1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tội mua bán người mua bán trẻ em trên Địa bàn tỉnh hà giang một số vấn Đề lý luận và thực tiễn

113 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn tội mua bán người mua bán trẻ em trên Địa bàn tỉnh hà giang một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả Tran Thị Quế
Người hướng dẫn TS. Phạm Mạnh Tùng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khai niém buôn bán người theo quy định cúa luật pháp quốctề — 10 Khái mệm mua bán người, mua bán trẻ em theo quy định của l6 pháp luật hình sự Việt Mam Tách sử phát triển cũa hệ thống

Trang 1

ĐẠT HỌC QUỐC GIA HÀ NỘT

KHOA LUẬT

TRẢN TII QUE

TOI MUA BAN NGUOL MUA BAN TRE EM

TREN DIA BAN TINH HA GIANG - MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN

LUAN VAN THAC ST LUAT Hoc

HA NOI - 2014

Trang 2

ĐẠT HỌC QUỐC GIA HÀ NỘT

KHOA LUẬT

TRAN TIM QUE

TOI MUA BAN NGUOL, MUA BAN TRE EM

TREN DIA BAN TINH HA GIANG -

MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIE

Chuyên ngành: Tuật hình sự và tô tụng hình sự

Ma vb 2 6038 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa hạc: TS Phạm Mạnh ITùng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đáy là công trình nghiên

cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và

trích dn trang luận văn dâm bio dé tin cay, chink tác và trung thực Những kết luận khoa bọc của tuận vấn chưa từng được ai công bã trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIÁ LUẬN VĂN

Tran Thị Quế

Trang 4

Khai niém buôn bán người theo quy định cúa luật pháp quốctề — 10

Khái mệm mua bán người, mua bán trẻ em theo quy định của l6

pháp luật hình sự Việt Mam

Tách sử phát triển cũa hệ thống pháp luật Việt Nam quy định — 20

về phòng, chống tội phạm mua bán người, mua bản trẻ em

lIệ thống pháp luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành Bộ 20

luật hình sự năm 1999

He théng pháp lạt phí hình sự có liên quan đến phòng, chống — 24 tội phạm mua bán người, ruua bán tré em

Kinh nghiệm vả sự hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, 31

chống tôi phạm mua bán người, mua bản trẻ em

Clacong 2: TOLMUA BAN NGUGI VA TOI MUA BAN TREEM THEO = 37

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1997

VA THUC TIỀN XÉT XỬ HAI TỘI PHẠM NÀY TRÊN

DIA BAN TINH HA GIANG GIALBOAN 2009 - 2013

Tệi mua bán người và tội mua bản trẻ em trong Độ luật hình 37

sự năm 1999 (sửa đổi, bê sưng năm 2009)

Trang 5

Tội mua bán người (Điều 119 Bộ luật hình sự)

Tội mua ban tré em (Diễu 120 Bộ luật hình sự)

Tình hình tội phạm mua bản người và tội phạm mua bán trẻ

em trên địa bàn tỉnh Tà Giang,

Đặc điểm chung về tình hình tội phạm mưa bán người, mua

Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những lêu

lai, han chế trong công tác đầu tranh phòng, ehdng 161 plan

mua bán người, mua bản trẻ em trên địa bàn tỉnh Ha Giang

Chương 3: IOAN TITEN PIIAP LUAT VA NHỮNG GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUA CONG TÁC BÀI! TRANH PHÒNG, CHONG TOI PHAM MUA BAN NCUOI VA MUA BAN TRE EM TREN BIA BAN TINH HA GIANG

Toản thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vẻ

tội mua bản người va Tội mua bản trẻ em

Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đổi

với tội mua bản người và tội mua bán trẻ em

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đầu tranh phòng, chống,

tôi phạm mua bán người và mua bản trẻ em, trên địa ban tinh

Hà Giang

Đi mới công táe tuyên truyền, giáo dục cho nhân dần thưa gia phong chồng lội phạm mua bán người, mua bản trẻ em

Nang cao đời sông vật chất, tình thân cho nhân dan, gan xây

dựng nông thôn mới với công táo xóa đổi giảm nghèo, dạy nghề và tạo việc làm cho nam nữ thanh niền

- lo

84

8S 87

Trang 6

3.3.3 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quam tiến lành tổ tụng trong,

điều tra, truy tổ, xét xứ tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em

Tăng cường sự phối hợp với các ngành chúc năng trong, công,

tác phòng, chống tôi phạm mua bán người và mua bản trẻ em

Tăng cường công tác xác mình và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng

cho nạn nhân gủa tội plugtu roua bản người, tua bán trẻ eru

Tăng cường phỏi hợp, hợp tác quốc tế trong công tác phòng,

chống tội phạm mua bán người, mua bán trễ em

Trang 7

Ww it}

No »

DANH MỤC CÁC BÁNG

Tén bang

Số vu và số bị can đã khới tố điển tra về tội mua bán

người và tội mua bản trẻ em trên địa bản tính Hà Giang

từ năm 2009 - 2013

Số vụ và số bị gan, bị cáo bị khôi tổ điều tra, truy tổ, xét

xử về tội mua bán người, mua bán trễ em trên phạm vỉ cả

nước từ 2009 - 2013

Số vụ và số bị cáo đã xét xứ về tội mua bán người và tội

mua bán trẻ em theo Điều 119, 120 Bộ luật hình sự, trên

địa bản tĩnh Hả Giang tử năm 2009 - 2013

Tổng hợp mức hình phạt của các bị cáo đổ xét xử về tội

mua bán người và tôi mua bán trẻ em, trên địa bản tĩnh

Ha Giang tir 2009 - 2013

Thống kê số nạn nhân theo mục đích rnua bán của tội

phạm mua bản người và tội phạm mua bán trế em, trên

địa bản tĩnh Hả Giang từ năm 2009 - 2013

Thống kế thành phần độ tuổi các nạn nhân của tời phạm

mua ban ngudi, mua ban ae em trén dia ban tình Hà

Giang từ 2009 - 2013

Thống kê thành phẩn độ tuổi của tội phạm mua bản

người, mua bán trẻ em trên địa bản tính Hà Giang từ năm

Trang 8

Tiền đề thể hiện tý lệ số vụ án xét xử về tội mua bán người

và tội mua bản trẻ em theo Diéu 119 va Diéu 120 Bộ luật hình sự, trên địa bản tỉnh Hà Giang tix nam 2009 - 2013 Biểu đồ thế hiện tỷ lệ số bị cáo xót xử về lội mua bán người

và tôi mua bản trế em theo Điều 119 và Điều 120 Bộ luật hình sự, trên địa bản tỉnh Hà Giang từ năm 2009 - 2013

Tỷ lệ nạn nhân phân loại theo mục địch mua bản của tội phạm mua bán người và tội phạm mua bản trề em trên địa bán tỉnh Hà Giang từ năm 2009 - 2013

Tỷ lê nan nhân phảu loại theo thành phần độ tuổi bị mùa ban người và mua bản bế em trên địa bản tinh Ha Giang

Trang 9

MO DAU

1 Tính cấp thiết của để tài

Trong hồi cảnh toàn cầu hưởng đến mét thé gidi vin minh, công hằng

và bình đẳng nhằm đâm bảo các quyền cơ bản của con người đặc biệt là phụ

nữ và trẻ em thi thể giới đã xuất hiện một hinh thức xâm phạm nghiêm trong đến danh dự, nhân phẩm cơn người với các thủ đoạn ngày cảng tĩnh vì, phúc tạp và có tổ chức đó là tội phạm mua bản người và mua bán trẻ em Dây là một thách thức lớn đối với các quốc gia đang phải triển trong dé ed Viet Nam

Những năm gần đây, tình hình tội phạm mua bán người, mua bán tré em ở

Việt Kam diễn biến phức tạp, có xu hướng quốc tế hỏa Trong nước đã xuất hiện nhiều đường dây mua bản người, mua bản tré em xuyên quốc gia, liên quan đến đổi lượng thuộc nhiều địa phương, có sự cấu kết chặt chế giữa lội phạm trong nước vá nước ngoài với nhiều thủ đoạn tình vị, xảo quyệt, lửa gạt dưới mọi hình thức đề đạt được mục đích Đi tượng của hoạt động mua bán người là rau giới, phụ nữ và trẻ em, thuộc mọi lứa tuổi trong đỏ nhiều nhất lá phụ nữ và trẻ em Phần lớn phụ nữ, trẻ em bị buồn bán từ cào vùng nâng thôn, miễn núi ra đô thị, bị ép buộc làm gái mại đâm phục vụ cho các cửa bảng,

dịch vụ trá hình Nhiễu nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài, đến các quốc gia

khác nhan với nhiều hình thức bóc lội nhằm trục lợi như mại đâm và làm vợ bắt hợp pháp, nam giới bị buôn bán để bóc lột sức lao động Thực trạng, phụ uit va tr em bị bản ra nước ngoài qua các hình thức địch vụ môi giới hôn nhân, cho nhận cơn nuổi đã trở thành vận đề nóng bỏng, nhức nhồi, ảnh hưởng xâu đến đời sống sinh hoạt của nhân đàn, phong tục tận quán, đạo đức

xã hội Tệ nạn mua bán người đe dọa đến sụ an nĩnh, an toàn của con người

trên nhiều phương điện, gây những tác hại nặng nẻ vẻ thể chất và tỉnh thần

cho nạn nhân, tước đoạt tự do và quyền con người, đc đọa đến an nình toán cầu và làm gia tăng tội phạm cỏ tố chức xuyên quắc gia Mùa bán người, mua

