý của vợ hoặc chồng

1.3.2 Ý nghĩa trách nhiệm liên đới của vợ chồng

Chương II

THUC TRẠNG PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VÊ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI

CỦA VỢ CHÔNG ĐÔI VỚI KHOẢN NỢ CHUNG

2.1 Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vơ chồng theo quy định tại Điều

27 Luật :'hôn nhân gia đình năm 201

vợ chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yêu của gia đình

2.1.2 Xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do vợ hoặc chồng thực hiện liên quan đến tài sản chung 48 2.2 Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng khi một người đại diện tham gia giao dịch

2.3 Các trường hợp không phát sinh trách nhiệm liên đới giữa vợ và chông

2.3.1 Vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch không có sự đồng ý của chồng hoặc vợ

2.3.2 Vợ chồng thỏa thuận chia tai sản chung đề kinh doanh

2.3.3 Vợ chông thực hiện các giao dịch băng tài sản riêng

2.4 Thực hiện trách nhiệm liên đới của vợ chông

2.4.1 Thực hiện trách nhiệm liên đới bằng tài sản chung

Trang 4

2.4.3 Hậu quả pháp luật do không thực hiện, thực hiên không đúng trách nhiệm

liên đới 79

Chương TTI

THUC TIEN AP DUNG VA MOT 80 KIEN NGHI HOAN THIEN PHAP

LUAT VE TRACH NHIEM DAN SU LIEN BGI CUA VO CHONG DOI VG1

KIOAN NG PIIAT SINIL TUTIANIT VI PHAP LY CUA MOT BEN VO

IIOAC CIIONG THỰC TIỆN

3.1 Nhận xét chung về trách nhiệm dân sự liên đới giữa vợ

khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chồng thục hiện 82 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định trách nhiệm dân sự liên

đới của vợ chồn -83 DANH MỤC “TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LOI CAM BOAN

Tôi xin cam đoạn luận vẫn là công trình nghiên cửa của riêng tôi Các

kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bê trong bắt kỳ công trình nào

khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tim

cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tắt cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luậi Dại học Quấc gia Hà Nội

Pay tôi viết Lời cam đoạn nàp đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể

bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

VU KHANH NGAN

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TÁT

Tiên nhân và gia đành

Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014

Quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành

Luật hôn nhân và gia đỉnh năm 2014

Bê luật đân sự năm 2005

1Hiển pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, vợ chồng ngày cảng tham gis lich

cực vào nhiều các mỗi quan hệ xã hội nhằm đáp ứng những nhủ cầu về tỉnh thân

và vật chất của cá nhân và của gia đình Việc xác định đúng đẫn trách nhiệm của

ñ hội đó là cần thiết bởi diều đó góp phần bảo

vợ chẳng trong cáu mỗi quan hệ

đảm sự công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan

Tuy nhiên, trong thực tế vợ chẳng tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế là

rất đa dạng và phức tạp, việc xác định trách nhiệm của vợ chồng trong từng mỗi

quan hệ đó là rất khó khăn Đặc biệt, việc xác định trách nhiệm dân sự liên đới

piữa vợ và chỗng đối với khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý đo một bên vợ

hoặc chẳng thực hiện là một vẫn đề quan trọng cần được nghiên cứu một cách

toàn điện và triệt để Theo hệ thống pháp luật về IIN&GĐ của Nhà nước ta từ

năm 1945 đến nay đã có một số quy dịnh liên quan đến việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng: từ chế độ cộng đồng toàn sản của vợ chẳng theo Luật IIN®&GĐ năm 1959, đến chế độ cộng đồng tạo sản của vợ chồng theo Luật

HN&GH năm 1986, năm 2000 vá năm 2014 Pháp luật điều chỉnh về trách

nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng vừa mang tỉnh khách quan, vừa thể hiện ý

chỉ chủ quan của Nha nước Luật HN@&GĐÐ năm 2000 của Nhà nước ta đã đành

Diéu 25 trong chương II: “Quan hệ giữa vợ và chồng” để quy định về vấn đề

này, cụ thể: “Vợ hoặc chỗng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dich dan

sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoại

thiết yếu của gia đình” Tại Diéu 27 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã có

những quy định cụ thể về trách nhiệm liên đới vita hai vo chẳng Cụ thể

“1 Vo, chẳng chịu trách nhiệm liên dời dải với giao dịch do một bên thực hiện

quy định tại khoản 1 Diễu 30 hoặc giao dich khác phù hep véi quy dinh về đại

diện tại các diễu 24, 25 và 26 của Luật này

2 Fo chéng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của

Ludt nay”

Trang 8

‘Tai khoản 1, Điều 30 là trường hợp liên quan những giao dịch liên quan

đến đáp ứng nhu cầu thiết yêu của gia đình Những Điều 24, 25, 26 liên quan

đến trường hợp đại điện giữa vợ và chẳng Riêng Điều 37 quy định về nghĩa vụ

chung của vợ chồng, cụ thể:

“1, Nghĩa vụ phái sinh từ giao dịch do vợ chẳng cùng thôu thuận xác lập, nghữu

vụ bôi thường thiệt hại mà theo quy dịnh của pháp luật vợ chẳng cùng phải chịu

trách nhiệm;

2 NgHĩa vụ do vợ hoặc chẳng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia

đình;

3 Nghĩa vụ phải sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoại tài sân chung:

4 Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử đụng tài sản riêng dễ dhụ trì, phát triển khôi tài

sản chung hoặc đề tạo ra nguôn thu nhập chủ yêu của gia đình;

5 Nghĩa vụ bôi thường thiệt hại do con gây ra mà (heo q0 định của Bộ luật dân

sự thì cha mẹ phải bài thường;

6 Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan”

Tuy nhiên, việc quy định trách nhiệm liên đới của vợ hoặc chồng với khoản

nợ phát sinh do hành vi pháp lý của vợ hoặc chồng thực hiện thí lại chưa được

quy định rỡ ràng trong luật hiện hành, đã xảy ra tắt nhiễu tranh chấp, gây ra rit

nhiều khó khăn cho cv quan c6 tham quyén gidi quyét va ó khi việo giải quyết

chưa thỏa đáng lại gây ra rất nhiều bức xúc, thiệt hai cho đương sự Chính vi

vậy, việc giải quyết tranh chấp khi phát sinh giữa vợ và chỗng trên thực tế khá phổ biển, những vụ án má vợ hoặc chồng dua don ra toa đề nghị tỏa án hủy giáo

dich do một bên thực hiện ma một bên không hay biết, tòa án sẽ tuyển giao dich

đó vô hiệu nhưng việc xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng rất

phức tạp và có sự giải quyết khác nhau piữa các tòa án

'Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ

chẳng, cụ thể lá khoản nợ do vợ hoặc chồng đơn phương thực hiện là vẫn dễ có

ý nghĩa thiết thực, vừa làm rõ những ưu điểm, hạn chế, vừa đề ra những giải pháp trứơc mắt và lâu dai nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của vợ

chẳng dối với đời sống của gia đình nói riêng vả toán xã hội nói chung Vi thé,

8

Trang 9

tôi mạnh dạn lựa chọn và nghiên cứu đề tải * Xác định trách nhiệm dân sự liên

đới giữa vợ và chẳng đối với khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý do một bên

vợ hoặc chẳng thực hiện” làm luận văn thạo sỹ luật học hy vọng sẽ đóng phần

một phần nhỏ nao đó đáp ứng được những đỏi hỏi câp bách hiện nay trên cả

phương diện khoa học và thực tiến

2 Mục tiêu dích và nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ những vân đề lý luận về trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng với

khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chồng thực hiện

Trên sơ sở phân tích lý luận vả đánh piá thực trang việc thực hiện các quy

định về trách nhiệm đân sự liên đới của vợ chồng, luận văn sẽ tập trung làm

sáng tỏ những quy định về trách nhiệm hiên đới của vợ và chẳng với khoản nợ

phát sinh do một bên vợ hoặc chồng thực hiện, tìm được những tồn tại của pháp luật về vẫn đề này, từ đó đưa ra những để xuất, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn

pháp luật HN4&GĐ cũng như góp phân giải quyết những vấn để, vướng mắc còn

tổn tại xung quanh các vụ án liên quan tới trách nhiệm liên đới của vợ chẳng với

khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chồng thực hiện trong

thực tế

3 Tỉnh hình nghiên cứu

Trong khoa học pháp lý đã có nhiều các công trình, để tải nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm liên đới của vợ chồng như: “Trách nhiệm liên đới bồi thường

thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam ”- luận ân Tiên sỹ luật hạc của Pham

Kim Anh: “ƒrách nhiệm dân sự - so sánh và phê phám”- bài viết của tiễn sỹ Ngô

1Iuy Cương; “Trách nhiệm dân sự liên đới bôi thường thiệt hại trong pháp luật

Piệt Nam — luận án tiễn sỹ luật hoc của Phạm Kim Anh”, “Quyên và nghĩa vụ vễ

tài sẵn của vợ chẳng trong thời lỳ hôn nhân” - Luân văn thạc sỹ 2013 của Vũ

Thị Chiêm; “ Xác định trách nhiệm đâm sự liên đới của vợ chẳng trung pháp Iuật Việt Nam — | uận văn thạc sỹ của Nguyễn Quỳnh Hương ”

Các công trình nghiên cứu trên có phạm vi rộng, toàn điện, bao quát cả

quan hệ tải sẵn của vợ chồng nhưng với chế độ trách nhiệm hên đới cua vợ

9

Trang 10

chẳng cụ thể là khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý của một bên vợ hoặc

chồng thì cũng còn khá mới Tác giả mong muốn đóng góp một phần đưa ra

được cái nhìn đúng đắn về trách nhiệm liên đới của vợ chỗng đối với khoản nợ

phát sinh từ hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chông thực hiện Luận văn

được trình bày với những điểm mới sau đây

- Nghiên cứu, phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm đân sự

liên đới và xác định trách nhiệm dân sự liên đới giữa vợ và chồng đôi với khoản

nợ đo vợ hoặc chẳng thực hiện trong một số trưởng hợp cụ thể liên quan

- Nghiên cứu thực tiễn của việc xác ảnh, áp dụng những quy dịnh pháp luật dân

sự về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đối với khoản nợ phát sinh từ

hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chẳng thực hiện ở Việt Nam trong thời gian

qua

- Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thực hiện có hiệu quả hơn

nữa việc xác dịnh trách nhiễm dân sự liên đới của vơ và chồng dối với khoắn nợ

phát sinh tử hành vị pháp lý do vợ hoặc chồng thực hiện trong thực tế

Luận văn có thể dùng lảm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước

trong việc xây dựng va thực hiên pháp luật có liên quan đến hôn nhân và gia

đình Ngoài ra, luận văn còn có thể dang lam tai liệu tham khảo cho hoạt động

giảng dạy, nghiên cứu ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sử đảo tạo khác ớ