Trang 10

bản trẻ em có những tác hại nặng nẻ đổi với bán thân các nạn nhân, những

người thường bị lạm dụng về thể chất và tính thân, bị cưỡng hiếp, đe doa đến tinh mạng, sự an toán của bán thân và gia đình họ Mua bán người, mưa bán

tré em con lam tang nan sản xuất và buôn bản giấy tờ giả, ảnh hưởng không

nhỏ đến an ninh, trật tự của quốc gia

Trước thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng nhiều đề án, chương trình hành động và bạn hành các văn bên quy phạm pháp luật để đầu

tranh, phòng chống tội phạm mua bản người và mua bản trẻ em Trong chương

trình hành động phòng, chẳng tội phạm buôn bản phụ nữ, trẻ em Lừ năm 2004

đến nắm 2010 (ban bành kèm theo Quyết định số 130/2004/QD-TTg ngày

14/7/2004 của Thủ tưởng Chính phú) thì một trong những nồi đung quan trọng là phải xây dựng và hoàn thiện các văn bán quy phạm pháp luật có liên quan về phòng, chồng buôn bán phụ nữ, bê em Đặc biệt là Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đôi, bê sung năm 2009) đã điều chỉnh Điều 119 từ tội danh mua bản phụ nữ sang tôi danh mưa bản người để đáp ứng được yêu cầu đầu tranh chống tôi phạm mua bắn người và hội nhập quốc tế Tuy nhiền, thực tế

cho thấy việc phát hiện, điều tra, truy tổ, xét xử đối với loại tội phạm mua bản

người, mua bán trẻ em chưa thực sự liệu quả, tỷ lệ khám phá, xử lý tội phạm

còn thấp Các cơ quan báo vệ pháp luật đã có nhiều cố gắng trong việc phát

hiện, điểu tra, truy tổ, xét xử, bóc gỡ được nhiều đường đây buôn bản người

mang tính tỏ chức cao và hoạt động xuyêu quốc gia, tuy nhiên, thực tế số tội

miễn núi thuộc điện nghèo nhất mước, có đường biên gi

nhiều địa phương của Trang Quốc Đăng bộ và chính quyền tỉnh Hà Giang đã

tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật để đấu tranh, phòng chồng với các

loại tội phạm, trong đó có tội phạm mua bản người và mua bản trẻ em Đồng thời, các cơ quan an nình đã phối hợp với các ban ngành liên quan nỗ lực

Trang 11

phòng chống và giúp đỡ các nạn nhân bị mua bán tái hỏa nhập với cộng đồng

Với những đặc thù riêng của địa phương, loại hình tôi phạm mnua bán người, mưa bản trẻ em trên địa bàn tỉnh Ha Giang có nhiều điểm khác biệt sơ với các địa phương trong câ nước Do vậy, táo giả cho rằng cân cỏ một nghiên cửu đẩy đỏ về thực tiễn công tác đấu tranh phỏng, chẳng và thực tiễn xét xử để bổ sumg cho ly luận về tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em nhằm áp dung

có hiệu quả vào thực tế lạn lĩnh Hà Giang Hon nữa, là một kiểm sát viên trực

tiếp thực hành quyển cổng tổ, kiểm sắt điều tra, kiểm sát xét xử sơ thâm án

Hình sự, trong đó có các vụ án về tôi tuua bán người và lội mua bản trẻ em,

niên tác giả muốn có nghiên cứu tổng quan dé phục vụ công tác của minh Dây

cũng là lý do để tác giả lựa chọn để tài "Tội mua bản người, mua bản trể em trên địa bàn tình Hà Giang - Một số vẫn để lj luận và trực tiễn" làm đề tải luận văn thạc sĩ luật học, nhằm tìm hiểu đây đủ những cơ sở lý luận và thực tiễn

về tội mua bản người và tội rưua bản trẻ em, áp dụng một cách có hiệu quả vào

công tác đầu tranh phòng, chồng tội phạm nơi địa phương đang cư trú Mặt khác, qua việc nghiên cứu mày để đánh giá kết quả tìm hiển và nghiên cửu

khoa học của bản thân trang quá trình được các thầy cô bồi dưỡng và đảo tạo

2 Tình hình nghiên cứu

Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cửu về

tội tua báu người, mua bản trẻ em đã thủ hút được sự quan tâm của nhiều

nhà nghiên cứu lý luận, hình sự vả cản bộ thực tiễn Tuy nhiên, chưa có nhiều

công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thông dưới góc độ pháp lý hình sự về tội mưa bán người, mua bản trẻ em đặc biệt là gắn với một địa bản

cụ thể như tỉnh Ha Giang

Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu đề hoàn thiện các quy định của Bộ luật

hình sự năm 1999 (sửa đối, bỏ sung năm 2009) về tội mua bán người và tội

mưa bán trẻ em, cũng như để xuất các giải pháp nàng cao hiệu quả áp dựng các quy định về tôi phạm này có ý nghĩa về lý luận và thực tiến phục vu trực

Trang 12

tiép cho dia ban tinh Ila Giang Về các vẫn để liên quan đến mua bán người,

mua bán trẻ em đến nay đã có một số chương trình hành động, báo cáo của gác tổ chức như Chương trình hành động về phòng chẳng nạn buôn bán phụ

nữ, trẻ em ð iệt Nam (1999 - 2002) của TTội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Báo cáo đánh giá hệ thống pháp luật của Việt Nam trên tỉnh thần các Nghị định thư của Liên hẹp quốc về phòng, chẳng buôn bán người và di cư trái pháp, bồ sung Công ước Liên hợp quảc về chẳng lội phạm cá lỗ chức xuyên

quốc gia của Bộ Tư pháp

Trong các giải pháp phòng, chống tôi plưm maa bản người và mua

bản trễ em thì hoàn thiện hệ thống pháp luật là một vấn đề luôn được đặt lên

hàng đầu Bén cạnh đó, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hinh tội phạm vả thực trạng xét xử để nâng cao hiệu quả giải quyết án là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan bảo vệ pháp luật Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một khung, pháp lý tương đối đầy đủ nhằm bảo

vệ tính mạng, sức khỏe, danh đự và nhân phẩm đối với nam giới, phụ nt, trẻ

em là đối Lượng của hành vị mua bán như Hiển pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật

tổ tụng hình sự, Luật bảo vệ, chăm sóc và giảo duc trẽ em, Taật hôn nhân vá gặa định, Pháp lệnh xử lý vi phạm han chính, Pháp lệnh phỏng chồng mại dâm Các vấn bản pháp luật này tạo cơ sở pháp lý cho việc đâu tranh phòng, chồng tội phạm mua bản người, mua bản tr em trong thoi giant qua Tuy

nhiền, trước xu thê mở cửa và hội nhập quốc tế, điễn biển tỉnh hình tội phạm

xuua bản người và mua bản trẻ em ngày càng trỡ lên phức tạp Hệ thống vấn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam trong đỏ có các quy định của pháp luật hình sự đã bộc lô một số bắt cập, thiểu sót làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác phòng, chống loại tội phạm này, Trên phương diện hoàn thiện pháp,

luật và tình hình thực tiễn phòng chồng tôi phạm đã có một số công trình đẻ

cập đến mua bán người, mua bán trẻ em của các tác giả Vũ Ngọc Binh, Phỏng

chẳng buân bán và mại dâm trẻ em, Đỗ Thị Thơm, Hoàn thiện pháp luật về

Trang 13

quyên trẻ em ớ Việt Nam hiện nay, Nguyễn Quang Dũng, Tình hình tội phạm

mua bản phụ nữ qua biên giới nước ta và hoạt động phòng ngừa của Bộ đội Biện phòng, Phạm Văn Hùng, Quán tiệt chương trình hành động phòng, chẳng tội phạm buôn bán phụ nữ, trả em từ năm 2004 - 2010, Ding Xuân Khang, Tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới Việt Nam - thực trạng

và giải pháp đã cò những đồng góp trong việc hoàn thiện pháp luật và đưa van để phỏng, chứng mưa bản người, rnua bán bế eìn vào khoa học bình sựy nhằm tìm ra giải pháp hiệu quả phòng ngừa loại tội phạm trên

3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu của luận văn

31 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cửu một cách tương đối có hệ thống các chú trương,

đường lôi, chỉnh sách của Dáng, Nhà nước và các quy định cúa pháp luật hình sự

hiện hành về tội mua bản người và mua bán trẻ em; đổi chiến với các quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến hành vi mua bán người và mua bán trễ em

Luận văn nghiên cửu những vẫn để pháp lý cơ bản của tội mua bán người và tội mua bản trẻ em nhĩ: khái niệm, các đấu hiệu pháp lý, đẳng thời

đi sâu vào phân tích thực tiễn xét xử tội mua bán người và tôi mua bản trẻ era

từ năm 2009 đến năm 2013 lrên địa bản tĩnh TIả Giang, có so sánh, đổi chiếu với số liệu trên toàn quốc Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự Việt Kam hiện hành vẻ tôi mua bản người và tội mua bản trề em và thực tiển tội phạnn trên địa bản tĩnh Hà Giang từ rữnn 2009 đến năm 2013, tác giả để tài sẽ phân tich và chỉ ra thực trạng giải quyết, những tổn lại, khô khăn của cáu cơ quan pháp luật trong quá trình thục tlu nhiệm vụ Đồng thời, đưa

va thững giải phốp, kiểu nghị nhằm mâng cao liệu quả công tác đâu tranh

phòng, chống tôi phạm raua bán người và mua bản trế em tại tĩnh Ha Giang

32 Đi trưng nghiên cứu

Đối lượng nghiền cửa của để tải là những vẫn để lý luận và thựơ tiền trong đầu tranh phòng, chống tôi phạm mua bán người và mua bán trẻ em nói

chưng và trên địa bàn tỉnh Hà Giang nói riêng.

Trang 14

Với đối tượng và mục đích nghiên cửu như trên, học viên để ra phạm

vi nghiên cứu của để tái là

Tìm hiểu một số quy định của pháp luật quốc tế vẻ tội mưa bản người, mua ban tré em

Nghiên cứu vá hệ thông hóa những quy định của phép luật Việt Nam hiện hành đối với các hành vi mua bản người và mua bản trễ em

Phan tinh hink (61 pham va thuc tiễn xét xử các vụ an mua ban người

và mua bản trẻ em trên địa bàn tĩnh Hà Giang trong thời gian 05 năm, tử năm

2009 đến năm 2013, nêu ra những khó khăn, vướng mắc, những tổn tại và hạn

chế trong công tác giải quyết Từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị trong

việc nâng cao hiệu quả công tác đầu tranh phòng, chồng tôi phạm mua bản

người và tội phạm ruua bản trẻ em

4 Cơ sở phương nhấp luận và các phương pháp nghiên cứu +41 Cơ sẽ phương phưúp luận

Luận vần được thực hiện trên cơ số phương pháp luận khoa học cửa chủ ngÌữu Mác - Lên, tư tưởng Hỗ Chí Minh và những chủ trường, đường

lối của Dảng, Nhà nước ta về đâu tranh phỏng, chồng tội phạm nói chưng

cũng như đầu tranh phòng chống tội phạm mua bản người và mua bản trẻ c1n nói riêng Phương pháp luận cũng dựa trên cơ sở những thánh tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: Lịch sử Nhà nước và pháp luật; Tý luận chưng về Nhả nước và Pháp luật, Xã hội học pháp luật, Tâm lý học; Tội phạm học; Tuuật tố hạng lúnh sự vá những luận điểm, luận chứng khoa học trưng các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bỏi viết đăng trên báo, tạp chí của một số nhà khoa học Luật hình sự Việt Nam và nước ngoài

4.2 Các phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của hiận văn là kết hợp giữa lý luận và thực tiển, dùng lý luận để phân tích các quy địh của pháp luật quốc tế và pháp luật

Việt Nam đổi với tôi mua bản người và mua bán trẻ em Sử dựng cơ sở lý

Trang 15

luận để làm rõ những vận đề thực tiễn trong xét xứ tội phạm mua bán người,

mua bán trẻ em nói chung và trên địa bàn tỉnh Hà Giang nỏi riêng, mính chứng bằng những số liệu, dẫn chứng cu thé Bén cạnh đó, luận văn cũng sử

dựng một số phương pháp tiếp cận để làm sảng tỏ về mặt khoa học từng van

để tương ứng Cúc phương pháp nghiên cứu cụ thẻ như: phân tỉch, tổng hợp

và thống kê xã hội học, phương, pháp lịch sử, phương pháp so sảnh, đôi chiều; phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu, điều tra án điển

hình để phân tích và lưàn chứng các vẫn để khoa học - thực tiển cần nghiên

cứu rong luận vẫn nảy,

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

%1 Ýnghĩa lý luận

Kết quả nghiên cửu của luận văn góp phân hoàn thiện lý luận về tội xuua bản người và tội mua bản lề em trong khoa học Luật hành sự Viet Mam

Cụ thể, đã làm rõ các vẫn để chung về các tội nảy trong Luật bình sự Việt

am, phân tích khái quát các quy định của pháp luật quốc

để so sánh, qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bắt cập của các quy định hiện

hành, các sai sót trong quá lrình áp dụng các quy định đó, cũng như dua ra

nguyên nhân đề tìm giải pháp khắc phục, nâng cao liệu quả áp dung các quy

định của Độ luật hình sự về lôi mua bán người, mua bán trẻ em ở khía cạnh, lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn, đặc biệt một số giải pháp gắn liễn với việc phòng, chẳng loại tội phạm nảy trên địa bản tỉnh Hà Giang,

Trang 16

hình sự Việt Nam liên quan đên tội mua bán người và tội mua bản trẻ em, qua

đó góp phân nâng cao hiệu quả công tác đầu tranh phòng, chống các tôi này hiện nay và sắp tới ở địa bàn tính Hà Giang nói riêng vá cả nước nói chưng,

Tế tài giúp nhận thức đầy đủ về lý luận và thực tiễn trong đấu tranh

phòng, chống tội phạm mua bản người và mua bản trẻ em trên địa bản tỉnh

Ha Giang

Để tải phần tích thực tiến xét xử cáo vụ ấn hình sự về mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bản tỉnh IIa Giang, đảnh giá đúng thục trạng giải quyết loại tôi phạm này, từ ra được những khó khắn, vướng mắc, nguyên

nhân cúa tổn tại và bạn chế trong công tác đấu tranh, phỏng ngừa Từ đó xây

dựng được hệ thống giải pháp hữu hiệu và có tính khả thi cao, phủ hợp với điều kiện, tỉnh hình thực tế tại địa phương,

Với cá nhân người nghiên cứu, để tài sẽ gớp phần nàng cao hiệu quả công tác thực hành quyển công tổ, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thấm án hình sụ, trong đó có tội mua bán người và tôi mua bán trẻ em

6 KẾt cấu của luận văn

Ngoài phần mở đâu, kết luận vá danh mục tải liệu tham khảo, nội

đưng của luận vần gồm 3 chương:

Chương 1: Những vẫn đề lý luận về tội mua bản người vá tội mua ban

iré cm

Chương 2- Tội mua bán người và tội mua bản té em theo quy đmÍL

của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bỗ sung tim 2009) và thực tiễn xét xử hai tội phạm nảy trên địa bản tỉnh Hà Giang giai đoạn 2009 - 2013

Chương 3; Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của cuộc đầu tranh phỏng, chồng tội phạm mua bán người và tội mua ban trẻ em trên địa bàn tỉnh Tà Giang,

Trang 17

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐẺ LÝ LUẬN

VE TOI MUA BAN NGUOI VA TOI MUA BAN TRE EM

Buén bản người hình thánh, phát triển và tổn tại kéo đái trong suốt lịch sử của nhân loại, từ khí hình thành hình thái kính tế - xã hội chiếm hữu

mô lệ cho đến nay Buôn ban người đã bị cả xã hội lên án và để chống lại tỉnh

trạng này, trong những năm đầu thể kỷ X%, một số Công tróc quốc tế về

chống buôn bản người đã được ký kết như Công ude bai bỏ buôn bán nổ lê

da trắng nắm 1904, Công ước ngăn chặn tệ buôn bản phụ nữ năm 1910, Công ước về chồng buên bản nô lệ năm 1926 Sau khi được thành lập, Liên hợp quốc đã cỏ nhiều văn bản pháp lý để cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến phòng, chồng tôi phạm buôn bản người, đặc biệt là buổn bám phụ nữ, trế eín và bảo

vệ các nạn nhân của tội phạm nảy dé thay thể các văn bản quốc tế trước đỏ như Tuyên ngôn thể giới về nhân quyển năm 1948, Công ước quốc tế vẻ loại

trừ các lĩnh thức phân biệt chủng lộc năm 1965,

quyển dén sy và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế vẻ các quyền kinh tế,

văn hóa và xã hội năm 1966, Công ước về xóa bỏ tất cả các bình thức phân

biệt đổi xử với phụ nữ năm 1979, Công ước về quyền trẻ em năm 1989,

Công ước về chống tôi phạm gó tổ chức xuyên quốơ gia năm: 2000 và mội

số Nghị định thư bổ sung, cho các công ước nêu trên như: Nghị định thư không bắt buộc năm 2000 bồ sung cho Công ước về quyền trế em về buôn ban tré em, mua dâm trẻ em và văn hỏa phẩm khiêu dâm trẻ em; Nghị định thư về phòng ngừa, trần áp và trừng trị tôi phạm buôn bán người, đặc biệt lá phụ nữ, trẻ em năm 2000 bễ sung cho Công ước về chồng tội phạm có tổ

chức, xuyên quềc gia Cuộc đấu tranh chồng tội phạm buên bản người ngày

cảng được nhiều nước trên thể giới hưởng ứng, tham gia vả đã thu được

những kết quả nhật định

17

Trang 18

1.1 QUY BINH CUA PHAP LUAT QUOC TE VA PHAP LUAT VIET NAM VE TOI PIIAM BLUON BÁN NGƯỜI, BUÔN BẢN TRẺ EM

Khải niệm buôn bản người, buôn bản trẻ em lả một trong những vẫn

để nóng bỏng và gây tranh luận trong các suậc hội thảo trong nước và cáo hội nghị quốc tế Việt Nam cũng như các nước trong khu vực và trên thể giới đã

và đang có những hoạt động nỗ lực nhằm ngăn chặn và đâu tranh phòng, chồng loại tội phun này Tuy rửnên, vẫn có những kháe biệt của pháp luật quy định vẻ tội mua bán người, mua bán trẻ em (theo pháp luật của Việt Nam)

và lội buôn bám người (theo quy định của pháp luật quốc tế), Để có thề đưa ra được khái niệm mua bản người, mua bản trế em phủ hợp với quy định của pháp luật quốc tế (vì hiện nay Việt Nam đã ra nhập và ký kết nhiều văn kiện quốc tế quy định vẻ buôn bản người) và phủ hợp với các quy định của pháp luat Việt Nam cũng như tình bình, hoán cảnh thực tế của đất rước tủ cần phải nghiên cửu toàn điện và sầu rộng các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước, trên cơ sở đó đưa ra khái niệm mua bán người, mua bản trẻ em

1.1.1 Khái niệm buôn bản người (heo quy định của pháp luật

quốc tế

Mua bán người, mua bản trẻ em là một loại tội phạm đặc biệt nghiệm

trọng mà loài người tiến bộ trên khắp thế giới đều lên án rất mạnh mẽ Tội

phẩm tuun bản người làm rỗi loạn tình hình aãn nình, bật tự, xăm phạm nhân

quyền Bên cạnh đó những hậu quá của mua bán người để lại những nỗi mắt

xuất lớn cho các nạn nhân đặc biệt về nuặt tình thận Tuy với những đắc điểm chung của củng một loại hình tội phạm nhưng quan niệm vẻ tội mua bản người ở các quốc gia so với quan niệm của các quy định quốc tế cỏ sự khác biệt đảng kẻ, tùy mức độ rộng hẹp của cách hiểu

Pháp huật quốc tế không quy định khái niệm mua bản người, mua ban trẻ cm mả quy định chưng vẻ khái niệm buôn bản người Nạn buôn người là hình thức hiện đại của mạn nô lê, đang phá hủy gia đình và công đồng trên

Trang 19

khắp thể giới Buôn bản người chính lá hình thức mua bán, chiếm hữu nô lệ,

coi con người là một loại bàng hóa và tước đoạt của họ những quyển cơ băn

về tự do một cách trái pháp luật và vô đạo đức Do có những đặc điểm riềng

về truyền thẳng lịch sử, văn hóa xã hội, điều kiện kinh tế mà pháp luật của

mỗi quốc gia quy đmh về khái niệm buôn bán người khác nhau

Tháp luật của một số quốc gia quy định khải niệm "buôn bán người" theo những, chuẩn mực pháp lý quốc tế, thì cũng cỏ một số quốc gia khác,