Việt Nam,

4, Phạm vi nghiên cứu dé tai

Với dề tải “Trách nhiệm liên dời giữa vợ và chong dỗi với khoản nợ phát

sinh từ hành vi pháp lý đo một bên vợ hoặc chồng thực hiện”, luận văn chi

nghiên cứu cáo vẫn để lý luận về trách nhiệm liên đới giữa vợ và chẳng đối với

khoăn nợ phát sinh từ hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chồng thực hiện trong,

quy định của pháp luật Việt Nam hiện tại Qua đó, luận văn chỉ ra những bất

cập, vướng mắc trong các quy dịnh của pháp luật hiện hành để làm cơ sở cho

những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về nội dung nghiền

cứu

10

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tải được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-

LễnH, tư tưởng Hồ Chí Minh và sáo quan điểm của Đăng và Nhà nước ta vỀ

Nhà nước và Pháp luật, về hôn nhân và gia đình Việc nghiên cứu được thực

hiện từ góc độ lý luận chưng về hợp đồng và từ góc độ hôn nhân và gia đình

Các phương pháp nghiên cứu cụ thế dược sử dụng lả phân tích, tông hợp,

lịch sử, sơ sánh, thông kê v.v

6, Kết cầu của luận văn

TNgoài phần Mục lục, mở dầu, kết luận và danh mục tài liêu tham khảo, luận văn

được chia làm 3 chương:

Chương T: Cơ sở lý luận vẻ trách nhiệm dân sự liên dời của vợ chẳng về khoản

nợ chung

Chương 1L Thực trạng pháp luật quy định về trách nhiệm đân sự liên đới của vợ

và chẳng đối với khoản nợ chung

Chương 1H: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách

nhiệm dân sự liên đới giữa vợ và chồng đối với khoản nợ phát sinh từ hành vị

pháp lý do một hên vợ hoặc chồng thực hiển

11

Trang 12

Chuirong I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÉ TRÁCH NHIEM DAN SU LIEN DOI CUA VO

CHONG VE KHOAN NO PHAT SINH TU HANH VI PHÁP LÝ DO

MOT BEN VG HOAC CHONG THUC HIEN

1.1 Khái niệm chung về trách nhiệm liên đới

Trong dời sống xã hội, mọi cá nhân dều có quyền sống, quyển mưu cầu hạnh

phúc và các quyền đó luôn được pháp luật của mỗi quốc gia có chủ quyền

công nhận, song song với quyền được thừa nhận đó thì cá nhân còn phải thực hiện nghĩa vụ có liên quan trong các mỗi quan hệ xã hội mả cá nhân là chủ

thể như: nghĩa vụ tôn trọng, quyền sở hữu của người khác, tôn trọng trật tự

công công, báo vệ môi trường Trách nhiệm dân sự có thể dược hiểu là một

quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nha nước (thông qua các cơ quan chuyên

môn ) và chủ thể vi phạm pháp luật (có nghĩa là các cá nhân hoặc pháp nhân)

trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi và

những biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định ở chế tải pháp luật

Điều đó được hiểu là sự cưỡng chế của nhà nước buộc người vi phạm pháp

luật phải chấp hành quy phạm pháp luật, trừng trị người vi phạm pháp luật,

bắt buộc phải khôi phục lại các quan hệ xã hội đã vị phạm

Néu xél về đặc điểm cũa Irách nhiệm dân sự thì ở Việt Nam tổn tại nhiều

quan điểm khác nhau nhưng có thể thấy những điểm chung sau:

Một là, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý khác với trách

nhiệm dạo dức, dó là trách nhiệm pháp lý có các chế tải cụ thể

Hai là, trách nhiệm đân sự không phải là sự trừng phạt mà là một biện pháp,

một hình thức cưỡng chế của nhà nước và do co quan nhả nước có thẩm

quyền áp dung buộc người có hành vì vì phạm pháp luật phải bỗt thường cho

người bị tổn hại do hành vi đó gây ra

Ta là, bên có hành vi vì phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm về tải sản hoặc

phải thực hiện một công việc hoặc không thực hiện một công việc vì lợi ích

hợp pháp của bên vi phạm

12

Trang 13

Bốn là, trách nhiệm dân sự được thành trách nhiệm dân sự hợp đồng và trách

nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Trách nhiệm dân sự hợp đồng phát sinh khi

hựp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đủng, không đây đủ như đã

giao kết gây thiệt hại cho bên bị vị phạm và bên bị vì phạm đòi bai thường

Trách nhiệm ngoài hợp đồng phát sinh khi một bên có lỗi gây thiệt hại cho

một bên khác vỀ tải sin, tinh mạng, sức khỏc, các quyền nhân thân mà trước

đó giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại không có giao kết hợp đẳng hoặc

có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi

pham hợp dỗng và bên bị thiệt hai doi hỏi sự bồi thường Trách nhiệm trong,

hop dang hay trách nhiệm ngoài hợp đồng ngoài hợp đồng giống nhau ở chỗ

phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ dân sự Theo quy định tại Điều 280 BI.DS

năm 2005 “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau

đáy gọi chưng là bên cô nghĩa vụ) phải chuyến giao vat, chuyén giao quyén,

trả tiên hoặc piẫy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không dược thực hiện công việc nhất định vì lợi Ích của một hoặc nhiều chủ thé khác (sau đây gọi chưng là bên có quyên) " Như vậy nghĩa vụ được phân biệt bởi nghĩa vụ

bị vị phạm phát sinh từ hợp đồng hoặc từ pháp luật Tuy nhiên ở đây cần thấy

có sự khác nhau, trách nhiệm hợp đồng là một nguồn gốc phat sinh nghĩa vụ

kháu với hợp đồng Nghĩa vụ hợp đồng phát sinh trên cơ sử sự thống nhấ chỉ của các đương sự hay hành vi vi phạm pháp luật Nghĩa vụ bồi thường

phat sinh ngoài ý chí uủa đương sự, nó đo luật định

Từ những điểm trên dây, chúng ta có thể dưa ra khái niềm về trách nhiệm

đân sự Tuy nhiên, xung quanh vấn để nảy cũng tồn tại nhiều quan điểm khác

nhau ở Việt Nam vả thế giới O.8.TolTo (đại điện cho gáo luật giá ở Nga) đã

đưa ra dịnh nghĩa “Trách nhiệm dân sự, dó là những chế tải đối với vi phạm

nghĩa vụ mà việc 4p dụng những chế tải đó sẽ đẫn đến hậu quả pháp lý bất

lợi cho bên vi phạm dưới hình thức tước quyền dân sự (như tước quyển sở

tiữu, tước quyên thừa kế ) hoặc bằng hình thức đặt ra cho họ những nghĩa

vụ mới hoặc nghĩa vụ bổ sưng như nghĩa vụ bai thường thiệt hại, nghĩa vụ

nộp phạt vi phạm hoặc nghĩa vụ trả tiễn lãi dối với trách nhiệm dược thể

13

Trang 14

hiện bằng hình thức cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ đối với tài sản của người

mắc nợ, tuy nhiên có thể có trường hợp trách nhiệm không có nghĩa vụ,

chẳng hạn trách nhiệm áp dụng đổi với người bão lãnh, người thử ba sử hữu

tài sẵn thế chấp Do vậy không phải bắt kế trường hợp nào bị áp dụng chế tải

cũng đều có sự vi phạm nghĩa vụ

Ổ Việt Nam, giải doạn trước cách mạng tháng tám, có luật gia có quan niệm:

Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của của nghĩa vụ căn cử vào hành vi

mà dân luật coi như là trái luật Do đó dân luật đã bắt buộc người thực hiện

hành vi trái luật phải bồi thường cho người bị thiết hại Trách nhiệm dân sự

phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đổi với người nảo đã làm ra một hành vi trái

luật là ma gay tén hại cho người khác Quan điểm này trên thực tẾ con gay

rất nhiều tranh cãi

Theo quy định của Luật La Mã, ngoài các nguyên nhân hợp pháp như hợp

đồng và chuẩn hợp đồng, nghĩa vụ dược phát sinh bởi nguyên nhãn bất hợp

pháp như vi phạm và chuẩn vi phạm Vi phạm được chia thành hai loại là tội

hình sự và dân sự phạm Đổi với dân sự phạm, nạn nhân có thê kiện ra tòa

xin bồi thường l3ần sự phạm là sự thiệt hại gây ra một cách bất chính đáng,

cho người khác, làm nghèo cho nạn nhân nhưng không làm giảu thêm cho người vị phạm Tuy nhiền các luật gia La Mã chưa bao giờ đạt tới nguyên tắc chung rằng mọi người phải chíu trách nhiệm đối với các thiết hai mà mình

gây ra cho người khác Vấn đề này được các luật gia thuộc trường phái tự

nhiên tiêu biểu lá Grotious và Domat khắc phục vào thé ky tho’ XVI va

XVIH, sau đó được ghi nhận vào các bộ luật của Châu Au Bé luật Dân sự

pháp hiện nay gó quy định nguyên tắc tổng quát “Bát cử hành vì nào của một

người mà gâu thiệt hại cho người khác thì người đã gây ra thiệt hại do lỗi

của mình phải bôi thường thiệt hại”

Tác giá Vũ Văn Mẫu khẳng dịnh: Trách nhiệm dân sự lả một nguẫn gốc của

nghĩa vụ không căn cứ vào ý chí của đương sự tức là nguồn gốc bắt hop

pháp Vì vậy trách nhiệm dân sự làm phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đổi

với người đã thực hiên một hành vi trái luật gây tổn thiệt chơ một người

14

Trang 15

khác Qua tim hiểu các tài liệu, chúng tôi cũng chưa tìm thấy khái niệm về

trách nhiệm dân sự được đề cập tới một cách rõ rảng, cụ thể Trong văn bản

nau, vi vay dựa vào các đặc điểm nều trên đây cũng như nhiều quan điểm của

các chuyên gia pháp luật trong vả ngoài nước có thé hiểu khái niệm về trách

nhiệm đân sự như sau: Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của mội người

hoặc nhiều người phải thực hiện vì lợi ích hợp pháp của người khác theo

những căn cử do pháp luật quy định

Trách nhiệm dân sự nói chung chỉ phát sinh do một bên không thực hiện

hoặc thực hiện không dúng, không đẩy du nghĩa vụ đã giao kết, thỏa thuận

hoặc đối với bên kia hay do một bên có lỗi gây thiệt hại cho một bên khác về

tải sản, tỉnh mạng, sức khốc, các quyền nhân thân vả bên bị thiệt hại đỏi hỏi

sự bồi thường Từ những quy định trọng BLDS hiện hành có thể chia nghĩa

vụ dân sự thành những loại sau đây:

Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ

b Nghĩa vụ dân sự liên đới

¢ Nghia vu dan sự được chia theo phần

d Nghĩa vụ dân sự hoản lại

e Nghĩa vụ dân sự bố sung

Theo quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về việc thực hiện

nghĩa vụ dân sự liên đới như sau:

- Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiễu người sùng phải thực hiện và

bên có quyền có thể yêu cầu bất cir ai trong số những người só nghĩa vụ phải

thực hiện toản bộ nghĩa vụ

- Trong trường hợp một người đã thực hiên toản hộ nghĩa vụ thì có quyền yêu

cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên dời

của họ đối với mình

- Trong trường hợp bên có quyền đã chỉ dịnh một trong số những người có nghĩa

vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thi những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ

15

Trang 16

- Trong trường hợp bên có quyền chi miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một

trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ

của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của

họ

Tháp luật đân sự bên cạnh việc quy định các quy lắc xử sự chung cho các chủ

thể khi họ tham gia giao dich din sw thi con quy dịnh trách nhiệm đần sự nhằm

áp dụng đối với các chủ thể nêu trong quá trình tham gia và thực hiện các giao

dich dan sự đó mà không luân thủ các quy tắc xử sự chung dé Khi xứ sự của

một hay nhiều chủ thế làm ảnh hưởng tới quyển vả lợi ích hợp pháp của người

khác, cơ quan nhà nước có thấm quyền ấp dụng trách nhiệm dân sự để bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi trách nhiệm dân sự duoc ap dung thi

người có hành vi xử sự trải quy định của pháp luật dân sự phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định Như vậy theo pháp luật dân sự, nghĩa vụ dân sự liên đới

lả nghĩa vụ của nhiều người, trong dó một trong số những người có nghĩa vụ

phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ Mục đích của việc xác định một nghĩa vụ dân

sự liên đới khi cổ nhiều người tham gia quan hệ là buộc những người có nghĩa

vụ phải củng nhau gánh vác toàn bộ nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyển lợi chơ chủ

thể có quyền được trọn vẹn, kể cả khi cỏ một trong số những người cỏ nghĩa vụ không có khá năng thực hiện nghĩa vụ

'từ định nghĩa trên đây về nghĩa vụ dân sự liên đới, chúng ta có thế khắng đỉnh

rằng nếu nghĩa vụ đó mà không được thực hiện hay thực hiện không đúng,

khong day di như cam kết với bên có quyền thì họ phải chịu trách nhiệm đân sự

liên đới do hảnh vị vi phạm gây ra Tuy nhiên, nêu sự vi phạm này chưa gây

thiệt hại thì người vi phạm nghĩa vụ chỉ gó trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ Mặt khác nếu vi phạm nghĩa vụ dã gây ra thiết hại cho người bị vi phạm thì

người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trach nhiệm theo hợp dồng này khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hop déng Trach nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ding là một loại nghĩa vụ

dân sự, căn cử phát sinh nghĩa vụ nảy được quy định tại khoản 3,6 điều 281

16

Trang 17

BLDS nam 2005, con nội dụng cụ thể về trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng được quy định tại chương XXI của BLDS năm 2095 (điều 616)

Vé cơ bắn, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế tài dân sự đo

cơ quan nhà nước có thắm quyền áp đụng nhằm buộc người có lỗi cổ ý hoặc vô

ý xâm phạm tỉnh mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhâm phẩm, quyên và lợi ích

hợp pháp khác của cá nhân hay pháp nhân hoặc chủ thể khác phải bồi thưởng

những thiệt hại mà minh đã gây ra Như vậy, nếu trách nhiệm bồi thường theo

hợp đẳng phát sinh khi có hành vị vì phạm nghĩa vụ gây ra thiệt hại; do vì phạm

những thỏa thuận đã có trong hợp dỗng của một bên, các bên cũng có thể thỏa thuận đặt ra các điều kiện phát sinh bao gdm diy đủ các điều kiện kế cả việc bên

vị phạm không có lỗi vẪn phải bồi thường thiệt hại thì trách nhiệm bỗi thường,

thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có thiệt hại và người có trách nhiệm phải

bồi thường những thiệt hại đó, do vi phạm của một bên; có thiệt hại xẩy ra đo

hành vi trái pháp luật có mỗi quan hệ nhân quả giữa hành vị vả hậu quả và lỗi

Qua tìm hiểu các tài liệu trên mọi phương diện hiện chưa tim thấy khái

niệm về trách nhiệm dân sự liên đới theo hợp đồng, đo đó dựa vào khái niệm

chung về trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ dân sự liên đới đề đưa ra khái niệm về

trách nhiệm dân sự liên đới như sau: Trách nhiệm dân sự liền đới là trách nhiệm

của hai hay nhiều người cùng phải thực hiện vì lợi ích hợp pháp gủa người kháu theo các căn cứ do pháp luất quy định

1.2 Khái niệm trách nhiệm liên đới của vợ chồng về khoản nợ phát

sinh từ hành vi pháp lý do một bên vợ hoặc chồng thực hiện

1.2.1 Khái niệm

Trước hết chúng ta cần hiểu khoản nợ là gì Trong thực tẾ cuộc sống của

vự chẳng phát sinh rất nhiễu các quan hệ dân sự, dặc biệt là quan hệ phát sinh

từ hành vi pháp 1ý chỉ của vợ hoặc của chồng Theo quan điểm cả nhân, có thể

hiểu khoản nợ bao gồm các khoán nợ trong quan hệ vay vả cũng có thể là

khoản nợ phải trả theo hop đồng, trên thực tế quan hệ vay nợ sẽ luôn được xác lập trên cơ sở hợp đồng vay mượn Khi không thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ

thi sé phat sinh trách nhiệm

17

Trang 18

"Theo quy dinh tai BLIOS nam 2005 chua có điểu luật nảo quy định cụ thể

về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng mà chỉ có quy định về nghĩa vụ

dân sự liên đới tại Điều 298 Theo đó “Ngifa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do

nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyên có thê yêu cầu bắt cứ ai trong

Ố những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ” Dựa vào những

quy định nảy, chúng tôi cũng dưa ra khái niệm về nghĩa vụ dân sự liên đới của

vợ chồng như sau: Nghĩa vụ dân sự liên đới của vợ chỗng là nghĩa vụ mả trong

đó vợ hoặc chéng có nghĩa vụ phải thực hiện loàn bộ nội dung của nghĩa vụ phát sinh trong giao địch dân sự hợp pháp đo một trong hai người thực hiện

nhằm đáp ứng nhu câu sinh hoạt thiết yếu của gia đình Từ cách hiểu về nghĩa

vụ như trên, chủng tôi cho rằng trách nhiệm dân sự liên dới của vợ chẳng là

quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý được cơ quan nhà nước có thấm quyền áp dụng buộc vợ chẳng phải cùng nhau gánh chịu những hậu quả pháp lý

nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị

xâm phạm trong giao dịch dân sự mà họ tham gia

Luật hôn nhân gia đình năm 20144 đã kế thừa và phát Iriển những quy định của

pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về hôn nhân gia đỉnh nói riêng đã có

rất nhiều điểm mới và tiễn bộ Trong đó, Luật đã đặc biệt quan tâm, chú trọng

tới vấn đề tài sắn của vợ chẳng trách nhiệm cla vo chồng đổi với những yêu cầu cấp thiết của gia đỉnh hay sự sinh hoạt chung của gia đỉnh lải sản chung

của vợ chẳng được sử dụng nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đỉnh Các

hợp đồng, giao dịch do một bên đơn phương thực hiện vì mục dịch thiết yêu

của gia đình thi vợ chồng vẫn phải có trách nhiệm liên đới thực hiện nhằm đảm

bảo đời sống chung, lợi ích chung của gia đình Vì vậy, oăn cử những quy định

của pháp luật dân sự nói trên về nghĩa vụ dân sự hiên đổi, Luật HN&GÐ 2014

đã đặt ra vấn để trách nhiệm dân sự liên đới giữa vợ chồng tại Điều 27

Theo đó, tổng hợp lại chúng ta có thể hiểu: trách nhiệm đân sự liên dei

của vợ chồng là quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp đụng buộc vợ, chẳng phải cùng nhau gánh vác chịu

những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên

18

Trang 19

cỏ quyền trong giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện

nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình theo những căn cứ đo

pháp luật quy định

1.2.2 Xác định hành vi của vợ hoặc chẳng thực hiện các giao

dịch phục vụ nhu thiết yếu của gia đình

Tai sin chung của vợ chẳng là cơ sở kinh tế dể đáp ứng những lợi ich của vợ

chồng và các thành viên khác trong gia đình, đồng thời đảm bảo cho gia đình

thực hiện được các chức năng xã hội của nó Điều 30 Luật HN & GĐÐ năm

2014 quy dịnh “Vợ chẳng cả nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhầm đáp img nhu

câu thiết vẫu của gia đình Trong trường hợp vợ chông không có tài sản

chung hoặc tài sản chung khong dit dé dap ng như cẩu thiết yếu của gia

đình thì vợ, chẳng có ngÌữa vụ đóng góp tài sân nêng theo khả năng kinh tế

của mỗi bên”

Nhu vậy tải sản chung của vợ chỗng dược sử dụng để dâm bão cho các nhu

cầu của gia đình "Đảm bảo nhu cầu của gia đình" ở đây lá đấm bảo những

nhu cầu sinh hoạt thiết yêu hàng ngày như ăn, mặc, ở, học hành, khám chữa

bệnh, đâm bão những nhu cầu về vật chất và tình thần, chăm sóc lẫn nhau,

xuôi dưỡng, giáo dục con cải

Ngoài việc đám bảo cho các nhú cầu của gia đình, tài sắn chung của vợ

chẳng còn để thực hiên các nghĩa vụ chung của vợ chồng Do tinh chất của

cuộc sống chung cũng như như cầu thực tế, trong thời kỳ hôn nhân bất cứ

cặp vợ chẳng nảo cũng có lúc phải vay, mượn tải sản, tiền bac của người

khác Việc vay, mượn này là nhằm để đáp ứng cho những nhu cầu chung về

vật chất vả tình thần của gia đình VỀ nguyên tắc nếu là nợ chung thi vo

chồng phải củng có nghĩa vụ thanh toản, cỏn nếu là nợ riêng thì người nảo

nợ người đó phải thanh toán bằng tài sản riêng của mình Tuy nhiên trên thực

tế việc xác định các khoăn nợ là nợ chung hay nợ riêng của vợ chẳng không

phải là điêu đơn giản Do tập quán hoặc thói quen, các khoản nợ mà vợ chồng vay thường không được lập thành văn bản hoặc có lập nhưng không

18

Trang 20

được thỏa thuận cụ thể khoản nợ đỏ thuộc nợ chưng hay nợ riêng, trong khi

hầu hết các khoắn nợ đều đo một người đứng ra vay

Để giải quyết vấn đề trên, Luật Hôn nhân vả gia đình năm 2014 quy định tại

Điều 27 về trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với các giao dịch đo một

bên vợ hoặc chéng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của giá dịnh Quy định này nhằm quy kết rách nhiệm chưng của vợ chẳng đối

với các giao dịch hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện vi nhu cầu

thiết yếu của gia đình Ví dụ: Hàng ngày người vợ đi chợ dùng tiền chưng của hai vợ chẳng củng lam ra dé mua ban, đóng tiền học cho con, chữa

bệnh theo quy định của pháp luật thì việc làm nảy không cần hồi ý kiên của

người chẳng vi nở phục vụ cho như cầu hàng ngày của gia dình Hoặc cũng

có trường hợp do thiên tai, người chồng đi công tác xa, ngôi nhàchung của

vợ chồng bị hư hỏng nặng cần một số tiền để tu sửa nhưng tài sản chưng mà

hai vợ chẳng họ có không da để thực hiện cho việc này nên người vợ phải di

vay thêm tiền của hàng xóm và anh em họ hảng Việc làm này của người vợ

sẽ làm phát sinh trách nhiệm tài sản chung của vợ chồng vì mục dich vay

tiền của người vợ là sửa chữa nhà cửa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của gia