Khải niệm này chỉ được hiểu theo nghĩa hẹn hoặc có những điểm không tương

đồng với quy định của pháp luật quốc lẻ

Khải niệm "buôn bán người" được quy định trong nhiều văn bản pháp

luật quốc tế Nghị định thư vẻ phỏng ngừa, trấn áp và trừng trị việc buôn ban người, đặc biệt là phụ nữ, trề em (Nghị định thư Palermo) Văn kiện nảy được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày L5 tháng L1 năm 2000 và có liệu lực ngày 25 tháng 12 năm 2003 Theo quy định của Nghị dụnh thư này, khái niệm buôn bản người (trong đó có phụ nữ, trẻ em) được quy định như sau:

ø) Việc tuyển mộ vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lệt bằng cách đe đọa đừng bạo lực hay cách thức ép buộc, bắt cóc, lửa gạt, man trá, lạm dụng quyền

lực hoặc vị thẻ dễ bị tốn thương hay bằng việc cho hoặc nhận tiến

Hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soái đối với người khác vì mục đích bóc lột

Hành vì bóc lột ở đây ít nhất là bao gdm bóc lột vì mục đích mại đêm hoặc các hành vĩ bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay địch vụ cưỡng bức nô lệ hay những hình thức tương tự

Trang 20

c) Việc tuyển dựng, vận chuyền, chuyển g2ao, chửa chấp hoặc

nhận trẻ em với mục đích bóc lột sẽ bị coi là buẩn bán người thâm chí khi không có những hình thức được nêu ở điểm (a) trên đây

[36] Khải niệm buôn bản người theo quy định của Nghị định thu Palermo

đ) "Trẽ em" có nghĩa là bất kỳ người nào đưởi 18 tui

tập trung vào các yêu tố như:

Thứ nhất, về hành vị, buôn bản người bao gồm: hành vị tuyển mô, vận

chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người

Thứ bại, về phương thức thực tiện hành vì là đe dọa hoặc sử đụng vũ

lực hoặc các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa đảo, lạm dụng quyền lực hoặc vị

thể đễ bị thương tồn, đưa hoặc nhận tiên hay lợi nhuận đề đạt được sự đẳng ý cửa một người có quyền kiểm soát đổi với người khác

Thứ ba, về mục đích là nhằm bóc lột người bị mua bản (bóc lội vì mục đích mại đâm hoặc các hành vị bóc lột tình đục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, làm khổ sai Bay lấy các bộ phận cơ thể)

Theo quy định của Nghị định thư Palermo, sự đẳng ý của trễ em là vô hiệu và bắt kỷ sự tuyên mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận

trẻ em nhằm mục đích bóc lột đều cảu thành tội buôn bản người, cho dù

không có việc sử dựng vũ lực, cưỡng Ép, man trả, lừa gợi trổ crá đố

Đây là khái niệm có tính chính thông vẻ buôn bán người theo tỉnh thân

Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc ga và Nghị định thư bỗ sung Công tước về chống buôn bản người Khái mệm nảy được sử dụng phổ

biển trong hoạt động chồng buôn bản người trên thể giới và được nội luật hóa

trong pháp luật của nhiều quốc gia Khái niệm này cũng đã bao làm mọi hình

Trang 21

lam nỏ lệ và tương tự Khái niệm không chỉ tập trung vào đối tượng lá phụ nữ

mà bao hàm mọi giới nam nữ, đều cỏ thể là nạn nhân Khải niệm không chỉ nói đến nạn nhân bị buờn bản qua biên giới được quốc tế công nhận mả xét

đến cả những người bị buôn bán ngay trong lãnh thỏ của một quốc gia, từ khu

vực này đến khư vực khác Trừ trường hợp người bị buôn bản dưới 18 tuổi, Nghị định thu đôi hỏi phải có yêu tế cản trở nguyện vọng tự do và được thông, tin đầy đủ của rưm nhân

Ngoài Nghị định thư Palermo, một số văn kiện pháp luật quốc tế cũng

đưa ra khái niền liên quan đến buôn bán người, trong đó có nhiều điểm tương,

đồng với khái niệm của Nghị định thư chống buôn bán người, nhưng do được

tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, nên không một khái niệm nào đây đủ, toàn diện như khái niệm được nẻu trong Nghị định thư Palermo

Theo quy định của Nghi định thư không bắt buộc về buôn bán lề em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu đâm trẻ cm, bể sung, cho Công tước quyển trẻ em thì mua bản trẻ em là bất kỳ hành động giao địch nào mà qua đó, tré om bi chuyển giao lừ bắt kỳ một người hay một nhóm người này sung Trôi

người hay một nhóm người khác để lây tiền hay bat ett dé vật gì khác Khai

niệm nảy có điểm rộng hơn khái niệm của Nghị dinh thu Palermo (khéng quy

định mục đích bóc lột nạn nhân là yếu tổ bắt buộc câu thành tội phạm), nhưng

lại có

v hep hơn khái niệm của Nghị định thứ Palenno ở chế chỉ giới hạn

hành vị chuyển giao trẻ em vi lợi nhuận, túc lá chỉ điều chinh hanh vi mua

hoặc bản Trong khủ đó, Nghĩ định thừ Palernmo để cập đến nhiều loại hành vĩ buôn bản người như tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, nhận người vì mục đích bóc lột

Theo Liên minh toản câu chống buôn bán phy nit GAATW (Global

Alliance Against Trafficking of Women) phối hợp với các tổ chức Chính phủ,

các tổ chức phi Chính phủ đã đưa ra khải muệm khải quát về buôn bản người

là: Mọi hoạt đồng có ý tham gia váo việc tuyển mô, chuyên chỗ trong nước

Trang 22

hoặc qua biển giới, mua, bản, chuyên, chứa chấp hoặc nhận một người bằng

thú đoạn lửa gạt và cưỡng bức, kế cả việc đúng hoặc đc doa đứng bạo lực, lạm dựng quyển hanh hoặc lợi dụng tình hình nợ chồng chất của người đó để đua hoặc buộc họ làm việc trong tình trạng nẻ lệ không tự nguyện (việc nhà, tỉnh dục hoặc sinh sản) không hoặc cỏ được trả công, lao động cưỡng bức hoặc có giao kèo, hoặc lao động trong các điều kiện nô lệ trong một công đẳng mà không phải nơi mà người đỏ sông khả bị lửa gai, dưỡng bức hay nợ chồng chất ban đầu

Tổ cluức Tao động quốc tế (TT.O) đãi đưa ra khái riêm buôn bản người

như sau: Huên bản người là việc tuyển dung, vận chuyển, chuyển giao, che

giâu hoặc tiếp cận người bằng cach de doa hoặc đủng vũ lực hoặc các hinh thức khác như ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hay địa

vị, tinh trang dễ bị tấn thương hoặc việc đưa hoặc nhận Hiển hoặc lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người mả người đó đang có quyền kiểm soát một người khác, nhằm mục đích bóc lột Việc bóc lột bao gồm, bóc lột làm nghề

xua đâm hoặc những bình thức bóc lột tỉnh dục khác, lào động hoặc phục vụ

tắt buộc, tinh trạng nô lệ hoặc những việc làm tương tự như tình trạng nổ lệ, khổ sai hay cắt di những bộ phận cơ thể con người

Tuy đã có những cách hiểu rất rõ ràng về tội buôn bán người nhưng

trên thực tế trong nhiều trường hợp loại lột danh này dễ nhằm lẫn với lội đưa

người trái phép qua biên giới, bởi những điểm tương đồng của hai loại tội danh

Wéu khong phân biệt rõ li tội danh này sẽ ảnh hưởng nghiệm trọng đến qua trình xét xử và bỏ sót tội danh nguy hiểm Nghị định thư vẻ phòng, chống đua người di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và đường không, bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia định nghĩa: "Dưa người đi cư trải phép nghia là việc giao địch, để đạt được trực tiếp hoặc gián tiếp lợi ích về tải chính hoặc lợi ích vật chất khác từ việc

một người nhập cảnh trải phép vào một quốc gia thành viên mà người này

22

Trang 23

không phải lá công dân cúa quốc gia đỏ hoặc thường trủ tại quốc gia đó" Về

mặt hình thức, tôi buên bán người và tôi đưa người trái phép qua biên giới có những điểm tương đối trùng khớp với nhau bởi đều tổn tại yếu tô của sự di

chuyển tứ quốc gia này sang quốc gia khác bằng cách bat hợp pháp và déu vi

mục dich lợi nhuận cho kẻ gây ra hành vi dé Chỉnh điều nảy đã dẫn đến nhiều quy định nhằm lẫn và bố sót nhiều tôi đanh của các đối tượng buôn bán người Do vậy, cần phân biệt rõ giữa buôn bán người và đưa người trái phép

qua biên giới bởi bản chất hai hành vi nay hoàn toàn khác nhau Về mục đích

đã chuyển, buôn bán người và đưa người lái phép qua biển giới đều vì mục đích lợi nhuận Tuy nhiên, đưa người trải phép qua biên giới nhận lợi nhuận

tử chính người được đưa qua biên giới và kết thúc hành vi khi đưa được người qua biên giới đến đúng địa điểm đã thỏa thuận, trong khi hành vi buổn bán người không đừng lại ở đó San khá đưa người qua biên giới, lợi nhuận thú được của những kế thực hiện việc buôn bản người là từ hành vì bóc lệt, nỗ dịch nạn nhân (phục vụ mại dám, lao động bất hợp pháp ) Các nạn nhân bị xuua và bán phải chịu đựng các lành lluức không chế, kiểm soái và cưỡng bức

có hậu quả vô cửng nghiêm trạng làm tổn hại đến sức khỏe và tính mạng con

người Vẻ tỉnh chất và mức độ của hảnh vi, đưa người trái phép qua biên giới

có sự đồng thuận giữa hai bên vi mục đích riêng của mỗi bên trong khi buôn

ban người đế phần phối thông qua hành vĩ lửa gạt, dụ đố, thâm chi dùng vũ lực mả không được sự đồng thuận của người bị mua bán Hành vị buôn bán người chưa thể kết thúc khi người đã được đưa qua biên giới và trong nhiều trường hợp hảnh vi mua bán khỏng nhất thiết phẩu thực hiện thông, qua biển giỏi giữa các quốc gia mà có thé ngay trong nội địa từ địa phương này sang địa phương khác, khu vực này sang khu vực khác Với tính chất đặc biệt

nghiêm trọng của tôi phạm buôn bán người, pháp luật quốc tế đã quy định rất

cụ thể từng hành vi như tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người, có sự phân biệt rõ ràng giữa buôn bán người và đưa người trải