đỉnh

hư vậy theo quy định của điều luật nếu một bên vợ hoặc ching thực hiện

giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đỉnh thi bên còn

lại phải chịu trách nhiệm liên đới Nói một cách khác phán luật ràng buộc

trách nhiệm của cá vợ và chồng đối với các giao dịch về tải sản do một bền

vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đảm bảo những lợi ích chính đáng của gia

đình một cách kịp thời Tuy nhiên vự hoặc chẳng chỉ phải chịu trách nhiệm

liên đới déi với những giao dịch do một bên chẳng hoặc vợ thực hiện khi có

đầy đủ cả hai điều kiện:

() Giao dich ma vợ hoặc chẳng thực hiện phất hợp pháp: Giao dịch dân sự

hợp pháp là giao địch thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực theo Diều 122 Bộ

luật Dân sự năm 2005: Người tham gia giao địch có năng lực hành vi dân sự;

mục dich va nội dung của giao dịch không vi phạm diễu cấm của pháp luật,

20

Trang 21

không trái đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoan toán tự nguyện,

hình thức của giao địch phủ hợp với quy định của pháp luật Đôi với những

giao dịch thông thường, liên quan đến những tài sản không có giá trị lớn

nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì các giao dịch này luôn được

coi là đã có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng mặc dù giao dịch

dé chi do một trong hai người thực hiền Đối với những giao dịch được thiết

lập liên quan tới tài sản có giá trị lớn thì cần có sự thỏa thuận của hai vợ

chồng

(ii) Giao dich phai nhằm đáp ứng "nhu cầu sinh hoạt thiết yếu "của gia dinh Có

thể hiểu "nhu cầu sinh hoạt thiết yếu” của gia đỉnh là những nhu cầu cần được

dap img để đảm bảo sự tổn tại và phát triển của gia dinh; đáp ứng những nhu cầu

thiết yếu về vật chất và tỉnh than, cụ thể như nhu cầu về ăn, ở, học hành, chữa bệnh, nuôi dạy con cái Các tiêu chí của "nhu cầu sinh hoạt thiết yếu" có thể

thay đổi theo sự phát triển của xã hội Oó những nhu cầu rất cơ bản đối với gia

đình ở mọi nơi và trong mọi thời đại như: thức ăn, quần áo của các thành viên

những nhu cầu đặc trưng của cuộc sống hiện đại: chỉ phí điện, nước, điện thoại,

Đây là một quy định mới của Luật IIên nhân và gia đìnhnăm 2013 so với Luật

HN &ŒĐ nắm 1959 và năm 1986 cla Nha nude la trước đây, thậm chỉ cä Luật

HN &GD nam 2000 ‘Theo quy định nảy thì nếu một bên vợ hoặc chông thực

hiện giao dịch, vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia dình thì phía bên

người vợ hoặc chồng kia phải lên dới chịu trách nhiệm, nghĩa là khoán nợ đó,

món nợ đó được bảo đảm thanh toán bằng tài sản chung Quy định này nhằm

rằng buộc trách nhiệm của hai vợ chỗng đối với các giao dịch mà một bên vợ hoặc chẳng thực hiện vì nhu cầu thiết yếu của gia đỉnh Đồng thời đảm bảo

quyền lợi của người thứ ba tham gia giao dich liên quan đến tải sản của vợ

chẳng Pháp luật hôn nhân và gia dinh của nhiều nước trên thếpiới cũng đều quy

định về vấn dé này Theo Diễu 220 Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp thì: "Mỗi

bên vợ, chẳng có thể một mình ký kết hợp đồng nhằm mục đích duy trì đời sống

gia đình hoặc giáo dục con cái, bên kia có trách nhiệm liên đới dối với nghĩa vụ

21

Trang 22

do việc ký kết này" hay Điều 761 Bộ luật Dân sự Nhật Bản: "Đối với cde van đề

chỉ tiêu hàng ngày, nều chỗng hoặc vợ thực hiện giao kết pháp lý với người thứ

ba thi cả vự lẫn chồng đều phải chịu trách nhiệm liên đới và theo phần đối với

các nghĩa vụ phát sinh từ đó"

Tài sản chung của vự chồng với mục đích đảm bảo cho cuộc sống chung của gia đình nên vợ vá chồng dều phải có nghĩa vụ xây dựng, phát triển, báu vệ và quan

lý khối tài sản chung Mặc dù vợ chẳng đều phải có nghĩa vụ xây dựng khối tài

sẵn chung nhưng pháp luật hiện hành không có quy định về mức đóng góp của

mỗi bên trong khối tài sản chung, vợ chỗng dóng góp thu nhập của mình vào

việc xây dựng khối tải sắn chung theo khả năng của mình

ching phải chịu trách nhiệm về khuẩn nợ phát sinh

từ hành vi kinh doanh của chẳng hoặc vợ

Theo quy định tại Điều 25 Luật IIN & GÐ năm 2014: “Trường hợp vợ chồng

kinh doanh chàng thì vợ, chẳng trực Hiến tham gia quan hệ kinh doanh là người

đại điện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó trừ trường hợp trước

khi tham gia quan hệ kinh doanh vợ chẳng có thôu thuận khác hoặc luật này và

các luật liên quan có quy định khác Trong trường hợp vợ, chẳng đưa tài sắn

chưng vào kinh doanh thì áp đụng quy định của Diều 36 của Luật này."

Tại Điều 36 Luật HN &GĐ năm 2014: “ Trong trường hợp vợ chẳng oó thỏa thuận về việc một bên đưa tài sân chung vào kinh doanh thì người này có quyền

tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sẵn chung đỏ Thôa thuận này phải

lập thành văn bản”

Khi vợ hoặc chông sử dụng, địnhđoạt tài sản chung vào các giao địch mả có

sự thỏa thuận hay ủy quyén cúa bên kia thị được coi là vợ chẳng củng tham gia

giao dich Vi vậy sẽ phát sinh trách nhiệm tải sắn chung của vợ chồng đối với

hậu quả pháp lý của giao địch đó

Trường hợp vợ chẳng thöa thuận để một bên đứng ra thực hiện giao dịch liên

quan đến tải sản chung Ví dụ như việc vợ chồng sử dụng tài sân chung có giá trị

để đầu tr kinh doanh, mua bán cổ phiếu, trái phiếu tạo ra lợi tức nhưng thỏa

thuận để một bên đứng ra thực hiện giao dich thi giao dich dé duce coi la hop

22

Trang 23

pháp vì nó là sự thể hiện ý chí của hai vợ chồng Phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ

giao dịch sẽ là tài sản chung của vợ chồng, đồng thời họ phải củng nhau chịu trách nhiêm bằng tài sản chung đối với những rủi ro mà giao dịch đó mang lại

Ví dụ, do ông T có công việc ổn định trong thành phố Hồ Chí Minh nên ở Hà

Nôi vợ ông được ông uỷ quyền để kinh doanh dịch vụ cho người nước ngoài thuê nhà Bà N đã ký hợp đồng thuê nhà với công ty TNHHH N.G do người Hàn

Quốc là chủ sở hữu trong 05 năm và trả tiền từng năm một (mỗi năm là

300.000.000 đ) Tuy nhiên đến năm thứ ba vì lý do kinh doanh thua lỗ, công ty

TNHH N.G có thỏa thuận với bà N về việc chậm thanh toán tiền thuê nhà và sẽ

trả lãi cho thời gian chậm trả đó Sang đến năm thứ tư, công ty TNHH NG tuyên

bố phá sản do không có khả năng trả nợ trong đó có khoản tiền thuê nhà với bà

N Như vậy có thể thấy mặc dù ông T không ký hợp đồng thuê nhà với công ty

TNHH NG nhưng ông T sẽ cùng là N là người phải gánh chịu hậu quả pháp lý

từ việc công ty N.G không có khả năng thanh toán tiền thuê nhả của ông bà ở Hà

thể bị trách cứ cũng như cha mẹ bị trách cứ về hành động của con vị thành niên

gây thiệt hại cho người ngoài

-Trach nhiệm vì ủy quyền: người chồng có thể ủy quyền cho người vợ đề hành

động thay mình và khi người vợ hành đông trong phạm vi đã được ủy quyền thì

khối tài sản chung của vợ chồng phải gánh chịu trách nhiệm do hành đông ấy

23

Trang 24

pây ra Về chế độ tài sản của vợ chẳng, tập Dan luat Gidn yêu năm 1883 đã quên

không dự liệu Dởi vậy, liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng, giải quyết

các tranh chấp giữa vợ chẳng với nhau và giữa vợ chồng với những người kháo

được giải quyết theo ản lệ do đó, sự ủy quyền của chồng có thể mặc nhiền,

Riêng đổi với những việc giao ước thưởng nhật cần thiết cho sự sống của gia

dinh, an

Miễn Nam công nhận rằng vợ chồng ủy nhiệm mặc nhiên dé hành

động Dây là thuyết ủy quyền về nhu cầu của gia định mà ản lệ nước Pháp trước

đây đã công nhận

- Trách nhiễm vì sự cho phép: Tập Dân luật Giãn Yếu năm 1883, tiết V có

đề cập tới hiệu lực của Lồn thú, quy định người chẳng có thể cho phép người vợ

được hảnh động một mỉnh Án lệ đã giải thích rằng, khi cho phép như vậy,

người chồng đã chấp nhận cho người vợ đem khối hôn sản để đảm bảo cho sự giao ước của vợ Sự cho phép có thể công nhiên hoặc mặc nhiên Án lệ đã giải

thích rộng rãi sự cho phép mặc nhiên và dã bắt chồng phải chịu trách nhiêm đối

với những khoản nợ do người vợ gây ra khi người chẳng có thái độ không rõ

rang lúc người vợ đi vay, khi chấp thuận cho vợ đứng tên một minh để mua bất

động sẵn rồi đem cầm có để thể vào khoản nợ, khi đề vợ mua chịu nữ trang rồi

đem bán đưa tiền về cho chồng, khi để vợ một mình theo kiện trong lúc hai vợ

chồng vẫn ở chung một nơi Mặc dù tập Dân luật Giản yêu năm 1883 và án lệ về

hôn sản trên lĩnh vực nguyên tác không công nhận cho người vợ cổ quyển gì

trong gia đình, với sự giải thích trên đây rõ ràng án lệ đã cố gắng sửa chữa để

tửm ra một giải pháp phù hợp với phong Lục Việt Nam Người vợ có thể bị coi là

được chồng mặc nhiên cho phép đơn phương hành động, nhưng khi có việc

tanh tung thì người vợ có nghĩa vụ chứng mình rằng người chẳng đã được

người chẳng mặc nhiên ủy quyền Thời kỳ nảy, cho phép áp dụng thuyết mặc

nhiên đó cho trường hợp người vợ làm nghề nghiệp riêng so với nghề nghiệp

của chẳng Người chỗng phải cho phép vợ thực hiện các thủ tục cần thiết do luật

lệ đòi hỏi như khai môn bài , nhưng nhiều khi người vợ hành nghề mà người chồng không cho phép thì án lệ sẽ cắn cử vào sự kiện thực tế mà khẳng định

chẳng đã mặc nhiên cho phép vợ hành nghề Việc dé da thé hiện người chẳng

24

Trang 25

cho phép người vợ đem tất cả gia sẵn dé dim bao ch o việc hành nghề của vợ

nếu trong khi hành nghề vợ mắc nợ thì người chồng phải trả thay

Như vậy, chúng ta thấy rằng trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chẳng đã

được đặt ra nhưng cỏn sơ sải, trao quá nhiều quyển cho người chồng vị xã hội

thời kỳ đĩ cơng nhận chỉ người chồng là người đại điện cho gia đình và là chủ

sở hữu tải sẵn trong gia đình Do đỏ người chồng làm việc gì cũng khơng cần

hỏi ý kiến của người vợ mà theo quy định thời kỳ đĩ những việc làm của người

chồng mặc nhiên được người vợ đồng ÿ Ngược lại, người vợ nếu người vợ

muốn làm gì cũng phải cũng đều phái được sự dỗng ý của người chồng hoặc

người chồng ủy quyền Qua đĩ, ta cĩ thể thấy được mặt tiến bộ của pháp luật khi

thửa nhận nếu vợ cĩ hảnh vi vi phạm dơn phương thực hiện giao địch thì người

chồng đều phải chịu trách nhiệm liên đới và cĩ thể dùng tài sản của gia đình để

bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người vợ

- Trách nhiệm liên dứi của vợ chẳng, theo Luật HN & ŒÐ năm 1959 của

hưởng của quan hệ sắn xual phong kiến củng lối ng vẫn củn ăn sâu trong đời

sống nhân dân, nĩ ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của người dân Việc ban hành luật mới để điều chỉnh quan hệ IIN & GÐ là một yêu cầu thực tế Tiến

pháp năm 1959 của nước ts dã dược Quốc hội thơng qua ngày 31/12/1959 và

được cơng bổ ngày 01/01/1960 đã quy định và ghỉ nhận quyền binh ding giữa

nam vả nữ vẻ mợi mặt kinh Lế, chính trị, văn hỏa, xã hội đã đặt nền mĩng cho

việc xây dựng, chế đội HN & GÐ xã hội chú nghĩa ở nước ta Theo đĩ, T.uật hơn

nhân gia đình đã được thơng qua ngày 29/12/1959,

Tạật HN &GĐ năm 1959 đã phát huy tác đụng tích cực trong việc phá bỏ

tan dư của chế độ hơn nhân gia đỉnh lạc hậu, xây đựng chế độ hơn nhân gia đình mới, tiến bộ dựa trên nguyên tắc hơn nhân một vợ một chẳng, nguyên Tắc nam nữ

bình dẳng, bảo vệ quyền lợi của người phự nữ trong gia đình và nguyên tắc bảo

25

Trang 26

vệ quyển lợi của con cái Mặc dù không có một điều luật nào quy định về trách

nhiệm liên đới của vợ chồng đối với khoản nợ phát sinh từ hành vi pháp lý đơn phương của chồng hoặc vợ nhưng luật đã cụ thỄ hóa những nguyên tắc trên, đã

có quy định về nghĩa vụ, quyền lợi của vợ chồng "vợ chong đều có quyền sở

hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đổi với tài sẵn có trước và sau khi cưới”

Như vậy chúng 14 có thể khẳng định dây là văn bản Luật HN & ŒĐ dẫu tiên của

nhà nước ta, Ít nhất đã xây đựng được mang tính định khung khái quát nhưng

chưa dự liệu hết các vấn để phát sinh trong cuộc sống gia đình nói riêng và xã hội nói chung,

-Trách nhiệm liên đới của vợ chẳng theo Luat IIN &GD nam 1986, nim 2000

Sau chiến thắng 30/4/1975, dất nước hoản toản thống nhất, cá nước cùng nhau

xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước ta đã ban hành Hiển pháp năm

1982 làm nền tầng cho bước phát triển của Luật IIN @&GÐ Sau thành công của

Luật HN #&Œ1 năm 1959, sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cũng,

đạt được những thành tựu đáng kể Việc áp dụng Luật IIN &GĐÐ năm 1959 bée

lộ những điểm không phủ hợp, cần phải sửa đổi, đó là nguyên nhân của việc ra

đời Luật HN &GĐÐ năm 1986

Luat IINSGD nim 1986 được xây dựng trên cơ sở hôn nhân tự nguyện,

một vợ một chẳng, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, báo vệ quyền lợi cũa của

cha me con, bảo vệ bả mẹ và trễ em “Vợ, chỗng có nghĩa vụ vả quyên lợi ngang

nhau về mọi mặt trong gia đình” Luật đã quy định về tài sản chung của gia đình

tại Điều 14 và Điều 15 dễ cập tới việc tải sản chung dược sử dụng dé bảo dám

cho những nhu cầu thiết yêu của gia đình “Tài sản chung được sử dụng để bảo

đảm những nhu cầu chung của gia đình Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang

nhau đỗi với tải sẵn chung Việc mua bán, cho vay, cho mượn vả những giao

địch khác có quan hệ đến tải sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thỏa thuận

của vợ, chéng” Tuy vậy Iật cũng chưa có quy định nao về trách nhiệm liên

đới của vợ chồng khi vợ hoặc chồng thực hiện giao địch vì nhu cầu hợp pháp la cho nhu cầu thiết yếu của gia đỉnh Đây cũng là điểm hạn chế giếng Luật

HN&GŒĐÐ năm 1959

26

Trang 27

'Trước những yêu cầu đổi mới đễ phủ hợp với sự phát triển kinh tế thực tế, ngày

09/6/2000, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật IIN&GĐÐ năm 2000 và được

công bố ngày 22/6/2000 đã ca những bước tiến đáng kể so với các van bin

pháp luật trước đây về HN&GD Luật gầm có 13 chương, 110 điều được xây

dựng dựa trên nguyên Lắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chẳng bình đẳng Vự chồng cỏ nghĩa vụ thực hiện các chính sách về dân số, kế

hoạch hóa gia đỉnh, cha mẹ có nghĩa vụ với con cái nuôi dạy con cái trở thành

công đân có ích cho xã hội, con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ, các thành viên trong gia đỉnh có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc, giúp dỡ

nhau Pháp luật công nhận sự không phân biệt đối xử giữa con trai, con gái, con

dẻ, con nuôi, con trong giá thủ và con ngoài giá thú

Luật HN®&GD năm 2014 đã quy định rõ về trách nhiệm liên đới của vợ chồng “Ƒợ hoặc chẳng phải chịu trách nhiệm liên đới đổi với giao dich dan sw

hợp phản một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điễu 30 (Điều 27", "vợ

chồng có quyên thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng như cầu tất yếu của gia đình (khoản ! Diều 30)" Việc đặt ra quy định này góp phần làm rõ thêm nguyên

tắc bình đắng giữa hai vợ chồng, nó rảng buộc người vợ hoặc người chẳng phải

chịu trách nhiệm khi một bên thực hiện giao địch dân sự hợp pháp để đáp ứng

nhu cẫu thiết yếu trong gia đỉnh, vì lợi ích chung của gia đình Khi người vự hay

người chồng sử dụng tài sân chung dé đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đỉnh thì

pháp luật coi đó là đương nhiên đã có sự thỏa thuận giữa hai vợ chồng, trừ

những lãi sản chung có giá trị lớn Quy định này xuất phát từ việc dấm bảo đời

sống chung của gia đình vì lợi ích của vợ chồng cơn cái, vợ hoặc chồng phải

chịu trách nhiềm củng nhau chứ không trên tránh nghĩa vụ khi một bên đã thực

hign giao dich dan su dé

Điên Luật IIN&GĐ năm 2014, về trách nhiệm liên đới của vợ chồng còn được quy dinh 16 rang hon tại Điều 27 “Eợ chẳng chịu trách nhiệm liên dời dối

với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 điều 30 hoặc giao dịch

khác phù hợp với qiụ định về đại điện q0? định rại các điều 24, 25, 25 của luật

nay”

27

Trang 28

Quy định về trách nhiệm liền đới của vợ chồng tai Luat HN&GY năm

2014 đã thể hiện được sự tiến bộ trong trình độ lập pháp và đã đáp ímg được nhu

cầu thực tế của người dân, nó oững phù hop với quy định của luật pháp quố tế

‘Theo quy định của Diều 761 BL12§ Nhật Bản quy định “Đối với các vấn dé chỉ

tiêu hàng ngày, nếu chẳng hoặc vợ thực liện giao kết pháp lý với người thứ ba thì cả vợ lẫn chẳng dều phải chịu trách nhiệm liên dõi và theo phần dỏi với

nghĩa vụ phát sinh từ đó ”

BLDS của Công hòa Pháp, Điều 220 (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965) quy

dinh: “M6i bên vợ, chẳng có thễ một mình kỷ kết hợp đồng nhằm mục dịch duy

trì đài sống gia đình hoặc giáo đục con cdi, bén kia có trách nhiệm liên đới đối

với nghĩa vụ do việc kỷ kết này”

Như vậy, đù cho luật pháp của mỗi quốc gia quy định có khác nhau về trách nhiệm liên đới của vợ chẳng nhưng đều có điểm chung là những quy định

tiến bộ, văn mình, khắc phục dược sự độc đoán, chuyên quyển, gia trưởng của

người chang đưới chế độ cũ, đảm bảo nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong mei

lĩnh vực của đời sống gia định vừa đảm bảo được quyền lợi cho người thứ ba

tham gia giao dịch đân sự Ngoài ra, nó còn khẳng định được quyền tự chủ của

người vợ, người chồng khi thực hiện giao địch đân sự nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu vila gia dinh, khing định trich nhiém cila người vợ, người chẳng đối với các giao dịch dân sự do mình thực hiện

1.3 Trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng đối với khoăn nợ phát sinh

từ hành vỉ pháp lý của vợ hoặc chồng

1.3.1 Cơ sở để xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng về khoản

nợ phát sinh từ hành vi pháp lý của vợ hoặc chồng

a Quyền sử hữu chung hựp nhất

Chủ thể thực hiện nghĩa vụ là vợ chồng (có mỗi quan hệ ràng buộc về tình cảm,

hôn nhân vả tải sản giữa vợ chỗng là tải sản chung hợp nhất) Tài sản thực hiện

nghĩa vụ, về nguyên tắc trước hết phải là tài sản chung hợp nhất Do đó, sau khi thực hiện trách nhiệm dân sự liên đới thi giữa vợ chồng không phát sinh nghĩa

vụ hoàn lại như trong dân sự Irong trưởng hợp tài sản chung không đú để thực

28

Trang 29

hiện trách nhiệm liên đới mà một bên vợ hoặc chồng có tài sản riêng và dùng

tài sản riếng đó vào việc thực hiện nghĩa vụ thì sau đó người vợ hoặc người

chẳng còn lại cũng không phải thực hiện nghĩa vụ hoán lại cho vợ hoặc chồng

mình Dây là điểm đặc thù của trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong các giao

dịch mà vợ hoặc chồng thực hiện Theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Dân sự