Trang 24

phép qua biên giới, từ đó nâng cao hiệu quá công tác đầu tranh, phỏng chống,

tệ nạn buên bán người (trong đó có buôn bán trẻ em)

1.1.2 Khải niệm mưa bán người, mua bán trẻ em †hco quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Pháp luật hình sự Việt Nam không quy định về tội buôn bản người mà quy định cụ thể về tôi mua bản người và mua bán trẻ em Mua bán người là

Hành vì dùng tiền, tồi sản hoặc các lợi Ích vật chất kháe để trao đổi người (từ

đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa Các bành vị đỏ là: bán người cho người khác, không phụ thuộc vào nưục đích của người mrưa, mua người để bản lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thể nào; đảng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán, mua người để bóc lội, cưỡng bức lao động hoặc vi cáo mục đích trái pháp luật khác; người tô chức, người xứi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vị nêu trên, đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người Mua bán trẻ em là hành vi đàng tiên, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác

để trao đối trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa Các hành vì mua bán trẻ em cụ thể lá: bán trễ em cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua, mua trẻ em đẻ bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thê nào, dùng trẻ

em làm phương tiệi táo đổi, thánh toán; mua trổ ưn để bóc lội, cưỡng bức

lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác; người tổ chức, ng trời xửi piục,

người giúp sức cho người thực hiện một rong các hành vĩ niều hiên bị truy cửu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm

Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tôi mua bản người, mua bản trẻ em, có thể thấy rằng khải niệm mua bán người,

mua bản trễ em ở Việt Nam đã cỏ một số điểm tương đồng với quy định của

pháp luật quốc tế, đó là: đã quy định là tội phạm hình sự đổi với hành vi mua bản người có tính chất tổ chức, nhiều lần như quy định của Công ước quốc tế;

Trang 25

quy định các mục đích mua bán người, mua bán trẻ em đề lấy bộ phận cơ thể

của nạn nhân, để đưa ra nước ngoài, để sử đụng vào mục đích mại dâm hoặc mục địch vô nhân đạo là các tình tiết định khung hình phạt, hoặc tuy không quy định cụ thể trong Bộ luật hình sụ nhưng các văn bản hướng dẫn ap dung

đã hưởng dẫn về các thủ đoạn phạm tội mua bán người là môi giới hôn nhân với người nước ngoài trải phép, đưa người đi lao động nước ngoài trái plúp, môi giới rốt con nuôi trất pháp luậL Tuy nhiên, pháp luật hình sự ViệL

Nam vẫn côn có nhiều điểm khác biệt, chưa tương thích với khái niệm buôn

han người của pháp luật quốc tế Sự khác biệt này được thể hiện như sau

Thứ nhất, về hành vì: khái miệm raua bản người, mua bán trễ em cứa

Việt Nam chi bao gồm hai loại hành vị là mua và bản, tức là việc chuyển giao người, trễ em tử người nảy (hoặc nhỏm người nảy) sang người khác (hoặc nhiớm người khảo) để đối lấy tiền, tài sân hoặc lợi ích vật chất khác Như vậy, theo cách hiểu hiện nay về mua bán người, mua bản trẻ em thì không bao gêm các hánh vi tuyên mộ, vận chuyến, chứa chấp và nhận người là những hành vi khác bên cạnh hành vị mua bản xây ra trong toàn bộ quá trình buồn bán nự Hới được bao hảm trong khái niệm của Nghị định thư Palermo

Tuy các hành vi này không bị coi là mua bản nhưng hành vị tuyển mộ,

vận chuyển, chửa chấp và nhận người, tùy từng trường hợp cụ thể sẽ bị trừng

vũ lực hay các hình thức ép buộc, bắt các, lừa gạt, man trá, lạm đựng quyền

lực hoặc vị thể đễ bị thương tốn hay bằng việc cho hoặc nhận tiên hay lợi nhuận đề đạt được sự dang ý của một người kiểm soát đối với những người

bạ a

Trang 26

khác Trong trường hợp đối tượng bị xâm hại là trẻ em thì không cần tính đến

việc bọn tôi phạm có sử đựng hay không sử đựng các phương thức này Điều

đó có nghĩa là, trong trường hợp trẻ em hoan toan đồng tình với hành vi mua bản người của bọn tội phạm thì vẫn bị coi là mua bán trẻ em nếu có hành vi tuyển mộ, van chuyển, chuyển guao trẻ cm nhằm mục đích bóc lột

Thứ ba, về mục địch (yêu tổ để bóc lột): một trong những dấu hiệu quam trong để phân biệt tội buôn bán người với cáo tôi phạm khác chỉnh là yêu tổ "bóc lột" nạn nhận Theo Neti định tuy Palermo thì mục đích "để bóc

lột" lá một trong những yếu tô bắt buộc câu thành tôi buôn bán người Đây cũng chỉnh là một trong những dâu hiệu chỉnh để phân biệt tội "budn ban người" với tội "đưa người trái phép qua biến giới" và phân biệt với các loại tội phạm khác Chẳng hạn cùng là một hành vị đưa người sang bên kia biển giới

để thu lợi nhuận nhưng sẽ cấu thánh tội buôn bản người khí có dẫu hiệu

chứng runh là nhẫm trục đích bóc lội nạn nhân và s

ä lột đưa người ái phép gua biên giới nến không chứng mình được mục đích này

Trong khi đó pháp luật hình sự Việt Nam không quy định mục đích

* để bóc lột" là dẫn liệu bắt buộc để cầu thành tôi phạm way, ma chi cin có sự

chuyển giao người, trẻ em đẻ đổi lấy tiên, tài sân hoặc lợi ích vật chất khác là

đã cầu thành tội mua bán người, mua bán trẻ em Diéu này có thể dẫn đến sự khác biệt nhất định khi xác định tội danh mua bản người, mua bản trẻ em theo

pháp luật Việt Nam vả buôn bán người, buôn bán trẻ em theơ pháp luật quốc

tế trong một sỏ trường hợp cụ thể Hoặc trong nhiều trường hợp, người ban

không cẩn biết người naua sử dựng nạn nhận vào mục đích gì, mà chỉ cần lấy

mot khoản tiến nhất định Nếu người bản nạn nhận voi mu dich dé boc lt

(như lâm mại đâm, lấy bộ phận cơ thể ) thì họ sẽ bị áp dựng các tỉnh tiết định khung tăng nặng (vi mục đích mại dầm, để lây bộ phận cơ thể của nạn nhân ) đổi với hành vị phạm tội của họ Nhu vay theo quy định của pháp luật hình sự

Trang 27

Việt Nam, chỉ cần có hành ví mua hoặc bản người, trẻ en để lây tiên, tài sẵn

hoặc lợi ích vật chất khác là câu thánh tội phạm mà không cân có yếu tế "bằng

thủ đoạn và mụo đích bóc lột" như quy định của Nghỉ định thư Palermo Động,

cơ, mục đích của người phạm tội không có ý nghìa quyết định đối với việc định tội danh mà chỉ bị coi là tình tiết định khưng tăng nặng

Thứ tư, về độ tuỗi của trẻ em: khải niệm "trẻ em" của pháp hiật Việt Nam cũng chưa tương thích với Nghị định thư Palermo và một số văn kiện pháp lý quốc tế khác Pháp luật Việt Nam quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi, trong khi đó quy định của Nghị định thư Palemno thì trẻ em là người đưới 1# tuổi Như vậy, trường hợp người chưa thành niên từ đù 16 tuổi đến

dưới 18 tuổi bị mua bản thì pháp luật Việt Nam chưa có chế tài phủ hợp để xử

lý, còn đối với nạn nhân là người nước ngoái thì dễ dẫu tới xự xung đột giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, điều này sẽ làm giảm đi hiểu quả của quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chồng buôn bản người giữa Việt Nam với một số quốc gia

Thứ năm, về chủ thẻ của tội phạm: theo quy định của pháp luật quốc

tổ, tìủ tất cả nhímg người tham gia một trong những công đoạn có liên quan trong quá trình buôn bán người, buôn bán trẻ em đếu được gọi là tội phạm

buôn bán người, trế ern như tiyển rộ, vận chuyên, chứa chấp trong khí đó,

theo pháp luật bình sự Việt Nam thì những người nảy không phải lá chú thể của tôi phạm nuua bắn người, trẻ em má øỏ thể là chủ thể của muột số tốt phan

có liên quan khác

Như vậy, củng với sự phát triển kinh tế, xã hội và hôi nhập quốc tế, hoàn thiện lệ thống pháp luật trong đầu tranh phòng, chống tôi plạmt mua bản: người, nnue bán trể em cho phú hợp với điển kiện đất nước vá tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế là việc làm cân thiết và lâu đãi, góp phân

vào công cuộc đầu tranh phòng chồng tội phạm.