2005 và Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 thì tài sẵn chung của vợ chồng là tài

sản chung hop nhất và có thể được phân chia Việc xác định tài sản chung của

vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản Cụ thể tải sẵn chung của vợ

chẳng bao gm

- Tải sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản

xuất kinh doanh trong thời kỷ hôn nhân

- Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hồn nhân (tiền

lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp )

- Các tài sẵn mà vợ chẳng được tặng, cho chung hoặc thừa kế chung

- Tải sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn hoặc nhữmg tải sản

riêng nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tải sản chung hoặc theo

pháp luật quy định là tài sản chung

Từ đặc điểm của sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó không thể

xác định được phần quyền sớ hữu oủa mỗi chủ sở hữu đối voi Lai san chung

chúng ta không thế xác định được phân tài sân nào lả của vợ hoặc của chồng trong khối tài sản chung hợp nhất Vì vậy, các nhà làm luật đã sử dụng nguyên

tắc suy đoán, tải sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chẳng phái là tải sản

được hình thành trong thời kỳ hôn nhân Tức là tài sản do vợ, chồng tạo ra bằng

công sức của mỗi người từ khi họ kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt và

những tài sản khác do vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Tài sẵn

chung của vợ chồng không nhất thiết phải do công sức của hai vợ chồng cùng

tạo ra, có thể chỉ do vợ hoặc chẳng lâm ra trong thời kỳ hôn nhần

b Hành vĩ đại diện của vự hoặc chồng trong các gian dịch dân sự

thương mại

28

Trang 30

Quan hệ vợ chẳng là một quan hệ đặc biệt nhưng lại phổ biến trong đời sống xã

hội mỗi quốc gia Quan hệ này là một sự liên kết đặc biệt giữa một người đàn

ơng và một người đản bả, sự liên kết này khơng phụ thuộc vào Lính tốn vật

chất, mà được dựa trên cơ sở tỉnh yêu thương, quý trong bình đẳng và tự

nguyên giữa hai người, hai cá thể khác giới cùng muốn chung lay xây dựng một

gia đỉnh Gia dình chính là kết quá của việc vợ và chỗng xây dựng nên với

những mục đích của né đĩ là xây dựng mỗi quan hệ bền vững trong gia đình,

giữa vợ và chẳng giữa cha mẹ vả con cái Vợ và chồng cùng nhau tạo dựng và

thực hiện các chức năng của gia dinh dim bao thộ mãn như cầu tỉnh thần vả vật

chất của đơi bên: kinh tế, sinh để và giáo dục cơn cái Tuy nhiên việc kết hơn

này phải dược pháp luật thừa nhận tức việc kết hơn này khơng vi phạm các quy

định mả pháp luật cầm

Khi hai người đã được cơng nhận là vợ chồng sẽ phát sinh một quan hệ đặc biệt

cả về mặt tình cảm, luật pháp và xã hội Ý chí của hai người nhiều khi sẽ là một

trong một số quan hệ pháp luật nhất định, quyết định của người nảy phải cĩ sự

thống nhất của người kia và ngược lai, lai san cling cĩ thể được xác định là tài sản chung Hai người sẽ thay đổi địa vị pháp lỷ trong một số trưởng hợp đặc biệt

nhân thân của vợ và chồng sẽ bị thay đổi Để thực hiện các chức năng của gia

đình thì vợ, chống cùng bản bạc giúp đỡ lạo điều kiện cho nhau chọn nghề

nghiệp, học tập nâng cao trinh độ văn hố, chuyền mơn nghiệp vụ, tham gia hoạt

động chính trị, kinh tế,văn hố, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi

người Mặc dủ mang trong quan hệ vợ chỗng thì phải sinh những quan hệ mới

nhưng khơng hắn chấm đứt các quan hệ cũ bởi vậy pháp luật khơng thể khơng

quan lâm tơn trọng những quan hệ đặc biệt nảy

Trong các chức năng của gia đỉnh dặc biệt la chức nãng phát triển kinh té

luơn được cả vợ vả chồng quan tâm và đĩ chỉnh là thước đo cho thấy thải độ xây

đựng và gìn giữ trong gia dinh cúa vợ và chồng Việc phát triển kinh tế luơn di

kèm với sử đụng và gìn giữ nĩ Bên cạnh đỏ với thiên chức của người phụ nữ thì việc khơng phát triển được kinh tế mà thay vào đĩ là quản lý và sử dụng hợp lý,

chỉ tiểu tiết kiêm cũng như lao động trong gia dình được đánh pia ngang bing

30

Trang 31

với việc phát triển kinh tế của người đàn ông trong gia đình Để thực hiện tốt các

chức năng trong gia đình thì tham gia vào các giao dich dân sự là tất yêu trong

mỗi gia đình Chính bởi vậy vự hoặc chồng luôn lá người thay mặt gia đình để

trực tiếp thực hiện các giao dịch thường ngày duy trì sinh hoạt gia đình Những

gian địch hàng ngày liên quan đến tài sẵn chung của cả vợ và chồng nhưng trên

thực tế thường do một bên vợ, chồng tham gia dại diện gia đình và trong trưởng

hợp này việc đại diện là đương nhiên Do tính chất của các giao dich thường là

nhỏ liên quan trực tiếp đến việc duy trì sinh hoạt hàng ngày của gia đình, vi vậy

pháp luật không để cập đến

Như vậy, trong các giao dich dan sự có tính chất quan trọng, liên quan

dến tài sán chung có giá trị lớn và các giao địch khác mà theo quy dịnh của pháp

luật chỉ có thể được xác lập với sự đồng ý của vợ hoặc chồng thì khi ấy vợ hoặc

chồng tham gia giao dịch sẽ là là đại điện cho nhau Việc xác định ý chí của vợ

hoặc chẳng trong việc dại diện cho nhau ngoài việc dồng ý của vợ hoặc chồng,

vì lợi ích của phia bên kia thi còn một loại lợi ích đặc trưng nữa mà chỉ tồn tại

trong đời sống vợ chồng đó là lợi Ích của các cơn và gủa gia đình Các giao địch

dân sự thường được cả hai vợ chồng đâm nhiệm thay nhau một cách linh hoạt

nhưng chỉ có các giao địch quan trọng theo quy định của pháp luật mới cần sự thể hiện ý chỉ của cả vự và chồng Trong các loại giao dịch này thì vợ chồng được phép ủy quyền cho nhau và việc ủy quyền nhất thiết phải được thể hiện

dưới hình thức văn bản

Ta gó thể dịnh nghĩa dại diện giữa vợ và chẳng như sau

Dại điện giữa vợ và chẳng lả việc một bên vợ hoặc chồng nhân danh cả

hai người để tham gia sáo quan hệ ngoài xã hội (như thực hiện những giao địch

dân sự, kinh tế ) theo quy định của pháp luật hoặc pháp luật quy định cần phải

có sự thỏa thuận của vợ chồng nhưng người còn lại không trực tiếp tham gia

được nhằm dầm báo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chẳng và gia đỉnh vả bên

thử ba trong giao dịch

Thứ nhất, tư cách chủ thể trong đại diện giữa vợ và chồng trong tương

quan với dại diện nói chung,

31

Trang 32

'Irong đại diên nói chung thì người đại diện được thực hiện các công việc

không nhân danh mình, có nghĩa là mọi hành động của ngư ời đại diện trong khi

thực hiện các giao địch dan su đều làm thay, làm hộ người được đại diện

Người được đại diễn lúc này có thể có mặt hay không có mặt khi giao

dịch diễn ra nhưng về mặt pháp lý thì người được đại diện lúc này không được

phép thực hiện bắt cử một hành vi pháp lý cụ thể nào nhân danh minh, va lac

nay ý chí của người được đại điện cũng không được đề cập đến Vi khi đó người

đại điện sẽ chính là chủ thể trong giao dịch má không cần đến người được đại

diện nữa Trong đại diện theo ủy quyền thi người dại diện của người được ủy

quyển sẽ thực hiện mọi quyền năng của người được đại diện trong phạm vi đã

kỹ kết hợp đồng ủy quyền nhưng bản chit thi hop déng hay giao dich duoc ky

giữa người được đại điện với bền thử ba chứ không phải của người đại điện Người đại điện theo ủy quyền có quyền thể hiện ý chí chủ thể của mình là muốn

hay không nmốn làm người đại diện [ức trong điều kiện nhất định thì chủ thể

này có quyền từ chối nhận đại diện Người đại diện theo ủy quyền chỉ được thực

hiện những gông việc theo ủy quyền Cũng như vậy đối với đại diện theo pháp

luật thì người đại diện cũng thực hiện thay tư cách chủ thế của người được đại

điện nhưng tư cách chủ thể bị hạn chế hơn Nếu rơi vào các điều kiện pháp luật quy định thỉ họ không có quyền chốt từ Lư cách đại điện cúa mình Và khi đỏ

người đại diện sẽ bắt buộc phái thực hiện nghĩa vụ của mình Người đại diện có

toàn quyền quyết định thay cho người được đại điện trong mọi giao dịch liên

quan dến người được đại điện Như vay dai điện thco pháp luật vả dại diễn theo

ủy quyền trong pháp luật đân sự đều là sự lảm thay, làm hộ người khác, tuy

nhién có sự phân biệt rõ rằng về tư cách chú thể trong từng loại đại điện

Trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật thi cá nhân không

được để người khác đại điện cho mình mà họ phải tự minh xác lập, thực hiện

giao dịch đó (hông thưởng, dây là những giao dich liên quan dến quyền nhân

thân) vên có đặc tính không thể chuyến giao cho người khác, nền sẽ không đề

cập đến tư cách chủ thể trong đại diện ở đây, vì bản chất không giao dịch được nên không có đại diện

32

Trang 33

‘Tom lai, trong dai di8n néi chung thi ty cach elit thé cla ngudi dai dién

luôn được xem xét khi xác lập giao dịch cũng như các điểu kiện khác do pháp

luật quy định cu thé

Di với đại điện giữa vợ và chồng thi tư cách chủ thể trong giao dịch lúc

này thuộc về một bên vợ hoặc chồng Một bên tham gia giao địch và bên còn lại coi như thống nhất ÿ chí Người vợ va người chỗng đã trở thành những chú thể

đặc biệt trong quan hệ đại diện, bởi giữa người đại điện vả người được đại diện

thống nhất ý chí khi giao dịch Cụ thể lá khi người chồng là đại diện cho vợ

mình và ngược lại thì về bản chất là thay mặt vợ dễ thực hiện công việc, hay làm

hộ vợ mình nhưng nhiều khi đó lại là công việc chính người chồng phải làm,

phải thực hiện Có những trường hợp vợ chẳng dại diện cho nhau thì không chỉ

nhân danh cho người đại điện mà nhiều khi còn nhân đanh và thể hiện ý chỉ của

chính bản thân mình Như vậy tư cách chủ thế trong đại điện giữa vợ và chồng

trong một số trưởng hợp lả thống nhất, trùng khớp với nhau Bên cạnh do trong

đại diện giữa vợ và chồng thi tư cách chủ thể của vợ và chồng trong giao dịch

khi một người tham gia quan hệ đại điện thì không những là vợ chẳng đại diện

chơ nhau mà nhiều khi vợ chéng con là người đại diện cho cả gia đình Gia đình

ở đây ngoài vợ và chồng thi còn con cái nên tư cách chủ thể trong đại diện giữa

vợ và chẳng đường như nặng né hơn so với đại điện nói chưng, có ảnh hưởng

không nhỏ đến những quyết định của chủ thể khi giao dịch Dối với đại điện

theo pháp luật thì trong đại điện nói chung và đại điện giữa vợ và chồng đều

tuần thco các quy định cúa pháp luật Chỉnh bởi tư cách chủ thể của hai đổi

tượng nảy nhiều khi trộn lẫn vào nhau nên việc pháp luật quy định những việc

phải do chính cá nhân người thành miền thực hiện thì đôi khi cũng không rõ rằng

trong dời sống xã hội Đối với dại diện theo pháp luật giữa vự vá chồng trong

trường hợp một người bị mắt năng lực hành vi thì quy định áp dụng như đối với

người giám hộ trong dại diện nỏi chung

Nhu vay tu cach chi thé trong đại điện giữa vợ và chẳng thuận lợi vả đơn giản hơn khi tham gia giao địch so với tư cách chú thể trong đại điện nói chung

Việc một bên vợ chẳng đại điện cho nhau thực hiện piao dịch nhưng bản chất có

33

Trang 34

những giao dịch tư cách chủ thể của đại diện và được đại diện trùng nhau, thống,

nhất là một, nó có ý nghĩa về việc đầm bảo thực hiện giao dịch đối với bên thứ

ba Bên thứ ba khi đó sẽ cá cảm giác an loan, tín cậy hơn khi giao dịch với đối

tác là một bên vợ hoặc chồng Bởi vì nếu giao dịch không được thực hiện đúng

và đầy đủ thì việc bằi thường khi đỏ xây ra được đầm bảo hơn (có thể bồi hoàn

bằng tài sẵn chung hoặc kỂ cả lài sản riêng của mỗi cá nhân vợ hoặc chỗng)

Dặc biệt hơn lá có những quan hệ trong đại điện theo pháp luật nói chung không

thể đại diện được nhưng đại điện của vợ và chỗng lại thực hiện được đó là vợ chẳng đại diện cho nhau khi thực hiện những nghĩa vụ thuộc về nhân thân, cá

nhân của một bên vợ hoặc chẳng Ví dụ như thực hiện các nghĩa vụ của con cải

dỗi với cha mẹ

Nói tóm lại, đại điện giữa vợ va chéng trong pháp luật hôn nhân và gia

đình là một trường hợp đặc biệt trong đại điện nói chung của Luật dân sự, và vợ,

chẳng cũng là những chủ thể dặc biệt tronp pháp luật về đại diện

Thứ hai về ý chí chủ thể trong đại diện giữa vợ và chồng trong tương

quan với đại diện

'Irong dại diện theo pháp luật dân sự thi ¥ chí của chủ thể là không thể

thiếu đặc biệt đại điện trong hợp đồng ủy quyền Việc đại diện theo ủy quyén chi

có thể thực hiện khi mà người đại điện có ý chí muốn đại diện, tức sự tự do ÿ chí

sẽ ràng buộc người đại diện vả người được đại diện trong hợp đồng ủy quyền đề

xáo lập phạm vi đại diện trong giao dịch Cũng giống như hợp đồng trong đại

diện theo ủy quyền cần sự thể hiện ý chí của bên nhận ủy quyền cũng như sự

đồng ý của bên ủy quyền Sẽ là không thỏa đáng và hợp đồng ủy quyền có thể bị

võ hiệu khi mà một trong hai bên không có sự tự do ÿ chí vá bị rơi vào cae

trường hợp như: lừa đối, nhằm lẫn, ép buộc Tùy từng trường hop cu thé hop

đồng được ký kết bởi người đại điện và người được đại diện sẽ vô hiệu vì không

có tự do ý chỉ trong hợp dễng đại diện Như chúng ta dã biết một người chỉ bị

ràng buộc bởi ý chí của chính mình, cho nên khi sự tự đo ý chỉ bị vi phạm thì sẽ

không có hợp đồng ủy quyền và cũng không phải gánh chịu hậu quả từ những gì

ma ngudi dai điện thực hiện

34

Trang 35

Hên cạnh việc tự do ý chí đề đại diện được thực biện thì nhất thiết hai bên

phải có sự tin cậy lẫn nhau Người ta sẽ không bao giờ giao cho một người mả

mình không im cậy thay mặt mình thực hiện những hành vi ma hậu quả của nó

có thể là thiệt hại lớn về tài sản, uy tín, danh dự của mình Sự tin cậy lả do

những hành vi mà người đại diện thực hiện sẽ mang lại cho người được đại diện

một sự răng buộc nhất định váu những hậu quá dược xác lập bởi những hành vì

đó Hành vi giao kết các hợp đồng của người đại diện trong phạm vi ủy quyền,

cũng chính lả hành vi mả người được đại điện xác lập, hệ quả tử việc giao kết hop déng hoan toàn do người được đại diễn gánh chịu bởi vậy sự tin tưởng là

phần không thể thiếu khi ta nói tới đại điện trong giao kết hợp đồng Điền này cũng hoản toán tự nhiên như chỉnh bản chất của mỗi sự việc, vỉ trong mỗi chúng

ta sẽ không đễ đàng gì để cho một người khác thực hiện những công việc nhân

danh minh, khi mà mình không hoàn toàn tin tưởng người đỏ vào thực hiện công

việc lại không vì lợi ích của mình tây cũng chính là một trong những căn cử cơ

bản để việc tỏa án quyết định cử người giám hộ, cử người đại diện theo pháp

luật Ý chí của chủ thể trong đại diện sẽ thể hiện rỡ mục đích hướng tới của chủ thể khi tham gia quan hệ đại diện Mục đích này có thể là vật chất và cũng có thể

là phi vật chất, nhưng bao giờ cũng được thể hiện khi các bên tham gia vào quan

hệ đại điện

Yếu tổ ý chí chủ thể nảy trong đại diện giữa vợ vả chồng này luôn được

đảm bảo về mặt hình thức chính bởi mối quan hệ đặc biệt hôn nhân Như đã

phân tích ở trên về ý chí của người dại diễn và người được dại điện trong quan

hệ vợ chồng thường là được thống nhất Sự thông nhật này có thé do vợ chồng

thống nhất thúa thuận với nhau hoặc sự phân chia wach nhiệm trong gia đình

Có những hoạt đông liên quan dén tai san chung của vợ chẳng khi một người dại

điện thực hiện công việc thì ý chí của người kia được mặc nhiên coi là đã có sự

đồng thuận Về lý luận thỉ việc chồng hoặc vợ thực hiện bất cử hành vi nảo liên

quan đến tải sản chung đều vì mục dich vả lợi ích chung của gia đình nên khi một trong hai người thực hiện một giao địch nào đó thì coi như đại điện gia đỉnh

thực hiện công việc, trừ một số trường hợp khác Hơn nữa khi vợ chồng thực

35

Trang 36

hiện hành vi đại diện cho nhau thì lòng tin giữa hai người đại diện hầu như

không cần đề cập đến vi hai vợ chồng sẽ luôn lả người tin cậy nhau Bên cạnh

đó vợ phông khu đại diện cho nhau để thực hiện một giao dịch nao đó thì yếu tễ

vì lợi ich của người được đại diện luôn được đảm bảo vỉ khi đó lợi ích của người

được đại điện nhiều khi là thống nhất với lợi ích của người đại điện, và trong

một số trường hợp lả trùng khít với nhau về lợi ích Và như vậy khi lợi ích của

hai bên không có mầu thuẫn th việc thực hiện giao dịch sẽ thuận lợi hơn, và bên

thứ ba cũng yên lâm hơn khi tham gia giao dich liên quan đến tài sản chung của

vợ chẳng

Liên cạnh những đặc biệt từ quan hệ vợ chồng đem lại thi bản thân vợ

chẳng cũng lả hai cả thể riêng biệt, cũng sẽ có những hoạt dộng riêng biệt mang

tính cá nhân không liên quan đến tư cách vợ chồng hay gia đình trong giao dịch, bởi vậy việc phân biệt đại diện giữa vợ và chẳng liên quan đến tài sản riêng của

mỗi người sẽ là cần thiết Điều này sẽ trở nên phức tạp dối với bên thứ ba khi tham gia giao dịch, vi vậy lưu ý nhỏ này sẽ là cần thiết trong trường hợp vợ

chồng đại điện cho nhau khi giao dịch liên quan đến tải sản riêng của vợ, chồng,

và việc áp dung cơ chế pháp lý cho việc bồi thường thiệt hại là khác nhau (sẽ

không có việc áp dụng liên đới chịu trách nhiệm của vợ và chẳng nữa)