Trang 28

1.2 LICH SU PHAT TRIEN CUA HE THONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY DINII VE PIIONG, CHÓNG TỘI PHẠM MUA BÀN NGƯỜI, MUA BẢN TRE EM

1.2.1 Hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành

Bộ Iuật hình su mam 1999

Trong suốt chiêu dai lịch sử Việt Nam, mỗi lần một triển đại mới lên nắm chỉnh quyền là một lẫn các quy định pháp luật được bạn hành nhằm đậm

bão sự tên tại cho triều đại đỏ, đẳng thời còn giải quyết các vẫn đề về xã hội

Trong Tắt cả các văn bản pháp luật được bạn hành trong xã hội phong kiến thì

Bộ luật Hỏng Dức (Quốc triểu Lĩnh luật) được đánh giá là tiên bộ và hoàn

thiện hơn cã Quốc triều Hình luật tập hợp các tru điểm của các văn bản pháp,

Tý trước đó, xác định các vẫn để má Nhà nước má xã hội cùng quan tâm, tử đỏ đúc kết và đưa ra những quy định uới, tiểu bộ phủ hợp với xã hội phong kiến Quốc triểu hình luật cũng đã quy định vẻ hảnh vi mua bản người với các chế tài hình phạt nghiêm khắc từ Giáo (hắt cổ) đến Chém bêu đầu (chỉ thấp hơn tội Lăng trì), đối với các hành ví nhờ bản người it buổi từ hàng cơ thân trở xuống, hoặc có thêm hành vỉ cướp của hoặc đồ vật Tuy những quy định về

tội mua bản người còn nhiều thiểu sót và chưa cụ thể, nhưng nếu so với thời

điểm Bộ luật lỏng Dức được ban hành thì vẫn cỏ thể xem quy định về tội

mua ban người là mội trong những tiển bộ rất lớn trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Sản chiên thẳng Điện Biên Phủ nắm 1954, miễn Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xuất phát từ tình hình đó nên diễn biến tôi phạm xảy ra phức tạp, nhiều loại tôi phạm mới xuất hiện như là một kết quả tất yếu, một trong số đó là tội bắt cắp trẻ em bán cho đồng bao

miễn núi Theo bảo cáo tổng kết công tàc và các chuyên đề xét xử năm 1964

của Tỏa án nhân đân tỏi cao đã xác định đây lả một loại tội phạm nghiêm trọng nên xứ phạt thật nặng, khung hình phạt áp dung cho kẻ có hành ví bắt

Trang 29

cấp là từ 3 năm đến 15 năm, người mua trẻ con mà biết rõ đứa bé đỏ bị đánh

cắp thì bị phạt tủ tới 5 năm, đồng thời cũng xác định thêm các tỉnh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn đổi với loại tội phạm bắt cắp trẻ con này

Năm 1975, sau khi miễn Nam hoàn toàn giải phỏng, cả nước củng tiến lên xây đựng chủ nghĩa xã hội Do nước nhà vữa ruới thông what nén tinh Link

tội plưưu diễn biển rắt phức tạp, nhiều loại tội phạm mới phát sinh nung, chưa được pháp luật điển chữnh Trước yêu câu bảo vệ Tỏ quốc và đầu tranh phóng, chống tội phạm, ngày 27 tháng 6 năm 1985, Quốc hội nước Cộng hoa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỹ hợp thứ 9 khóa VI đã thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam Bộ luật hình sự năm 1985 được xem lá một

bão dam cho đấu tranh chồng tội phạm được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư pháp hình sự nhằm bảo vệ chế độ xã hội

chú nghĩa, trật tự xã hội và các quyển lợi hợp pháp của công đàn Tuy nhiễn,

Bộ luật hình sự năm 1985 không quy định về tội mưa bản người mà quy định

cụ thể về tội nnua bán phụ nữ và mua bán trẻ em, lần đầu tiên tội mua bán phụ

nữ và mua bán trẻ em được đưa vào trong luật, và được xép vào nhóm những tội pluun nghiêm trọng cần phải đâu tranh và phòng chống Mức phạt tối da của hai tội này là 20 năm tủ giam, khả nghiêm khắc để trừng phạt và rắn đe

những kê đã, đang và sẽ có ý định thực hiện tôi phạm rày,

Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về tội mua bán plu nit

1 Người nào mua bản phụ nữ thì bị phạt tủ từ hai năm đến

by năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây Thì bị

phạt tủ từ năm năm đến hai mươi năm:

3) Œó tổ chức;

b) Dễ đưa ra nước ngoài;

oc) Mua bản nhiều người,

d) Tái phạm nguy hiểm [40]

Trang 30

Điển 149 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định vẻ tội bắt

trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em:

1 Người nào bắt trộm, mua bán hoặc đánh trảo trẻ em thi bị

phạt tủ từ một năm đến bảy năm

2 Pham tội thuộc một trong các trường, hợp sau đảy thì bị phạt tủ từ năm năm đến hai mươi năm:

ø) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp,

b) Dễ đưa ra nước ngoài:

e) Bắt trộm, mua bán hoặc đảnh tráo nhiều trẻ em hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;

đ) Tái phạm nguy hiểm [40]

Tội mua bán phụ nữ và tội mua bản trẻ em được quy định tại Điều 115

và Điền 149 Bộ luật hình sự nắm 1985, nhưng cả bái điều luật đu không đưa ra định nghĩa cụ thể về các hành vi này Theo Nghị quyết sở 04/HĐTP ngày l9 tháng 11 nắm 1986 của Hội đồng thẩm phan Téa án nhân dân tôi cao hưởng dẫn

áp dụng một số quý định trong phần các tôi phưm của Bộ luật hình sự năm ] 985 thì mua bán trẻ em được hiểu là: "Việc mua hoặc bán trẻ em vì mục đích tư lợi, dù là mua của kẻ đã bắt trộm hay mua của chính người cỏ con dem ban

lành vi mua trẻ em khi biết rõ là đứa trẻ bị bắt trộm cũng bị xứ lý về tội mua

ban wé em" [53] Ngoài ra, trước vôi " tranh phỏng, chồng lội phan mua bản phụ nữ, trẻ em, tại Điều 4 Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hỏa nhập công đồng cho phụ nữ, trẻ ú bị buồn bản từ nước ngoài trở về, bạn hành kèm theo Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29 thang 01 năm 2007 đã giản tiếp đưa ra định nghĩa về mua bản phụ nữ, trễ em gợi là nạn nhân Theo đó nạn nhân được hiểu là:

Phụ mử, trẻ em bị một người hay một nhỏm người sử dụng,

vũ lực, dc dọa sử dụng vũ lực hay những hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyển lực hay địa vị, tỉnh trạng dễ bị

30

Trang 31

tôn thương để mua bán (giao, nhận tiền hoặc giao, nhận một lợi ich vat chất khác) đưa ra nước ngoải nhằm mục đỉch bóc lột

(cưỡng bức bán đâm hoặc các hình thức bóc lột tình đục kháe, lao động hoặc địch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô

lệ hoặc lẫy đi các bộ phận trên cơ thể) [19]

Bộ luật hình sự năm 1985 trải qua hai lần sửa đối, bố sung vào các năm 1989 và năm 1997, đã đáp ứng được yêu cầu đâu tranh phòng chống Lôi

phạm, treng đó có tội phạm mua bản phụ nữ, trẻ em Tuy nhiên, vẫn có một số

bắt hợp lý như việc sắp xếp hai điều luật này rong Bộ luật hình sự nằm 1985

Cá hai tội đều có hành vị khàch quan và có cùng khách thể là danh dự và nhân

phẩm con người bị xâm hại, nhưng lại được quy định ở hai chương riêng biệt

Tội mua bán pltụ nữ được quy định tại Điều 115 thuộc Chương II - Các tội

xâm phu tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, đanh dự cỗa con người, cón lội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em lại được quy định tại Điều 149 năm trong Chương V - Các tôi xâm phạm tới chế độ hôn nhân gia đình và các tội xâm phạm tới người chưa thành niên Ngoài ra mức phạt tối thiểu gủa tôi mua bản trẻ em còn quả nhẹ, chỉ có 1 năm trong khi loại tôi phạm nay

những ảnh hưởng mạnh mẽ tới tâm sinh lý của trể, tởi sự phát triển bình

thường về mặt thé chất của trẻ em Một bắt cập nữa là trong quả trình phát

sây ra

triển của xã hội, lội phạm không chi dừng lại ở hành vị mua bán phụ nữ, mua

bản trẻ em ma con c6 ca hanh vi mua ban nam gidi, với nhiều mục đích khác

nu, cho nên các tình tiết Lăng nặng tách nhiệm hình sự còn thiển nhiều ở cả hai điều uật Điều này thế hiện các nha lam luật lúc bẩy giờ, chưa đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này, cũng như chưa lường trước được những thủ đoạn xảo quyệt mà bọn tội phạm mua bán

người có thể thực hiện Phải đến năm 1999 cũng với sự ra đời của Bộ luật

hình sự thứ hai của Việt Nam (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) thì những thiểu sót, bật cập của Bộ luật hình sự năm 1985 mới được điên chỉnh lại

31

Trang 32

1.2.2 Hệ thống pháp luật phi hình sự có liên quan đến phòng,

chống tội phạm mua bản người, mua bản trẻ em

Nhận thức được mức độ nguy hiểm của tội nua bản người, nua bán

trẻ em và tầm quan trong của cảng táo đân tranh phỏng chống tội pham mua

bản người, mua bán trẻ em, trong hệ thẳng pháp luật Việt Nam đã hình thành

và dẫn boan thiện những quy định liên quan đến tội danh này Trước hết là những quy định nhằm phòng ngừa một cách có hiệu quả loại tôi phạm nảy,

san đó là hệ thống các chẻ tài để xử lý hành vi mua bán người, mua bản trẻ

em Trãi qua quá trình xây dựng và hoàn thiệu, đến ray Việt Mam đã cơ bản

cỏ một hệ thống pháp luật đầy đú liên quan đến công tác đâu tranh phòng,

chồng tội phạm mưa bán người, mua bản trẻ em

Về phòng ngừa tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em, trong thực

18 hanh vi mua bau người, mứa báu trế em có rất nhiên hình thức khác nhau nhằm lừa gạt, dụ đỗ và cưỡng ép các nạn nhân Để phòng ngừa các hành vi

đó, pháp luật Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống các quy định ngăn chan những nguy cơ có thể dẫn đến múa bán người, mua bản trễ eín như:

Thứ nhất, quy định khi kết hôn có yếu tổ nước ngoài, pháp luật Việt Nam đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật quốc tế Đẳng thời,

trong xu thế hội nhập toàn cầu, Việt nam cững tạo điều kiện và cho phép công

dâm Việt Nam: được kết hôn với rgười nước ngoài lrên cơ sở lồn trọng pháp

luật và thuần phong mỹ tục của Việt Nam, kịp thời ngăn chặn và trừng trị

những cá nhân, tổ chức lợi dụng kết hôn với người nước ngoài để thục biện hanh vi mua bán người nhằm kiểm lời bắt chính Với mục tiêu xây dựng gia đình bẻn vững, ỗn định, giải quyết tốt các mới quan hệ trong hôn nhân cỏ yếu tổ nước ngoài, ngay từ năm 1989, Hội đẳng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

đã ban hành Nghị định số 12/1TDBT ngày 01 tháng 02 năm 1989 quy định về thủ tục kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài va sau khu Luật Hồn nhân và gia đình năm 2000, Chính phủ đá cỏ Nghị định số 68/2002/NĐ-CP

Trang 33

ngày 10 tháng 7 năm 2002 quy định chỉ tiết thì hành một số điều cửa Luật

Tiên nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân vả gia đình có yếu tố nước ng cài Theo đó, người nước ngoài muốn kết hỗn với người Việt Nam phái có đây đú

các điều kiện như: "Mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều

kiện kết hôn; người nước ngoài cỏn phải tuần theo quy định tại Điều 9 và Diéu 10 của Tayật Tiên nhân và gia đình của Việt Nam vẻ điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành trước co quan nha

nước có thấm quyền của Việt Nam" [43, Diễu 10] Diểu 21 củng quy định:

"Hoạt động bế trợ kết hôn phải tuân thủ nguyên tắc nhân đạo, phí lợi nhuận

Nghiêm cấm hoạt động kinh doanh dịch vụ môi giới kết hồn hoặc lợi dựng

việc hỗ trợ kết hồn nhằm mua bản phụ nữ, xâm phạm tỉnh đục đối với phụ nữ hoặc vì các mục đích trục lợi khác" [43] Đề hoàn thiện các văn bản pháp luật, góp phần tích cực váo việc quân lý Nhà nước, định hướng cho quan hệ hôn nhân vả gia dình đi theo chiều hưởng lành mạnh phủ hợp với thuận phong, mỹ tục tốt đẹp của đân tộc, ngày 21 tháng 7 năm 2006, Chính phủ đã ban hành TNghị đmh số 69/2006/NELCP sửa đôi, bồ vung 1nội số chêu của Nghị định số

68/2002/ND-CP, trong đá quy định cụ thể và chỉ tiết vẻ trình tự, thủ tạc kết

hôn có yêu tổ nước ngoài Việc đăng ký kết hôn sẽ bị từ chối, nếu qua kết quả

phỏng vấn, thâm tra, xác minh cho thay việc kết hôn thông qua môi giới bất

hop pháp, kết hôn giả tạo không nhằm mục đích xây dựng gia đình nọ âm,

bình đẳng, tiếu bộ, hạnh phúc, bèn vững; kết hồn không phủ hợp với thuần

phòng mỹ tục của đần tộc, lợi dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ, xâm phạm tỉnh dục đổi với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác

Thứ hai, về quy định muôi con ruôi, đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu

tổ mước ngoài, pháp luật Viét Nam đã quy định rất rõ ràng trong Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 thang 01 năm 2001) va gác văn bản hướng dẫn thi hành Theo đỏ, nuổi cơn nuỏi là việc xác lập quan

hệ cha mẹ vả con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con

33

Trang 34

nuôi, nhằm mục đích đám báo cho người được nhận làm cơn muôi được trồng,

nơm, nuối đường, chăm sóc, giáo đục phú hợp với đạo đức xã hội Nhà nước

và xã hội khuyến khich việc nhận trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ tàn tật làm con nuôi và nghiêm cảm lợi đụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bản trẻ cm hoặc vi mục đích trục lợi khác Các quy định pháp luật về nuôi con miổi có yếu tổ nước ngoài đã xuất hiện từ giữa những năm SŨ của thẻ kỹ XX, bắt đầu với những quy định có tính nguyên tắc tại Chương TX của Luật Tiên nhân và gia đình năm 1986 Các quy định vẻ việc cho và nhận con nuôi đổ bão việc cho và nhận trẻ em làn con nuôi được thực hiện trên

tình thần nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tôn trọng các quyền cơ bán của

trẻ em, phỏng chống việc lợi đựng nuôi con nuôi để buôn bán, bóc lột trễ em Đôi với vẫn để nuôi con nuôi quốc tổ, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 1Ú tháng 7 nắm 2002, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 (sửa đổi, bố sung một sở điều của Nghị định số 68/2002/NE-CP) và Thông tư 08/2006/TT-BTP ngày 08 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tư pháp là những cơ sở pháp lý quan trọng nhật để giải quyết cho trẻ em Việt Nem làm cơn nuôi người nước ngoài

Thứ ba, về các quy định trong việc dưa người Việt Nam củ làm vị:

nước ngoài Việt Nam là một trong những nước có dân số trẻ so với nhiều

nước trên thể giới, với nguồn lao động đổi đảo, người lao động Việt Nai có

truyền thông cản củ, chịu khó, thông minh vả sáng tạo Tuy nhiên, do đặc thủ

của một nước nông nghiệp, lao động Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu câu về

ý thuật so với lao động của các quốc gia khác, hình thức lao động chủ yếu là thủ công bằng chân tay nên hiệu quả lao động vả thu nhập rất thấp Đưa người lao động ra nước ngoài nhằm tạo thêm †hu nhập, rên huyện

tác phong lao động, tiếp thm kỹ thuật tiên tiền là một chủ trương lớn ota Dang,

và Nhà nước Nước ta đã hợp tác đưa lao dộng đi lâm việc ở nước ngoài từ năm 1980 Trong thời kỳ từ 1980 - 1990, hợp tác lao động của nước ta chủ

34

Trang 35

yếu thông qua các hiệp định Chính phú với các nước thuộc Liên Xô (cũ), các nước Đông Âu và một số nước ở Trung Đông Trong giai đoạn nảy, hợp tác

lao động được thực hiện theo kế hoạch của Nhà nước, do các cơ quan nhà

nước tổ chức thực hiện Từ nằm 1991 đến nay, hoạt động đưa người lao động,

đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế thị trường, Khả nước chủ yêu làm chức năng quản lý, mở thị trường, các doanh nghiệp kỷ kết hợp đồng và trực tiếp đưa, quân lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài Tuy nhiên, việo đưa lao động ra nước ngoài cũng là một cơ hội cho các đối tượng tội phạm mua bán người lợi dụng để đưa người sang quốc giá khác bóc lột sức lao động

dưới hình thức xuất khẩu lao động Thực hiện Chí thị số 41-CT/TW ngày 22

tháng 9 năm 1998 của Bộ Chính trị về xuất khẩu lao động và chuyên gia và chỉ đạo của Chính phú, từ nằm 1999 đến nay, củng với công tác tìm kiếm thị trường lao động, công Lác xây dựng và bạn bánh các văn bản quy phạm pháp luật về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được day mạnh Hệ thống văn bản pháp lý đã được pháp điển hóa (thành luật) và tính đến thời điểm kiện may, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

chịn sự điều chỉnh của các văn bản chủ yêu sa Luat người lao động, Việt

Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của Quốc hội khỏa XI, kỳ họp

thứ 10 số ?2/2006/QIHI ngày 29 tháng I1 năm 2006, Quyết địh số

18/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 18 thang 7 năm 2007 cia Bé Lao động -

Thương bình và Xã hội ban hành chương trình bổi dưỡng kiến thrức cần thiết

cho người lao động trước khí đi lâm việc ở nước ngoài, Quyết định số 19/2007/QĐ-BLĐTBXH ngảy 18 tháng 7 năm 2007 của Bộ Lao dong - Thương bình và Xã hội ban hành "Quy định vẻ tổ chức bộ máy hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và bộ máy chuyển tách để bồi

dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việo ở mước

ngoin", Nghị dịnh sỏ 126/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao

Trang 36

động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; kghị định số 144/2001/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 200? của Chỉnh phủ quy định xử phạt

vi phạm hành chỉnh trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã tương đổi hoàn chỉnh, tạo được

cơ chế pháp lý rõ rang đề phòng chống việc mua bán người

Thit te, về các quy định trong quần lý các hoạt động kmh domdi, dịch

vụ để bị lợi dựng để hoạt động mại dâm Dây là một vấn đề có tỉnh cắp thiết

bởi việc kinh doanh các địch vụ có thể đẫn đến mua bán phụ nữ và trẻ em

trong nội địa Mại dâm va mua bản người là hai yếu tố cung vả cầu nhằm bóc

lột tình đục, đặc biệt với phụ nữ và trê em chưa thành niên nhằm trục lợi Bên cạnh đó, việc kinh doanh dịch vụ còn lâm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã bội Đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về công tác đấu tranh phòng, chồng tệ nạn mại đâm, mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em gắn với hoạt động quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ như: TNghi định của Chính phủ số 39/2000/NE-CP ngày 24 tháng 8 năm 2009 về cơ

sở lưu tra du lịch; Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2001 của Chỉnh Phủ quy định về điểu kiện an ninh, wat tự đổi với một số ngành,

nghệ kinh doanh có điều kién; Théng tu sé 02/2001 /TI-BCA ngay 04 thang 5

xăm 2001 của Bộ Công an hướng dẫn 1n bánh Nghi định số 08/2001/NE-CP; Thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT-BLDTBXH-BYT ngay 09 thang 12 nim

2004 của Bộ Trao động, Thương bình và Xã hội - Bộ Y tế về hướng dẫn, quy

định danh mục chỗ làm việc, công việc không được sử dụng lao động dưới 18 tuổi trong các cơ sở kình doanh dịch vụ dễ bị lợi dựng để hoạt đồng mại dâm, Pháp lệnh của Ủy bạn thường vụ Quốc hội 10/2003/PL-UBTVQH ngảy 17 thang

3 năm 2003 phòng, chống mại đâm, Mghi định của Chính phủ số 178/2004/ND-CP

ngày 15 tháng 10 năm 2004 quy định cÌu tiết thì hành một số điểu của Pháp lệnh phèng, chống mại đâm Nghị định số 1 1/2006/NELCP ngày 18 tháng 01 năm 2006

36

Trang 37

của Chỉnh phủ về việc ban hảnh Quy chế hoạt động văn hỏa vá kinh doanh

dịch vụ văn hóa công công; Quyết định số 52/2006/QP-TTE ngày 08 tháng 3 năm

2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phổi hợp liên

ngành phòng, chống tệ nạn mại dàm giai đoạn 2006 - 2010 Với hệ thống các

văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về quản lý các hoạt động dịch vụ dễ

bị lợi dụng để hoạt động mại đầm đã từng bước được hoàn thiện, tạo hành lạng pháp lý thuận lợi trong công tác phòng chống tế mạn mại dâm, ngắn ngùa tinh trạng rnua bán phụ nữ, trẻ em vì rụo đích mại đâm

Thứ năm, về đầu tranh chống mua bản người, tua bản trể em và các

hành vị vị phạm khác có liên quan, bên cạnh các chế tải về hình sự quy định

trong Bộ luật hình sự ở các tôi danh mua bán người (Điều 119), mua ban trẻ

em (Điều 120) vả các điều luật liên quan như tội chứa mại đàm (Điều 254), tội

xuôi giới mại dâm (Điều 255), tội mưa dâm người chưa thành niên (Điểu 256), tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tải liệu của cơ quan, tổ chức

Điều 266), tôi làm giả con đâu, tài liệu của cơ quan, tổ chức @Điều 267), tôi

ghiểm đoạt, mus bản, tiêu hỗy con đâu, tài ệu của cơ quan nhà nước, tổ chức

xã hội (Diêu 268), tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nuóc ngoài hoặc ỡ lại nước ngoài trái phép (Điều 275), tội nhận hồi lộ (Điều 279), tội gia mao trong

công tác (Diểu 284), tội đưa hỏi lệ (Diều 289), tội rửa tiền (Diều 251) có

rất nhiều chế tin ngiiêm khắc về lành chính cũng rửườ dân sự để xử lý lội phạm này

Vé chế tải hành chính, quy định việc xử phạt hành chính đối với gác hành vị có liên quan đến mua bán người, mua bản trẻ em như mại đâm, lao động, cưỡng bức, xuất cảnh nhập cảnh trái phép, tố chức, cưỡng ép người khác trên đi nước ngoài mả chưa đền mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong Nghị định số 87/2001/ND-CP ngày 21 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; Nghị dinh số 178/2004/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2004 của Chỉnh phủ quy

37

Trang 38

định chi tiết thị hành một số điểu của Pháp lệnh phỏng, chẳng mại dâm; Nghị

định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12 thẳng 12 năm 2005 của Chỉnh phủ quy

định xử phạt vì phạm hành chính trong lĩnh vực an mình và trật tự, an toải xã

hội Các chế tài hành chính đối với hành vi mua bán người, mua bán trẻ em

còn được thể hiện ở việc xử lý nghiêm khắc đối với hành vi vì phạm trong những trường hợp xâm hại đến phụ nử cỏ thai hoặc trễ em

Về chế tài đâm sự, hệ thống pháp luật của nước ta không có quy định

riêng về trách nhiệm bởi thường thiệt hại liên quan đến hành vi mưa bán

người, mua bản trẻ eịn, song nguyên tắc chưng về tách nhiệm bi thường thiệt hại được quy định tại Chương V của Hệ luật dân sự và tại Diễu 42 Bộ luật hình sự Bắt cứ người nào có hành vi mua bản người, mua bản trẻ era hoặc có các hánh vị vì phạm khác có liên quan mà gảy thiệt hại cho nạn nhân, thi ngoài việc bị xử phạt hành chỉnh hoặc bị truy cửu trách thiệm bình

sự còn phải chịu trách nhiệm bởi thường thiệt hại vẻ vật chất và tình thản cho người bị hại Chính sách bởi thường thiệt hại cho những nạn nhân nói chong, ong đó bao gồm cũ những mạn nhân bị mua bin được quy định tại

Diéu 604 Bộ luật đân sự và theo quy định tại Diễu 28 Bộ luật tố tụng hình sự

thì việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bị mua bản sẽ được

thực hiện đồng thời khi xét xứ hình sự đối với kế phạm tội mua bán người,

và Thông tư liên tịch số 116/2007/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 2? thàng 9 năm 200? của Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hưởng,

dẫn nội dung chỉ, mức chỉ cho céng tác xác nunh, tiếp nhận và hỗ wg phụ

nữ, trẻ em bị buôn bán từ mước ngoài trở về tái hòa nhập cổng đồng theo

38

Trang 39

Quyết định số 17/2007/QD-TTg ngày 29 ngáy O1 năm 2007 của Thủ tưởng

Chính phủ, đã quy đỉnh cụ thể về trách nhiệm của các Bộ ngành liền quan trong việc tiếp nhận cũng như các chỉnh sách hỗ trợ nạn nhàn tái hòa nhập cộng đồng,

Về các quy định trong việc nêu cao vai trở của gia đình, cộng đồng, tổ chức chính trị - xã hội trong đầu tranh phòng, chẳng tội phạm mua ban người, qua bán trẻ eín Pháp luật hiện ray đã có các quy định liên quả đến trách nhiệm của gia đình và cệng đẳng treng việc môi dạy, giáo đục con oắi, gitt gin

am nành trật tự, cảm hỏa và giáo dục các đối tượng có quá khứ phạm tội mua

bản người, mua bén trẻ em, quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ các đối tượng có nguy

cơ, gớp phần phòng ngừa các nguy cơ bị buôn bán, xử lý va tái hòa nhập công đồng chơ nạn nhân

1.3 KINH NGHIỆM VÀ SỰ HỢP TAC QUOC Th TRONG DAU TRANH PHONG, CHONG TOI PHAM MUA BAN NGUOI, MUA BAN TRE EM

Buôn bán ngudi, buén ban té em la téi pham vi phạm nhân quyển, chống lại xã hội, xây ra không chỉ trong phạm i qude gia, kha vue ma con

trên toàn cầu Mức độ và tỉnh chất của tội phạm nảy ngày cảng trỡ lên nguy

hiểm và phức tạp hơn Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vị ảnh hưởng của loại tội phạm nay

Tuy nhiêu, với những đặc thủ riêng của Việt Nam bong bối cảnh áp

lực phát triển kinh tế - xã hội, sự mắt cần đổi trong phát triển, vấn đề di cư,

việc làm và hội nhập quốc lế, đường biên giới đôi, hiểm trở làm cho nạn buôn bản người trở lên khó kiểm soát Những, hoạt động buôn người được biết đến chủ yếu là với phụ nữ trẻ và trẻ em gái được đưa sang Campuchia, Malaisia lam nghé mai dim, hoặc sang Trung Quốc để làm vợ rồi bị ngược đãi trong hén nhân, bị bắt buộc bành nghề mại dâm hoặc bị bóc lột lao động, Những lĩnh vực cỏ nhiều khả năng liên quan va can được quan tâm hon nữa nhằm phỏng, chống nạn buôn bán người là hoạt động hôn nhân sắp đặt giữa

39

Trang 40

phụ nữ Việt Nam và nam giới lăn Quốc, Singapore, Dài Loan; lĩnh vực xuất khẩu lao động đi Hàn Quốc, Đái Loan, Thái Lan, Nhật Bản, Mĩalaisia, it nhiều

ở Trung Đông và hoạt đóng đưa người từ Việt Nam sang một số nước Đồng,

Ân và Tây Âu Với nhiều quốc gia và vửng lãnh thổ cá chung đường biên

giới, tệ nạn mua bán người, mua bán trẻ ơn cũng là một loại tội phạm nỗi cộm nhiều năm qua

Đổ đấu nh phòng, chống có liệu quả với tội phạm tua bán người,

mua bản trễ em, Việt Nam đã kỷ kết và gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về

chồng tôi phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghi dink thu-vé phòng ngừa, trần

áp và trừng trị tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ vả trẻ em, bd sưng

cho Công ước của Liên hợp quốc về chống tôi phạm có tổ chức xuyên quốc gia,

va tham gia kỷ kết nhiều hiệp ước quốc tế với các nước làng giểng như Trung

Quốc, Thái Lan, Campaclia, Tào và nhất là tham giá chống tôi phạm xuyên

quốc gìa trong khối ASEAN

Các quốc gia trong khỏi ASEAM, trong đỏ có Việt Nam là thành viên

đã ra Tuyên bê về chống lội phạm xuyên quốc gia vào năm 1997 và Tuyển bổ

về chống tôi phạm buên người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2004 Băn

tuyên bể đã ghi nhận những nỗ lực vượt bậc trong, công tá đầu tranh phỏng,

chồng tội phạm buổn bán người trong đó có phụ nữ và trẻ em bằng việc một

lấn nữa để ra được những lành động cụ thế để trân áp loại tôi phưm này, đỏ

l: thiết lập một mạng lưới tập trung cấp khu vực để ngăn ngừa và đấu tranlt

chẳng tôi phạm buôn người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, thực hiện các biên

pháp để ngăn ngừa gian lận trong việc sử dụng hộ chiếu, các giấy tờ, tai liệu

đi lại chỉnh thức, tải liệu nhận đạng và các tải liệu khác, tiên hành trao đổi quan điểm và thông tin thường xuyên về các xu hướng, luỗng, mô hình di trú

: ban hành va thực hiện các quy định pháp luật cân thiết và khả thị, tăng cường hợp tác giữa

liên quan; cửng cổ kiểm soát biên giới và các cơ chế giám s:

các cơ quan di trủ và các cơ quan bão vệ pháp luật, phân biệt rõ giữa các nạn

40

Ngày đăng: 28/05/2025, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  sự,  trên  địa  bản  tỉnh  Hà  Giang  tix  nam  2009  -  2013 - Luận văn tội mua bán người mua bán trẻ em trên Địa bàn tỉnh hà giang một số vấn Đề lý luận và thực tiễn
nh sự, trên địa bản tỉnh Hà Giang tix nam 2009 - 2013 (Trang 8)
Bảng  2.2:  SỐ  vụ  và  số  bị  can,  bị  cáo  bị  khởi  tễ  điều  tra,  truy  tổ,  xớt xử  về  tội - Luận văn tội mua bán người mua bán trẻ em trên Địa bàn tỉnh hà giang một số vấn Đề lý luận và thực tiễn
ng 2.2: SỐ vụ và số bị can, bị cáo bị khởi tễ điều tra, truy tổ, xớt xử về tội (Trang 64)
Hình  sự  về  tội  mua  bản  người  chỉ  nhiều  hơn  25.0%  so  với  số  vụ  xét  xử  theo  Điều  120  về  tội  mua  bản  trễ  em - Luận văn tội mua bán người mua bán trẻ em trên Địa bàn tỉnh hà giang một số vấn Đề lý luận và thực tiễn
nh sự về tội mua bản người chỉ nhiều hơn 25.0% so với số vụ xét xử theo Điều 120 về tội mua bản trễ em (Trang 70)
Bảng  2.4:  Tỗng  hợp  mức  hình  phạt  của  các  bị  cáo  đã xết xử  vỀ  tội  mua  bản - Luận văn tội mua bán người mua bán trẻ em trên Địa bàn tỉnh hà giang một số vấn Đề lý luận và thực tiễn
ng 2.4: Tỗng hợp mức hình phạt của các bị cáo đã xết xử vỀ tội mua bản (Trang 72)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w