"Trong đại điện theo pháp luật thì việo tham gia vào quan hệ đại điện nhiều

khi lả do nghĩa vụ bắt buộc nên việc các bên thể hiện mục đích hướng tới của

minh khi tham gia giao dịch là các hành vi buộc phải làm Khi đó việc quy dinh

yếu tố ÿ chỉ, lòng tin không phái lúc nào cũng cần thiết bởi đó là trong một số

trường hợp đại diện đương nhiên, bắt buộc, mang tính miễn cưỡng vi đó là

những trường hợp do pháp luật quy định Và như vậy sẽ không 6 sur ty do ¥ chi, hay tin cây nảo vì pháp luật đã dự liệu những tình huống pháp lý, mà buộc

những người có nghĩa vụ phải tuân thủ và buộc phải thực hiện và không có sự

Tựa chọn nảo khác như: dại điện cho con chưa thành niên, người mắt hoặc hạn

chế năng lực hảnh vi dân sự Trong những trường hợp này người đại diễn

không có cơ hội để lựa chọn thực hiện, hay không thực hiện một số hành vi nhất

định vì khi đó việc nhân danh người khác của người dại điện là võ cùng cần thiết

36

Trang 37

và đã được pháp luật quy định, nên họ nhất thiết phải thực hiện một hành vĩ nào

đó để thay mặt cho người được đại diện thực hiện quyền đân sự của người này

Theo quy định của pháp luật vợ chẳng bắt buộc lả đại diện khi một trong hai

người bị mất năng lực hành vi, cha mẹ là người giám hô khi con chưa thành

niên .thì việc ý chỉ muốn hay không muốn làm đại diện cũng không xét đến ở

dây Cũng như vậy dối với nghĩa vụ buộc phái làm một việc gì dó dại điện cho

nhau trong quan hệ vợ chồng mang tính chắt bắt buộc nhiều hơn, không thể trốn

tránh Đại điện của vợ, chồng khi một bên chỗng, vợ bị mất năng lực hành vi

dân sự là quy định bắt buộc, duy nhất thể hiện nghĩa vụ vợ chồng trong quan hệ

pháp luật hôn nhân và gia đình Còn việc quy định nghĩa vụ đại diện theo pháp

Tuật nói chung thì thường mang tính sự vụ, nhiều khi chỉ lả tạm thời Hoặc nếu là

đại điện theo pháp luật trong trường hợp cơn chưa thành niên thì người đại điện

cũng còn có cả cha và mẹ nên yếu tổ trách nhiệm đôi khi cũng đỡ nặng nề hơn

‘Tom lai, ¥ chí chủ thể của người đại diện vả người dược dại diện trong dại

điện theo pháp luật dân sự là một yếu tố không thể không tách bạch trong các

giao địch dân sự nói chưng, và các chủ thế khác trong giao lưu dân sự Còn đối

với quan hệ hôn nhân và gia đỉnh thì việc xác định ý chí chủ thể này trong nhiều

thống nhất trong nhiễu trường hợp, nhiều giao dịch đân sự

œ Phạm vi đại điện của vợ chẳng

rong đại diện nói chung người đại diện được toàn quyền nhân danh

người được đại điện thực hiện toàn bộ hành vì liên quan đến giao dịch và chỉ bị

giới hạn bởi yếu tổ phạm vi dại điện Tiếp thco nữa người dại điện phải thực

hiện hành vi đại điện theo đứng nguyên tặc là vì lợi ích của người được đại diện

Phạm vi của đại diện thường được giới hạn cụ thể trong văn bán ủy quyền khi hai bên ký kết văn bản ủy quyền, hoặc đã dược quy dịnh cụ thể trong pháp luật,

nên việc các bên khi thực hiện công việc ủy quyền phải xác định được phạm vi

đại diện của mình Có như vậy việc vượt quá phạm vi dại diện được xác dịnh, và

có căn cử để xác định việc vượt quá phạm vi này Trong trường hợp đại diện

theo pháp luật đã được quy định cụ thể trong luật thì giới hạn xử sự nảy đã được

nhà lập pháp dự liệu, việc thực hiện dại diện có sự giám sát của cơ quan thực thi

37

Trang 38

pháp luật trong các hoạt động đại diện Phạm vi đại diện theo pháp luật thường

thấy trong giám hộ, đại điện khi người được đại diện bị mắt hoặc bị hạn chế năng lực hảnh vị Giới hạn của việu đại diện ở đầy chính là việu quy đmh sũa

pháp luật về những việc được phép làm và những việc không được làm khi tham

gia quan hệ đại diện nhất định Nếu vượt quá giới hạn đó, hoặc các bên cố tình thỏa thuận, thống nhất làm những việc pháp luật không cho phép, thì các giáo

dich đều vô hiệu và có thể bị châm dứt việc giám hộ, đại diện

Đổi với đại điện thông qua hợp đồng ủy quyền, thì phạm vị ủy quyển có

thể dược hiểu là tất cả những gì mà một người có thể hành động ở tư cách của

một người khác trong sự cho phép của người đó, hay ta cũng có thể hiểu đó

chính là sự giới han xử sự của một người mà người đó không phải là chính minh

trong sự cho phép của người khác Dại diện được xác lập thông qua một hợp

đồng ủy quyền, mà ủy quyền thì hình thức của nó có thể là bằng văn bản Trong

đó quy định rõ rảng về giới hạn xử sự của bên dược ủy quyền hay bên đại diện

Phạm vi ủy quyền cảng rộng thi tham quyền của người đại điện cảng lớn, tùy

thuộc vào hành vị được ủy quyền mả người đại điện có thâm quyền rộng hay hẹp Tùy thuộc vào nội dung của ủy quyển mà người đại diễn có thể tự do thực

hiện mọi hành vi nhưng cũng có những trường hợp việc tự đo thực hiện này bị

giới hạn Nếu hành vì phải thực hiện là nghĩa vụ về kết quá công việo, thì người

đại diên có quyền tự do hành đông miễn sao mang lại kết quả như mong muốn

của người được đại điện, trừ trường hợp trong thỏa thuận có quy định khác

Người dai diện về nguyên tắc nếu không muốn chịu trách nhiệm từ những giao

dịch mã mình thay mặt người được đại diện thực hiện thi phải hành động trong

phạm vi ủy quyền Đi thực chất việc thực hiện này không phải là hành vi của người dại điện mả lả hành vi của người được đại diện với người thứ ba Tuy

nhiên, tủy từng trường hợp mà người đại điện lại chính là người phải chịu trách

nhiệm khi có tranh chấp xảy ra, đó lá khi người thứ ba không được thông bảo vỀ

việc đại điện hoặc người đại điện khi giao kết hợp đồng, không thông báo rã là mình đang đại điện cho một người khác giao kết hợp đồng với phía bên kia

38

Trang 39

Như vậy, phạm vi đại điện luôn được xác định một cách rõ rằng khi hai

bên giao kết hợp đồng trong đại điện theo ủy quyền Đây được coi như văn bản

pháp lý quy định phạm vì đại diện đối với các bên đại diện trừ khi các bên thốa

thuận những điều pháp luật cắm Văn bản pháp lý nảy sẽ chấm dứt hiệu lực khi

các bên hoàn thành giao dịch Còn đối với đại diện theo pháp luật thì phạm vi đại diễn cũng thể hiện trong văn bản pháp luật hoặc các văn bản của cơ quan nhà

nước khác khi trao quyền đại diện cho một cá nhân, tổ chức nảo đỏ Bên đại

diện chí được phép thay mặt để xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giáo dịch

vi loi ich của bên được dại diện

Nhưng đổi với đại điện giữa vợ và chồng thi phạm vi đại diện giữa hai vợ

chẳng thường là không được riêng rẽ cụ thể như vậy Nhiều khi vợ chồng dại

điện cho nhau mả không cần phạm vỉ nảo câ Người chỗng có thể thay mặt vợ

mình thực hiện nhiều hành vị không giới hạn miễn sao vì lợi ích của người vợ và

của gia đình Đây chính là mẫu chốt của van dé khi vo ching đại điện cho nhau

trong giao dịch dân sự và hôn nhân và gia đình Vi khi người vợ và người chồng

thay mặt cho nhau thực hiện một giao dịch thì không chỉ làm việc làm hộ vợ hay

chẳng mình mà còn làm hộ những người thân khác trong gia đình Mỗi hành

động đại điện của người này không chỉ vỉ lợi ích của người kia mà còn là lợi ích

của cá gia đỉnh, của con cái và còn vì lợi ích của chỉnh mình Chỉnh bởi vậy việu

quy định phạm vì đại diện giữa vợ và chồng nhiều khi không nhất thiết phải quy

định Vì mỗi hành động đại điện của một bên vợ chẳng mang đầy tính trách

nhiệm trong đó, kể cá trách nhiệm pháp lý lẫn trách nhiêm xã hội Đặc biết dối

với bên thứ ba trong giao dịch họ không cần quan tâm đến phạm vi đại điện của

chẳng đối vợ và ngược lại cũng như đối tượng hướng tới trong giao dịch có ánh hưởng đến cuộc sống vợ chồng hay không Người thứ ba trong giao dịch cũng

không cần quan tâm loại giao dịch nảo thi cần có sự thông báo của bên đại điện

Ho chi cin quan tâm dễn tải sản dó là tài sắn chung hay tài sản riêng, ý chỉ của

vợ chồng có thống nhất trong việc định đoạt tài sản đó không? Khi có vấn dé gì

xây ra thì khi đỏ tính chịu trách nhiệm của vợ chẳng là như thế nào? Với tính

chất đặc biệt trong quan hệ vợ chồng thì việc chịu trách nhiệm là như nhau

39

Trang 40

khơng phân biệt loại giao dịch đĩ là cĩ phải thơng báo hay khơng thơng báo

Việc chịu trách nhiệm ngang nhau này là do hành vi, ý chí đại điện của vợ

chồng luơn thống nhất với nhau trong quan hệ đại điện

'Irong giao dịch, khi thực hiện chế định đại diễn cĩ một đặc điểm mà

thường đễ bị bỏ qua trong khi giao dịch vì thực ra đĩ là điều đương nhiên khi

tham gia giao dịch Điều dây chính là năng lực thực hiện cơng việc cúa người

nhận đại diện và cĩ những cơng việc khơng được phép đại diện hay nĩi cách

khác đĩ là loại cơng việc mà thuộc về quyền và nghĩa vụ của riêng bên được đại

diện mà khơng thể làm thay, lâm hộ Ở dây cĩ thể khẳng dịnh đĩ cũng chỉnh là

phạm vị đại diện Năng lực thực hiện cơng việc của bên nhận đại diện chính là

nẵng lực thực hiện hành vi nhưng khơng cĩ nghĩa cĩ khá nắng thực hiện tốt mọt

cơng việc, cĩ những cơng việc mang tính đặc thù trong xã hội hay đặc biệt hơn

những cơng việc này thuộc về kỹ năng của riêng từng ngành nghề hoặc một lĩnh

vực nhất dịnh thì việc lựa chọn người đại diễn cũng am hiểu vả cĩ kiến thức về

ngành nghề và lĩnh vực cần đại điện là vơ cùng cần thiết Ví dụ khi một người

trong lĩnh vực hội họa nhưng khi cần một người đại diện cho mình để kỷ hợp

đồng chuyến nhượng một bức tranh cho người nước ngồi thỉ người đại điện để

ký hợp đồng này cần thiết là người am hiểu về hợp đồng thương mại với loại

hàng hĩa đặc biệt này chứ khơng phái người đại diện phải am hiểu về lĩnh vực

hội họa hay hợp đơng nĩi chung Chỉnh bởi vây năng lực thực hiển của người

nhận đại điện phủ hợp với cơng việc vần đại điện cũng là một điểm đáng lưu ý

khi người dược dại điện thực hiện việc giao kết hợp dỗng dại điện Như vậy

ngồi cơ sở là lỏng tín của người được đại điện và người nhận đại điện thị việc

lưu ý khơng thể thiểu là năng lực thực hiện õng việo của người đại diện

Tiên canh đĩ năng lực thực hiện cơng việc cỏn phải hiểu nội dung cổng

việc cần đại điện như thế nào bởi trong đại diện khơng phải cơng việc nào cũng

được pháp luật cho phép dại diện Mỗi cá nhân cĩ rất nhiều việc phải lắm nhưng,

vì lý do nao dé ho khéng muén tự mình thực hiện, nhưng khơng phải cơng việc nảo họ cũng cĩ thể được phép ủy quyển cho người đại diện, vì cĩ những cơng

việc thuộc về quyền và nghĩa vụ của bên dược đại diện mà khơng thé thay thé

40

Ngày đăng: 28/05/2025, 20:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm